Các chỉ tiết khi vào sửa chữa được phân loại như sau: - Loại chỉ tiết không cho phép có lượng mòn khi lắp ráp: Đây là những chỉ tiết chính, mà chất lượng làm việc của nó ảnh hưởng trực
Trang 1Chương 10 GIA CONG SUA CHỮA CÁC CHI TIẾT
10.1 TONG QUAN VE PHUONG PHAP SỬA CHỮA CAC CHI TIẾT 10.1.1 Phân loại cáo chỉ tiết khi vào sửa chữa
Các chỉ tiết khi vào sửa chữa được phân loại như sau:
- Loại chỉ tiết không cho phép có lượng mòn khi lắp ráp:
Đây là những chỉ tiết chính, mà chất lượng làm việc của nó ảnh hưởng trực tiếp tới các tính năng kinh tế kỹ thuật của động cơ, gồm: trục khuỷu, trục cam, thanh truyền và bạc của chúng, xí lanh - Đíttông - xéc măng, xu páp và đế xu páp Những chỉ tiết này khi vào sửa chữa phải được thay bằng chỉ tiết mới, hoặc phải gia công khác phục hết các chỗ mòn, hỏng để đạt được độ chính xác kích thước bảo đảm khe hở lắp ghép và độ kin khít như ban đầu rồi mới lắp
ráp
- Loại chỉ tiết cho phép có độ mòn khi lắp ráp:
Những chỉ tiết này tay có bị mòn trong quá trình làm việc, nhưng lượng mòn chưa vượt quá mức cho phép theo quy định của nhà chế tạo đối với từng loại, sẽ được sử dụng lại mà không phải qua bất kì công việc sửa chữa nao, vi dụ: con đội xu pap và lỗ con đội, ống đẫn hướng xu pap, các cắp bánh rang then hoa, bánh xích và xích, vòng bì v.v Trước khi lắp, chúng phải được kiểm tra lượng mòn thực để đối chiếu với lượng mòn cho phép, nếu vượt quá mức thì bị loại bỏ để thay bằng chỉ tiết mới
- Loại chỉ tiết không mòn:
Gồm các chì tiết không trực tiếp ma sát nhưng có thể bị hư hỏng biến dạng, nứt, gãy vỡ do ảnh hướng của tải trọng, áp suất hoặc nhiệt độ cao gay nên Phần lớn chúng là các chỉ tiết thân hộp, các loại lò xo, bu lông Nếu có sửa chữa, chỉ áp đụng cho các chỉ tiết thân hộp phức tạp khó có điều kiện thay thế, các chỉ tiết không quan trọng khi kiểm tra có hư hỏng thường được thay bằng chi tiết mới
19.1.2 Phân loại các phương pháp sửa chữa
Toàn bộ công việc chăm sóc kỹ thuật động cơ - õ tô trong quá trình sử dụng chúng, kế từ khi xuất xưởng đến khi loại bỏ, được chia thành nhiều cấp độ bảo dưỡng và sửa chữa, bao gồm:
292
Trang 2- Chăm sóc kỹ thuật hàng ngày;
- Tẩy rửa hoặc thay thế nếu cần các loại lọc: nhiên liệu, đầu, không khí;
- Kiểm tra điều chỉnh chất lượng làm việc của các hệ thống điện, nhiên liệu, phối khí, bôi trơn, làm mát trên động cơ cũng như các cụm hộp số, cầu, phanh, lái, treo của ô tô theo các thông số kỹ thuật đo nhà chế tạo cung cấp;
- Thay thế các chỉ tiết có tuổi thọ ngắn trong cụm máy (thí dụ xéc măng), nếu khi vào cấp bảo đưỡng, chúng vừa hết thời gian hoạt động;
- Kiểm tra xiết chặt các mối ghép quan trọng trong cụm và giữa các cụm
