Sử dụng chế phẩm vi sinh cố định đạm bởi nông dân sẽ tăng lên thông qua sự phát triển và thực hiện một chương trình khuyến nông hiệu quả và chương trình đào tạo ho cán bộ nghiên cứu, cán
Trang 1
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Báo cáo tiến độ
013/06VIE Thay thế phân bón hoá học N bằng chế phẩm
vi sinh cố định đạm cho cây họ đậu để tăng thu nhập cho nông dân và bảo vệ môi trường
MS5: Báo cáo sáu tháng lần thứ 3
11/2008
Trang 25.1 Các điểm thực hiện nổi bật _ 6
5.2 Lợi ích đối với nông hộ _ 10
10 Công bố Error! Bookmark not defined
11 Tiến độ dự án so với mục tiêu ban đầu 15
10 Phụ lục _ 22
Trang 31 Thông tin các cơ quan tham gia dự án
Tên dự án: Thay thế phân bón N hóa học bằng chế phẩm vi
sinh cố định đạm cho cây họ đậu tại Việt nam để tăng thu nhập cho nông dân và cải thiện môi trường
Cơ quan Việt nam chủ trì dự án Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu (OPI)
Chủ nhiệm dự án Việt nam Ths Trần Yên Thảo
Cơ quan Úc NSW Department of Primary Industries
Đại học Sydney
Nhân sự phía Úc Dr David Herridge
Dr Roz Deaker
Bà Elizabeth Hartley Ông Greg Gemell
Thời gian bắt đầu Tháng 3/2007
Thời gian hòan tất (đầu tiên) Tháng 3/2009
Thời gian hòan tất (sửa đổi) Như trên
Cán bộ liên lạc
Tại Úc: trưởng nhóm
Tên: Dr David Herridge Telephone: 02 67631143
Chức vụ: Nhà Khoa học cao cấp Fax: 02 67631222
Cơ quan Sở các nghành Công nghiệp
cơ bản NSW
Email: david.herridge@dpi.nsw.gov.au
Tại Úc: cán bộ quản lý
Tên: Mr Graham Denney Telephone: 02 63913219
Chức vụ: Quản lý Tài chính Fax: 02 63913327
Cơ quan Sở các nghành Công
nghiệp cơ bản NSW Email: graham.denney@dpi.nsw.gov.au
Tại Việt nam
Tên: Ths Trần Yên Thảo Telephone: 08 9143024 –
8297336
Cơ quan Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có
dầu (OPI) Email: yenthao@ioop.org.vn yenthao@hcm.fpt.vn
yenthao9@yahoo.com
Trang 4đó khi cây được nhiễm với CB1809 và NC92, trọng lượng nốt sần, năng suất sinh khối, năng suất hạt tăng so với các chủng địa phương ở 90%, 94% và 94% số điểm thí nghiệm đồng ruộng, theo thứ tự Tuy nhiên, mức độ tăng thì phụ thuộc vào các điểm khác nhau và các chủng địa phương khác nhau Hai chủng của Úc làm tăng nốt sần, năng suất sinh khối và năng suất hạt của đậu tương và lạc trung bình là 54%, 32% và 30%, so với các lô đôi chứng không nhiễm và 22%, 11% và 13% so với lô nhiễm với các chủng Việt nam
R&D về công nghệ sản xuất chủ yếu là các chất thêm vào than bùn, khả năng tồn tại trên than bùn và ảnh hưởng của pH và nhiệt độ đến tăng trưởng và tồn tại của rhizobium
Các vấn đề về cấy chuyền, ẩm độ của chất mang và bảo quản các chủng sản xuát đã được thảo luận tại Hội thảo Sơ kết lần 2 vào tháng 11 năm 2008 Đào tạo về công nghệ sản xuất chế phẩm Rhizobium cố định đạm đã được tổ chức tại Trường Đại học Công nghệ Suranaree, Thái lan vào tháng 10 năm 2008 cho tất cả các cơ quan tham gia dự án Vào thời điểm viết báo cáo này thí một cán bộ khoa học Việt nam đang được đào tạo tại Trường Đại học Sydney
Nông dân Việt nam hiện nay bón phân đạm cho cây họ đậu như đậu tương và lạc mà không nhiễm chế phẩm vi sinh cố định đạm rhizobia Thay thế phân đạm hoá học bằng chế phẩm vi sinh sẽ tiết kiệm cho nông dân Việt nam khoảng 50-60 triệu đô la Úc/năm dùng vào đầu tư phân N hoá học, và cùng lúc, thúc đẩy mở rộng diện tích sản xuất cây
họ đậu Cũng có các lợi ích về môi trường khi sử dụng chế phẩm này Dự án này có mục tiêu là tăng sản xuất chế phẩm vi sinh cố định đạm rhizobium thông qua tăng cường năng lực sản xuất, thực hiện chương trình bảo đảm chất lượng sản phẩm ở mức độ quốc gia (QA) và tăng cường nghiên cứu và phát triển R&D Tham gia trong dự án này là Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu (OPI), Viện Khoa học Nông nghiệp Miền nam (IAS) và Viện Quốc gia Nông hoá Thổ nhưỡng (NISF; hiện nay đổi tên là Viện Nông hoá Thổ nhưỡng (SFI)) Cơ quan Úc tham gia trong dự án là Sở Các nghành Công nghiệp cơ bản NSW và Trường Đại học Sydney Sử dụng chế phẩm vi sinh cố định đạm bởi nông dân
sẽ tăng lên thông qua sự phát triển và thực hiện một chương trình khuyến nông hiệu quả
và chương trình đào tạo ho cán bộ nghiên cứu, cán bộ khuyến nông của MARD và nông dân Lợi ích của chế phẩm và cố định đạm sinh học sẽ được trình diễn trên đồng ruộng
và thảo luận trong các hội thảo, hội nghị đầu bờ và các ấn bản khuyến nông Để chắc chắn tính ổn định của sản xuất và sử dụng, dự án này có sự tham gia của các công ty tư nhân trong việc marketing và “sản xuất thử” với mục đích là các công ty này sẽ mở rộng sản xuất và việc cung cấp chế phẩm sẽ tăng dần lên cùng lúc khi công nghệ và thị trường phát triển
Trang 5Khuyên nông và đào tạo nông dân và cán bộ khuyến nông
Công tác khuyến nông và đàp tạo nông dân, cán bộ khuyến nông là một nội dung trọng tâm của dự án và như là mọt cách thúc đẩy sử dụng chế phảm vi sinh cố định đạm cho cây họ đậu tại Việt nam Chương trình Khuyến nông-Đào tạo được xây dựng đơn giản, dựa trên các thí nghiệm đồng ruộng tại nhiều điểm tại các vùng sản xuất cây họ đậu trên toàn quốc Các thí nghiệm này có sự tham gia của nông dân và cán bộ khuyến nông trong tất cả các giai đoạn ,
từ gieo hạt, lấy mẫu, thu hoạch và đọc kết quả Các Trung tâm Khuyến nông đã đóng vai trò quan trọng trong hoạt động khuyến nông này Các kết quả của thí nghiệm trình diễn sẽ sử dụng để đề xuất mô hình cho sản xuất và sử dụng chế phẩm vi sinh tại Việt nam Hơn nữa các khoá đào tạo sẽ được tổ chức cho nông dân, cán bộ khuyến nông và cán bộ nghiên cứu về
sử dụng chế phẩm vi sinh cố định đạm, hiệu quả kinh tế cũng như lợi ích môi trường mà nó mang lại
Tổng số đã có 35 điểm trình diễn tại 10 tỉnh Các trình diễn này có hai nghiệm thức chủ yếu
là nhiễm hạt với chế phẩm và nghiệm thức đối chứng là áp dụng của nông dân (có bón phân N) Kết quả thu nhận là thu nhập của nông dân trồng đậu tương và lạc tăng trung bình 4.300.000đ Lợi nhuận này thay đổi phụ thuộc vào các điểm khác nhau
Nông dân được mời đến các điểm trình diễn đồng ruộng ít nhất là một lần Ở nhiễu điểm thí nghiệm như ở DakLak và DakNong, nông dân đã đến điểm thí nghiệm 2-3 lần Tại các thời điểm thu hoạch nốt sần, sinh khối và năng suất Ở mỗi điểm có ít nhất 20 nông dân, cán bộ khuyến nông, cán bộ nông nghiệp đã đến thăm và đánh giá kết quả (có từ 700-1050 đợt người viếng thăm) Tại các điểm trình diễn họ quan sát sự phát triển của đậu tương và lạc và
so sánh sự tăng trưởng giữa hai nghiệm thức có nhiễm chế phẩm và đối chứng bón phân N
Họ đã lấy mẫu nốt sần, quan sát và học cách phân biệt nốt sần có hiệu quả cố định đạm khi
có màu hồng bên trong và nốt sần không có khả năng cố định đạm khi có màu trắng bên trong Họ đã tự đánh giá hiệu quả cố định đạm bằng cách lấy mẫu cây, cân trọng lượng sinh khối và cân trọng lượng hạt thu được Họ cũng được cung cấp tài liệu khuyến nông Tại các điểm trình diễn cán bộ nghiên cứu và cán bộ khuyến nông giải thích hoạt động cố định đạm của rhizobium và điều kiện đaể áp dụng thành công Nông dân rất thích thú học về cố định đạm sinh học
Các câu hỏi thường được nông dân đặt ra trong các hội thảo đồng ruộng :
- Giá chế phẩm là bao nhiêu?
