Do các tuyến kết nối giữa hai điểm kết nối được xác lập cố định, có băng tầnkhông đổi, thậm chí khi không có lưu lượng đi qua hai điểm này thì băng thông nàycũng không thể được tái sử dụ
Trang 1CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ NG-SDH1.1 NHỮNG HẠN CHẾ CỦA CÔNG NGHỆ TRUYỀN DẪN SONET/SDH TRUYỀN THỐNG
SONET/SDH truyền thống là công nghệ TDM đã được tối ưu hóa để truyền tảicác lưu lượng dịch vụ thoại Khi truyền tải các lưu lượng dựa trên dịch vụ IP, cácmạng sử dụng công nghệ SONET/SDH truyền thống gặp phải một số hạn chế sau:
1.1.1 Liên kết cứng
Do các tuyến kết nối giữa hai điểm kết nối được xác lập cố định, có băng tầnkhông đổi, thậm chí khi không có lưu lượng đi qua hai điểm này thì băng thông nàycũng không thể được tái sử dụng để truyền tải lưu lượng của kết nối khác dẫn tớikhông sử dụng hiệu quả băng thông của mạng Trong trường hợp kết nối điểm điểm(Hình 1.1a), mỗi kết nối giữa hai điểm chỉ sử dụng 1/4 băng thông của cả vòng ring.Cách xác lập kết nối cứng như vậy làm giới hạn băng thông tối đa khi truyền dữ liệu
đi qua hai điểm kết nối, đây là một hạn chế cơ bản của mạng SONET/SDH truyềnthống khi truyền tải các dịch vụ IP, do các dịch vụ này có đặc điểm thường có sựbùng nổ về nhu cầu lưu lượng một cách ngẫu nhiên
1.1.2 Lãng phí băng thông khi sử dụng cấu hình mesh.
khi mạng SONET/SDH thiết lập các liên kết logic để tạo ra cấu trúc mesh nhưhình 1.1b, băng thông của vòng ring buộc phải chia thành 10 phần cho các liên kếtlogic Việc định tuyến phân chia lưu lượng như vậy không những rất phức tạp màcòn làm lãng phí rất lớn băng thông của mạng Khi nhu cầu lưu lượng truyền trongnội bộ mạng MAN tăng lên, việc thiết lập thêm các node, duy trì và nâng cấp mạngtrở nên hết sức phức tạp
1.1.3 Các lưu lượng truyền dữ liệu quảng bá
Trang 2Các gói tin quảng bá được sao chép lại thành nhiều bản và gửi đến từng điểm đíchdẫn tới việc phải truyền nhiều lần cùng một gói tin trên vòng ring Điều này gâylãng phí lớn đối với băng thông của mạng
1.1.4 Lãng phí băng thông cho việc bảo vệ mạng
Thông thường đối với các mạng SONET/SDH 50% băng thông của mạngđược dành cho việc dự phòng cho mạng Mặc dù việc dự phòng này là hết sức cầnthiết nhưng các công nghệ SONET/SDH truyền thống không cung cấp khả năng chophép nhà cung cấp dịch vụ lựa chọn lượng băng thông sử dụng cho việc dự phòngcác sự cố
Bảng 1.1: Hiệu suất sử dụng băng thông khi truyền dịch vụ Ethernet qua mạng
a Điểm nối điểm b.Cấu hình mesh
Hình 1.1: Kết nối trong mạng SONET/SDH
Ngoài ra, khi sử dụng mạng SONET/SDH truyền thống để truyền các lưulượng Ethernet, ngoài các hạn chế trên thì còn có một yếu tố nữa là tốc độ củaEthenet không tương đương với SONET/SDH Điều này dẫn đến phải thiết lập cáctuyến kết nối của mạng SONET/SDH có tốc độ cao hơn so với của dịch vụ Ethenet,
Sîi quang KÕt nèi logic
Trang 31.2 GIỚI THIỆU VỀ CÔNG NGHỆ NG-SDH.
Cùng với nhu cầu sử dụng và sự phát triển công nghệ như vũ bão của ngànhcông nghiệp viễn thông buộc các nhà sản xuất, các nhà vận hành, các nhà khai thác
và các tổ chức chuẩn hóa hướng đến một mạng mới cắt giảm chi phí trong khi vẫn
mở rộng được dịch vụ
Công nghệ SDH được thiết kế tối ưu cho mục đích truyền tải các tín hiệu ghépkênh phân chia theo thời gian (TDM) Với khuynh hướng truyền tải dữ liệu ngàycàng tăng, hệ thống SDH truyền thống không thể đáp ứng được nhu cầu gia tăngcủa các dịch vụ số liệu nữa Xu hướng phát triển của dịch vụ viễn thông là:
Sự bùng nổ của các dịch vụ trên Internet
Sự tích hợp dịch vụ
Khả năng di động và chuyển vùng
Yêu cầu QoS theo nhiều mức độ khác nhau Có thể phân chia thànhbốn loại dịch vụ ứng dụng với các mức QoS khác nhau:
- Nhạy cảm với trễ và tổn thất (video tương tác, game…)
- Nhạy cảm với trễ nhưng tổn thất vừa phải (thoại)
- Nhạy cảm về tổn thất nhưng yêu cầu trễ vừa phải (dữ liệu tương tác)
- Yêu cầu đối với trễ và tổn hao đều không cao (truyền tệp)
Độ an toàn cao
Tính linh hoạt, tiện dụng
Giá thành mang tính cạnh tranh cao
Từ sự dẫn nhập ở trên có thể thấy xu hướng sử dụng dịch vụ theo hướng tăngtính giải trí, tăng tính di động, tăng khả năng thích nghi giữa các mạng, tăng tínhbảo mật, tăng tính tương tác nhóm, giảm chi phí…
Trang 4đơn giản, thuận tiện và mang lại hiệu quả kinh tế cao SDH thế hệ sau (NG-SDH)được phát triển dựa trên nền mạng SDH hiện tại, là một cơ chế truyền tải cho phéptruyền dữ liệu ở tốc độ cao, băng thông rộng và tồn tại đồng thời các dịch vụ truyềnthống và các dịch vụ mới trên cùng một mạng mà không làm ảnh hưởng lẫn nhau Điều quan trọng nhất là NG-SDH có thể thực hiện việc phân bố băng thông màkhông làm ảnh hưởng tới lưu lượng hiện tại Ngoài ra, NG-SDH còn có khả năngcung cấp chất lượng dịch vụ (QoS) thích hợp cho các dịch vụ mới và khả năngtruyền tải đồng thời nhiều loại dịch vụ khác nhau trong cùng một môi trường
Hình 1.2: Mô hình giao thức trong NG-SDH.
Mô hình giao thức trong NG-SDH cho phép các nhà khai thác cung cấp nhiềudịch vụ chuyển tải dữ liệu để tăng hiệu quả của các trạm SDH đã lắp đặt bằng cáchthêm vào các nút biên MSSP Nghĩa là không cần lắp đặt một mạng chồng lấp hoặcthay đổi tất cả các nút hay sợi quang Cắt giảm được chi phí trên 1 bit lưu chuyển,thu hút nhiều khách hàng mới và giữ được những dịch vụ kế thừa
Các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông sẵn sàng chuyển các dịch vụ Ethernet/IPtrong kinh doanh sang các mạng đô thị Mặt khác, sự kết hợp Ethernet/IP có thể làmtăng lợi thế truyền tải đường dài của SDH bao gồm sự mềm dẻo, tin cậy, khả năng
Trang 5Hình 1.3: Khả năng linh hoạt, mềm dẻo và hiệu quả của SDH thế hệ sau.
