Bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.Bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.Bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.Bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.Bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.Bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.Bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.Bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.Bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.Bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.Bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.Bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.Bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.Bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.Bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.Bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.Bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.Bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.Bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.Bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.Bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.Bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.Bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.Bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THANH HIỀN
BẢO ĐẢM PHÁP LÝ VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỚI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI – 2023
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THANH HIỀN
BẢO ĐẢM PHÁP LÝ VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỚI
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 938.01.02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Trần Ngọc Đường
HÀ NỘI – 2023
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 6
5 Những đóng góp mới về khoa học của Luận án 7
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 8
7 Kết cấu của luận án 9
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 10
1.1 Những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 10
1.1.1 Những công trình nghiên cứu về lý luận có liên quan đến bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới 10
1.1.2 Những công trình nghiên cứu có liên quan đến thực trạng bảo đảm pháp lý quyền bình đẳng giới 18
1.1.3 Những công trình nghiên cứu về giải pháp có liên quan đến bảo đảm pháp lý quyền bình đẳng giới 26
1.2 Đánh giá tình hình nghiên cứu 27
1.2.1 Những kết quả nghiên cứu được kế thừa trong luận án 27
1.2.2 Những vấn đề còn chưa được giải quyết thấu đáo cần phải tiếp tục nghiên cứu 28
1.3 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 29
1.3.1 Giả thuyết nghiên cứu 29
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu 30
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 31
Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN BẢO ĐẢM PHÁP LÝ VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỚI 32
2.1 Quyền bình đẳng giới và bảo đảm quyền bình đẳng giới 32
2.1.1 Quyền bình đẳng giới 32
2.1.2 Bảo đảm quyền bình đẳng giới 39
Trang 42.2 Bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới 46
2.2.1 Khái niệm bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới 46
2.2.3 Vai trò của bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới 55
2.3.1 Các nguyên tắc bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới 58
2.3.2 Quy định của pháp luật về bảo đảm pháp lý quyền bình đẳng giới 62
2.3.3 Thiết chế thực hiện quyền bình đẳng giới 64
2.3.4 Ý thức pháp luật về bảo đảm quyền bình đẳng giới 66
2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới 68
2.4.1 Yếu tố pháp luật 68
2.4.2 Yếu tố áp dụng pháp luật 69
2.4.3 Yếu tố kinh tế 70
2.4.4 Yếu tố chính trị 71
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 73
Chương 3 THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM PHÁP LÝ VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 74
3.1 Quá trình hình thành và phát triển bảo đảm pháp lý quyền bình đẳng giới ở Việt Nam 74
3.2 Thực trạng các quy định pháp luật về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam 76
3.2.1 Các quy định của pháp luật quốc tế về quyền bình đẳng giới mà Việt Nam đã tham gia 76
3.2.2 Pháp luật Việt Nam về quyền bình đẳng giới 80
3.3 Thực trạng thực hiện pháp luật bình đẳng giới ở Việt Nam 89
3.3.1 Kết quả thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam và nguyên nhân 89 3.3.2 Hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế 100
3.4 Thực trạng ý thức pháp luật về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam 111
3.4.1 Thực trạng nhận thức, ý thức của các cấp ủy Đảng, Nhà nước và cộng đồng xã hội về quyền bình đẳng giới 111
3.4.2 Thực trạng nhận thức, ý thức của cá nhân trong việc thực hiện quyền bình đẳng giới 114
3.5 Đánh giá chung về thực trạng bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay 115
Trang 53.5.1 Những thành tựu đã đạt được trong thực hiện bảo đảm pháp lý về quyền bình
đẳng giới 115
3.5.2 Một số hạn chế và nguyên nhân của hạn chế 116
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 122
Chương 4 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG BẢO ĐẢM PHÁP LÝ VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 123
4.1 Quan điểm tăng cường bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay 123
4.1.1 Tăng cường pháp luật bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới nhằm hướng tới bình đẳng giới thực sự 123
