Chỉ thị số 41-CT/TW ngày 22/9/1998 của Bộ chính trị về xuất khẩu lao động vầ chuyên gia nêu rõ: “xuất khẩu lao động và chuyên gia là một hoạt động kinh tế xã hội góp phần phát triển ngu
Trang 1Chương 2
Vai trò quản lý của nhà nước về hoạt động xuất khẩu lao động
1 Khái niệm
Quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động là sự tác động của nhà nước thông qua các chính sách để điều chỉnh công tác tuyển mộ, tuyển chọn, đào tạo và giáo dục định hướng quan hệ lao động, thannh lý hợp đồng trong hoạt động xuất khẩu lao động nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này
2 Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về xuất khẩu lao động
2.1 Xuất phát từ vấn đề kinh tế
Theo thống kê của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), khoản thu nhập của người lao đông của nước ngoài mỗi năm đạt tới 65,5 tỷ USD, trong khi đó hàng năm tổng các khoản viện trợ chính thức (ODA) chỉ đạt mức 51 tỷ USD Người đi làm việc ở nước ngoài thường có mức thu nhập bình quân cao hơn trong nước từ 6 đến 10 lần Chênh lệch về thu nhập là nguyên nhân khiến nhiều nước tận dụng mọi thời cơ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài Tại Việt Nam cùng với việc chuyển sang nền kinh tế thị trường, trong hơn 10 năm (1991 - hết tháng 6/2003) theo cơ chế mới đã đưa được gần 250.000 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, đem lại thu nhập hàng năm 1 -1,5 tỷ USD Xuất khẩu lao động làm tăng ngân sách quốc gia, tăng thu nhập cho người lao động và góp phần giải quyết việc làm trong nước
2.2 Xuất phát từ vấn đề việc làm
Việt Nam là một quốc gia có cơ cấu dân số trẻ với tỉ lệ số người trong độ tuổi lao động là 67% dân số cả nước Hàng năm, Việt Nam phải tạo ra hơn
1 triệu việc làm mới, khoảng gần 8 triệu lao động thiếu việc làm, hàng chục
Trang 2vạn bộ đội phục viên, lao động dôi dư ở khu vực Nhà nước Trong những năm qua, nhờ chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế nước
ta đã đạt được những thành tựu đáng kể, trong đó có việc giải quyết việc làm trong nước; tuy nhiên so với số lượng lao động cần giải quyết việc làm hàng năm cũng chỉ đạt 35% nhu cầu Chính vì vậy, đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động là một trong những giải pháp vô cùng quan trọng, không chỉ trước
mắt mà còn có ý nghĩa chiến lược lâu dài.2.3 Xuất phát từ vấn đề công
nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.Xuất khẩu lao động mang lại một nguồn
ngoại tệ mạnh cho đất nước góp phần tăng nguồn vốn đầu tư cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá.Người lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc sẽ học tập được tác phong làm việc công nghiệp sản xuất lớn, thái độ đúng đắn trong công việc cùng với một tay nghề vững chắc khi về nước họ
sẽ là nguồn nhân lực đáng quý tham gia vào công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước.Lực lượng lao động này nếu làm việc tôt sẽ góp phần tăng thêm uy tín, vị thế của nước ta trên trường quốc tế, tăng cường sự hiểu biết và góp phần thúc đẩy quan hệ hơp tác giữa Việt Nam và các nước trên thế giới
2.4 Lợi thế lao động xuất khẩu của Việt Nam
Thứ nhất, xuất khẩu lao động đã trở thành chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước Đại hội VIII của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định : "Phải đẩy mạnh xuất khẩu lao động", hoạt động xuất khẩu lao động trong những năm gần đây đã được sự quan tâm chú ý của các ngành, các cấp và các tầng lớp dân cư trong xã hội