Phần lớn các nhà vận hành, khai thác đã sử dụng SDH trong vài thập niên trởlại đây, chủ yếu để chuyển tải thoại và các giao thức dữ liệu định hướng kết nối Do
đó, truyền tải dữ liệu không hướng kết nối là một thách thức Mặc dù nhiều kiếntrúc được phát triển theo hướng này (POS, ATM, ) nhưng chúng không được chấpnhận rộng rãi trong thương mại vì chi phí, sự phức tạp hoặc hiệu quả thấp
Trang 6nào và thứ hai là cách sử dụng băng thông hiệu quả Nghĩa là cần một lớp giao thứcthích ứng và một cơ chế sắp xếp mới để điều khiển việc sử dụng băng thông Cơ chếphải thực hiện được tất cả nhưng điều này và giữ được việc truyền tải SDH tin cậy
và sự quản lý tập trung
Các hệ thống truyền dẫn đang ngắm vào SDH trong việc định tuyến các khốilưu lượng SDH tốc độ cao cho mục đích truyền tải đường dài Để làm được việcnày, SDH cần một số giao thức sau:
1.2.1 Giao thức đóng khung chung (GFP).
Được định nghĩa trong khuyến nghị G.7041 ITU-T Đây là một giao thứcghép bất kỳ dịch vụ liên kết dữ liệu nào gồm Ethernet, quảng bá video số (DVB) vàcác mạng vùng lưu trữ (SAN) GFP được so sánh với các thủ tục đóng khung khácnhư gói qua SDH hay X.86 có mào đầu nhỏ đáp ứng yêu cầu phân tích, xử lý ít hơn
1.2.2 Ghép chuỗi ảo (VCAT).
Được định nghĩa trong khuyến nghị G.707 ITU-T, tạo ra các ống lưu lượng cókích thước biết trước, đáp ứng sự linh hoạt và khả năng lớn với sự kế thừa các côngnghệ trong SDH
1.2.3 Cơ chế điều chỉnh dung lượng tuyến (LCAS)
Được định nghĩa trong khuyến nghị G.7042 ITU-T, phân phối hoặc tập hợpcác đơn vị băng thông phù hợp các yêu cầu truyền tải dữ liệu hoặc để bổ sung sự cogiãn giữa hai điểm truyền tải
Những chức năng này được thực hiện trên các nút MSSP mới được đặt ở cácbiên của mạng Chúng trao đổi các gói dữ liệu khách hàng được tổng hợp qua nềnSDH mà tiếp tục không được thay đổi Nghĩa là các nút MSSP đại diện cho NG-SDH và được hiểu là sự kế thừa mạng SDH
1.3 NHỮNG ĐẶC TRƯNG CỦA NG-SONET/SDH.
Nhu cầu truyền tải các loại dịch vụ như IP, Ethernet, Fiber Channel,
Trang 7đến khi lưu lượng số liệu bùng nổ trong những năm đầu thập kỷ 90 người ta mớithực hiện nghiên cứu các giao thức nhằm sắp xếp lưu lượng số liệu vào trong tảiđồng bộ SONET/SDH Từ đó cho đến nay đã có nhiều giao thức thực thi được công
bố và chuẩn hóa trong các tổ chức tiêu chuẩn như ANSI, ETSI, ITU-T và tổ chứccông nghiệp như EITF, IOF,
1.3.1 POS ( Packet Over SONET/SDH).
Mạng truyền tải gói IP được đóng trong khung SONET/SDH được biểu diễntrong hình 1.4
Hình 1.4: Mô hình mạng truyền dữ liệu IP trên SONET/SDH.
Có hai kiểu giao diện IP/SDH:
VC4 hoặc “ống” kết chuỗi VC4 cung cấp băng tần tổng hợp, không cóbất cứ sự phân chia nào giữa các dịch vụ IP hiện diện trong luồng sợi
Giao diện kênh hóa, ở đây đầu ra quang STM-16 có thể chứa 16 VC4riêng rẽ với dịch vụ phân biệt cho từng VC4 VC4 khác nhau cũng có thể được địnhtuyến qua mạng SDH tới các bộ định tuyến đích khác nhau
Bảng 1.2: Các giao thức sử dụng cho IP/SDH
IP Gói số liệu có độ dài cực đại 65535 byte
Đóng khung gói theo PPP (RFC 1661) Thêm “trường giao thức” 1hoặc 2 byte và thực hiện nhồi theo tuỳ lựa PPP cũng cung cấp giao thức
Trang 8Đặt các khung HDLC trong tải VC4 hoặc VC4 kết chuỗi (RFC1619) Thêm mào đầu đoạn SDH (81 byte gồm cả con trỏ AU) và 9 VC4byte Mào đầu luồng vào 2340 byte tải VC4 SDH Đối với VC4 kếtchuỗi, tải V4-Xc có độ dài X*2340 Các khung được phép vắt ngang quaranh giới của các VC4 Giống như ATM, đa thức 1+x43 được sử dụngcho trộn tín hiệu để giảm thiểu rủi ro người sử dụng truy nhập với mụcđích xấu mà có thể gây mất đồng bộ mạng
Phiên bản IP/SDH được xem xét ở đây sử dụng giao thức PPP và khungHDLC Phiên bản này cũng được biết đến với tên gọi khác là POS PPP là mộtphương pháp chuẩn để đóng gói các gói IP và các kiểu gói khác cho truyền dẫn quanhiều môi trường từ đường điện thoại tương tự tới SDH, và cũng bao gồm chứcnăng thiết lập và giải phóng các tuyến (LCP) HDLC là phiên bản chuẩn hóa củaSDLC theo ISO, giao thức này được IBM phát triển trong những năm 1970 KhungHDLC chứa dãy cờ phân định ranh giới ở điểm đầu và điểm cuối của khung cùngmột trường kiểm tra CRC để kiểm soát lỗi