4.1.2 Tăng cường bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới phải trở thành một nội dung quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân 125
4.1.3 Tăng cường bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay phải được thực hiện đồng bộ cùng các quyền khác của công dân 128
4.2 Những giải pháp tăng cường bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay 129
4.2.1 Nâng cao nhận thức của các chủ thể về bảo đảm quyền bình đẳng giới 129
4.2.2 Tăng cường các quy định của pháp luật về quyền bình đẳng giới 138
4.2.3 Tổ chức tốt hơn việc thi hành pháp luật về bảo đảm quyền bình đẳng giới 142
4.2.4 Xây dựng và phát huy đồng bộ các bảo đảm quyền bình đẳng giới và các quyền khác 146
4.2.5 Tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế và các quốc gia khác trong bảo đảm quyền bình đẳng giới 153
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 157
KẾT LUẬN 160
DANH SÁCH CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC 163
ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 163
ANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 164
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bình đẳng giới là một vấn đề toàn cầu đang nhận được sự quan tâm rất lớn
Nó không chỉ liên quan đến việc đảm bảo các quyền lợi, cơ hội và đối xử công bằng cho nam giới và nữ giới, mà còn đề cập đến việc thay đổi các quan điểm xã hội về vai trò và giá trị của mỗi giới tính trong xã hội
Ở nhiều quốc gia, nỗ lực để thúc đẩy Bình đẳng giới bao gồm việc thực hiện các chính sách pháp luật bảo vệ quyền của phụ nữ, giảm bớt sự phân biệt đối xử trong lĩnh vực lao động, giáo dục và tham gia chính trị Việc thay đổi nhận thức và
ý thức của cộng đồng cũng rất quan trọng, bởi vì đôi khi những định kiến xã hội về vai trò của nam và nữ có thể tạo ra sự chênh lệch và phân biệt đối xử không công bằng
Bình đẳng giới cũng là một trong những mục tiêu quan trọng của nhiều chính sách và chương trình phát triển xã hội tại Việt Nam Các hoạt động như tăng cường giáo dục về Bình đẳng giới, nâng cao tầm nhìn và ý thức cộng đồng, cùng với việc thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong các lĩnh vực quyết định đã và đang được thực hiện
Tuy nhiên, vấn đề vẫn còn nhiều thách thức, và việc thay đổi niềm tin, quan điểm xã hội không phải lúc nào cũng dễ dàng Sự nhất quán trong việc thực hiện chính sách và quyết định cũng là một điểm quan trọng trong việc xây dựng một xã hội Bình đẳng giới
Việc thực hiện các chính sách và quy định pháp luật liên quan đến Bình đẳng giới không chỉ đòi hỏi sự có mặt của các văn bản pháp lý mà còn cần sự tham gia chủ động của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và cả cộng đồng để thực hiện chúng trong thực tế cuộc sống Việc có các nghiên cứu cụ thể về bảo đảm pháp lý về quyền Bình đẳng giới ở Việt Nam là rất cần thiết để định hình và cải thiện các chính sách hiện có Những nghiên cứu này có thể phản ánh tình hình thực tế về thực hiện chính sách, những thách thức, khó khăn gặp phải và đề xuất các giải pháp cụ thể để cải thiện tình hình
Trang 8Việc tập trung vào các nghiên cứu cụ thể này không chỉ giúp cho việc xây dựng và điều chỉnh chính sách trở nên hiệu quả hơn mà còn giúp tăng cường nhận thức và hiểu biết của cộng đồng về quyền Bình đẳng giới Điều này có thể thúc đẩy
sự tham gia và hỗ trợ từ cộng đồng trong việc thực hiện các chính sách này Việc có nhiều hơn các nghiên cứu cụ thể về Bình đẳng giới trong lĩnh vực pháp luật không chỉ
hỗ trợ quyết định chính sách mà còn góp phần quan trọng vào việc xây dựng một xã hội công bằng và Bình đẳng Vì vậy, phần bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới vẫn còn một khoảng trống không nhỏ
Hiến pháp năm 1946 của Việt Nam đã lập nền tảng cho nguyên tắc bình đẳng giới và bình đẳng trước pháp luật Những điều khoản quan trọng này đã rõ ràng khẳng định quyền lợi và trách nhiệm của mọi công dân, không phân biệt giới tính, trong mọi lĩnh vực cuộc sống: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” (Điều 9); “Mọi công dân đều bình đẳng về quyền trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa” (Điều 6); và “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” (Điều 7) các Hiến pháp tiếp theo của Việt Nam tiếp tục củng cố và phát triển các nguyên tắc bình đẳng giới tính đã được thể hiện từ Hiến pháp năm 1946 Những sửa đổi và bổ sung này có thể bao gồm việc mở rộng các quyền lợi của phụ nữ trong lĩnh vực giáo dục, lao động, tham gia chính trị và quyết định, cũng như việc đảm bảo truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với việc vi phạm quyền của phụ nữ Qua việc liên tục cập nhật và điều chỉnh Hiến pháp, Việt Nam đã thể hiện cam kết vững chắc của mình trong việc tạo điều kiện bình đẳng cho cả nam và nữ, cùng với việc thúc đẩy tiến bộ
xã hội và sự công bằng Điều này là một bước tiến quan trọng và thể hiện sự nhận thức cao về vai trò và đóng góp của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của xã hội và kinh tế Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam tiếp tục phát triển từ các nguyên tắc đã được lấy
từ các Hiến pháp trước đó, nhất là Hiến pháp năm 1992 Tuy nhiên, Hiến pháp này đi sâu và rõ ràng hơn vào các vấn đề liên quan đến gia đình, mang tính chất nguyên tắc
và mở rộng nội dung bao hàm so với Hiến pháp năm 1992 Sự thay đổi từ "mọi công dân" sang "mọi người" có thể nhấn mạnh tính bao hàm, không chỉ giới hạn trong phạm vi công dân mà mở rộng ra tất cả mọi người, không phân biệt quốc tịch hay địa