Nhờ bảo dưỡng kỹ thuật mà mọi trục trặc xuất hiện trong quá trình vận hành được phát hiện, sửa chữa kịp thời nên bảo đảm độ an toàn, tin cậy và
nâng cao tuổi thọ làm việc cho phương tiện
Khác với bảo đưỡng, công việc sửa chữa nhỏ nhằm xử 1ý các hư hỏng đột
xuất xảy ra trong quá trình vận hành, do đó không quy định thời gian cụ thể cũng như khối lượng công việc phải làm
Sửa chữa lớn áp dụng cho cụm máy hoặc ô tô đã hoạt động hết thời gian (hoặc quâng đường) làm việc cho phép giữa 2 kì đại tu Khoảng thời gian hay quãng đường này được nêu cụ thể cho từng loại xe, máy khác nhau đo nhà chế tạo quy định, có thể từ 200.000 + 300.000 km lăn bánh của õ tô tương ứng với 4.000 + 6.000 giờ hoạt động của động cơ Đối với các phương tiện làm việc trong
điều kiện khắc nghiệt (ở miền rừng núi, trên những loại đường xấu ) thường
rút ngắn từ 10 + 15% thời gian so với định mức
Số lần phương tiện được sửa chữa lớn phụ thuộc vào độ bền của các chi tiết quan trọng-bao gồm khả năng chịu lực, độ bền mỏi và bề dày lớp tôi cứng trên
bề mặt, mặt khác cũng phụ thuộc vào tính hiện đại và hiệu quả của việc sử
dụng lại phương tiện Trước đây một ô tô có thể sửa chữa lớn tới 6 lần, nay
thường từ 3 đến 4 lần :
Nội dung của việc sửa chữa lớn là tháo toàn bộ cụm máy, thực hiện việc sửa chữa, thay thế tất cả các chỉ tiết hư hỏng, đảm bảo khi lắp ráp đạt khe hở hoặc độ kín khít của các cặp chỉ tiết như mới, khiến cụm máy đạt được những
tính năng kinh tế kỹ thuật gần như ban đầu
Hiện nay, do điều kiện cũng cấp phụ tùng khá thuận lợi, nên việc thay thế
293
Trang 3các chỉ tiết hư hỏng bằng chỉ tiết mới trở nên phổ biến Tuy nhiên với những
chỉ tiết có giá thành cao thuộc nhóm các chỉ tiết thân hộp hoặc các chỉ tiết chính như: xi lanh, trục khuỷu; thanh truyền, trục cam, xu páp và đế nếu còn
độ bền chịu lực và đủ bề đầy lớp tôi cứng trên bề mặt, thì việc gia công sửa chữa khắc phục hết chỗ hỏng, sẽ cho phép sử dụng lại chí tiết qua nhiều lần sửa chữa lớn mà vẫn đảm bảo được chất lượng cần thiết, nhờ đó giảm được giá thành sửa chữa một cách đáng kể
Những chỉ tiết được gia công cơ khí chỉ nhằm khắc phục các sai lệch hình
đáng, nếu chúng bị các hư hông nứt, gãy vỡ thường bị loại bỏ hoặc phải phục
hồi chỗ hồng rồi mới đem gia công
C6 2 dạng sửa chữa như sau:
- Sửa chữa hình đáng: Các chỉ tiết bị mòn được bù đắp lượng mòn bằng các
phương pháp: hàn đắp, mạ, phun đắp hoặc biến dang déo v.v Sau đó chỉ tiết được gia công cất gọt đạt độ chính xác về hình dáng và độ bóng cần thiết, còn
kích thước được giữ nguyên theo thiết kế ban đầu
- Sửa chữa kích thước: Các chi tiết được đem gia công để khắc phục hết các sai lệch hình đạng: côn, méo, cong vênh do mòn không đều hoặc bị biến dạng gây ra, như vậy kích thước sau gia công tất nhiên sẽ bị thay đối, các chỉ tiết