1.3.2 MAPOS (Giao thức đa truy nhập qua SONET/SDH).
Giao thức MAPOS là giao thức lớp tuyến số liệu hỗ trợ IP trên SDH Giaothức MAPOS cũng được gọi dưới một tên khác là POL Đây là một giao thứcchuyển mạch gói phi kết nối dựa trên việc mở rộng khung POS (PPP-HDLC) đượcNTT phát triển (xem bảng 1.3) Trước đây MAPOS được phát triển với mục đích
mở rộng dung lượng tốc độ cao SONET cho LAN nhưng hiện nay sự hiện diện củaGigabit Ethernet dường như đã làm cho người ta lãng quên nó
Trang 9Trong bảng 1.3 biểu diễn khung MAPOS thế hệ 1 và 2 Giao thứcMAPOS/POL được xem như sự mở rộng thành phần khung HDLC Các trườngđược truyền trong MAPOS là:
Dãy cờ, sử dụng cho đồng bộ khung
Địa chỉ, chứa địa chỉ đích HDLC (8 bit trong phiên bản 1 và 16 bit trongphiên bản 2)
Điều khiển, là trường điều khiển có giá trị 0x03, thuật ngữ chuyên môntrong HDLC nghĩa là khung thông tin không đánh số với bit Poll/Final được thiếtlập bằng 0
Giao thức, xác định giao thức cho việc bao gói số liệu trong trường thôngtin của nó
Thông tin, chứa gói số liệu tối đa 64Kbyte
Dãy kiểm tra khung, được tính trên khắp các bit mào đầu, giao thức vàtrường tin
Bảng 1.3: Khung MAPOS phiên bản 1 và phiên bản 2
Cờ Địa chỉ đích Điều khiển Giao thức Trường thông tin FCS
0x7E 8 bit 0x03 (16bit) (0-65280 bytes) (16/32 bit)
Cờ Địa chỉ đích Giao thức Trường thông tin FCS
0x7E 16 bit (16bit) (0-65280 bytes) (16/32 bit)
Việc thực hiện giao thức MAPOS trong bộ định tuyến IP chuẩn với các giaodiện POS đã được thực hiện trong khoảng thời gian ngắn chỉ có hai chức năng mới(Giao thức chuyển mạch nút-NSP và giao thức phân chia địa chỉ-ARP) được thêmvào giao thức MAPOS
1.3.3 LAPS ( LAN Adapter protocol Support Program).
Giao thức truy nhập tuyến SDH (LAPS) là một giao thức tuyến số liệu được
Trang 10vụ liên kết số liệu và chỉ tiêu giao thức để thực hiện việc sắp xếp gói IP vào tảiSDH
Hình 1.5: Ngăn giao thức/lớp cho IP trên STM-n sử dụng LAPS X.85
(Ngăn TCP/UDP/IP được thay bằng Ethernet đối với X.86).
IP/SDH sử dụng LAPS như một sự kết hợp kiến trúc thông tin số liệu giaothức IP (hoặc các giao thức khác) với mạng SDH Lớp vật lý, lớp tuyến số liệu vàlớp mạng hoặc các giao thức khác được hiện diện tuần tự gồm SDH, LAPS, và IPhoặc PPP Mối liên hệ này được biểu diễn như ngăn giao thức/lớp cho IP trênSTM-n Hình 1.5 mô tả IP/SDH như ngăn giao thức/lớp
Định dạng khung của LAPS bao gồm (Bảng 1.4):
Trường cờ: chỉ điểm bắt đầu và kết thúc khung (từ mã cố định01111110)
Trường địa chỉ: liền ngay sau trường cờ được gán giá trị cố định để biểuthị trường cờ
Trường điều khiển và SAPI: Trường điều khiển có giá trị hexa 0x03 vàlệnh thông tin không đánh số với giá trị Poll/Final là 0 SAPI chỉ ra điểm đó dịch vụtuyến số liệu cung cấp cho giao thức lớp 3
Trường thông tin: chứa thông tin số liệu có độ dài tối đa 1600 byte
TCP/UDPIP
Giao thức Internet
LAPS
Đoạn điện/quang
VC bậc caoĐoạn ghép kênhĐoạn lặp
VC bậc thấp
G.707/Y.1322
G.703/Y.957
Trang 111.4 ĐẶC TÍNH KỸ THUẬT CỦA NG-SDH.
1.4.1 Gói trên SONET/SDH (POS).
Gói trên SONET/SDH (POS) sử dụng sắp xếp IP trong SDH hoặc SONETchuẩn hoá nhờ giao thức điểm-điểm (PPP) hoặc điều khiển tuyến số liệu tốc độ cao(HDLC) như định nghĩa trong IETF [RFC1619] Gói trên SONET/SDH hoặc IPtrên SONET/SDH nhất thiết liên quan đến việc thêm các giao diện SONET/SDHcho bộ định tuyến mà kết cuối PPP PPP cung cấp bao gói đa giao thức, kiểm soátlỗi và các đặc tính điều khiển khởi tạo tuyến Các gói số liệu IP tạo bởi PPP đượclập thành khung nhờ giao thức HDLC [RFC 1662] và sắp xếp trong tải SDH (SPE).Chức năng chính của HDLC là chỉ ra các gói số liệu IP được bao bởi PPP qua tuyếntruyền dẫn đồng bộ FCS (Dãy kiểm tra khung) khung HDLC tính toán để xác địnhlỗi và gói tạo ra là các byte nhồi Sau đó khung HDLC được trộn để đảm bảo có sốlượng chuyển tiếp thích hợp trước khi tạo thành khung SDH cuối cùng Khung SDHthêm 36 byte mào đầu ngoài tổng kích thước 810 byte Ngoài ra, giao thức PPPdùng nhồi byte làm tăng đáng kể kích thước tải tin Điều này có thể gây nguy hạiđến việc phân bổ băng tần kết nối với sự quản lý QoS
Trang 12Hình 1.6: Ngăn giao thức và khung POS.
POS không sử dụng chức năng ghép kênh của SDH Kết nối nhiều containervới nhau tạo ra một container đơn và tốc độ giao diện cao Sự sắp xếp này cũngđược biết dưới một tên gọi khác, đó là “ghép chuỗi” tải SDH
1.4.2 LAPS.
LAPS là một phiên bản PPP đã được thay đổi một chút Về cơ bản, LAPS vẫngiữ những đặc tính sau của PPP:
Sử dụng khung như HDLC
Sử dụng nhồi byte/cơ chế phân định khung bằng mẫu cờ
Chỉ hỗ trợ topo Lớp 2 điểm - điểm (nghĩa là không sử dụng trường nhãn/địa chỉ)
Điểm khác biệt:
Sử dụng phiên bản giao thức tuyến số liệu rất đơn giản (không có trườnggiao thức, cho nên không có khung LCP
Sử dụng trường địa chỉ để nhận dạng IPv4 và IPv6
Giao thức này hiện vẫn được sử dụng để truy nhập vào tài nguyên mạng truyềntải vốn không được thiết kế tối ưu cho việc mang lưu lượng số liệu Các hệ thốngthiết bị SONET/SDH thế hệ cũ thường vẫn sử dụng giao thức này
Những thảo luận về LAPS là hoàn toàn tương tự như POS Điểm khác biệtnằm ở chỗ POS có khả năng kết chuỗi tải của SONET/SDH để tạo nên tuyến có
IP
PPP/ HDLC
SONET/ SDH
Flag 01111110
Address 11111111
Control 00000011
Protocol ID
1 or 2 bytes
Information Variable
PPP
Padding Variable
FCS
2 or 4 bytes
Flag 01111110
Trang 13Mạng MAPOS dựa trên truyền dẫn SDH sử dụng thủ tục POS PPP/HDLC.Mạng này được hỗ trợ bởi mạng truyền tải quang (WDM).