Trang 9vị So với Hiến pháp năm 1992 chỉ quy định “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” và quy định cụ thể một số chính sách về vấn đề bình đẳng giới tại Điều 63, Hiến pháp 2013 đã bổ sung và mở rộng nội dung của nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới, đặt ra tiêu chuẩn cao hơn cho việc thúc đẩy bình đẳng giới và đảm bảo quyền lợi cho tất cả mọi người
Việt Nam đã thực hiện nhiều bước đột phá quan trọng để thúc đẩy bình đẳng giới trong thời gian gần đây Đảng và Nhà nước với những hành động của mình đã mang lại những thành tựu đáng kể trong việc giảm thiểu khoảng cách giới, được đánh giá là nhanh chóng nhất trong 20 năm gần đây Một trong những điểm đáng chú ý là việc hoàn thiện hệ thống luật pháp và chính sách về bình đẳng giới.Việt Nam đã thực hiện nhiều biện pháp pháp lý, cụ thể hóa quyền lợi và trách nhiệm của nam và nữ trong lĩnh vực giáo dục, lao động, gia đình, và các lĩnh vực khác Công tác này không chỉ tạo điều kiện bình đẳng hơn cho phụ nữ trong công việc và xã hội
mà còn khuyến khích sự tham gia của họ vào quyết định chính trị và kinh tế Việc thúc đẩy bình đẳng giới không chỉ dừng lại ở mức pháp lý mà còn được thực hiện thông qua các chính sách hỗ trợ, chương trình giáo dục và những hoạt động thực tiễn hỗ trợ việc xóa bỏ những rào cản đối với sự phát triển bình đẳng của nam và
nữ Việc này không chỉ làm tăng cường quyền lợi và vị thế của phụ nữ mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững và công bằng của xã hội, đồng thời thể hiện cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong việc xây dựng một cộng đồng bình đẳng và phát triển Mặc dù Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể, bất bình đẳng giới vẫn tiếp tục là một thách thức lớn Khoảng cách giới vẫn tồn tại trong nhiều lĩnh vực quan trọng như chính trị, giáo dục, lao động, kinh tế và các khía cạnh của đời sống
xã hội Để vượt qua những thách thức này, việc thay đổi tư duy và nhận thức của cả
xã hội là cần thiết Điều này có thể đạt được thông qua việc tăng cường giáo dục, tạo ra các chính sách hỗ trợ và thúc đẩy sự chân thành và bình đẳng giới Việc thúc đẩy sự nhận thức và sự thay đổi về tư duy không chỉ cần phải đến từ chính sách mà còn từ mọi tầng lớp xã hội, từ gia đình, giáo dục và cả thông qua các phương tiện truyền thông Việc xóa bỏ những định kiến cũng sẽ mở ra cơ hội rộng lớn hơn cho
Trang 10phụ nữ thể hiện năng lực, đóng góp và tham gia vào các lĩnh vực quan trọng, góp phần vào sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước o đó, nghiên cứu và
đề xuất các giải pháp về bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay là yêu cầu khách quan và đòi hỏi cấp thiết để đạt được mục tiêu bình đẳng giới thực chất nên tôi chọn đề tài nghiên cứu này
Vấn đề nghiên cứu các hình thức bảo đảm quyền bình đẳng giới, nhất là bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới nhằm đi sâu vào phân tích hệ thống các quy định của pháp luật về quyền bình đẳng giới cũng như thực tiễn bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng trên thực tế là rất cần thiết Trên cơ sở đó, đánh giá thực trạng bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay, đồng thời đề xuất một
số định hướng, giải pháp hữu hiệu góp phần nâng cao hiệu quả việc thực hiện quyền bình đẳng giới, qua đó thúc đẩy sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước bảo đảm bình đẳng giới là việc làm cần thiết phù hợp với xu thế hội nhập sâu rộng của Việt Nam trong thời kỳ mới
Nghiên cứu đề tài “Bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay " thuộc chương trình đào tạo tiến sĩ Luật học sẽ đem tới nhiều ý nghĩa to lớn về mặt lý thuyết và thực hành tại Việt Nam hiện nay Việc này không chỉ đáp ứng kịp thời yêu cầu tăng cường bình đẳng giới mà còn hỗ trợ trong việc phát triển dân chủ trong mọi lĩnh vực của đất nước Với sự phát triển nhanh chóng và sự thay đổi trong xã hội, việc nghiên cứu sâu hơn về bình đẳng giới trong ngữ cảnh pháp luật sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tiến bộ và bảo đảm quyền lợi của mọi thành viên trong xã hội, đặc biệt là việc đảm bảo quyền bình đẳng giới
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục tiêu cuối cùng của luận án là đề xuất những giải pháp không chỉ có tầm ảnh hưởng lớn đối với cải thiện hệ thống pháp luật mà còn có khả năng thực thi và ứng dụng thực tế cao, góp phần vào việc nâng cao bình đẳng giới trong đời sống xã hội và phát triển bền vững của Việt Nam.Việc nghiên cứu và đề xuất những giải
Trang 11pháp mang tính cụ thể và ứng dụng là cực kỳ quan trọng để thúc đẩy tiến bộ xã hội, đảm bảo quyền lợi và bình đẳng giới cho tất cả mọi người ở Việt Nam
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ đầu tiên của luận án tập trung vào việc xây dựng cơ sở lý luận về quyền bình đẳng giới và bảo đảm pháp lý về quyền này
Thứ nhất, nghiên cứu nhằm bổ sung kiến thức và giải thích rõ hơn về mặt lý
thuyết của quyền bình đẳng giới, cũng như áp dụng nó vào các vấn đề thực tế Việc đánh giá tổng thể các nghiên cứu liên quan sẽ được thực hiện để xác định rõ những vấn đề chưa được giải quyết Sự tập trung vào việc giải quyết những vấn đề này và việc đưa ra các giải pháp cụ thể sẽ là trọng tâm của luận án
Thứ hai, làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò của bảo đảm pháp lý về quyền
bình đẳng giới Đồng thời phân tích nội dung và các điều kiện bảo đảm quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay
Thứ ba, nghiên cứu, phân tích và đánh giá tình hình bảo đảm pháp lý đối với