lắp ghép với nó cũng phải có kích thước thay đổi tương ứng để đảm bảo khe hở
lắp ghép giữa chúng như mới
Phương pháp sửa chữa kích thước do không phải áp dụng các biện pháp
phục hồi phức tạp vì vậy không làm thay đổi cơ tính chỉ tiết, chất lượng sửa
chữa khá tốt và giá thành rẻ, nên được áp dụng rộng rãi trong sửa chữa lớn động cơ - ô tô Tuy nhiên do có sự thay đổi kích thước chỉ tiết khi sửa chữa,
khiến cho số lượng kích thước khi gìa công của cùng một loại chỉ tiết có thể rất nhiều, làm phức tạp cho việc điều chỉnh dao cụ cắt gọt cũng như chế tạo chỉ
tiết lắp ghép với nó Để giảm bớt khó khăn này, các nhà chế tạo quy định kích
thước của một loại chỉ tiết mỗi lần vào gia công được thay đổi (tăng hoặc giảm)
theo từng lượng nhất định Cách làm này gọi là sửa chữa theo cốt, lượng tăng
hoặc giảm kích thước chỉ tiết sau mỗi lần sửa chữa gọi là giá trị của một cốt
sửa chữa
10.1.3, Phuong pháp xác định giá trị của một cốt sửa chữa
Đối với một cổ trục có kích thước nguyên thủy là D„ khi vào sửa chữa lớn,
có kích thước trước khi sửa là D, gọi Š là lượng mòn tổng của trục, sẽ tính được giá trị = D, ~ D (hình 10-1)
Do mòn không đều nền lượng mòn phân phối sang 2 phía của cổ trục 6, va ỗ; không bằng nhau, với 5, > 8, vad = 5, + 8
Để bảo đảm độ đồng tâm cố trục, đồng thời có đủ lượng dư cắt got can
thiết, kích thước cổ trục Dị khi gia công được xác định theo bên mòn nhiều
nhất:
294
Trang 4trong đó: a- lượng dư cắt gọt phụ Die! 8; en imax S| 8:
Do giá trị ð, thường khó xác y| a
a
p= — , tir dé suy ra 5,= pi
tiết, có thé thay đổi trong phạm vi: a) Cho chỉ tiết trục; b) Cho chỉ tiết lỗ
Tổng quát, ở lần sửa chữa thứ n: D„ = D, - ny
Đối với chỉ tiết lỗ san mỗi lần sửa chữa, kích thước sẽ tăng một lượng y, do
đó đường kính lỗ sau lần sửa chữa thứ n sẽ bằng: D, = D, + ny
Như vậy y chính là giá trị của một cốt sửa chữa, còn n là số lần sửa chữa của chỉ tiết Thông thường y được chọn sao cho tận dụng được tối đa khả năng
hoạt động của phương tiện mà không vi phạm nhiều đến tính năng kinh tế kỹ
thuật của cụm máy Nếu chọn y quá nhỏ, phải đưa cụm máy vào sửa chữa sớm
sẽ khó đảm bảo tính kinh tế, ngược lại chọn y quá lớn cạm máy phải làm việc
trong điều kiện các chỉ tiết đã bị mòn nhiều lại khó đảm bảo các tính năng kỹ
thuật
Sẽ lần sửa chữa n bị giới hạn bởi độ bền chịu lực và chiều đày thấm tôi của
lớp bề mặt chỉ tiết: Có thể xác định số lần sửa chữa phụ thuộc vào chiều đày
lớp thấm tôi theo công thức:
trong đó: A - chiều day hiệu quả của lớp thấm tôi, đảm bảo cho chỉ tiết vẫn
Trang 5
Động cơ xăng Dong co diesel
chỉ tiết mòn, nhằm đảm bảo điều kiện kĩ thuật mối ghép, việc thay thế này