1.4.3.1 Hỗ trợ VPN và QoS.
MAPOS phiên bản 1 (V1) có địa chỉ 8 bit và MAPOS phiên bản 2 có địa chỉ
16 bit được thiết kế tương thích với định dạng PPP/HDLC trên khung POS SDH.MAPOS phiên bản 3 hội tụ nhiều chức năng mới rất hữu ích như QoS, MPLS và tối
ưu việc phát chuyển quảng bá (broadcast và multicast)
VPN được cung cấp trực tiếp bởi năng lực của MAPOS để truyền tải nhãnMPLS
1.4.3.2 Bảo vệ và khôi phục.
Không có chức năng bảo vệ và khôi phục giống như trong giao thức MPOA.Chỉ một số chức năng chuẩn đoán hạn chế được xây dựng trong thực thi hiện thời,
đó là:
Trạng thái giao diện ( = tăng/giảm/diag)
Trạng thái đường truyền (= sóng mang/không sóng mang)
Trạng thái cổng
Cảnh bảo thay đổi (chủ yếu cho nhà khai thác)
Do đó, MAPOS chỉ có thể khởi tạo cảnh báo khi có chức năng hoạt động sai
Trang 141.4.4 GFP/SDH trờn WDM.
Một cơ chế bao gúi IP trong khung SONET/SDH (DoS) hoặc khung G.709
(Digital Wrapper) được ưa chuộng đú là Giao thức lập khung tổng quỏt (GFP).
Giao thức này giải phúng dũng lưu lượng khỏi yờu cầu bắt buộc của tốc độ số liệuđồng bộ cố định và sự lóng phớ băng tần quang khi lưu lượng số liệu bựng nổ khụnglấp đầy phần dung lượng truyền tải cố định được cấp cho nú
Bộ phận sắp xếp GFP SDH
(STM-16 đến STM-64)
Bộ phận sắp xếp GFP SDH
(STM-16 đến STM-64)
Mạng quang
cung cấp các ống dung l ợng cao
Hỡnh 1.7: Giao thức lập khung tổng quỏt và quỏ trỡnh bao gúi IP trong khung SONET/
SDH.
GFP cú thể phục vụ bất cứ kiểu lưu lượng khỏch hàng nào như khung Ethernet
và cỏc gúi IP cú độ dài biến thiờn, và bao chỳng trong khung để truyền tải quamạng Nú đặc biệt phự hợp với kiểu lưu lượng IP khụng thể dự bỏo trước (khụngtheo qui luật nào) GFP cũng cho phộp thực hiện ghộp kờnh nhiều dũng số liệu đểtruyền dẫn qua một tuyến và cú thể sử dụng để mở rộng mạng LAN hướng đếnmạng WAN hoàn toàn trong suốt
Trong hỡnh 1.7, bộ định tuyến gúi tập hợp lưu lượng và định tuyến nú tới phầnsắp xếp SONET/SDH cú kớch thước phự hợp Phần sắp xếp SONET/SDH bao gúitrong khung GFP sử dụng giao thức PPP [RFC 1548] (PPP trờn GFP và sắp xếp cỏckhung GFP trong tải SONET/SDH) Quỏ trỡnh sắp xếp bao gồm biến đổi 8B/10Bgiữa 8 bit ký hiệu sử dụng trong Ethernet và 10 bit ký hiệu sử dụng trongSONET/SDH, và cũng nhõn thể làm mất thụng tin điều khiển được truyền như kýhiệu trong kờnh
Trang 15Các khung SONET/SDH (mà trong đó có gắn các khung GFP) được gửi quamạng quang tới bộ định tuyến kế tiếp Do đó mạng quang đóng vai trò như nơi cungcấp tuyến kết nối dạng ống giữa các bộ định tuyến gói IP tốc độ cao
1.4.4.1 Khả năng mở rộng.
GFP là một giao thức Lớp 2 thực hiện sắp xếp tín hiệu khách hàng vào khungGFP dưới sự hỗ trợ của VCAT và LCAS trước khi đưa vào tải SPE củaSONET/SDH để truyền tải qua mạng
Sử dụng mào đầu nhỏ gồm 4 byte trong đó 2 byte CRC-16 vừa đóng vai tròkiểm tra lỗi vừa phân tách khung Để đồng bộ cấu trúc khung này, phía thu tìmkiếm mẫu 32 bit được thiết lập ở giá trị 0 của CRC còn lại Chính nhờ vậy, GFPtránh được hiện tượng “bắt trước” mẫu bit đồng bộ khung như ở HDLC hay POS(một yêu cầu bắt buộc không cho phép tải bắt trước mẫu này để tránh nhầm lẫn giữacác khung) do đó tăng được băng tần hiệu dụng
GFP có khả năng xử lý tín hiệu ở cả Lớp 1 (Fiber Channel, FICON, ESCON)
ảo Hiện việc cung cấp kênh SONET/SDH dạng mesh vẫn là thách thức đối với nhàkhai thác vì sẽ tạo nên chi phí cung cấp dịch vụ quá lớn (do chi phí khai thác chomạng này rất lớn)
Trang 16Hiện tại GFP chỉ được sử dụng để cung cấp đường kết nối cho lưu lượng Lớp
2 điểm-điểm Chính vì vậy chức năng VPN và QoS sẽ được hỗ trợ bởi giao thứcLớp 2 khác được sắp xếp trong khung GFP
Cơ chế thích ứng động kích cỡ của kênh SONET/SDH của LCAS là một giaothức đảm bảo đồng bộ giữa phía phát và thu khi tăng/giảm kích thước các kênh kếtchuỗi ảo theo cách không can thiệp vào tín hiệu số liệu Do đó nó không thể thíchứng linh hoạt kênh SONET/SDH theo tính sử dụng bùng nổ tức thời của người sửdụng Hơn nữa, nó thiếu một giao thức để xác định độ khả dụng của các Containervừa giải phóng và không thể phân bổ các kênh cung cấp cho các nút trung gian Vìvậy khả năng hỗ trợ CoS là tương đối hạn chế
1.4.4.3 Bảo vệ và khôi phục.
Mạng hoạt động trên GFP kết hợp với các công nghệ VCAT và LCAS đượctruyền tải bởi các khung SONET/SDH Do đó nó không có chức năng bảo vệ vàkhôi phục, chức năng này được tận dụng từ giao thức ASP sẵn có trongSONET/SDH
Tính đa dạng trong định tuyến của LCAS cho phép bảo vệ một nhóm ghépchuỗi ảo với băng tần tối thiểu trước một sự kiện sai hỏng mạng Theo nguyên lý,nhóm ghép chuỗi này có thể được thực hiện bằng cơ chế bảo vệ SONET/SDH tuynhiên đặc tính động của định tuyến trong LCAS dường như làm cho cơ chế bảo vệnày mất hiệu lực
Trang 17CHƯƠNG II THỦ TỤC TẠO KHUNG TỔNG QUÁT GFP.