Thứ hai, nguồn lao động nước ta dồi dào, theo thống kê số lượng người trong độ tuổi lao động tính đến tháng 7/2002 là 40.694.360 người, mỗi năm bình quân có thêm hơn 1 triệu người bổ sung vào lực lượng lao động đó Thứ ba, cơ cấu dân số nước ta thuộc loại trẻ, đại bộ phận (53%) ở độ tuổi
Trang 3dưới 30, dưới 40 là 78%, chỉ có 22% dân số ở độ tuổi trên 40
Thứ tư, giá nhân công Việt Nam rẻ hơn nhiều so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, có sức cạnh tranh trên thị trường lao động quốc tế Thứ năm, Việt Nam đang không ngừng tiến xa hơn trên con đường hội nhập với thế giới, trong khi thị trường lao động quốc tế cũng không ngừng tăng trưởng và đa dạng Đây là cơ hội quan trọng để Việt Nam tham gia và phát huy lợi thế của mình trong lĩnh vực xuất khẩu lao động
3 Vai trò quản lý của nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao động
3.1 Công tác hoạch định chính sách, chiên lược
Với vai trò to lớn của mình, hoạt động xuất khẩu lao động là một trong những vấn đề được Đảng và Nhà nước quan tâm nhằm góp phần thúc đẩy hoạt động này một cách hiệu quả
Chỉ thị số 41-CT/TW ngày 22/9/1998 của Bộ chính trị về xuất khẩu lao
động vầ chuyên gia nêu rõ: “xuất khẩu lao động và chuyên gia là một hoạt động kinh tế xã hội góp phần phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động, tăng nguồn thu ngoại tệ cho đất nước và tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế giữa nước
ta với các nước khác”
Chỉ thị đã đưa ra một số chủ trương nhằm định hướng cho hoạt động quản lý xuất khẩu lao động:
· Cùng với việc giải quyết việc làm trong nước là chính thì việc xuất khẩu lao động và chuyên gia là một chiến lược quan trọng, lâu dài, góp phần xây dựng đội ngũ lao động cho công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa- hiện dại hóa đất nước; là một bộ phận của hợp tác quốc tế, góp phần củng cố quan hệ hữu nghị, hợp tác lâu dài với các nước
· Xuất khẩu lao dộng và chuyên gia phải được mở rộng và đa dạng hóa hình
Trang 4thức, thị trường, xuất khẩu lao động phù hợp với cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, đáp ứng nhu cầu của nước ngoài về nhu cầu, số lượng
và ngành nghề Xuất khẩu lao động và chuyên gia một mặt phải đảm bảo sức cạnh tranh trên cơ sở tăng cường lực lượng đào tạo kĩ thuật và chuyên gia, nâng dần tỷ trọng lao động có chất lượng cao trong tổng số lao động xuất khẩu và nâng cao trình độ quản lý của đơn vị xuất khẩu lao động
· Phát triển, khuyến khích đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường lao động, đào tạo ngoại ngữ, giáo dục ý thức pháp luật; làm rõ quyền lợi, nghĩa vụ của doanh nghiệp và người lao động, tôn trọng phong tục tập quán, văn hóa, hòa nhập thị trường lao động quốc tế
Nghị định số 08/2003/NĐ-CP 10/02/2003, trong đó yêu cầu các cơ quan đại
diện Việt Nam ở nước ngoài hỗ trợ trong việc cung cấp thông tin và làm việc với các cơ quan chức năng, tổ chức nước sở tại để mở rộng thị trường lao động
Nghị định số 81/2003/NĐ –CP ngày 17/7/2003 đã cụ thể hóa quy định cụ
của Bộ luật lao động tạo cơ sở cho hoạt động quản lý xuất khẩu lao động và thúc đẩy hoạt động xuất khẩu lao động
Ngoài ra còn có Luật người lao động Việt Nam đi làm việc với nước ngoài
và một số quy định, nghị định khác
3.2 Tổ chức bộ máy quản lý
Theo điều 5, nghị định 81/2003 quy định “Cơ quan quản lý Nhà nước về lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài là Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Bộ này có nhiệm vụ thống nhất quản lý nhà nước về lao động Việt Nam
ở nước ngoài trong phạm vi cả nước”
Trách nhiệm của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội trong hoạt động xuất