thực hiện trong các kì bảo dưỡng hoặc sửa chữa nhỏ
10.2 PHƯƠNG PHÁP GIA CÔNG CƠ KHi SUA CHUA CHI TIẾT
Gia công cơ khí trong sửa chữa chỉ áp dụng cho các chỉ tiết bị mòn
do ma sát trong khi làm việc và chế tạo các chí tiết lắp ghép với nó thuận lợi như: xi lanh, trục khuỷu, trục cam, bạc lót, nhóm chỉ tiết xu páp
và đế xu páp trong cơ cấu phối khí, trống và má phanh trong hệ thống
phanh ô tô v.v Các loại bánh răng, then hoa, xích và bánh xích khi bị
mòn vượt quá chỉ tiêu cho phép, thường được thay thế đồng bộ bằng các chỉ tiết
mới
19.3.1 Phương pháp gia công cơ khí sửa chữa xi lanh
“Trước khi đưa vào gia công, đối với loại lót ướt thường được ép ra khỏi thân động cơ để tiện cho việc gá đặt xi lanh lên máy cũng như vệ sinh đường nước
làm mát trong thân; Với lót khô, do không thể tháo lót nên vẫn giữ nguyên trên thân song phải tháo các vít cấy (gu giông) ở các mặt lắp ghép giữa thân với nấp máy, đáy đầu (cac te) và nắp ố chính, như vậy mới có thể đặt thân động
cơ lên máy giả công
Xi lanh được sửa chữa theo trình tự sau:
1 Doa xi lanh
Công việc đoa thực hiện trên các máy doa đứng, thực chất như một máy
tiện trong, để cắt gọt hết lớp bề mặt mòn không đều trước khi mang đi đánh bóng Các công đoạn doa gồm:
Gá đặt xi lanh lên máy doa: Lót xi lanh ướt được gá lên đồ gá với các mặt
định vị là mặt tựa và mặt trụ giống như lắp trên thân Với lót khô chỉ cần đặt thân động cơ lên bàn máy Việc gá đặt cần phải đảm bảo độ đồng tâm của xi
lanh với tâm trục dao, do đó chuẩn rà gá là phần không mòn phía trên cùng của xi lanh Sử dụng 3 chốt tự định tâm gắn trên trục đao, điều chỉnh độ nhô
ra của 3 chốt và tiến trục để lồng chốt vào xi lanh ở phần không mòn, điều
chỉnh vị trí của xi lanh trên bàn máy sao cho 3 chốt tiếp xúc vừa khít với thành
x
296
Trang 6xi lanh là đã đạt được độ đồng tâm Sơ đồ rà gá và doa xi lanh thể hiện trên
ap dung phuong phap ra Hình 10.8 Rà gá xì lanh khi doa
lệch tâm như sau: 1- đầu trục đao doa; 2- vít vì chỉnh; 8- chết định tâm;
Gắn lên trục đao một
chốt rà hoặc đồng hồ so, cho chân đồng hồ tì lên thành xi lanh ở phần mòn
nhiều nhất, quay trục dao một vòng và điều chỉnh vị trí xi lanh, nếu ở các phía
đối diện, kim đồng hồ so không chỉ sai lệch là đạt yêu cầu
Sau khi rà gá xong, kẹp chặt xi lanh và đồ gá trên bàn máy, chú ý tránh kẹp ngang thân xi lanh, vì sẽ gây ra biến đạng làm bề mặt xi lanh sau gia công
- Doa xi lanh: Dao đoa xi lanh thường gắn mũi dao bằng hợp kim cứng hoặc kim cương Khi lắp đao lên trục cần kiểm tra kích thước K đo từ đỉnh mũi dao tới đường kinh ngoài phía đối điện của trục Kích thước K được xác định như
Lần cắt đầu tiên ở chế độ doa thô, nên điều chỉnh chiều sâu cắt lớn hơn