2.1. GIỚI THIỆU VỀ GFP.
Thủ tục tạo khung chung (GFP) được ANSI thảo luận đầu tiên trong T1X1.5
và hiện nay đã được ITU-T chuẩn hóa trong khuyến nghị G.704.1 GFP là một thủtục lập khung tạo nên tải có độ dài thay đổi theo byte từ các tín hiệu khách hàngmức cao hơn cho việc sắp xếp tín hiệu trong luồng đồng bộ
GFP là một thuật ngữ chung cho hai hướng xếp chồng: ở lớp phía dưới liênquan đến dịch vụ truyền tải sử dụng GFP, và ở lớp phía trên liên quan đến sắp xếpcác dịch vụ cung cấp bởi GFP Đối với lớp phía dưới GFP cho phép sử dụng bất cứkiểu công nghệ truyền tải nào, mặc dù hiện chỉ chuẩn hóa cho SONET/SDH vàOTN Tại lớp phía trên, GFP hỗ trợ nhiều kiểu gói khác nhau như IP, khungEthernet và khung HDLC như PPP
Hình 2.1: Mối quan hệ GFP với tín hiệu khách hàng và luồng truyền tải.
Thủ tục tạo khung chung (GFP) là một cơ chế tạo khung các tín hiệu kháchhàng và sắp xếp các tín hiệu ở dạng khung này vào trong một luồng số của mạngtruyền dẫn SDH GFP là một giao thức thích ứng cung cấp một cơ chế sắp xếp cáckiểu luồng bit khác nhau một cách linh hoạt vào trong kênh SDH Cơ chế thíchứng dựa trên việc tạo khung và cho phép đưa phân đoạn của kênh vật lý vào trongcác khung cờ kích thước cố định hoặc thay đổi được Các tín hiệu của khách hàng
Luồng đồng bộ byte
khác
GFP-Kiểu lớp khách hàng xác định (Tải phụ thuộc)
GFP-Kiểu chung (Tải độc lập)
Trang 18Kỹ thuật đóng gói như GFP phải được sử dụng để tương thích với dữ liệu khôngđồng bộ, thay đổi nhanh và kích thước các khung thay đổi trước khi lưu lượng dữ liệu nhưIP/PPP, Ethernet MAC, FC, ESCON, FICON được truyền đi qua các mạng SDH GFPlàm thích ứng một luồng dữ liệu trên nền moat khung đến luồng dữ liệu định hướng bytebằng cách sắp xếp các dịch vụ khác nhau vào một khung mục đích chung sau đó khungnày được sắp xếp vào trong các khung SDH đã biết Cấu trúc khung này có ưu điểm hơn ởviệc phát hiện và sữa lỗi và cung cấp hiệu quả sử dụng băng thông lớn hơn so với các thủtục đóng gói truyền thống
Hình 2.2: Sự tập hợp dữ liệu gói sử dụng GFP.
Gói ở hàng đợi chờ được sắp xếp vào kênh TDM Ở đầu kia, các gói đượcsắp xếp ngược trở lại hàng đợi và được phân phối đến từng port Hình 2.2 là sơ đồđóng gói và truyền dẫn của khung GFP vào các container VC và được gắn vàokhung STM
GFP có hai phương pháp sắp xếp để thích ứng các tín hiệu khách hàng vàotrong tải SDH: sắp xếp theo khung (GFP-F) và GFP trong suốt (GFP-T)
2.1.1 GFP sắp xếp theo khung (GFP-F).
Trong khung GFP-F có sự đóng gói lớp 2 PDU định hướng kiểu thích ứng
Dữ liệu được đóng gói vào các khung có kích thước thay đổi Sử dụng cơ chế tìmhiệu chỉnh lỗi tiêu đề để phân tách khung GFP nối tiếp giống như cơ chế sẻ dụng
Trang 19trong ATM trong dòng tín hiệu ghép kênh cho truyền dẫn Do độ dài tải GFP thayđổi nên cơ chế này đòi hỏi khung tín hiệu khách hàng được đệm toàn bộ lại để xácđịnh độ dài trước khi sắp xếp vào khung GFP Nếu một gói khách hàng hoàn tất thì
nó được sắp xếp hoàn toàn vào khung GFP Các gói rỗi thì không được truyền, kếtquả là tăng hiệu quả truyền dẫn Tuy nhiên, các kỹ thuật riêng được quy định đểtruyền tải từng loại giao thức
Hình 2.3: Tổng quát về quá trình sắp xếp của GFP-F.
2.1.2 GFP trong suốt (GFP-T).
GFP trong suốt (GFP-T) là một giao thức độc lập, phương thức đóng gói màtất cả các từ mã được giải mã và sắp xếp vào các khung GFP có chiều dài cố định.Các khung được truyền ngay lập tức mà không phải chờ gói dữ liệu khách hàngđược nhận hoàn tất Vì vậy, nó cũng là cơ chế truyền tải lớp 1 bởi vì tất cả các ký tựkhách hàng được chuyển đến đầu cuối một cách độc lập không có vấn đề gì nếu đó
là thông tin, header, điều khiển, hoặc bất kỳ loại mào đầu nào Trong GFP-T một sốlượng đặc tính tín hiệu khách hàng cố định được sắp xếp trực tiếp vào khung GFP
có độ dài xác định trước Sự đóng gói lớp 1 hoặc mã khối được định hướng kiểuthích ứng Các giao thức sử dụng lớp vật lí 8B/10B (như Kênh quang, ESCON,1000BASE-T) được đóng gói vào khung có kích thước không đổi GFP-T thì rất tốtcho các giao thức nhạy độ trễ, SAN Bởi vì, không cần xử lý khung khách hàng
Trang 20Hình 2.4: Tổng quát về quá trình sắp xếp của GFP-T.
2.2. CÁC VẤN ĐỀ CHUNG CỦA GFP.
2.2.1 Cấu trúc khung GFP.
Hình 2.5: Các giao thức và định dạng khung GFP.
2.2.1.1 Mào đầu chính (Core Header).
Có chiều dài 4 byte, gồm một trường chỉ thị chiều dài PDU (PLI) và mộttrường kiểm tra lỗi đầu đề chính cHEC PLI chỉ thị số byte trong vùng tải trọng
Trang 21PLI trong một khung khách hàng là 4, PLI có giá trị 0-3 được dành riêng cho việc
sử dụng các khung điều khiển Trường cHEC chứa CRC-16 bảo vệ tính toàn vẹnnội dung của phần đầu đề chính thông qua khả năng sửa lỗi đơn bit và phát hiện lỗi
đa bit cHEC được tính toán trên 4 byte đầu đề chính
2.2.1.2 Mào đầu tải tin (Payload Header).
Là một vùng có chiều dài thay đổi từ 4 đến 64 byte, để hỗ trợ các thủ tục quản
lý liên kết dữ liệu đặc trưng cho tín hiệu khách hàng Vùng này gồm 2 trường bắtbuộc là trường kiểu (Type) và trường tHEC, và một số lượng biến đổi các trườngmào đầu mở rộng (Extension Header) Sự có mặt của phần mào đầu mở rộng, địnhdạng của nó và sự có mặt của pFCS tuỳ chọn được chỉ thị bởi trường kiểu Trườngkiểu bao gồm các trường sau: PTI (3 bit) PFI(1 bit), EXI (4 bit) và UPI (1 byte).Trường tHEC bảo vệ tính toàn vẹn nội dung của trường kiểu