- Liều lượng chế phẩm dùng cho 1000m2 hoặc 1ha?
- Mua chế phẩm ở đâu?
- Chế phẩm có các lợi ích khác bên cạnh thay thế cho phân bón urea?
- Có thể sử dụng chung chế phẩm với thuốc bảo vệ thực vật?
Trang 6Công ty tư nhân tham gia trong dự án bằng sự phân phói chế phẩm cho nông dân (ISF) và bằng sự thực hiện thí nghiệm đồng ruộng và hoạt động khuyến nông (IOOP) Có thoả thuận ban đầu là các viện nghiên cứu sẽ chuyển giao công nghệ sản xuất chế phẩm cho các công ty
tư nhân khi được thử nghiệm thành công
4 Giới thiệu và nền tảng dự án
Mục tiêu dự án và các kết quả dự kiến
Nhà nước Việt nam (Bộ Công nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) đã có kế hoạch thực hiện tăng diện tích trồng các cây họ đậu từ diện tích hiện tại là 780.000 ha lên đến hơn 1.000.000 ha vào năm 2010, đặc biệt đối với cây đậu tương và cây lạc tại vùng Đồng bằng sông Cửu long, Duyên hải miền Trung và các vùng đất cao Bắc, Trung và Nam Cây họ đậu sử dụng làm thực phẩm, dầu ăn và bánh dầu cho gia súc, và trồng luân canh với lúa (ở Đồng bằng sông Cửu long), xen canh với sắn, mía, cao su, cây ăn quả và bắp trên các vùng đất cao, trồng như cây phủ đất trên đất cát ven biển Dự án nhỏ ACIAR LWR2/98/27 (Tăng năng suất và cố định đạm của đậu tương, lạc và đậu xanh thông qua sử dụng chế phẩm vi
sinh Rhizobium) đã chỉ ra rằng sản xuất cây họ đậu tại Việt nam hiện tại phụ thuộc vào phân
N hóa học đắt tiền mà không áp dụng chế phẩm vi sinh rẻ tiền Thay thế phân N hóa học bằng chế phẩm vi sinh cố định đạm, nông dân Việt nam sẽ tiết kiệm được khoảng 50-60 triêu
đô la Úc hàng năm, và cùng lúc sẽ thúc đẩy mở rộng sản xuất cây họ đậu Hơn nữa, còn có lợi cho môi trường khi thay thế phân đạm khoáng bằng N được tạo ra bởi chính cây họ đậu Hiệu quả kinh tế đã được tổng kết chi tiết trong báo cáo kết thúc dự án LWR2/98/27 Trong
23 thí nghiệm ở Miền nam, lợi ích kinh tế mang lại là tăng lợi nhuận lên đến 760 đô la Úc/ha (trung bình tăng hơn 100 đô la Úc/ha) do tăng năng suất và giảm sử dụng phân bón N hóa học Chế phẩm vi sinh này đã tăng năng suất hạt lạc trồng trên đất acid Đồng bằng sông Cửu long trung bình là 42% so với không bón phân N và 28% so với bón phân N Đối với 13 thí nghiệm của đậu tương năng suất tăng trung bình là 19% so với không bón phân, và năng suất tăng 40-50% trong một số thí nghiệm Năng suất của các lô thí nghiệm sử dụng chế phẩm vi sinh và bón phân N hầu như không khác biệt Mức độ lợi ích kinh tế thì thay đổi phụ thuộc vào loại cây, vùng đất và lịch sử trồng Không có trường hợp nào giảm năng suất khi thay phân đạm khoáng N bằng chế phẩm vi sinh cố định đạm
Các nhà khoa học và quản lý đã kết luận trong hội nghị tổng kết dự án LWR2/98/27 rằng nông dân Việt nam nên thay thế phân đạm khoáng bằng chế phẩm vi sinh cố định đạm Tuy nhiên, để điều này trở thành hiện thực thì sản phẩm vi sinh này cần phải có sẵn trên thị trường Năng lực sản xuất hiện tại chỉ nhỏ hơn 5000 túi/năm, và cần phải tăng lên khoảng 500.000 túi/năm để đáp ứng nhu cầu Hơn nữa chế phẩm hiện tại có chất lượng kém (dự án LWR2/98/27) và cần thiết phải cải thiện Thời gian bảo quản, phân phối và marketing là các vấn đề cũng cần quan tâm Ngoài ra, sự hiểu biết của nông dân và ngay cả cán bộ khuyến nông về lợi ích của chế phẩm cũng như cách sử dụng rất giới hạn
Giới hạn về năng lực thì thấy rất rõ ở cả mức độ quốc gia và cơ quan nghiên cứu Thiếu hụt chính ở cấp độ quốc gia là thiếu một chương trình hợp tác, tập trung Ở mức độ cơ quan thì không đủ năng lực để sản xuất chế phẩm này ở qui mô trung bình, bảo đảm chất lượng (QA) kém cũng như cần tăng cường năng lực R&D và đào tạo Dự án này mong muốn được chú trọng vào các vấn đề sản xuất, chất lượng, phân phối, marketing và đào tạo nông dân Sự tham gia phối hợp của công ty tư nhân trong dự án về cả sản xuất và marketing sẽ bảo đảm
sự áp dụng công nghệ sản xuất vào thực tế Mục tiêu của dự án là để:
1 Tăng cường sản xuất chế phẩm vi sinh cố định đạm chất lượng cao cho đậu tương, lạc và
Trang 7trang thiết bị) ở các viện nghiên cứu tham gia dự án, thực hiện bảo đảm chất lượng sản phẩm (QA), và tăng cường R&D
2 Tăng sự quan tâm và sử dụng chế phẩm vi sinh cố định đạm của nông dân thông qua việc phát triển và thực hiện một chương trình khuyến nông và đào tạo hiệu quả về chế phẩm cho cán bộ nghiên cứu, cán bộ khuyến nông của MARD và nông dân bằng việc thực hiện thí nghiệm trình diễn đồng ruộng, tập huấn, hội nghị đầu bờ và xuất bản, phân phối tài liệu khuyến nông
3 Bảo đảm tính ứng dụng thực tế của dự án bằng sự phối hợp tham gia vào hoạt động dự án của các doanh nghiệp tư nhân trong ‘sản xuất pilot” các chế phẩm vi sinh cố định đạm, với mục tiêu là các công ty này sẽ mở rộng sản xuất cùng lúc khi công nghệ và thị trường phát triển
Dự án này phù hợp với Mục tiêu chiến lược 2 “Cải thiện năng suất và kết nối với thị trường cho vùng nông thôn nghèo ở Đồng bằng sông Cửu long và vùng Duyên hải miền Trung”, phù
hợp với Mục tiêu 2.1 “Tăng năng suất ở nông thôn”, và sử dụng Chiến lược 1 “Tăng năng
suất và cạnh tranh của các hệ thống nông nghiệp”
Cách tiếp cận và phương pháp thực hiện
Chiến lược của dụ án là để tăng cường sản xuất chế phẩm vi sinh cố định đạm cho cây họ đậu, quản lý chất lượng, phân phối, tiếp cận thị trường và đào tạo nông dân thông qua họat động hợp tác của các cơ quan Nó liên quan đến cả hai, các viện nghiên cứu của nhà nước – Viện Nghiên cứu Dầu và cây có dầu (OPI), Viện Khoa học Nông nghiệp Miền nam (IAS) và Viện Nghiên cứu Nông hóa Thổ nhưỡng (ISF) – cũng như các công ty tư nhân (Công ty Cổ phần Phân bón Fitohoocmon, Công ty Cổ phần Phân bón Sinh hóa Củ Chi và Công ty Phân bón Humix) Các công ty tư nhân sẽ bước đầu tham gia trong việc tiếp cận thị trường và phân phối sản phẩm và được hướng dẫn về kỹ thuật và cho lời khuyên để mà cải thiện và mở rộng khả năng sản xuất của họ Dự tính rằng đơn vị tư nhân sẽ đảm nhận việc sản xuất và công việc QA sẽ do các cơ quan nhà nước đảm nhận Sự tham gia của bộ phận tư nhân trong cả sản xuất và marketing sẽ bảo đảm tính hiện thực của ý tưởng này