để tránh hiện tượng trượt dao, sau khi đã để lượng dư cho doa tính từ
0,04 + 0,1mm và cho đánh bóng từ 0,03 + 0,05mm Bề mặt xi lanh sau doa
tỉnh phải đạt các điều kiện kỹ thuật dưới đây:
Trang 7Chế độ cắt gọt của các bước doa thé va doa tinh như sau:
1- vời phun dung địch; 2- đá đánh bóng;
3-côn điều chỉnh đá; 4- khớp nổi; ð- trục
dẫn động; 6- thân đầu mài
Đánh bóng xi lanh, nhằm nâng cao độ bóng, do nguyên công doa khó có thể đạt độ bóng cao theo yêu cầu Việc đánh bóng xi
lanh có thể được thực biện bằng phương pháp mài khôn hoặc bằng đầu cán lăn đặc
biệt lắp trên máy tiện cho phép nâng cao độ bóng và tăng bền bề mặt
Đầu mài khôn (Hình 10.3) gồm mot gid, trên đó gá tự do từ 4 đến 6 thanh đá mài 2,
đầu mài lắp tự lựa trong xi lanh (nhờ kết cấu khớp các đăng 4 nối đầu mài và trục dẫn động 5), Trong quá trình mài, đầu mài thực hiện hai chuyển động: vừa tịnh tiến suốt chiều cao xi lanh vừa quay, khi quay
nhờ lực l tâm làm các thanh đá bung ra ép vào thành xi lanh tạo nên lực cắt của đá Trước khi mài cần điều chỉnh độ ép ban đầu của đá trên thành xi lành khá nhẹ theo
quy định trên đồng hồ đo tổn thất công suất của thiết bị Việc điều chỉnh độ ép của đá thực hiện bằng cách văn các vít côn 3 trên trục đầu mài
Hành trình tịnh tiến đầu mài được điều
chỉnh sao cho thanh đá nhô ra khỏi 2 đầu xi
lanh từ 0,2 + 0,3 chiều đài đá, điều đó tránh
cho hình dạng xi lanh bị loe hoặc phình tang
trống (hình 10.4 Hành trình toàn bộ đầu
mài được tính:
S=L+2k+l
trong đó:
L - chiều đài xi lanh;
k - khoảng nhô ra của đá, k = (0,2 = 0,311;
1 - chiều dai thanh đá
Về nguyên tắc tốc độ chuyển động tịnh tiến và tốc độ quay của đầu mài phải
chọn là một số vô tỉ với nhau để tránh hiện tượng trùng vết đá trên bề mặt xi 398
Trang 8lanh Các chế độ tốc độ thường trong phạm vi sau:
- Tốc độ quay: v = 60 + 7ð m/phút, giai đoạn cuối v = 45 + 60 m/phút
- Tốc độ tịnh tiến: s = 1⁄4 + 1⁄5 tốc độ quay
Dé bao dam làm mát, tẩy rửa hạt mài và làm tăng độ bóng, trong khi đầu
mài làm việc có hệ thống 1 thường xuyên phun dung dịch Na,CO, 3 + 5% hoặc
hồn hợp 15% đầu nhờn + 85% đầu điesel lên thành xi lanh
Do không thể điều chỉnh được lượng mài, nên sáu vài phút đánh bóng phải dùng đồng hồ đo lỗ kiểm tra kích thước xi lanh một lần
Kích thước xi lanh sau đánh bóng phải bảo đảm khe hở lắp ghép pittông
và xi lanh từ 0,02 + 0,03 mm cho động cơ xăng, từ 0,05 + 0,08 mm cho động cơ diesel Bề mặt xi lanh đạt độ bóng R, = 0,32 + 0,08 (V9 + V11), côn méo < 0,02 mm
Lót xi lanh ướt khi hết cốt sửa chữa được thay bằng lót mới, khi thay chú
ý kiểm tra độ dôi của mặt đầu lót so với mặt thân máy trong phạm vi
0,2 + 0,3mm, và đồng đều giữa tất cả các lót xi lanh