2.2.1.3 Mào đầu mở rộng (Extension Header).
Là một trường dài từ 0 đến 60 byte (gồm eHEC) hỗ trợ các đầu đề liên kết dữliệu đặc trưng công nghệ, ví dụ như nhận dạng liên kết ảo, các địa chỉ nguồn vàđích, số port, loại dịch vụ, vv Trường kiểm tra lỗi đầu đề mở rộng (eHEC):CRC-16 bảo vệ tính toàn vẹn nội dung của phần đầu đề mở rộng
2.2.1.4 Trường tải tin (Payload).
Tất cả các byte trong khung GFP sau phần đầu đề chính được xem như
là trường tải trọng GFP, được dùng để truyền thông tin giao thức đặc trưng củakhách hàng Trường tải trọng GFP có chiều dài thay đổi từ 4 đến 65535 byte, gồm 2thành phần chung: trường mào đầu tải trọng và trường thông tin tải trọng, và mộttrường kiểm tra tuần tự khung tải tin (pFCS) là tuỳ chọn
Mào đầu mở rộng hỗ trợ đầu đề tuyến số liệu đặc trưng cho từng công nghệnhư nhận dạng tuyến ảo, địa chỉ nguồn đích, số cổng, lớp dịch vụ và kiểm tra lỗimào đầu mở rộng
Trang 22Trường tải trọng GFP chứa khung PDU, có kích thước thay đổi trong khoảng
từ 0 đến (65536-X) trong đó X là kích thước đầu đề tải trọng Khối số liệu giao thứcngười sử dụng/điều khiển luôn luôn được đặt vào trong trường tải trọng
2.2.1.5 Trường kiểm tra tổng hợp (Check sum).
pFCS (Payload Frame Check Sequence) có 4 byte, tuỳ chọn, chứa mã sửa lỗiCRC-32 bảo vệ nội dung của trường thông tin tải tin GFP
Hình 2.6: GFP định dạng sắp xếp các gói khách hàng.
GFP-F có thể được sử dụng cho Ethernet, PPP/IP và HDLC như là các giaothức mà tính hiệu quả và tính mềm dẻo là quan trọng Để thực thi quá trình đóng góithì cần phải nhận hoàn tất gói khách hàng nhưng thủ tục này làm tăng độ trễ, GFPthì không thích hợp cho các giao thức nhạy thời gian
2.2.2 Các khung điều khiển GFP.
Các khung điều khiển GFP được sử dụng trong việc quản lý kết nối GFP Cácgiá trị từ 0 đến 3 được sử dụng trong các khung điểu khiển trong đó giá trị PLI=0
Trang 23tương ứng với khung GFP rỗi Còn các giá trị khác là các khung khác
Các khung GFP rỗi: Khung Idle GFP là một khung điều khiển GFP gồm
4 octet chỉ chứa phần mào đầu lõi GFP với các trường PLI và cHEC được đặt là 0,
và không có phần tải Khung Idle được dành sử dụng như một khung chèn dành choquá trình thích ứng nguồn GFP nhằm thực hiện thích ứng luồng octet GFP với bất
kỳ một môi trường truyền tải nào mà trên đó kênh môi trường truyền tải có dunglượng cao hơn so với dung lượng được yêu cầu bởi tín hiệu khách hàng Dạngkhung Idle GFP được mô tả trong hình 2.7
Hình 2.7: Khung GFP rỗi.
Các khung điều khiển khác: Các khung điều khiển với PLI=1,2 và 3
hiện đang được nghiên cứu
Hình 2.8: Cấu trúc khung điều khiển.
1 2 3 4 5 6 7 8 Thứ tự truyền bit
Thứ tự truyền bit
Hình 2.8: Khung GFP rỗi
Octet bit
Trang 24sự cố sắp xếp tín hiệu như lỗi ở tải tin).
Trang 25Hình 2.9: Sự lan truyền tín hiệu lỗi trong GFP.
Khi phát hiện ra một sự kiện TSF hoặc một sự kiện mất mô tả khung GFP, thủtục thích ứng đích GFP sẽ phát một chỉ thị SSF đến các thủ tục thích ứng đích Các
sự kiện sự cố này sẽ bị loại bỏ ngay khi thủ tục GFP khôi phục được đồng bộ tuyến.Khi phát hiện ra các sự kiện CSF thì thủ tục thích ứng đích của GFP sẽ thựchiện giải quyết các sự cố này
2.3 CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN GFP-F.
2.3.1 Tải trọng MAC Ethernet.
Định dạng của các khung MAC Ethernet được xác định theo IEEE 802.3 Cómột sự sắp xếp một-một giữa PDU lớp cao hơn và PDU GFP Đặc biệt, ranh giớicủa PDU GFP được liên kết với các ranh giới của các PDU lớp cao hơn sắp xếpkhung Toàn bộ các byte MAC Ethernet từ phần địa chỉ đích đến FCS được đặt vàovùng tải trọng GFP Đồng bộ byte và nhận biết các bit trong byte được duy trì Mốiquan hệ giữa các khung MAC Ethernet và các khung GFP này được minh hoạ tronghình 2.10
Mạng chuyển tải
Thủ tục GFP chung (Thích ứng nguồn khách hàng)
Thủ tục thích ứng đích khách hàng đặc trưng GFPQuá trình khách hàng ra
Trang 26Tất cả các byte từ khung PPP/HDLC được đặt vào trong vùng tải trọng củakhung GFP Việc đồng bộ byte và nhận dạng bit trong các byte cũng được duy trì.
Trang 27Hình 2.11: Mối quan hệ giữa HDLC/PPP và khung GFP.
2.3.3 Tải tin kênh quang qua FC-BBW SONET.
Định dạng của một PDU kênh quang băng rộng 2 (FC-BBW_SONET) đượcđưa ra trong ANSI INSITS 342-2001 (FC-BB), mục 6 Đối với các mục đích tươngthích trên cơ sở GFP-F, giả thiết một sắp xếp điểm - điểm giữa các PDU kênhquang và các PDU FC-BBW_SONET (như trên chỉ tiêu kỹ thuật FC-BB), và giữacác PDU FC-BBW_SONET và PDU GFP (như trong tiêu chuẩn này) Chỉ mốiquan hệ sắp xếp giữa PDU FC-BBW_SONET và PDU GFP được trình bày trongtiêu chuẩn này
Đóng gói PDU FC-BBW_SONET:
Tất cả các octet trong PDU FC-BBW_SONET bắt đầu từ Mào đầu LLC/SNAPtới Tải tin bản tin BBW được đưa vào trong trường thông tin tải tin của khung GFP
Cả hai liên kết octet và nhận dạng bit trong các otet được duy trì trong PDU GFP.Cấu trúc của Mào đầu BBW và Tải tin bản tin BBW (nếu có) cho các PDU FC-BBW_SONET được mô tả trong ANSI INSITS 342-2001 Mối quan hệ giữa cáckhung FC-BBW_SONET và các khung GFP được minh hoạ trong hình 2.12
Trang 282.3.5 Tải tin RPR IEEE 802.1.
Định dạng của các khung RPR được đưa ra trong IEEE 802.17, mục 8 Có một
sự sắp xếp một-một giữa một khung RPR và PDU GFP Để cho rõ ràng, mối quan
hệ giữa các khung RPR và các khung GFP được minh hoạ trong hình 2.13
Đóng gói RPR:
Tất cả các octet của khung RPR được đưa vào trong trường Thông tin tải tinGFP Mặc định là không có mở rộng mào đầu và không sử dụng trường pFCS Liênkết-octet được duy trì và xác định bit trong các octet cung được duy trì
Trang 29Hình 2.13: Mối quan hệ giữa RPR và GFP.