Trang 5khẩu:
- Phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu phát triển thị trường, xây dựng chiến lược, kế hoạch, quy hoạch về xuất khẩu lao dộng để chỉ đạo thực hiện
- Nghiên cứu xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, chính sách, cơ chế xuất khẩu lao động trình Chính phủ ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền, hướng dẫn và tổ chức thực hiện;
- Đàm phán, kí kết các điều ước quốc tế về đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo ủy quyền;
- Quy định hồ sơ của người lao động đi làm việc ở nước ngoài; danh mục các nghề và công việc cấm;
- Xây dựng và hướng dẫn thực hiện kế hoạch đào tạo lao động xuất khẩu, quy định chương trình đào tạo, bồi dưỡng người lao động, cán bộ, doanh nghiệp xuất khẩu lao động, cán bộ quản lý lao động ở nước ngoài;
- Thanh tra, kiểm tra các cá nhân, tổ chức vầ doanh nghiệp có liên quan đến việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài
Trách nhiệm của các bộ, ngành có liên quan
- Bộ Ngoại giao chỉ đạo các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài phối hợp với Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội thực hiện quản lý nhiệt Nam
ở nước ngoài; cung cấp kịp thời cho Bộ Ngoại giao, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội và các bộ ngành chức năng thông tin về thị trường lao động ở nước ngoài và tình hình người lao động Việt Nam ở nước sở tại
- Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội quản lý quỹ hỗ trợ xuất khẩu lao động, lệ phí cấp giấy phép, phí đào tạo- giáo dục định hướng, phí dịch vụ xuất khẩu lao động…
- Bộ Công an cấp hộ chiếu cho người lao động theo quy định của pháp luật
và trong phạm vi trách nhiệm của mình phối hợp với Bộ Lao động- Thương
Trang 6binh và Xã hội trong việc phòng các hành vi vi phạm pháp luật về hoạt động xuất khẩu lao động
- Bộ Y tế phối hợp với Bộ Tài chính quy định phí kiểm tra sức khỏe cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài, và chỉ đạo cơ sở y tế tổ chức kiểm tra sức khỏe và chịu trách nhiệm về sức khỏe
- Bộ Thương mại và Ngân hàng nhà nước Việt Nam nghiên cứu trình Chính phủ ban hành và ban hành theo thẩm quyền các chính sách tạo điều kiện để người lao động và doanh nghiệp xuất khẩu lao động được thực hiện quyền
và nghĩa vụ của mình
- Bộ Văn hóa- Thhoong tin phối hợp với các bên liên quan định hướng và chỉ đạo các cơ quan thông tin đại chúng trong việc tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về hoạt động xuất khẩu lao động; xử lý kịp thời và nghiêm minh các trường hợp đưa thông tin thiếu chính xác làm ảnh hưởng tới hoạt động xuất khẩu lao động
Việc quản lý hoạt động xuất khẩu lao động không chỉ là trách nhiệm vai trò của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội mà là sự phối hợp quản lý của các Bộ, ngành có liên quan và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu trong nước và nước ngoài
3.3 Chỉ đạo thực hiện
Trên cơ sơ chiến lược mà Đảng và Nhà nước đã đề ra, với nhiệm vụ và quyền hạn của mình, Bộ Lao động – Thương binh và xã hội đã chỉ đạo vụ, cục, ngành có liên quan và các doanh nghiệp cung ứng và tiếp nhận lao động
cả ở trong nước và nước ngoài phù hợp với chủ trương chính sách của Đảng
và phát luật của Nhà nước
Tuy nhiên việc chỉ đạo này chỉ mang tầm vĩ mô và Nhà nước không thể quản lý và chỉ đạo một cách trực tiếp đối với người lao động.Hoạt động xuất