Đối với lót xi lanh khô đã hết cốt sửa chữa phải thay mới, quy trình công nghệ thay lót như sau:
- Doa hết lót cũ;
- Đánh bóng lỗ trên thân;
- Chế tạo lót mới, tiện và đánh bóng mặt ngoài lót;
- Ep lót vào thân máy;
- Doa và đánh bóng lót mới
Các tiêu chuẩn kỹ thuật khi gia công cũng tương tự như trên
10.2.2 Gia công cơ khí sửa chữa trục khuỷu
Trục khuỷu được sửa chữa theo cốt, tuy nhiên trong trường hợp bạc lót mới
đang ở dạng bán thành phẩm, có thể sửa chữa không theo cốt, chỉ cần mài cổ trục theo một kích thước thống nhất nào đó cho hết các chỗ mòn không đều,
sau đó tiện bạc theo trục để đảm báo khe hở lắp ghép là được Làm như vậy có phức tạp hơn, song tiết kiệm được kích thước trục
Trình tự gia công trục khuỷu:
1 Kiểm tra và nắn cong
Sơ đồ kiểm tra cong trục được giới thiêu ở chương 2 Trong trường hợp trục
bị cong quá mức cho phép thì phải nắn lại
Độ cong cho phép A, được xác định: 4, < V2(D' ~ D, ~ a)
trong đó: D' - kích thước trục trước khi gia công,
D, - kích thước trục sau khi gia công;
a- lượng dư tối thiểu dành cho mai, a = 0,02 + 0,04 mm
299
Trang 9lanh Các chế độ tốc độ thường trong phạm vi sau:
- Tốc độ quay: v = 60 + 75 m/phút, giai đoạn cuối v = 45 + 60 m/phut
- Tốc độ tịnh tiến: s = 1/4 + 1⁄5 tốc độ quay
Dé bao đảm làm mát, tẩy rửa hạt mài và làm tăng độ bóng, trong khi đầu mài làm việc có hệ thống 1 thường xuyên phun dung dịch Na;CO, 3 + 5% hoặc
hỗn hợp 15% dầu nhờn + 85% dầu diesel lên thành xi lạnh
Do không thể điều chỉnh được lượng mài, nên sau vài phút đánh bóng phải dùng đồng hồ đo lỗ kiếm tra kích thước xi lanh một lần
Kích thước xi lanh sau đánh bóng phải bảo đảm khe hở lắp ghép píttông
và xi lanh từ 0,02 + 0,03 mm cho động cơ xăng, từ 0,05 + 0,08 mm cho động cơ diesel Bề mặt xi lanh đạt độ bóng R, = 0,32 + 0,08 (V8 + V11), côn méo < 0,02 mm
Lót xi lanh ướt khi hết cốt sửa chữa được thay bằng lót mới, khi thay chú
ý kiểm tra độ đôi của mặt đầu lót so với mặt thân máy trong phạm vi
0,2 + 0,3mm, và đồng đều giữa tất cả các lót xi lanh
Đối với lót xi lanh khô đã hết cốt sửa chữa phải thay mới, quy trình công
nghệ thay lót như sau:
- Doa hết lót cũ;
- Đánh bóng lỗ trên thân;
- Chế tạo lót mới, tiện và đánh bóng mặt ngoài lót;
- Ep lét vao than may;
- Doa và đánh bóng lót mới
Các tiêu chuẩn kỹ thuật khi gia công cũng tương tự như trên
10.2.2 Gia công cơ khí sửa chữa trục khuỷu
"Trục khuỷu được sửa chữa theo cốt, tuy nhiên trong trường hợp bạc lót mới
đang ở dạng bán thành phẩm, có thể sửa chữa không theo cốt, chỉ cần mài cổ trục theo một kích thước thống nhất nào đó cho hết các chỗ mòn không đều,
sau đó tiện bạc theo trục để đảm bảo khe hở lắp ghép là được Làm như vậy có phức tạp hơn, song tiết kiệm được kích thước trục