2.3.6 Sắp xếp trực tiếp MPLS vào các khung GFP-F.
Việc sắp xếp trực tiếp MPLS vào GFP được dự định áp dụng cho chuyển tảicác PDU MPLS-chèn trực tiếp qua tải SDH PDU MPLS unicast hoặc multicastchứa một hoặc nhiều lối vào kiểu ngăn xếp nhãn đặc trưng MPLS và một trườngthông tin tải tin MPLS Tất cả các octet trong PDU MPLS được đưa vào trongtrường thông tin tải tin của một khung GFP-F Liên kết - octet và nhận dạng bittrong octet được duy trì trong PDU GFP-F Việc sắp xếp trực tiếp MPLS vào trongGFP này được dự định là sắp xếp mặc định khi các tín hiệu khách hàng MPLS đượctải trực tiếp qua mạng chuyển tải
FCS tải tin GFP được yêu cầu và tính toán và được chèn vào trong trườngpFCS Trường PFI được thiết lập là 1 Mối quan hệ giữa PDU MPLS và khungGFP-F được minh hoạ trong hình 2.14
Trang 30Hình 2.14: Mối quan hệ khung GFP và MPLS Unicast.
2.3.7 Sắp xếp trực tiếp các PDU IP và IS-IS vào trong các khung GFP-F.
Việc sắp xếp trực tiếp các PDU IPv4, IPv6 và các OSI vào trong GFP được dựđịnh áp dụng để chuyển tải trực tiếp các PDU IP/OSI qua các tải SDH PDU IPv4(IETF RFC 791/STD0005), PDU IPv6 (IETF RFC 2460) và PDU IS-IS (ISO/IEC10589) chứa một hoặc nhiều lối vào mào đầu đặc trưng khách hàng và một trườngthông tin tải tin khách hàng Tất cả các octet trong PDU khách hàng được đưa vàotrong trường thông tin tải tin của một khung GFP-F Liên kết-octet và nhận dạng bittrong octet được duy trì trong PDU GFP-F
FCS tải tin GFP được yêu cầu và tính toán và được chèn vào trong trườngpFCS Trường PFI được thiết lập là 1 Mối quan hệ giữa các PDU IPv4, IPv6 hoặcIS-IS và khung GFP-F được minh hoạ trong hình 2.15
Trang 31Hình 2.15: Mối quan hệ giữa các PDU IPv4/ IPv6/IS-IS và khung GFP-F.
Trang 32CHƯƠNG 3 GHÉP CHUỖI ẢO (VCAT).
3.1 GIỚI THIỆU VỀ GHÉP CHUỖI (Concatenation).
Ghép chuỗi là một quá trình tập hợp băng thông của X container (C-i) vào mộtcontainer lớn hơn Băng thông lớn hơn nên sẽ tốt cho việc truyền các tải trọng lớn,yêu cầu một container lớn hơn VC-4, nhưng nó cũng có khả năng ghép chuỗi cáccontainer dung lượng thấp như VC-11, VC-12 hay VC-2
Có hai phương thức ghép chuỗi:
Ghép chuỗi liền kề (CCAT): tạo ra container lớn, không thể chia nhỏ ratrong suốt quá trình truyền Mỗi NE phải có một cotainer chức năng Phương phápghép chuỗi liền kề không đem lại độ mịn băng tần phù hợp cho các công nghệ phikết nối và hướng gói như IP hoặc Ethernet.
Ghép chuỗi ảo (VCAT): truyền các VC riêng biệt và kết hợp chúng lại ởđiểm cuối đường truyền Chức năng ghép chỉ được cần đến ở cuối đường truyền.Ghép chuỗi liền kề (CCAT) đòi hỏi được cung cấp bởi tất cả các node Ghépchuỗi ảo (VCAT) phân phối băng thông hiệu quả hơn và có thể được cung cấp bởi
sự thiết lập kế thừa
Cấu trúc một VC-4-Xc (X=1, 4, 16, 64, 256), với X là mức Đơn vị tănggiảm (đồng chỉnh) là 3 X, phụ thuộc vào mức AU-4 = 3 byte, AU-4-256c = 768byte
3.2 GHÉP CHUỖI LIỀN KỀ CỦA VC-4.
Một VC-4-Xc cung cấp một vùng tải của X cotainer loại C-4 Nó sử dụnggiống HO-POH được sử dụng trong VC-4 và với chức năng nhận dạng Cấu trúcnày có thể được truyền trong khung STM-n (với n=X) Tuy nhiên, các sự kết hợpkhác cũng có thể thực hiện, ví dụ như: VC-4-4c có thể được truyền trong khungSTM-16 và STM-64 Ghép đảm bảo tính toàn vẹn của dãy bit, bởi vì cả containerđược truyền như là một đơn vị xuyên qua mạng
Trang 33Xc Cột thứ hai tới cột X chứa các byte chèn cố định X*260 cột còn lại là vùng tảitrọng của VC-4-Xc và có kích thước bằng với C-4-Xc.
Hình 3.1: Ghép chuỗi liền kề (CCAT): các con trỏ và container.
Hình 3.2 : Ghép chuỗi liền kề VC-4-4c trong khung STM-16.
VC-4-Xc sẽ được truyền trong X AU-4 kề nhau trong tín hiệu STM-N Cộtđầu tiên của VC-4-Xc sẽ luôn luôn được đặt trong AU-4 thứ nhất Con trỏ của AU-4
Trang 34ghép chuỗi liền kề, nghĩa là hai byte H1 và H2 của các AU-4 này chứa giá trị
“1001xx11 11111111” Việc hiệu chỉnh con trỏ được thực hiện chung cho cả X
AU-4 ghép chuỗi và khi chèn sử dụng X×3 byte
Hình 3.3: Cấu trúc khung VC-4-Xc.
Bảng 3.1: Ghép chuỗi liền kề của VC-4-Xc, với X là số VC-n.
Ghép chuỗi ảo VCAT là một giải pháp cho phép gia tăng độ mịn băng tần trêntừng khối VC-n Tại node nguồn MSSP, VCAT tạo một tải liên tục bằng X lần VC-
n (xem bảng 3.2) Tập gồm X tải được gọi là một nhóm tải ảo (VCG) và mỗi VC
Trang 35node nguồn MSSP một cách độc lập, trên bất kỳ luồng rỗi nào nếu cần thiết Tạiđích, tất cả các VC-n được nhóm lại, theo các chỉ thị cung cấp bởi byte H4 hoặc K4,
và cuối cùng được phân phát đến địa chỉ (hình 3.4)
Do các VC thành viên được phát đi một cách độc lập và có thể trên các luồngkhác nhau với độ ì khác nhau nên sẽ tồn tại trễ khác nhau giữa các VC Do vậy,MSSP đích phải bù trễ chênh lệch này trước khi nhóm tải và phân phát dịch vụ.Chức năng ghép chuỗi ảo chỉ được yêu cầu tại các nút biên Để tận dụng đượchết những lợi thế của quá trình này thì các tải riêng lẻ phải được truyền trên cáctuyến khác nhau qua mạng, do đó nếu một tuyến hoặc một nút mạng bị sự cố thì kếtnối chỉ bị ảnh hưởng từng phần Đây chính là một cách cung cấp dịch vụ bảo vệ sửdụng VCAT và dịch vụ có khả năng phục hồi
Bảng 3.2: Dung lượng VC-n-Xv SONET hoặc STS-3Xv SPE ghép chuỗi ảo
SDH SONET Dung lượng
riêng lẻ Số tải ghép Dung lượng ảo
Trang 36Hình 3.4: Quá trình ghép chuỗi ảo.