Tăng cường sản xuất chế phẩm vi sinh cố định đạm có chất lượng cao và QA Các chủng giống cho sản xuất tại Việt nam: chọn lựa từ bộ giống hiện tại của Việt nam
và/hoặc từ bộ giống của ALIRU (Úc), Niftal (Đại học Hawai), Đại học Suranaree (Thái lan)
Sẽ thảo luận để lựa chọn các giống pjù hợp nhất cho sản xuất chế phẩm thông qua một chương trình nghiên cứu và phát triển
Bảo quản giống cho sản xuất: phát triển và thực hiện phương pháp duy trì hoạt tính lâu dài
và nhận diện các chủng sản xuất để bảo đảm tính ổn định chất lượng của chế phẩm Trong quá trình thực hiện dự án sẽ quyết định cơ quan/các cơ quan sẽ chịu trách nhiệm duy trì và bảo đảm hoạt tính của bộ giống phục vụ cho sản xuất chế phẩm Cơ quan này sẽ được trang
bị thêm các vật liệu, hóa chất cần thiết để tiếp tục cung cấp giống gốc cho sản xuất sau này
Công nghệ sản xuất: phát triển công nghệ sản xuất ở qui mô trung bình tại Việt nam dựa
trên kinh nghiệm sản xuất tại Thái Lan và Úc, về:
• Cải tiến công thức môi trường lên men, thực hiện các thí nghiệm để duy trì tính vô trùng và kỹ thuật chiết dịch nuôi cấy vào chất mang
• Thử nghiệm các dạng chế phẩm thích hợp (than bùn, hạt, dịch thể) để đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng, dễ dàng sử dụng, thuận lợi cho cung cấp và vận chuyển Hiệu quả kinh tế sẽ được xác định bằng cách xác định hiệu quả của chúng trong phòng thí nghiệm và đồng ruộng
Trang 8• Lựa chọn các chủng cho sản xuất: các chủng rhizobia khác nhau sẽ được thử nghiệm
về khả năng tồn tại của các chủng trong chế phẩm và trong suốt quá trình bảo quản, vận chuyển cho tới khi ứng dụng nhiễm vào cây
Bảo đảm chất lượng sản phẩm (QA): Phương pháp bảo đảm chất lượng sản phẩm của Úc
sẽ được áp dụng trong thời gian ban đầu như một mô hình Trên cơ sở này, các bước tiến hành QA, đào tạo và soạn tài liệu phù hơp với điều kiện sản xuất tại Việt nam sẽ được tiến hành bởi các nhà khoa học Úc và Việt nam tham gia trong dự án Một cơ quan tham gia dự
án được trang bị sẽ chịu trách nhiệm thực hiện tiếp tục việc đảm bảo chất lượng các chế phâm sản xuất tại Việt nam sau khi dự án kết thúc
Đào tạo về sản xuất và bảo đảm chất lượng sản phẩm: Các cán bộ nghiên cứu của Việt
nam sẽ được đào tạo tại Việt nam bởi các chuyên gia Úc và được đào tạo tại trường Đại học Công nghệ Suranaree (Thái lan) về sản xuất, QA và cách quản lý cũng như R&D về Rhizobium
Khuyến nông và đào tạo nông dân và cán bộ khuyến nông
Chương trình khuyến nông và đào tạo cho nông dân và cán bộ khuyến nông sẽ được thực hiện trên cơ sở các thí nghiệm đồng ruộng đơn giản (về các nghiệm thức thí nghiệm), trên các vùng sản xuất khác nhau (Đồng bằng sông Cửu long, Duyên hải miền trung, các vùng đất cao Bắc bộ, Trung bộ và Đông Nam bộ) Nông dân sẽ tham gia ở mọi góc độ, từ lựa chọn nghiệm thức thí nghiệm đến gieo trồng, lấy mầu, thu hoạch và đọc kết quả Hy vọng rằng Trung tâm Khuyên nông Quốc gia sẽ đóng góp vai trò lớn trong các hoạt động khuyến nông của dự án này Trung tâm và OPI đang thảo luận để tiến tới một thoả thuận hợp tác Các số liệu thu được từ các thí nghiệm trình diễn đồng ruộng sẽ dùng để xây dựng một mô hình kinh
tế về sản xuất và sử dụng chế phẩm vi sinh cố định đạm cho cây họ đậu tại Việt nam Bên cạnh đó, các tập huấn sẽ được tổ chức cho nông dân, cán bộ khuyến nông và cán bộ nghiên cứu về phương pháp sử dụng, hiệu quả kinh tế và hiệu quả đối với môi trường của việc sử dụng chế phẩm Chương trình khuyến nông – đào tạo này sẽ được thực hiện bởi các cán bộ Việt nam trong sự kết hợp với đối tác phía Úc Các chuyên gia Úc sẽ trợ giúp để tập hợp, chọn lọc, soạn thảo các tài liệu khuyến nông và chuyển giao cho Việt nam
Sự tham gia của đơn vị tư nhân vào sản xuất, phân phối và tiếp cận thị trường
Hai (có thể là 3) công ty Việt nam chuyên sản xuất và kinh doanh phân bón sẽ tham gia trong dự án, đó là Công ty Cổ phần Phân bón Fitohoocmon và Công ty Cổ phần Phân bón Củ Chi (và Humix) Chúng tôi dự đoán rằng thị trường chế phẩm sẽ lớn dần lên trong suốt quá trình thực hiện dự án so với khởi điểm thấp hiện nay Doanh nghiệp tư nhân sẽ từng bước tham gia sản xuất cùng lúc khi công nghệ phát triển và thị trường mở rộng Các công ty này
sẽ tham gia marketing và phân phối sản phẩm Đào tạo cũng sẽ mở ra cho các cán bộ của công ty
Trang 9Dự án chú trọng đến các chủng rhizobium và bảo quản, công nghệ sản xuất (lên men), QA trong quá trình sản xuất và sản phẩm, và đào tạo cán bộ nghiên cứu về công nghệ sản xuất và
Hai chủng của Úc, CB1809 và NC92, tăng nốt sần cho cây đậu tương và lạc trung bình 22%
so với các chủng địa phương (Việt nam) Năng suất sinh khối tăng cao hơn 11% và năng suất hạt tăng 13% so với chủng địa phương
Đối với mỗi chỉ tiêu thì có sự khác biệt lớn phụ thuộc vào điểm thí nghiệm Sự tăng về nốt sần từ 0-70%, sinh khối từ 0-30% và năng suất hạt 0-48%
5.1.1.2 Duy trì các chủng sản xuất
Các chủng dùng cho sản xuất thì cần thiết phải được duy trì về tính chính thống của chủng,
không tạp nhiễm mà các chủng này có chung nguồn gốc và hiệu quả cố định N
Như đã thống nhất trong Hội thảo Tiến độ dự án vào tháng 2 năm 2008, giống gốc được chuyển từ ALIRU đến IOOP, là cơ quan được lựa chọn để quản lý các chủng dùng trong sản xuất thương mại chế phẩm vi sinh cố định đạm cho cây họ đậu Cán bộ IOOP sẽ kiểm tra độ thuần chủng của các chủng bằng cách cấy trên môi trường YMA và CRYMA và gởi các phiên bản đến ISF và IAS Các viện này sau đó gởi các phiên bản cấy chuyền của mình sau nhiều lần cấy chuyền tới IOOP để kiểm tra tính thuần chủng trên YMA và CRYMA và đánh giá sự hình thành nốt sần bằng phương pháp trồng cây trong điều kiện kiểm soát Thực hành này cho thấy cần thiết phải đào tạo hơn nữa về nhận diện và duy trì tính thuần chủng của các chủng rhizobium Tạp nhiễm của một số mẫu khi gởi trở lại IOOP có thể phản ánh kết quả của chế phẩm không đạt chất lượng