Trình tự gia công trục khuỷu:
1, Niểm tra và nắn cong
Sơ đồ kiểm tra cong trục được giới thiệu ở chương 2 Trong trường hợp trục
bị cong quá mức cho phép thì phải nắn lại
Độ cong cho phép A, được xác định: A, < 1/2(D' - D, ~ a)
trong đó: D - kích thước trục trước khi gia công;
D, - kích thước trục sau khi gia công;
a- lượng đư tối thiểu dành cho mài, a = 0,02 + 0,04 mm
299
Trang 10"Thực chất hiện tượng cong trục khuỷu là do biến đạng má gây ra khi chịu
tải trọng lớn, làm các cổ chính mất đồng tâm, vì vậy có thể đùng các phương
pháp sau để nắn cong trục:
- Nan trên thiết bị ép thủy lực:
'Trục được đặt trên hai khối V 2 (hinh 10.5) ở các cổ chính đầu và đuôi, giữa
trục có đồng hồ so 6 để kiểm tra lượng biến dạng Thiết bị ép dùng kích thủy lực bằng tay với áp kế 4 chỉ thị lực nắn
Nếu trục khuÿu làm bằng gang cầu, lượng biến dạng rất hạn chế vì gang
cầu khá ròn so với truc thép, do đó khó có thể thành công bằng cách nắn đưới
áp lực Với trục khuỷu bằng thép, kinh nghiệm cho thấy lượng biến dạng khi
nắn có thể gấp 10 + 20 lần độ cong thì mới đạt hiệu quả
Nên chia làm nhiều lần ép để trục từ từ thẳng ra, ở lần ép cuối cùng, duy trì lực ép trong nhiều giờ nhằm tạo ra ứng suất dư khử hết ứng suất biến đạng ban đầu
điện, cho gõ liên tục vào các vị
suất biến dang, do dé lam ma
Trang 11cách giữa 2 má phía trên và dưới, hoặc kiểm tra độ đồng tâm cổ chính bằng đồng hồ so để xác định kết quả
3 Kiểm tra và sửa lỗ tâm
Nếu lỗ tâm bị hỏng đo quá trình sử dụng không cẩn thận gây ra, phải thực
hiện việc sửa lại cho chính xác vì đây sẽ là chuẩn định vị trục trong quá trình
gia công cơ sau này Khi sửa lỗ tâm, trục được gá đặt lên 2 cổ chính 2 đầu bằng
khối V
3 Mài các cổ chính và cổ biên
Thực hiện mài cổ khuỷu trên các máy mài chuyên dùng, theo trình tự: mài
cổ chính trước, mài cổ biên sau, mài từ cổ giữa sang hai bên
Trục được chống tâm 2 đầu bằng các mũi tâm gắn trên bàn trượt của mâm cặp ụ động và bị động, đồng thời có cặp tốc để truyền mô men và có giá đỡ (luy- nét) ở cổ giữa để tránh võng trục khi mài
Khi mài cổ chính, bàn trượt được điều chỉnh để đường tâm trục đồng tâm
với tâm quay của ụ dẫn động Khi mài cổ biên, bàn trượt được đánh tụt một
đoạn bằng bán kính khuÿu R để tâm cổ biên cần mài đồng tâm với tâm quay Lúc này ở phía đối điện trên mâm cặp, phải gắn thêm các đối trọng cân bằng
với khối lượng trục khuỷu đã đánh lệch để chống rung động cho hệ máy
Đá mài dùng loại có độ cứng CM3 và độ hạt 28
Để bảo đảm mài hết chiều dài cổ trục, đá mài phải vừa tiếp xúc với 2 bên
má khuỷu, đồng thời để tạo ra góc chuyển tiếp giữa cổ và má, cần phải sửa góc
đá chính xác theo quy định của nhà thiết kế
Trong quá trình mài, thường xuyên phun dung dịch NazCO; 3 + 5% hoặc