quyền bình đẳng giới tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và thực trạng thi hành bảo đảm pháp lý đối với quyền bình đẳng giới hiện nay ở nước ta
Thứ tư, nghiên cứu và đề xuất các quan điểm, kiến nghị, biện pháp cải thiện
và tăng cường bảo đảm pháp luật về thực hiện quyền bình đẳng giới tại Việt Nam hiện hành
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung vào nghiên cứu về việc bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở góc độ lý luận Nghiên cứu tập trung vào các quan điểm và quan niệm liên quan đến việc bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới, cũng như xem xét các quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam về quyền bình đẳng giới trong việc thực hiện các hoạt động xã hội tại Việt Nam từ năm 1946, và đặc biệt là từ năm
2006 khi Luật bình đẳng giới được thông qua và thực tiễn vấn đề này ở Việt Nam hiện nay Đồng thời, luận án cũng sẽ tập trung vào việc xem xét các quan điểm và
Trang 12giải pháp liên quan đến việc bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung: Trong phạm vi luận án, các vấn đề lý luận về bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới được tác giả tập trung làm sáng tỏ Thực tiễn thực hiện bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới cũng được tác giả nêu rõ Các giải pháp bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay cũng được tác giả đề xuất trong luận án
- Phạm vi không gian: Luận án triển khai nghiên cứu tập trung vào cơ sở lý thuyết và thực tế đảm bảo pháp luật về quyền bình đẳng tại Việt Nam
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2006 (Khi Luật Bình đẳng giới được thông qua) đến nay
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận: Luận án tích hợp chặt chẽ các tri thức khoa học từ Chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp với sự vận dụng kiến thức từ các lĩnh vực khoa học khác như triết học, xã hội học và lý luận chính trị Việc này giúp
mở rộng phạm vi nghiên cứu và hiểu rõ sâu hơn về các vấn đề như quyền con người, nhà nước pháp quyền và bình đẳng giới Cách tiếp cận dựa trên triết lý và tư tưởng của Mác - Lênin và Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, cùng việc kết hợp với các quan điểm của Đảng và Nhà nước về đổi mới toàn diện, tập trung vào xây dựng Nhà nước pháp quyền theo ý chí và lợi ích của nhân dân, là một cách tiếp cận rất cần thiết và có thể tạo ra những cơ sở lý luận mạnh mẽ cho việc thảo luận về bình đẳng giới và quyền công dân trong xã hội hiện đại Việc áp dụng tri thức từ các ngành khoa học khác như triết học, xã hội học và lý thuyết nữ quyền cũng làm phong phú hơn cho luận điểm và mở ra cơ hội để nghiên cứu sâu hơn về quyền con người, quyền công dân và quyền bình đẳng giới từ nhiều góc độ khác nhau Quan trọng nhất là kết hợp giữa việc tiếp thu tư tưởng tinh hoa của nhân loại về pháp luật
và quyền con người, cùng với việc đặt nó vào bối cảnh cụ thể của xã hội và văn hóa Việt Nam Sự kết hợp này có thể giúp phát triển một cách sâu sắc và toàn diện hơn đối với vấn đề bình đẳng giới và quyền lợi cá nhân trong xã hội
Trang 134.2 Phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở lý luận nêu trên, nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu và thực hiện kết quả nghiên cứu của đề tài, tác giả áp dụng các biện pháp nghiên cứu khác nhau:
- Phương pháp phân tích được sử dụng trong quá trình chứng minh tính phổ biến của bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới Cách tiếp cận này dựa trên việc phân tích và so sánh các quy định pháp luật về quyền bình đẳng giới ở các quốc gia khác nhau cũng như các công ước quốc tế liên quan Phương pháp này không chỉ chứng minh sự phổ biến của các bảo đảm pháp lý này mà còn xây dựng cơ sở khoa học để đề xuất các biện pháp cải thiện chúng
Sử dụng chính trong Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về đề tài)
- Phương pháp tổng hợp, so sánh đã được áp dụng trong quá trình hình thành khái niệm bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới, phương thức tổng hợp, đối chiếu được áp dụng nhằm phân tích, minh chứng và hệ thống hoá những đặc trưng, tính chất của bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới
(Sử dụng chính trong Chương 2: Những vấn đề lý luận về bảo đảm pháp lý
về quyền bình đẳng giới.)
- Phương pháp lịch sử là việc nghiên cứu sự hình thành và tiến triển của pháp luật về bình đẳng giới thông qua việc kết nối với các biến đổi văn hóa khác trong xã hội hiện đại
- Phương pháp phân tích quy phạm chủ yếu được sử dụng trong quá trình làm
rõ những hạn chế của pháp luật về bảo đảm quyền bình đẳng giới và trong việc nghiên cứu thực tiễn thực thi bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới, phương pháp phân tích quy phạm chủ yếu đã được áp dụng
- Phương pháp phân tích- dự báo khoa học nhằm dự báo xu hướng phát triển nhu cầu của xã hội cũng như các yêu cầu của nhà nước pháp quyền XHCN đối với vấn đề bảo đảm quyền bình đẳng giới trong tương lai
(Các phương pháp này được sử dụng chính trong chương 3 và chương 4)
5 Những đóng góp mới về khoa học của Luận án
Luận án này là một nghiên cứu tổng thể về nội dung bảo đảm pháp lý của
Trang 14quyền bình đẳng giới trong ngữ cảnh xây dựng chế độ pháp luật và công lý XHCN tại Việt Nam
Đầu tiên, luận án đã điều chỉnh và bổ sung các khía cạnh lý luận cơ bản vào hệ thống lý luận về bảo đảm pháp lý của quyền bình đẳng giới Điều này bao gồm việc định nghĩa rõ "bảo đảm pháp lý của quyền bình đẳng giới" và phân tích các đặc điểm