Một số hình chụp về khuẩn lạc và hình dạng tế bào của các chủng CB1809 và NC92 từ các viện nghiên cứu sẽ được đánh giá bởi ALIRU
5.1.1.3 I Công nghệ sản xuất chế phẩm vi sinh cố định đạm – thí nghiệm
Các thí nghiệm về sản xuất được thực hiện ở tất cả các viện nghiên cứu – SFI, IAS và IOOP Mỗi viện chuẩn bị chế phẩm từ các nguồn than bùn khác nhau và xác định sự tồn tại của rhizobium theo thời gian Tại IAS xác định số lượng rhizobium theo thời gian trên nền chất mang than bùn trộn với phân trùn, mùn bã mía và bụi xơ dừa do đó cải thiện khả năng giữ
Trang 10nước của than bùn Chế phẩm chất lượng không cao làm bởi IAS có thể do tạp nhiễm từ chất mang cũng như tạp nhiễm từ quá trình lên men Thêm vào đó số lượng thấp rhizobium trong chế phẩm có thể do ẩm độ thấp của chất mang Khoảng ẩm độ thích hợp cho các thí nghiệm này cần thiết trong khoảng 40-50% và vấn đề khử trùng than bùn cần được chú ý
Cải thiện chất lượng chất mang thực hiện tại ISF bằng cách phối trộn than bùn với rỉ đường, chất hiếm, phân trùn và bụi xơ dừa Hỗn hợp than bùn, chất hiếm và rỉ đường; hỗn hợp than bùn, phân trùn và bụi xơ dừa tốt hơn so với chỉ dùng than bùn và số tế bào đạt 109 trong 1 gam chế phẩm sau 4 tuần Chất lượng của than bùn thì phụ thuộc theo vùng và do đó ảnh hưởng đến chất lượng chế phẩm Mẫu than bùn tại Sơn La có hàm lượng chất hữu cơ cao (52%) dự đoán là than bùn tốt cho sản xuất chế phẩm nhưng thử nghiệm khả năng tồn tại trên nguồn than bùn mới có vẻ là nguồn than bùn tốt cho sản xuất chế phẩm nhưng thử nghiệm sự
tồn tại của Rhizobium trên than bùn này thì cần thiết Để làm giảm chi phí sản xuất và giảm
đòi hỏi về thiết bị cho thể tích lên men lớn trong các nồi lên men thì kỹ thuật lên men solid nghĩa là nhiễm dịch giống đã pha loãng vào than bùn và cho phép sự nhân sinh khối lên đến
số lượng lớn trong than bùn theo thời gian ủ, đang được khảo sát tại IOOP Chất lượng của chế phẩm phụ thuộc vào nguồn than bùn và dịch pha loãng 1:10 là tốt nhất có thể đạt được tại IOOP
5.1.1.5 Chương trình Quản lý Chất lượng sản phẩm
Kết quả này được nêu ra chi tiết trong báo cáo sáu tháng lần thứ nhất, đệ trình vào tháng 5 năm 2008 Trong thời gian báo cáo này thì chế phẩm tiếp tục được gởi đến IOOP để kiểm tra chất lượng sản phẩm Các kết quả QA này sẽ làm nền tảng cho một tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng chế phẩm vi sinh cố định đạm tại Việt nam Cho đến nay, số lượng rhizobium tại ISF và IOOP thay đởi từ 2x107 to 4x109 cells/g, và số lượng tạp nhiễm từ <10-4 cells/g đến 7x106 cells/g Chất lượng chế phẩm sản xuất bởi IAS không tốt Trong mẻ sản xuất thứ nhất thì rhizobium đã không phát hiện được ngay cả theo phương pháp đếm trên đĩa với môi trường CRYMA và xác định nốt sần trên cây Mẫu này đã bị nhiễm nấm mốc năng nề Mẻ sản xuất thư hai không phát hiện được tế bào rhizobium trong cơ chất do cơ chất quá khô (khoảng 20% ẩm độ)
5.1.1.6 Đào tạo về sản xuất và QA
Đã tổ chức một khoá đào tạo thứ hai cho 4 cán bộ nghiên cứu Việt nam của các viện nghiên cứu tham gia trong dự án về công nghệ sản xuất và QA tại trường Đại học Công nghệ Suranaree (Thái Lan), từ 5-19 tháng 10 năm 2008 Báo cáo về đợt thực tập này được trình bày trong phụ lục 4 Mục tiêu của khoá đào tạo này là để cải thiện kỹ năng của các cán bộ nghiên cứu của Việt nam về công nghệ sản xuất chế phẩm và về quản lý chất lượng sản phẩm Khoá đào tạo này chú trọng về thực tập hơn là về lý thuyết và bao gồm sự nhận diện các chủng rhizobium, sản xuất chế phẩm ở mức độ nhỏ và lớn và kiểm tra chất lượng Các thành viên đến từ các viện khác nhau tập trung học về các vấn đề mà họ đang gặp khó khăn trong thực tế sản xuất Nhận diện các chủng rhizobium là vấn đề quan tâm của tất cả các viện Sự thuần chủng của giống, trên môi trường agar và trong dịch thể, có thể được xác định bởi hình thái khuẩn lạc, hình thái tế bào và kỹ thuật FA Tuy nhiên, kỹ năng về vi sinh vật của người thực hiện các thử nghiệm này thì rất cần quan tâm Hầu hết các thành viên cần được đào tạo hơn nữa và cần tích luỹ kinh nghiệm cho bản thân họ Hiện tại có một đào tạo cho một cán bộ của Việt nam tại trường Đại học Sydney và ALIRU, từ 20 tháng 11 năm
Trang 11liên quan đến nhận diện, sự tồn tại và hiệu quả của các chủng rhizobium của Việt nam và úc, tham gia tổng hợp công nghiệp sản xuất chế phẩm vi sinh cố định đạm cho cây họ đậu và hệ thống quản lý chất lượng tại Úc, và jhoàn tất tài liệu cho sản xuất chế phẩm và kiểm tra chất lượng để áp dụng tại Việt nam
5.1.2 Chương trình khuyến nông và đào tạo cho nông dân và cán bộ khuyến nông
Chương trình đào ta-khuyến nông cho nông dân và cho cán bộ khuyến nông đã được xây dựng là các thí nghiệm đa vùng, đơn giản, tại các vùng chính sản xuất cây họ đậu (Đồng bằng Sông Cửu long, Duyên hải miền Trung, vùng đất cao Miền bắc, Tây nguyên và Đông Nam bộ) Nông dân và cán bộ khuyến nông tham gia trong mọi khâu, từ thiết kế thí nghiệm cho đến gieo trồng, lấy mẫu, thu hoạch và đọc kết quả Các trung tâm Khuyến nông của MARD đóng góp vai trò quan trọng trong các hoạt động khuyến nôn Các số liệu từ các thí nghiệm đồng ruộng sẽ dùng để xây dựng mô hình kinh tế cho sản xuất và sử dụng chế phẩm tại Việt nam Thêm vào đó, các khoá đào tạo sẽ được tổ chức cho nông dân và cán bộ khuyến nông và cán bộ nghiên cứu về phương pháp sử dụng chế phẩm, lợi ích về kinh tế cũng như môi trường Đào tạo này sẽ được thực hiện bởi cán bộ Việt nam trong sự kết hợp với các chuyên gia Úc để trợ giúp về tài liệu khuyến nông