Trang 7khẩu lao động của nước ta chủ yếu vẫn phải thông qua các công ty môi giới Chính phủ ta và chính phủ nước bạn ký kết các hiệp định, thoả thuận về việc đưa và tiếp nhận lao động ở tầm vĩ mô, còn công việc cụ thể được giao cho doanh nghiệp xuất khẩu lao động Việt Nam và các công ty môi giới tiến hành Với sự biến động của thị trường cũng như tình hình chính trị của thế giới thay đổi, Nhà nước vẫn phải đảm bảo vai trò trong việc nghiên cứu thị trường để có sự thay đổi chính sách phù hợp hơn
Như đã nói ở trên, hoạt động xuất khẩu chủ yếu thông qua các các công ty môi giới, nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng được cấp giấy phép xuất khẩu lao động Đối tượng được cấp giấy phép hoạt động xuất khẩu lao động bao gồm các loại hình doanh nghiệp sau: doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần mà nhà nước giữ cổ phần chi phối, doanh nghiệp thuộc cơ quan trung ương các tổ chức chính trị xã hội và doanh nghiệp thuộc Phòng Thương mại Việt Nam, các doanh nghiệp khác do thủ tướng Chính phủ xem xét quyết định
Tất cả các doanh nghiệp đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài và người lao động đi làm việc theo hợp đồng lao động cá nhân ở nước ngoài đều phải đăng kí hợp đồng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền.tương ứng với mỗi hình thức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài thì việc đăng kí hợp đồng có sự khác nhau, cụ thể là:
- Doanh nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài thì phải đăng
ký tại Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
- Đối với người lao động đi theo hợp đồng cá nhân thì đăng kí tại Sở Lao động Thương binh Xã hội địa phương nơi người lao động cư trú
- Đối với người Việt Nam ở nước ngoài thì đăng kí với cơ quan đại diện Việt Nam ở nước sở tại
Để đảm bảo quyền và lợi ích của người lao động làm việc tại nước ngoài
Trang 8Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 163/2004/QĐ-TTg 08/9/2004
về việc thành lập, quản lý và sử dụng quỹ hỗ trợ xuất khẩu lao động Mục đích của quyết định này nhằm phát triển thị trường lao động ngoài nước, nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của lao động Việt Nam trên thị trường lao động quốc tế, đồng thời hỗ trợ rủi ro cho người lao động và
doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu lao động
Nguồn của quỹ hỗ trợ bao gồm : Ngân sách Nhà nước cấp, đóng góp của các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu lao động (Doanh nghiệp trích 1% số thu phí dịch vụ xuất khẩu lao động để đóng góp vào quỹ hỗ trợ xuất khẩu lao động và được hoạch toán vào chi phí doanh nghiệp)
Sử dụng quỹ này nhằm hỗ trợ chi phí cho hoạt động thị trường lao động mới; hỗ trợ đào tạo nguồn lao động xuất khẩu, hỗ trợ người lao động và doanh nghiệp để giải quyết rủi ro gặp phải
Trong hoạt động xuất khẩu lao động khó tránh khỏi những rủi ro do sự biến động về tình hình an ninh cũng như chính trị của thế giới Lao động Việt Nam cũng không tránh khỏi sự cố đó, điển hình như vụ bạo loạn ở Liby năm
2011
Có khoảng 10,000 người Việt Nam ở Libya, hầu hết là công nhân, làm việc trong ngành xây dựng Với tình hình biến động ngày càng gia tăng ở Libya, lao động Việt Nam đứng trước tình thế vô cùng khó khăn khi bị mắc kẹt không thể trở về nước Có một câu hỏi được ra là người lao động Việt Nam
sẽ về nước ra sao và nếu có thì bằng phương tiện gì
Trong buổi họp báo tại Bộ Ngoại Giao Việt Nam ở Hà Nội ngày 22 tháng 2 Khi được hỏi: “Việt Nam có phản ứng như thế nào trước tình hình ở Libya
và đã có những biện pháp gì để bảo vệ công dân của nước mình tại đây,” phát ngôn viên Nguyễn Phương Nga trả lời: “Chúng tôi quan tâm với những diễn biến hiện nay ở Libya và hy vọng là tình hình sớm ổn định.” Trước tình