cơ bản của nó, đồng thời làm sáng tỏ các yếu tố căn bản của bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới trong bối cảnh xây dựng chế độ pháp luật và công lý XHCN ở Việt Nam
Thứ hai, luận án đã đánh giá một cách toàn diện các kết quả đạt được, những vấn đề tồn tại và hạn chế của bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới trong liên quan đến các bảo đảm chung về quyền bình đẳng giới Đồng thời, nó đã chỉ ra nguyên nhân
cơ bản của tình trạng này
Cuối cùng, luận án đã xây dựng một hệ thống các giải pháp khoa học phù hợp với bối cảnh và hướng phát triển của chế độ pháp luật và công lý XHCN, nhằm cải thiện bảo đảm pháp lý của quyền bình đẳng giới ở Việt Nam trong thời điểm hiện tại
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Về mặt lý luận:
Từ các vấn đề liên quan, luận án đã mở rộng và làm sâu thêm về các khía cạnh lý luận của bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới tại Việt Nam Đây bao gồm việc xem xét khái niệm, vai trò, nội dung, và các yếu tố đang có ảnh hưởng đến bảo đảm pháp lý của quyền bình đẳng giới ở Việt Nam trong thời điểm hiện tại
6.2 Về mặt thực tiễn:
Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên về bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới Những kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo có giá trị cho các nhà nghiên cứu và giảng dạy về quyền bình đẳng giới nói riêng, quyền của phụ nữ, quyền con người nói chung
Kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hoàn thiện pháp luật, tăng cường tổ chức thực thi pháp luật và nâng cao ý thức pháp luật
về bảo đảm quyền bình đẳng giới Luận án có thể là tài liệu tham khảo hữu ích cho
Trang 15các nhà hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật, các nhà quản lý, các tổ chức và
cá nhân tham gia các hoạt động vì quyền bình đẳng giới ở Việt Nam
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu thành 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chương 2: Cơ sở lý luận về bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở
Việt Nam hiện nay
Chương 3: Thực trạng bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở Việt
Nam hiện nay
Chương 4: Quan điểm và giải pháp tăng cường bảo đảm pháp lý về quyền
bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Quyền bình đẳng giới không chỉ là một giá trị tinh thần mà còn là nền tảng
cơ bản cho sự phát triển của các quyền lợi và quyền con người khác trong xã hội dân chủ Bình đẳng giới không chỉ đảm bảo một môi trường công bằng cho nam và
nữ mà còn tạo điều kiện để hình thành và thúc đẩy các quyền khác như quyền kinh
tế, chính trị, văn hóa và xã hội Họ tiếp cận đề tài này từ nhiều phương diện khác nhau, từ các góc độ luật pháp, xã hội học, triết học, đến các nghiên cứu thực tiễn và quy định chính sách Bằng cách nghiên cứu và hiểu sâu về quyền bình đẳng giới, các chuyên gia và nhà nghiên cứu có thể đưa ra các phân tích, đánh giá và đề xuất
cụ thể về cách thức tăng cường và bảo vệ quyền này trong mọi khía cạnh của xã hội
Sự quan tâm này không chỉ giúp nâng cao nhận thức mà còn tạo ra cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng và cải thiện các chính sách, cơ chế thực thi và hệ thống luật pháp liên quan đến bình đẳng giới
Các nghiên cứu thường tập trung vào các khía cạnh như tổng quan về hệ thống quy định pháp luật liên quan đến bình đẳng giới và quyền bình đẳng giới, tình trạng thực thi bình đẳng giới, và cả các yếu tố, nguyên nhân gây ra tình trạng bất bình đẳng giới Sau đây là một số công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến quyền bình đẳng giới mà tác giả đã tham khảo trong quá trình thực hiện luận án, nhằm hỗ trợ việc hoàn thành các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đã được xác định
1.1 Những công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
1.1.1 Những công trình nghiên cứu về lý luận có liên quan đến bảo đảm pháp lý
về quyền bình đẳng giới
quyền con người và Viện Thông tin khoa học Học viện được tài trợ bởi Đại sứ quán Liên bang Thụy Sỹ tại Việt Nam, 1999 Điểm nổi bật của công trình này tập trung vào hai vấn đề quan trọng: bảo đảm quyền của trẻ em và sự bình đẳng của phụ nữ Đây là
Trang 17hai mảng lớn trong lĩnh vực quyền con người và bình đẳng giới, đặc biệt quan trọng trong xã hội đương đại Sự bình đẳng của phụ nữ cũng là một lĩnh vực quan trọng Nghiên cứu về việc xóa bỏ các rào cản, đảm bảo quyền lợi và cơ hội bình đẳng cho phụ
nữ trong mọi khía cạnh của đời sống xã hội và kinh tế đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng một xã hội công bằng [81]
Trong cuốn “Suy nghĩ về bình đẳng giới dưới góc nhìn pháp luật” của tác giả
Trịnh Đình Thể (XNB Tư pháp năm 2007) nghiên cứu sâu chủ đề về chính sách bình đẳng giới của Đảng, tập trung vào phân tích góc độ pháp luật và thực tiễn tư pháp liên quan đến việc thực hiện các chính sách này Việc này bao gồm việc khảo sát các cơ sở luật pháp, văn bản quy định pháp luật liên quan đến bình đẳng giới, cho phép tác giả đưa ra đánh giá và đề xuất các điều chỉnh, cải tiến về nền tảng pháp lý nhằm tăng cường bảo đảm quyền bình đẳng giới Tác giả cũng tiến hành nghiên cứu cụ thể và chi tiết về việc thực thi quyền bình đẳng giới thông qua thực tiễn tư pháp [70]
Sách: “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong
Hiến pháp Việt Nam”, Văn phòng Thường trực về Nhân quyền và Học viện Chính
thể là nội dung Quan điểm về bình đẳng giới tại Hiến pháp 2013, có phần đề cập các quyền của phụ nữ, cụ thể là những nét chính về bình đẳng giới, quyền và nghĩa