VCAT hỗ trợ cả ghép tải bậc cao và ghép tải bậc thấp
* Phân phối và phục hồi tải trọng
Việc phân phối nội dung của container tải trọng liền kề C-n-Xc, một số thứ tựduy nhất SQ (Sequence Number) được gán vào mỗi VC-n thành viên của VCG bởiNMS (Network Management System) SQ xác định thứ tự mà các byte được phânphối, Giá trị được gán cho SQ trong một VCG kích thước X sẽ từ 0 tới (X-1)
Hình 3.5: Phân phối của C-4-4c.
Mỗi VC-n trong VCG sẽ được truyền riêng biệt qua mạng, đường đi của cácVC-n khác nhau dẫn đến độ trễ đường truyền khác nhau giữa các VC-n Do đó, thứ
tự của các VC-n đến sẽ thay đổi Tại trạm đích, các VC-n này phải được bù trễtrước khi khôi phục lại VC-n-Xv Để phát hiện được độ trễ, chỉ thị đa khung MFI
Trang 37(Multi-Frame Indicator) được định nghĩa Tại phía phát, MFI của tất cả thành viênthuộc một VCG đều bằng nhau và tăng sau mỗi khung Tại phía thu, MFI được sửdụng để tập hợp lại tải trọng cho tất cả các thành viên trong nhóm Độ trễ có thểđược xác định bằng cách so sánh các giá trị MFI tại phía thu Quá trình xử lý tạitrạm đích phải bù được khoảng trễ tối thiểu 125 μs MFI được xem là một bộ đếms MFI được xem là một bộ đếm
và bắt đầu lại bằng “0” nếu nó bị tràn
Tại trạm đích, các VC-n phải được bù trễ, sắp xếp và tập hợp lại để khôi phụclại khối tải trọng ban đầu
Hình 3.6: Minh họa việc khôi phục lại VC-4-4v.
(a) Các thành viên của VCG khi đến phía đích có độ trễ khác nhau
(b) Các thành viên sau khi qua các bộ đệm bù trễ sử dụng thông tin MFI.(c) C-n-4c sau khi xếp thứ tự, sử dụng thông tin SQ
3.3.1 Ghép chuỗi ảo bậc cao (VCAT của VC-n).
Ghép chuỗi ảo bậc cao (HO-VCAT) ghép X lần các tải VC-3 hoặc VC-4 3/4-Xc, X=1 256) thành một tải có dung lượng gấp X lần 48384 hoặc 149760kbit/s
(VC-Tải được sắp xếp trong X VC-3/4 độc lập để tạo nên một tải VC-3/4-Xv MỗiVC-3/4 đều có một POH riêng Byte POH H4 được sử dụng cho chỉ thị đa khung và
Trang 38Mỗi VC-3/4 của tải VC-3/4-Xv được phát độc lập qua mạng Do trễ lan truyềncủa các VC-3/4 khác nhau nên sẽ xảy ra trễ chênh lệch giữa các VC-3/4 riêng lẻ.Trễ chênh lệch này sẽ được bù và các VC-3/4 riêng lẻ này sẽ được sắp xếp lại theothứ tự để tạo thành một tải thống nhất Quá trình sắp xếp lại phải bù được trễ chênhlệch tối thiểu 125μs MFI được xem là một bộ đếms
Mỗi 3/4 có mào đầu tuyến riêng Hình 3.7 trình bày cấu trúc đa khung 3/4-Xv Byte H4 của VC-3/4 được dùng để chỉ thị thứ tự SQ và chỉ thị đa khungMFI
VC-Hình 3.7: Cấu trúc khung VC-3/4-Xv.
Bảng 3.3: Trình bày dung lượng tải trọng của các VC-3/4-Xv.
VC-n-Xv (X = 1…256) VC-n p Dung lượng tải trọng
VC-4-XvVC-3-Xv
VC-4VC-3
26084
X*149.760 Kbit/sX*48.384 Kbit/s
Để phục vụ cho việc bù trễ ở trạm đích, phía nguồn sắp xếp các VC-3/4 lạithành đa khung Một đa khung tổng VCAT tốc độ 512 ms được sử dụng để bù trễtrong khoảng từ 125 µs đến 256 ms Đa khung tổng gồm 256 đa khung và mỗi đakhung gồm 16 khung Chỉ thị đa khung gồm hai phần Phần thứ nhất sử dụng bit
125µs
125µs
125µs
Trang 39[5…8] của byte H4 để chỉ thị đa khung (MFI-1) MFI-1 này tăng một đơn vị saumỗi khung và có giá trị từ 0 tới 15 Phần thứ hai là chỉ thị đa khung 8 bit (MFI-2) sửdụng các bit [1…4] của byte H4 thuộc khung 0 (MFI-1=0) sẽ là các bit [1…4] củaMFI-2 và thuộc khung 1 (MFI-1=1) sẽ là các bit [5…8] của MFI-2 MFI-2 tăng lên
1 đơn vị sau mỗi 16 khung (1 đa khung) và có giá trị từ 0 tới 255 Kết quả là đakhung tổng gồm 4096 khung và dài 512 ms (hình 3.8)
Hình 3.8: Cấu trúc đa khung tổng VC-3/4-Xv.
Chỉ thị số thứ tự SQ nhận biết thứ tự các VC-3/4 riêng lẻ của VC-3/4-Xv MỗiVC-3/4 riêng lẻ của VC-3/4-Xv có một số thứ tự cố định duy nhất trong khoảng từ
0 tới (X-1) (hình 3.9) VC-3/4 truyền trong trong các khe thời gian 1, (X+1), (2X+1)
… của VC-3/4-Xc sẽ có số thứ tự là 0, VC-3/4 truyền trong các khe thời gian 2,(X+2), (2X+2)….của VC-3/4-Xc sẽ có số thứ tự là 1, vv… VC-3/4 truyền trongcác khe thời gian X, 2X, 3X….của VC-3/4-Xc sẽ có số thứ tự là (X-1) Giá trị của
Trang 40dụng các bit [1…4] của byte H4 thuộc khung 14 (MFI-1 = 14) sẽ là các bit [1…4]của SQ và thuộc khung 15 (MFI-1 = 15) sẽ là các bit [5…8] của SQ (bảng 3.4)
Hình 3.9: Đa khung 32 bit (bit thứ hai byte K4).
Bảng 3.4: Chỉ thị thứ tự và đa khung trong byte
By
Số thứ tự khung
Số thứ
tự đa khung