Trang 9hình đó, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đã phối hợp với các doanh nghiệp có lao động xuất khẩu ở Libya đưa lao động Việt Nam về nước Đến ngày 9-3 toàn bộ lao động Việt Nam về nước an toàn
3.4 Kiểm tra và xử lý các hành vi vi phạm trong hoạt động xuất khẩu lao động
Để thuận lợi cho việc thanh tra , kiểm tra hoạt động của tổ chức, cá nhân trong hoạt động xuất khẩu lao động Chính phủ ban hành Nghị định số
144/2007/NĐ – CP ngày 10/9/2007 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc tại nước ngoài
Nghị định này quy định các hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức phạt, thẩm quyền xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thủ tục xử phạt
vi phạm hành chính trong hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.· Vi phạm hành chính trong hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài bao gồm:a) Hành vi vi phạm điều kiện hoạt động của doanh nghiệp dịch vụ.b) Hành vi vi phạm quy định về việc đăng ký hợp đồng, báo cáo việc đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài.c) Hành vi vi phạm quy định về tuyển chọn, ký kết và thanh lý hợp đồng với người lao động.d) Hành vi vi phạm quy định về bồi dưỡng kỹ năng nghề, ngoại ngữ, kiến thức cần thiết cho người lao động.đ) Hành vi vi phạm quy định về thu, nộp, quản lý, sử dụng tiền môi giới, tiền ký quỹ và tiền dịch vụ; đóng góp Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước;e) Hành vi vi phạm quy định
về tổ chức đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và quản lý người lao động ở ngoài nước.g) Hành vi vi phạm của người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và một số đối tượng liên quan khác.· Các hình thức xử phạt - Hình thức xử phạt chính:Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở
Trang 10nước ngoài bị áp dụng một trong các hình thức xử phạt chính sau:a) Cảnh cáo;b) Phạt tiền.Mức quy định phạt tiền tối đa đối với một hành vi vi phạm hành chính trong hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là 40.000.000 đồng - Hình thức xử phạt bổ sung:Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, tổ chức, cá nhân vi phạm còn bị áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung sau:a) Thu hồi Giấy phép hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài (sau đây gọi là Giấy phép);b) Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính;c) Buộc
về nước.3.5 Quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về xuất khẩu lao độngỦy ban nhân dân tỉnh có vai trò nhất định trong việc quản lý
nhà nước về xuất khẩu lao động trong phạm vi địa phương Cấp tỉnh đảm nhận công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương chính sách về xuất khẩu lao động và tạo nguồ và giới thiệu người lao động có ý thức tổ chức, trình độ tay nghề…để tham gia dự tuyển đi làm việc ở nước ngoài Ủy ban nhân dân tỉnh
có trách nhiệm thanh tra, kiểm tra hoạt động xuất khẩu lao động tai địa
phương, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm liên quan đến hoạt động xuất khẩu lao động
4 Thành tựu đạt được và hạn chế của quản lý Nhà nước về XKLD
4.1 Thành tựu
· Kết quả đạt được
Theo số liệu báo cáo từ các doanh nghiệp, tổng số lao động đi làm việc ở nước ngoài trong tháng 7/2011 là 8.026 người Trong đó Đài Loan 2.992 người; Hàn Quốc 2.355 người; Nhật Bản 694 người; Malaysia 812 người; Lào 298 người; UAE 91 người, Ả rập Xê út 211 người, Macao 89 người, Campuchia 167 người, Israel 156 người, Algeria 117 người và các thị trường khác là 44 người
Như vậy, tổng số lao động đưa đi trong 7 tháng đầu năm 2011 là 54.352