5.1.2.1 Điều tra nông dân về hiểu biết và thái độ đối với sử dụng chế phẩm vi sinh cố định đạm
Các cuộc điều tra đã được thực hiện trong suốt tháng 4 – 8/2007 và tiếp tục tháng 11 – 2 năm
2008 để xác định mức độ hiểu biết về chế phẩm, sử dụng chế phẩm bởi nông dân và cán bộ khuyến nông và thái độ của họ về việc sử dụng trong tương lai và cuối cùng là hiện thực sản xuất và QA tại Việt nam Các kết quả đã được báo cáo toàn bộ trong Báo cáo Thông tin ban đầu đệ trình vào tháng 5 năm 2008 Chúng tôi có kế hoạch làm các điều tra cuối cùng (sau khi thực hiện các thí nghiệm, trình diễn đồng ruộng, tập huấn cho nông dân) vào tháng 12 năm 2008 đến tháng 2 năm 2009 Bộ câu hỏi điều tra thì giống với điều tra ban đầu, và nông dân tham gia là các nông dân đã được điều tra lần trước và các nông dân và cán bộ khuyến nông đã tham gia vào các thí nghiệm, trình diễn vừa qua Sẽ tiến hành điều tra trên 10 tỉnh 5.1.2.2 Chương trình Khuyến nông - ảnh hưởng kinh tế và sinh học của việc nhiễm chế phẩm
Đã có 35 điểm trình diễn đồng ruộng sử dụng chế phẩm trên 10 tỉnh Các thí nghiệm trình diễn này có hai nghiệm thức: nhiễm với chế phẩm + không sử dụng hoặc sử dụng một lượng nhỏ phân hoá học N và nghiệm thức của nông dân là không nhiễm chế phẩm + sử dụng phân bón N Các kết quả được trình bày trong Phụ lục 3
Tổng quát, kết quả cho thấy, sử dụng chế phẩm cho cây đậu tương và cây lạc đã làm tăng lợi nhuận cho nông dân, trung bình là 4.300.000đ/ha Mức độ lợi nhuận thì khác nhau tuỳ thuộc vào các điểm thử nghiệm khác nhau Lợi nhuận tăng 500.000đ/ha đối với cây lạc tại Bầu Đồn, Tây Ninh nhưng tăng tới 14.200.000đ/ha tại Châu Thành, Trà Vinh Tương tự như vậy, đối với cây đậu nành, lợi nhuận tăng hơn 9.100.000đ/ha tại Cưjut, DakNong so với đối chứng
sử dụng phân N hoá học
Nông dân đã được mời đến các điểm trình diễn ít nhất là một lần Ở nhiều diểm nông dân đến lấy mẫu nốt sần, sinh khối cũng như năng suất hạt Có khoảng 700-1050 nông dân đã
Trang 12đến tham gia trong các điểm trình diễn Họ đượ cung cấp tài liệu khuyến nông (xem Phụ lục 5) Cán bộ nghiên cứu và cán bộ khuyến nông giải thích cho nông dân về hoạt động của rhizobium và các điều kiện cho việc sử dụng chế phẩm thành công Nông dân tỏ ra rất thích thú tìm hiểu về cố định đạm sinh học
5.1.3 Tham gia của các công ty tư nhân vào sản xuất, phân phối và marketing sản phẩm
Khi dự án này bắt đầu thực hiện, chúng tôi dự kiến là sẽ có 2-3 công ty tư nhân tham gia vào
dự án Chúng tôi cũng dự kiến rằng thị trường của sản phẩm sẽ tăng dần lên trong suốt thời gian thực hiện dự án từ một mức rất thấp ban đầu và rằng bộ phận tư nhân sẽ từng bước tham gia một khi công nghệ phát triển cùng lúc với thị trường mở rộng Các công ty này đầu tiên
sẽ tham gia vào trong dự án bằng việc marketing và phân phối sản phẩm hơn là sản xuất Đào tạo cũng mở cửa cho đối tượng này Các cán bộ nghiên cứu của các viện tham gia trong dự
án sẽ cung cấp công nghệ cho các công ty thông qua dự án này
Công ty Komix hiện đang tham gia trong dự án bằng các thử nghiệm đồng ruộng đối với đậu tương và lạc Chế phẩm được sản xuất bởi IOOP và được đánh giá trong các thử nghiệm này thông qua các chỉ số sinh học và hiệu quả kinh tế IOOP cũng chuyển giao cho Komix kỹ thuật nhiễm chế phẩm vào hạt và tài liệu khuyến nông Komix cũng đã phân phối chế phẩm cho nông dân thử nghiệm tại Tây Ninh Komix thu thập feedback từ nông dân về sử dụng và lợi nhuận IOOP đã mời Komix đến thăm đồng ruộng trình diễn và các hội thảo được tổ chức tại Bình Định, Duyên Hải Nam Trung bộ vào vụ Đông Xuân 2009
Chúng tôi thống nhất rằng SFI sẽ phối hợp với một công ty tư nhân ở miền Bắc về việc xúc đẩy sản xuất chế phẩm SFI sẽ sản xuất dịch sinh khối lỏng sau đó chuyển cho công ty để tạo sản phẩm trên nền chất mang than bùn đã khử trùng SFI sẽ kiểm tra chất lượng sản phẩm trong suốt quá trình sản xuất SFI cũng sẽ gởi mẫu chế phẩm cho IOOP để kiểm tra chất lượng độc lập Ở thời điểm này SFI dự định phát triển mối quan hệ với công ty Sơn La tại tỉnh Sơn La Điều này hợp lý bởi vì đang tập trung vào tỉnh Sơn La về việc khuyến nông và R&D Vấn đề là Sơn La cách Hà nội 300 km nơi SFI đặt phòng thí nghiệm của mình và như vậy sẽ có khó khăn trong việc vận chuyển giống ở dạng dịch với số lượng lớn Vấn đề này cần được giải quyết
5.2 Lợi nhuận cho nông hộ nhỏ
Tiềm năng lợi nhuận có giá trị là 100-200 triệu đô la Úc/năm thông qua sự tăng năng suất và giảm thiểu sử dụng phân bón hoá học N Lợi nhuận cho các nông hộ nhỏ này cần được bắt đầu nhân rộng ra thông qua công nghệ sản xuất chế phẩm được thu hút hơn sau năm thư hai của dự án
5.3 Xây dựng năng lực
Xây dựng năng lực đã bắt đầu với sự tham gia của 17 cán bộ nghiên cứu/kỹ thuật viên tại Hội thảo Chất lượng sản phẩm tại Tp HCM vào tháng 2-3/2007 và Đào tạo về Công nghệ sản xuất chế phẩm tại Thái lan vào tháng 6/2007 và tháng 10/2008, và đầu tư mua sắm vật liệu, hóa chất và thiết bị cho R&D và sản xuất Một đào tạo về R&D rhizobium tại Úc đã bắt đầu vào 20/11/2008 Mua sắm thêm thiết bị đã được lên kế hoạch cho đầu năm 2009
Trang 135.4 Xuất bản
Một bài báo đã được gới đến văn phòng CARD để được xuất bản Nó đã được hiệu chỉnh bởi văn phòng CARD và sẽ xuất bản khoảng đầu năm 2009 trong CARD Newsletter số 5 (xem Phụ lục 6 của Báo cáo 6 tháng lần thứ 2 và Phụ lục 5 trong báo cáo này) Một bài báo khác cũng đã được xuất bản trong proceedings của Hội Nghị Nông nghiệp Úc lần thứ 14
Herridge, David, John Ba Maw, Maung Maung Thein, Om Parkash Rupela, Nantakorn Boonkerd, Tran Yen Thao, Rosalind Deaker, Elizabeth Hartley and Greg Gemell (2008) Expanding production and use of legume inoculants in Myanmar and Vietnam In "Global Issues, Paddock Action" Proceedings of the 14th Australian Agronomy Conference, 21-25 September 2008, Adelaide, South Australia Australian Society of Agronomy (xem bài báo trong Appendix 6)