vụ của phụ nữ đối với học tập, làm việc, sinh đẻ và hôn nhân.Tư tưởng về bình đẳng giới trong Hiến pháp 2013 có thể được phân tích sâu hơn, đặc biệt là các nguyên lý, giá trị và mục tiêu về bình đẳng giới mà Hiến pháp này hướng đến Nó cũng có thể bao gồm cách mà Hiến pháp bảo vệ và thúc đẩy bình đẳng giới trong các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống.[89]
Giáo sư Lê Thi trong cuốn “Vài nét bàn về việc thực thi công bằng, dân chủ
và bình đẳng nam nữ ở Việt Nam hiện nay” Đề xuất một quan điểm toàn diện về sự
tương quan giữa các nguyên tắc cơ bản của công bằng, dân chủ và bình đẳng với việc thực thi bình đẳng giới Tác giả đã không chỉ đưa ra quan điểm về những nguyên tắc chung mà còn đi sâu vào việc làm rõ các điều kiện cụ thể để thực hiện chúng trong đời sống kinh tế - xã hội Điều này có thể bao gồm việc phân tích các
Trang 18điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội để thúc đẩy bình đẳng giới, cũng như vai trò của nhà nước trong việc tạo ra các cơ hội và tiếp cận với các quỹ phúc lợi công cộng cho nam và nữ Ngoài ra, việc phân tích thực trạng thực hiện công bằng, dân chủ và bình đẳng giới ở Việt Nam cũng là một phần quan trọng, vì nó giúp chỉ ra những bất cập, không nhất quán giữa luật pháp, chính sách của Nhà nước và thực tiễn Tác giả
có thể đã đưa ra những nguyên nhân gây ra những không nhất quán này và đề xuất những kiến nghị cụ thể để cải thiện việc thực thi và thúc đẩy bình đẳng giới Điều này có thể bao gồm cả những điều chỉnh về chính sách và hệ thống pháp luật để tạo
ra môi trường công bằng và bình đẳng hơn cho nam và nữ [71]
Sách: “ Women in politics and Decision- Making in the Late Twentieth
Century” (Tạm dịch: Phụ nữ trong chính trị và ra quyết định vào cuối thế kỷ 20),
Trung tâm Phát triển Xã hội và Nhân đạo, thuộc Văn phòng Liên Hiệp Quốc tại Viên, Nxb Martinus Nijhoff, 1992 Sách đã chỉ ra những trở ngại đối với phụ nữ trong việc ra quyết định liên quan đến quản lý nhà nước, từ đó, đề xuất các biện pháp để khắc phục những trở ngại này và nâng cao tỷ lệ phụ nữ tham gia chính trị trong thời gian tới.[125]
Sách: "The International Convernant on Civil and Political Rights: Cases,
Material and Commenttary (Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị: Vụ việc, tư liệu và bình luận), nhóm tác giả: Sarh Joseph, Jenny Schults và Melissa
Castan, Nxb Đại học Oxford, Second Edition, 2004 Bằng cách đi sâu vào phân tích các vụ việc thực tế và trích dẫn từ Công ước quốc tế, cuốn sách có thể cung cấp một cái nhìn rõ ràng và chi tiết về cách thức các quyền dân sự và chính trị được hiểu và thực thi trong thực tế Việc áp dụng điều 133 của Công ước này để nhấn mạnh quyền lợi của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị có thể là một phần quan trọng, vì nó thể hiện cam kết đối với bình đẳng giới và quyền lợi của phụ nữ trong việc tham gia vào các quyết định chính trị Các bình luận và phân tích sẽ có thể đi sâu vào các điều khoản, so sánh với thực tế, và đưa ra nhận định về sự tuân thủ, áp dụng và hiệu quả của những điều khoản này trong thực tế Ngoài ra, việc tập trung vào quyền chính trị của phụ nữ trong bối cảnh quyền dân sự và chính trị rộng lớn cũng là một
Trang 19điểm đặc biệt quan trọng, giúp làm rõ và nhấn mạnh về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị.[104]
Sách: “Women power and politics ” Anne Stevens, Đại học Aston, Vương
quốc Anh, Nxb Palgrave Macmillan, New York, 2007 Tác giả xuất phát từ thực tiễn ở nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa ra được những luận chứng xác đáng để chứng minh cho vai trò quan trọng của phụ nữ trong việc tham gia vào hoạt động chính trị ở thế giới dân chủ tự do.[100]
Sách “The Universal Declaration of Human Rights 1948: A Common Stadard
of Achievement" (Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền 1948: Mục tiêu chung của nhân loại), Gudmundur Alfredson (Viện Raul Wallenberg, Lun, Thụy Điển) và tác giả
Asbjm Eide (Viện Nhân quyền Na Uy, Oslo, Na Uy) làm chủ biên, Nxb Martinut Nijhoff, 2011 đi sâu vào việc phân tích và đánh giá các chuẩn mực về quyền con người, đặc biệt là các nguyên tắc bình đẳng giới và quyền con người của phụ nữ, được thể hiện trong các điều khoản của Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người năm
1948 Bằng cách so sánh với các văn kiện khác về nhân quyền từ các khu vực khác nhau như châu Âu, châu Mỹ, và châu Phi, công trình này có thể soi chiếu, đánh giá sự tương đồng, khác biệt và tiến bộ của các chuẩn mực và quy định về bình đẳng giới và quyền con người của phụ nữ Việc so sánh này có thể giúp làm rõ hơn về việc các văn kiện quốc tế khác nhau như thế nào trong việc bảo vệ và thúc đẩy bình đẳng giới và quyền con người của phụ nữ Cũng như từ đó, có thể đưa ra những đánh giá về mức
độ tiến bộ và ảnh hưởng của các văn kiện này trong việc thúc đẩy bình đẳng giới và quyền con người của phụ nữ trên phạm vi quốc tế.[107]
Sách “Gender and political analysis" (tạm dịch: phân tích mối quan hệ giữa
giới tính và chính trị), Johanna Kantola và Anuela Lombardo, Nxb Palgrave, 2017 phân tích về mối quan hệ giữa bình đẳng giới và chính trị, đặc biệt là vấn đề trao quyền cho phụ nữ trong nền chính trị, dựa trên phương pháp tiếp cận nữ quyền Cách tiếp cận này có thể bao gồm việc nghiên cứu và phân tích về vai trò, quyền lực và tham gia của phụ nữ trong các cấu trúc chính trị của các quốc gia khác nhau Nó có thể đưa ra cái nhìn toàn cảnh về việc phụ nữ có được trao quyền lực chính trị và tham
Trang 20Sách: “Women and Convention for the Elimination of all forms of