hỗn hợp 85% đầu đi ê den và Í5% dầu nhờn để tẩy rita hat mai và làm bóng
trục
Các chế độ mài như sau:
- Không có các vết lõm trên bề mặt trục đo không được mài tới;
+ Các mép lỗ dầu bôi trơn được khoét côn hoặc ép bi để khử hết cạnh sắc;
301
Trang 12- Các cổ biên phải có cùng một kích thước, các cổ chính cho phép có chênh lệch kích thước nếu cần
4 Đánh bóng cổ trục
Nếu điều kiện cho phép, việc đánh bóng cổ trục sau khi mài sẽ có tác dụng
làm tăng độ bóng và khử bớt các vết xước tế vi đo mài để lại trên bề mặt trục
Đặc biệt dùng phương pháp cán lăn sẽ cho phép tăng bền và tăng khả năng
chịu mới của trục
Có thể áp dụng các cách làm bỏng sau đây:
- Đánh bằng bột nghiền trên máy đánh bóng hoặc bằng thủ công, nếu đánh bằng tay phải chế tạo các bộ kẹp gỗ trong có lót dạ mềm bao quanh cổ trục, sử
dụng loại bột có độ hạt < 0,05 um xoa lên miếng dạ để đánh
- Cán lăn bằng dụng cụ lăn ép, gá trực tiếp lên trục, các con lăn được dẫn động cơ khí hay thủy lực, có cấu tạo hợp lý để có thể đánh bóng cả góc chuyển tiếp giữa má và cổ
Nói chung việc đánh bóng chỉ làm tăng độ bóng mà không ảnh hưởng đến
độ chính xác về hình đáng và kích thước cổ trục
ð Kiểm tra cân bằng tĩnh và động trục khuỷu
Mặc dù trục khuỷu đã được cân bằng khi chế tạo, nhưng qua sử dụng và sửa chữa, do các biến đạng cũng như sai số gia công dẫn đến sự mất cân bằng tĩnh và động của trục Vì vậy việc cân bằng lại trục khuỷu là điều cần thiết
“Thông thường trục được cân bằng tĩnh riêng và cân bằng động cùng với bánh
đà Phương pháp kiểm tra cần bằng tỉnh và động được giới thiệu ở chương 9
Độ mất cân bằng động cho phép trong khoảng 30g.cm đối với các trục khuỷu động cơ ô tô máy kéo có công suất trung bình
10.2.3 Gia công cơ khí sửa chữa thanh truyền
“Thanh truyền thường bị biến dạng cong xoắn, bị mòn méo lỗ đầu to đo hiện tượng xoay bạc trong lỗ hoặc do lực quán tính tịnh tiến của nhóm pitténg gây
ra Các bạc đầu nhỏ, đầu to bị mòn Vì vậy cần phải kiểm tra và sửa chữa các
hư hỏng về hình đạng rồi mới gia công các bạc thanh truyền Phương pháp kiểm tra thanh truyền đã được giới thiệu trong chương 2, dưới đây chỉ nêu các bước sửa chữa:
1 Nắn cong xoắn thanh truyền
Đối với thanh truyền của động cơ công suất nhỏ hoặc vừa có kích thước
không lớn, có.thể dùng đồ gá nắn cong và xoắn gá trực tiếp lên thân thanh truyền để nắn, trường hợp thanh truyền có kích thước khá lớn phải đưa lên các
bàn ép mới có đủ lực nắn cần thiết
Trong quá trình nắn cần thường xuyên kiểm tra hình dáng để tránh nắn
quá mức gây ra biến dạng mới cho thanh truyền Sau khi nắn sai lệch cho phép như sau: độ xoắn < 0,04 mm, độ cong < 0,03mm trên 100mm chiều đài thanh truyền (hình 10.7)
302