dự án và đã có kế hoạch chi tiết làm việc với cán bộ của dự án để mà thúc đẩy sản xuất và sử dụng chế phẩm tại việt nam (xem Phụ lục 5 của báo cáo 6 tháng lần thứ 2)
6 Các vấn đề về môi trường và xã hội
6.1 Môi trường
Dự án này hy vọng mang lại lợi ích môi trường thong qua việc tăng sản xuất các cây họ đậu
sự thay thế sản xuất công nghiệp phân đạm hóa học bằng đạm được tạo ra bằng con đường sinh học Cương trình khuyến nông sẽ tăng hiểu biết tổng quát về đất và quản lý phân bón do
đó cải thiện việc quản lý đất đai Giảm sử dụng phân N hóa học đặc iệt là trong hệ thống cây trồng với lúa tại Đồng bằng sông Cửu long sẽ mang lại lợi ích về chất lượng nước và nuôi trồng thủy sản Cũng hy vọng rằng sự xói mòn đất ở các vùng đất cao sẽ giảm đi thong qua các hệ thống cây trồng với cây họ đậu
Trang 14Các công việc sẽ tiến hành tiếp theo trong 6 tháng:
• Tiếp tục chương trình thí nghiệm đồng ruộng tại Duyên hải Nam Trung bộ (Bình Định) và Đông Nam bộ (Tây Ninh)
• Tiếp tục áp dụng kỹ thuật mới sản xuất chế phẩm và QA tại các viện chính tại Việt nam - IOOP, IAS và SFI
• Tiếp tục chương trình R&D về các vấn đề liên quan đến sản xuất chế phẩm tại Việt nam, ví dụ lựa chọn chất mang, công thức chế phẩm và bao gói
• Tiếp tục trang bị cho các phòng thí nghiệm chính tại Việt nam (OOP, IAS và SFI) thông qua việc mua sắm thiết bị và nguyên vật liệu
• Hoàn tất tài liệu khuyến nông và hội thảo và tổ chức các hội thảo cho nông dân
• Thực hiện hậu điều tra về sử dụng chế phẩm, lợi ích của nó và thái độ của nông dân đối với việc sử dụng chế phẩm
• Tập trung làm việc với 2 công ty tư nhân (Komix và Sơn La) về vấn đề mở rộng, đào tạo và marketing chế phẩm Nếu có thể làm việc với Komix và Sơn La để bắt đầu sản xuất chế phẩm
9 Kết luận
Tại thời điểm này, dự án đáp ứng các mục tiêu đề ra
Trang 16Tiến độ của dự án so với các Mục tiêu ban đầu, các Kết quả, Họat động và Đầu vào
Tên dự án: Thay thế phân bón N hóa học bằng chế phẩm vi sinh cố định đạm cho cây họ đậu tại Việt nam để tăng thu nhập cho nông dân và cải thiện
môi trường
Cơ quan chủ trì Việt nam: Viện Nghiên cứu Dầu và Cây có dầu (OPI)
Mô tả Chi tiết của Mục tiêu, Đầu ra
và Họat động
Sự đo lường Giả định Diễn giải và Chi tiết tiến độ thực hiện
MỤC TIÊU 1 Tăng sản xuất chế phẩm
vi sinh cố định đạm chất lượng cao tại Việt nam thông qua tăng cường năng lực sản xuất, thực hiện QA
và R&D
Tăng sản xuất và sử dụng chế phẩm vi sinh
cố định đạm chất lượng cao
- Khả năng cao cho sản xuất chế phẩm vi sinh cố định đạm
- Hiệu quả lan rộng của việc nhiễn rhizobium
- Nông dân quan tâm
- Tiếp tục có kinh phí
và nhân sự có năng lực cho chương trình rhizobium
Vẫn còn thích hợp - không cần thay đổi
2 Phát triển và thực hiện một chương trình khuyến nông và đào tạo về chế phẩm vi sinh cố định đạm
và cố định đạm sinh học cho nông dân, cán bộ khuyến nông và cán bộ nghiên cứu
Tăng hiểu biết về hiệu quả của chế phẩm vi sinh cố định đạm cho cây họ đậu và nông dân biết về chế phẩm này nhiều hơn
- Thông qua chương trình khuyến nông và đào tạo hiệu quả, hiểu biết của nông dân về chế phẩm vi sinh cố định đạm, cố định đạm sinh học ở cây họ đậu và lợi ích
Vẫn còn thích hợp - không cần thay đổi
Trang 17kinh tế cũng như môi trường của cây họ đậu sẽ tăng cường
và sử dụng chế phẩm cũng tăng lên
3 Sự tham gia của các doanh nghiệp tư nhân trong sản xuất chế phẩm và marketing cho muc tiêu bền vững của dự án
Sử dụng mạng lưới phân phối của các cơ sở
tư nhân để tiếp cận thị trường và phân phối chế phẩm vi sinh cố định đạm cho cây họ đậu
Sản xuất lớn chế phẩm bởi cơ sở tư nhân
- Sự tham gia của cơ
sở tư nhân sẽ bảo đảm sự chắc chắn lâu dài sản xuất chế phẩm này tại Việt nam
Vẫn còn thích hợp - không cần thay đổi
KẾT QUẢ 1.1 Các chủng rhizobium
có hoạt tính cao được xác định cho sản xuất
Lựa chọn các chủng hiệu quả cho sản xuất chế phẩm vi sinh cố định đạm tại Việt nam
Giả định có thể lựa chọn chủng có hiệu quả cố định đạm cho các quốc gia/nhiều vùng đất/lọai đất 1.2 Kỹ thuật phù hợp để
duy trì, ổn định hoạt tính và chất lượng của các chủng vi sinh phục vụ sản xuất ở qui
mô lớn
Cán bộ nghiên cứu và các phòng thí nghiệm được trang bị để thực hiện nhận diện, duy trì
và đánh giá chất lượng của các sản phẩm vi sinh cố định đạm
Tiến trình kỹ thuật
QA và các tiêu chuẩn đang được sử dụng tại Úc có thể cần thiết được cải biến cho phù hợp với điều kiện của Việt nam
1.3 Sản xuất và phân phối chế phẩm vi sinh cố định đạm chất lượng cao tại Việt
Cán bộ nghiên cứu và các phòng thí nghiệm tại ISF và CTU được trang
Giả định rằng năng lực sản xuất tăng lên
về số lượng, về chất
Trang 18nam bị để sản xuất chế phẩm
chất lượng cao, đáp ứng
đủ về số lượng cho các thử nghiệm đồng ruộng diện rộng và đáp ứng đòi hỏi số lượng nhỏ của nông dân hiện nay
lượng và tăng ảnh hưởng của chế phẩm đối với nông dân trong thời gian thực hiện dự án
2.1 Trình diễn đồng ruộng kết hợp với hội thảo đầu bờ
và hội thảo tập huấn về sử dụng chế phẩm, đánh giá hiệu quả cố định đạm và lợi ích của chế phẩm
Sử dụng các trình diễn đồng ruộng tại nông hộ
và hội thảo tập huấn tại các vùng hoạt động của
dự án để giáo dục nông dân và cán bộ khuyến nông về sử dụng và hiệu quả của chế phẩm
Các lô đất trên ruộng nông dân đại diện cho các nghiệm thức của các thí nghiệm trình diễn đồng ruộng
sẽ biểu diễn một cách hiệu quả lợi ích của chế phẩm Sự quan tâm của cán bộ khuyến nông và nông dân về công nghệ nhiễm chế phẩm vi sinh cố định đạm ở cây họ đậu
2.2 Tài liệu khuyến nông về phương pháp sử dụng chế phẩm, ảnh hưởng của chế phẩm đến năng suất, lợi nhuận và lợi ích đối với môi trường được viết, xuất bản