Discrimination Against Women" (Phụ nữ và Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ - CEDAW), đưa ra các khuyến nghị cụ thể cho mỗi
quốc gia để cải thiện việc thực hiện Công ước Điều này có thể bao gồm việc thay đổi chính sách, tăng cường thực thi luật pháp, hoặc thúc đẩy nhận thức và giáo dục
về quyền bình đẳng giới Thông qua các kết luận và khuyến nghị này, ủy ban mong muốn quốc gia thành viên có thể cải thiện và nâng cao hơn nữa việc thực hiện
CE AW, từ đó tăng cường bảo vệ và thúc đẩy quyền bình đẳng giới.[105]
Sách “Compilation of General comments and General recommend -dations
Adopted by Human Rights Treaty Bodies" (Bình luận và khuyến nghị chung của các
ủy ban công ước về quyền con người) trong đó có "Bình luận chung số 4 (1981) về
Quyền bình đẳng của nam và nữ trong việc hưởng thụ tất cả các quyền dân sự và chính trị" (Điều 3, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966) Thông qua
việc phân tích dữ liệu thực tế, việc xem xét đã được thực hiện trong Báo cáo để đưa ra trách nhiệm của các quốc gia trong việc đảm bảo ngăn chặn sự phân biệt đối xử đối với phụ nữ, tạo điều kiện cho phụ nữ có thể tiếp cận và hưởng thụ các quyền dân sự và chính trị một cách công bằng như nam giới [104]
to Strengthen Women's Empowerment” (Tạm dịch: Bình đẳng giới trong các cơ quan dân cử Ở Châu Á - Thái Bình Dương: Sáu hành động nhằm tăng cường trao quyền cho phụ nữ" là công trình nghiên cứu của Giáo sư Pippa Norris, Trường đại học
Harvard cùng các cộng sự, 2012 Công trình nghiên cứu này rất quan trọng vì nó tập trung vào sự tham gia và đóng góp của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị, đặc biệt là ở khu vực Châu Á - Thái Bình ương, trong đó có Việt Nam Nó đã rõ ràng chỉ ra rằng
sự tham gia chủ động và hiệu quả của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị không chỉ là một yếu tố quan trọng mà còn là điều kiện tiên quyết để phát triển con người và quản trị dân chủ Tuy nhiên, công trình cũng chỉ ra những rào cản đối với vấn đề bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị ở khu vực này Các rào cản này có thể bao gồm những yếu tố văn hóa, xã hội, và chính trị, như hệ thống giá trị truyền thống, các quy định
Trang 21pháp luật không rõ ràng, sự kỳ thị, và hạn chế trong việc tiếp cận tài nguyên và cơ hội tham gia chính trị cho phụ nữ.[116]
Sách “Study on discrimination against women in law and in practice in
political and public life, including during times ofpolitical transitions (tạm dịch:
Nghiên cứu về sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong luật và trong thực tiễn đời sống chính trị và xã hội trong thời kỳ chuyển đổi chính trị/ Souad Abdennebi-Abderrahim, Văn phòng cao ủy nhân quyền Liên Hợp Quốc (OHCHR) xuất bản, 2013 Công trình này đã phân tích thực trạng tham gia chính trị của phụ nữ ở châu Phi, nhất là tình trạng phân biệt đối xử đối với phụ nữ trong pháp luật và trong thực tiễn đời sống chính trị xã hội suốt ba thập niên qua Đồng thời, chỉ ra những thách thức đối với vấn
đề tham gia chính trị của phụ nữ từ năm 1980 đến nay và đưa ra được những khuyến nghị để củng cố bình đẳng giới thông qua các đại diện chính trị tiến bộ.[118]
Sách: “Women in Politics"" (tạm dịch: phụ nữ trong nền chính trị), Liên minh
nghị viện thế giới (IPU), 2014 Công trình này đã cung cấp một khối lượng thông tin khá lớn và có giá trị thực tế cao liên quan đến tỷ lệ phụ nữ ở cấp chính quyền trung ưong, tạo nên một bức tranh toàn cảnh về vấn đề phụ nữ tham gia hoạt động chính trị.[121]
Sách: “Political finance and the equal participation of women in Tunisia: a
situation analysis (tạm dịch: Chính trị và sự tham gia bình đẳng phụ nữ ở Tunisia:
phân tích tình huống), Magnus Ohman, Nxb Viện dân chủ và hỗ trợ bầu cử (DEAL), 2016 Công trình này chủ yếu đề cập đến mối quan hệ giữa dân chủ trong lĩnh vực chính trị và giới tính Điểm đặc biệt nhất của tác phẩm này là đi sâu nghiên cứu về vai trò của nguồn tài chính tác động đến hoạt động chính trị, nhất là trong giai đoạn bầu cử vào nghị viện ở Tunisia Đồng thời đề xuất những giải pháp về nguồn tài chính giúp người phụ nữ có điều kiện tiếp tục tham gia bầu cử ở Tunisia.[115]
Sách: “Strengthening women's political participation: Eleven innovative
approaches from GIZ governance programmes” (tạm dịch: Tăng cường vai trò của phụ nữ tham gia chính trị: Mười một cách tiếp cận sáng tạo từ chương trình quản trị
do tổ chức hợp tác quốc tế Đức (GIZ) thực hiện) Lea Zoric, Lukas Fischer,
Trang 22Caterina Jochmann, Philipp Kuhl, Lisa Peth, Anna-Katharina Rindtorff, 2014 Công trình này đã lựa chọn và phân tích thực tiễn của 11 quốc gia trên thế giới, nơi mà vấn đề thực thi bình đẳng giới còn nhiều hạn chế, từ đó kiến nghị áp dụng chương trình GIZ thiết kế nhằm khắc phục những hạn chế và tạo ra thay đổi tích cực trong lĩnh vực quản trị và trao quyền cho họ.[112]
Bài viết: “Legal Guarantee for Rights of Political Particpation of Citizens in
Harmonoous Society” (tạm dịch: “Bảo đảm pháp lý cho quyền tham gia chính trị
của công dân trong một xã hội hài hòa”), Zhang Shunqing đăng trên tạp chí Yangtze Tribune, số 3, 5 l-55p, 2008 Tác giả đi sâu phân tích cơ chế bảo đảm quyền tham gia chính trị của công dân (bao gồm phụ nữ) bằng Hiến pháp và pháp luật và những hạn chế, bất cập của cơ chế này Đồng thời, tác giả đề xuất những giải pháp tăng cường việc xây dựng các quy tắc xã hội dân chủ, mở rộng sự tham gia chính trị của công dân để bảo đảm nhân quyền.[123]