và phấn phối thông qua hội nghị đầu bờ và hôi thảo tập huấn cho nông dân, cán bộ
Thông tin được chấp nhận về phương pháp
và lợi ích của sử dụng chế phẩm bởi cán bộ khuyến nông và nông dân
Tài liệu khuyến nông gần gũi với các đối tượng của dự án
Trang 19khuyến nông và cán bộ nghiên cứu
3.1 Doanh nghiệp tư nhân bắt đầu tham gia vào marketing sản phẩm
Các thông về lợi ích, sử dụng và sự hiện diện của chế phẩm được biết đến một cách rộng rãi
Thị trường lớn và doanh nghiệp tư nhân quan tâm đến sản xuất chế phẩm này
3.2 Tăng sự tham gia trong sản xuất chế phẩm khi công nghệ phát triển và thị trường mở rộng
Tăng năng lực sản xuất Sản xuất thương mại
chế phẩm tồn tại được cho doanh nghiệp tư nhân
Hoạt động 1.1.1 Thu nhận và thử
nghiệm các chủng trong các
hệ thống sản xuất chế phẩm
Các chủng lựa chọn đảm bảo đưa vào sản xuất có chất lượng cao
và thời gian bảo quản dài
Hoàn tất-Các chủng rhizobium thương mại
có hoạt tính cao CB1809 và NC92 cung cấp từ Úc tháng 3/2007 cho sản xuất chế phẩm cho cây đậu tương và lạc
1.2.1 Đào tạo cho tất cả cán bộ nghiên cứu về QA/kỹ thuật thực hiện QC
Hoàn tất đào tạo Có báo cáo đánh giá các học viên
Hoàn tất- Hội thảo đào tạo QA thực hiện
tại Việt nam tháng 2-3/2007 cho 17 cán bộ khoa học và kỹ thuật viên
1.2.2 Mua các thiết bị và vật liệu, hóa chất phục vụ cho duy trì hoạt tính của các chủng và cho chương trình
QA
Phòng thí nghiệm được trang bị để thực hiện duy trì hoạt tính của các chủng và bảo đảm chất lượng sản phẩm Thiết
bị và hóa chất, vật liệu được liệt kê và thực hiện việc bảo trì
Tiếp tục Tủ lạnh, vortex mixer, đèn cấy
gas, máy tính xách tay, mirowave, MasterFlex (đầu bơm thiết bị pha loãng),các dụng cụ thuỷ tinh: erlen, ống nghiệm, ống đong, becher, và khác
Phòng nuôi cây đã dược xây dựng tại OPI cho kiểm tra chất lượng sản phẩm
1.2.3 Tiêu chuẩn hóa QA
và kết quả tại IAS và OPI Thống nhất giữa các phòng thí nghiệm về
quản lý chất lượng sản
Hoàn tất – đồng ý rằng OPI sẽ thực hiện
công tác QA
Trang 20phẩm Các kết quả được báo cáo đi kèm với kế hoạch chương trình bảo đảm chất lượng liên tục 1.2.4 Phân tích/tổng hợp
về chương trình QA tại Việt nam và chuẩn bị thực hiện nội dung của QA
Quyết định chương trình
QA (OPI sẽ tiếp tục với chương trình QA quốc gia) Các nội dung của chương trình QA được chuẩn bị
Hoàn tất – (xem báo cáochi tiết Hội thảo
QA trong báo cáo 6 tháng đầu tiên)
1.2.5 Đánh giá thường xuyên chất lượng và thời gian bảo quản chế phẩm
Chế phẩm có chất lượng cao, có sẵn để tiếp cận thị trường Chương trình kiểm tra và báo cáo
Bắt đầu với kiểm tra chất lượng chế phẩm dùng cho các thí nghiệm đồng ruộng và thí nghiệm Kiểm tra chất lượng cho sản xuất lớn sẽ bắt đầu khi sản xuất bắt đầu
1.3.1 Đào tạo tất cả cán bộ nghiên cứu về sản xuất chế phẩm chất lượng cao
Hoàn tất đào tạo Có báo cáo đánh giá các học viên
Tiếp tục- đào tạo về công nghệ sản xuất
chế phẩm thực hiện tại Thái Lan vào tháng 3/2007 cho 3 cán bộ nghiên cứu Việt nam (xem báo cáo chi tiết Sáu tháng đầu tiên) Đợt đào tạo thứ hai đã đươc thực hiện từ 5-19/10/2008 cho 4 cán bộ nghiên cứu của Việt nam tại Thái lan (xem Phụ lục 4) 1.3.2 Mua sắm thiết bị,
hóa chất, vật liệu tại ISF và CTU để sản xuất chế phẩm chất lượng cao
Phòng thí nghiệm ISF và CTU được trang bị phục
vụ sản xuất Thiết bị, hóa chất, vật liệu được liệt kê và có kế hoạch bảo trì
Đang tiếp tục Tại IAS và SFI hoá chất và các nguyên vật liệu đã được mua để phục
vụ cho nghiên cứu và cho sản xuất chế phẩm Ghi chú rằng Đại học Cần Thơ không còn tham gia trong dự án nữa
1.3.3 Đánh giá thị trường các chế phẩm vi sinh cố
Phát triển mô hình sản xuất trong đó chỉ ra năng
Điều tra đã hoàn tất kết quả đã được trình bày trong Báo cáo Thông tin Ban đầu
Trang 21định đạm tại Việt nam và năng lực sản xuất của các Viện tham gia trong dự án
lực sản xuất cao nhất
Báo cáo về nhu cầu hiện tại và dự đoán nhu cầu tương lai của chế phẩm tại Việt nam và năng lực sản xuất của các Viện
tháng 4/2008
1.3.4 Phát triển kỹ thuật sản xuất ở tất cả các Viện tham gia trong dự án mà công nghệ này có hiệu quả cao, phù hợp với điều kiện Việt nam
Kỹ thuật mới/thích ứng
mà tạo sản phẩm chất lượng cao, năng suất cao Báo cáo khoa học
Bắt đầu và đang tiếp tục – công nghệ sản xuất tại OPI (tpHCM), IAS (tpHCM) và SFI (Hà nội), xây dựng hội thảo QA tại tp HCM tháng 3/2007, đào tạo công nghệ sản xuất tại Thái Lan tháng 6/2007 và Hội thảo Tiến
độ dự án 2/2008 Đào tạo về các chủng rhizobium đang tiến hành tại Trường Đại học Sydney và ALIRU
1.3.5 Đánh giá tính hiệu quả của các dạng chế phẩm
và áp dụng đồng ruộng
Các khuyến cáo sử dụng các dạng chế phẩm khác nhau tại Việt nam Báo cáo, các trình diễn trên đồng ruộng
Các thí nghiệm đồng ruộng thực hiện
trong suốt giai đoạn 2007/2008 cho thấy khi nhiễm đậu tương và lạc với các chủng
có hoạt tính cao CB1809 và NC92 của úc tăng nốt sần, năng suất sinh khối và năng suất hạt trung bình là 54%, 32% and 30%,
so với đối chứng không nhiễm và 22%, 11
% and 13% so với các chủng của Việt nam
1.3.6 Phát triển một chương trình phân phối chế phẩm thông qua doanh nghiệp tư nhân và khuyến nông tại Việt nam
Sư phân phối hiệu quả các chế phẩm cho nông dân Nông dân có khả năng có được chế phẩm
Komix và Sơn La phân phối chế phẩm Các viện nghiên cứu sẽ sản xuất chế phẩm (IAS, SFI, IOOP), sản phẩm sẽ được kiểm tra chất lượng (bởi IOOP) và sau đó gởi đến các công ty ở khoảng giai đoạn chuẩn bị gieo, Các công ty sẽ phân
Trang 22phối cho nông dân ở các vùng trọng điểm Cũng theo cách này, các Trung tâm
khuyến nông của tỉnh sẽ phân phói chế phẩm cho nông dân (Đồng Tháp, vào vụ Xuân/Hè 2009, Trà Vinh và Bình Định vụ Đông Xuân 2008/2009
Thông tin phản hồi từ nông dân sẽ là:
- Có bao nhiêu nông dân sử dụng chế phẩm trên ruộng của họ?
- Năng suất so với áp dụng phân bón N của nông dân hiện tại?
- Nông dân có muốn dùng sản phẩm trong vụ kế tiếp không?
Phân tích kinh tế/khả năng áp dụng của kỹ thuật sản xuất, chế phẩm và phân phối sản phẩm Báo cáo và khuyến cáo về sản xuất chế phẩm và phân phối tại Việt nam
Điều tra và đào tạo năm đầu tiên đã hoàn tất – tóm tắt và phân tích sản xuất chế phẩm đã chuẩn bị trong Báo cáo Thông tin ban đầu (cũng xem Phần 5.1.3 và Phụ lục
5 trong báo cáo này)
2.1.1 Thiết lập các thử nghiệm đồng ruộng trong Thử nghiệm đồng ruộng được thiết lập và được Có trong 10 tỉnh Nói chung, sử dụng chế 35 điểm trình diễn đã được thực hiện
Trang 23các vùng hoạt động của dự
án để trình diễn hiệu quả của sử dụng chế phẩm khi
so sánh với sử dụng phân đạm hóa học
quan sát phẩm cho đậu tương và lạc đã tăng thu
nhập cho nông dân, trung bình khoảng 4.3000.000VNĐ/ha Lợi nhuận thay đổi tuỳ thuộc vào vùng
2.1.2 Sử dụng các lô thí nghiệm để trình diễn ảnh hưởng của chế phẩm cho cán bộ khuyến nông và nông dân, thông qua các hội thảo đầu bờ
Trình diễn được thực hiện ở các ruộng nông dân Thực hiện các hoạt động khuyến nông
Nông dân đã được mời đến điểm trình
diễn ít nhất 1 lần Ở nhiềi điểm nông dân
đã đến điểm trình diễm 2-3 lần như ở DakLak và DakNong, họ đến ở thời điểm quan sát nốt sần, thu hoạch sinh khối cũng như thu hoạch hạt Ở mỗi điểm trình diễn
có ít nhất 20 nông dâ, cán bộ khuyến nông
và cán bộ nông nghiệp đến thăm quan và đánh giá (700–1050 người) Họ quan sát
sự phát triễn của đậu tương và lạc, so sánh sức khoẻ và tăng trưởng của cây ở các lô nhiễm và không nhiễm Họ nhận các tài liệu khuyến nông Cán bộ nghiên cứu và cán bộ khuyến nông giải thích rhizobium hoạt động như thế nào và các điều kiện tốt cho chúng phát huy tác dụng 2.1.3 Đánh giá hiểu biết
của nông dân và thái độ sử dụng chế phẩm
Điều tra được thực hiện thông qua khuyến nông
và doanh nghiệp tư nhân Báo cáo về số liệu điều tra
Điều tra đã hoàn tất – kết quả đã trình bày trong Báo cáo Thông tin ban đầu
2.1.4 Thiết lập các thử nghiệm để trình diển áp dụng kỹ thuật và hiệu quả của các sản phẩm vi sinh cố
Các thử nghiệm được thiết lập và các kỹ thuật
áp dụng được trình diễn cho nông dân và cán bộ
Trang 24định đạm khác khuyến nông Báo cáo
khoa học về các chế phẩm hiệu quả nhất/thích hợp nhất và
kỹ thuật phân phối sản phẩm
2.2.1 Chuẩn bị các bài viết
từ tài liệu và từ các thí nghiệm đồng ruộng về lợi ích của việc nhiễm chế phẩm vi sinh cố định đạm cho cây
Báo viết được chuẩn bị
và phân phối cho cán bộ nghiên cứu, cán bộ khuyến nông và nông dân
Đã bắt đầu (Xem phụ lục 4 và 6 của báo cáo lần 2) và đang tiếp tục
2.2.2 Chuẩn bị sổ tay hướng dẫn sử dụng chế phẩm
Sổ tay hướng dẫn được chuẩn bị, phân phối cho nông dân, cán bộ khuyến nông và cán bộ nghiên cứu
Tiếp tục
3.1.1 Chuẩn bị tài liệu marketing cho chế phẩm vi sinh cố định đạm
Tài liệu marketing được xuất bản và phân phối bởi các doanh nghiệp tư nhân
Đã bắt đầu (Xem phụ lục 4 và 6 của báo cáo lần 2) và đang tiếp tục
3.1.2 Thực hiện đào tạo cho doanh nghiệp tư nhân
về lợi ích của nhiễm chế phẩm vi sinh cố định đạm cho cây
Đào tạo được hoàn thành Học viên được đánh giá/công nhận
Đang tiếp tục – thông qua các thí nghiệm đồng ruộng và các trình diễn đồng ruộng của các viện (IOOP, SFI) và công ty tư nhân (Komix) và phân phối chế phẩm tại SFI cho công ty Sơn La cho nông dân thử nghiệm Son La
3.2.1 Đánh giá thị trường đối với chế phẩm vi sinh cố
Phát triển một mô hình sản xuất trong đó chỉ ra
Bắt đầu (xem báo cáo Thông tin ban đầu
và phần 5.1.3 của báo cáo thứ 2 ) và tiếp
Trang 25định đạm ở Việt nam và năng lực sản xuất của các viện nghiên cứu/doanh nghiệp
các thiếu hụt năng lực hiện tại và nhu cầu của doanh nghiệp tư nhân
Báo cáo về mô hình sản xuất và kế hoạch kinh doanh cho sản xuất tiếp theo tại Việt nam
tục thực hiện trong thời gian còn lại của
dự án
3.2.2 Đào tạo doanh nghiệp tư nhân về sản xuất chế phẩm vi sinh cố định đạm chất lượng cao và quản lý chất lượng sản phẩm
Tăng năng lực sản xuất
và tăng số lượng sản phẩm
Bắt đầu và tiếp tục – đào tạo QA tháng 3/2007 cho cán bộ và kỹ thuật viên từ Fitohoocmon (2), Humix (2) và Củ Chi (1)
2-3.2.3 Phân tích/tổng hợp
về sản phẩm vi sinh cố định đạm và kỹ thuật sản xuất của các doanh nghiệp tư nhân
Phân tích hiệu quả kinh tế/khả năng ứng dụng các kỹ thuật sản xuất, sản phẩm và phân phối sản phẩm Báo cáo và khuyến cáo cho sản xuất chế phẩm và phân phối tại Việt nam
Bắt đầu (xem Phụ lục 5 của báo cáo này)
và tiếp tục trong thời gian còn lại của dự
án
ĐẦU VÀO Năm 2 Kế họach (3/2008 –
3/2009) Hiện thực (3/2008 – 11/2008) Diễn giải
Nhân sự phía Việt nam IOOP
MOI IAS ISF
Ngay sau khi tham dự hội thảo kế họach
dự án và đào tạo về QA tại Tp HCM trong tháng 2 -3/2007, trường Đại học Cần Thơ không tiếp tục tham gia trong dự án Hai