Báo cáo “Gender Assessment in Vietnam” của World Bank, 2011, (Tạm
dịch: Đánh giá Giới tại Việt Nam)chủ yếu báo cáo đi sâu phân tích và đánh giá thực trạng vấn đề giới ở Việt Nam trên ba bình diện: Nghèo đói và an sinh xã hội; việc làm
và sinh kế; tham gia hoạt động chính trị đồng thời chỉ ra những bất cập mà Việt Nam chưa khắc phục được.[124]
Báo cáo “Women's participation in leadership and management roles in
Vietnam”, Jean Muro, 2012 Báo cáo đã nhận diện các xu hướng tham gia của phụ nữ
trong các cơ quan Chính phủ, mô tả tổng quan khung pháp lý liên quan đến vai trò lãnh đạo của phụ nữ, và phân tích những thách thức và rào cản đối với phụ nữ.[109]
Bài viết: “Using the Convention on the Elmination of All Forms of
Discrimination against Women to Advocate for the Political Rights of Women in a Democratic Burma” (tạm dịch: sử dụng công ước CEDAW để bảo vệ quyền chính
trị của phụ nữ ở Mianma), Andrea D Friedman, Tạp chí Law & Gender của Đại học Havard, số 2, 2005 Bài viết đã khẳng định: sự hình thành và phát triển của quốc gia Miến Điện dân chủ như ngày nay có sự đóng góp rất lớn của phụ nữ trên nhiều lĩnh vực của xã hội Bài viết khuyến nghị cần tăng cường áp dụng nội dung của Công
Trang 23ước CEDAW để ủng hộ phụ nữ tham gia vào hoạt động chính trị và coi đó là nền tảng để xây dựng xã hội dân chủ.[99]
Bài viết “Strengthening the voice, leadership and participation of women
from Asia Pacific and beyond” (Tạm dịch: Tăng cường tiếng nói, vai trò lãnh đạo
và sự tham gia của phụ nữ từ châu A Thái Bình Dương và những nơi khác ”, Kim
Henderson đăng trong Kỷ yếu Hội nghị thường niên: ‘ 'Tăng cường năng lực lãnh
đạo của đội ngũ cán bộ nữ góp phần phát triển nguồn lực phục vụ hội nhập quốc te”, 2011 Nghiên cứu này đã mô tả một cách khá toàn diện sự tham gia của phụ nữ
vào hoạt động quản lý nhà nước ở cấp cơ sở Bài viết cũng đã chỉ ra được những yếu tố gây ảnh hưởng đến vị thế lãnh đạo, quản lý của phụ nữ đó là: yếu tố cá nhân, yếu tố tổ chức và yếu tố xã hội.[111]
Bài viết “Public Policy and Empowerment for Women - Lessons from
Canada" (tạm dịch: Chính sách công và sự trao quyền cho phụ nữ - Bài học từ Canada), Deborah Chatsis đăng trong Kỷ yếu Hội thảo quốc tế: “Nâng cao năng lực cho phụ nữ và phát triển nguồn nhân lực nữ - cách tiếp cận và bài học từ thế giới”,
2011 Bài viết đã cung cấp cho người đọc bức tranh đầy khởi sắc về vấn đề đảm bảo
sự đại diện đầy đủ và bình đẳng của phụ nữ trong các cấp chính quyền ở Canada Đồng thời, cung cấp những kinh nghiệm của chính phủ Canada trong việc hiện thực hóa các mục tiêu trao quyền chính trị cho phụ nữ trên nhiều góc độ khác nhau.[106]
Bài viết “Accreditation policies encourage the promotion of female cadres
~ lessons from New Zealand (tạm dịch: Các chính sách công nhận khuyến khích nâng cao năng lực cán bộ nữ - bài học từ New Zealand), Heather Riddell, đăng
trong Kỷ yếu hội thảo quốc tế “Nâng cao năng lực cho phụ nữ và phát triển nguồn
nhân lực nữ - cách tiếp cận và bài học từ thế giới”, 2011 Bài viết đã phân tích thực
trạng phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý khu vực công ở New Zealand tuy nhiên so với tỷ lệ nam giới thì vẫn còn một khoảng cách đáng kể cần phải được thay đổi.[108]
Bài viết: “Rising to the Top A Report on Women’s Leadership in Asia” (tạm
dịch: Vươn tới đỉnh cao - Báo cáo về lãnh đạo nữ ở Châu Á), Astrid s Tuminez,
Trang 24Trường chính sách công Lee Kuan Yew, Đại học Quốc gia Singapore, 4/2012, tác giả đã đi sâu phân tích những thách thức chung đối với phụ nữ khi tham gia vào vị trí lãnh đạo và chỉ ra các yếu tố rào cản văn hóa và phong tục tập quán lâu đời đã ảnh hưởng đến tỷ lệ lãnh đạo nữ ở Châu Á.[101]
Bài viết “Gender Equality in Public Administration” (tạm dịch: Báo cáo
toàn cầu về bình đẳng giới trong quản lý hành chính công), Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc(UN P), 2014 Báo cáo đã phản ánh những thành tựu về bình đẳng giới trong lĩnh vực quản lý hành chính công ở mười ba quốc gia được lựa chọn Báo cáo đi sâu phân tích những trở ngại trong việc tham gia và ra quyết định của người phụ nữ và đề xuất các khuyến nghị nhằm thúc đẩy sự tham gia bình đẳng của phụ
nữ trong quản lý hành chính công [103]
women's rights and women's empowerment: Urgency and relevance " của Cơ quan
Liên hợp quốc về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ (UN Women), 6/2013
Ấn phẩm nêu những thông điệp của UN Women kêu gọi các quốc gia có cam kết cụ thể về hoàn thiện bảo đảm pháp lý và nguồn lực thực thi về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ trong khung phát triển hậu 2015 và các mục tiêu phát triển bền vững (S Gs).[119]
1.1.2 Những công trình nghiên cứu có liên quan đến thực trạng bảo đảm pháp lý quyền bình đẳng giới
Trong khoa học pháp lý quốc tế, có nhiều luận án, luận văn, chương trình,
dự án cũng như các đề tài khoa học nghiên cứu về quyền phụ nữ và bình đẳng giới Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung ở những khía cạnh như: khái quát hệ thống quy định pháp luật về quyền bình đẳng giới; thực trạng thực thi quyền bình đẳng trong thực tế, cũng như các yếu tố, nguyên nhân dẫn đến tình trạng khác biệt giới, bất bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực ưới đây là một số công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến quyền bình đẳng và bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng
mà tác giả đã khảo cứu trong quá trình thực hiện luận án gắn với các mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu đã được xác định
Trang 25Sách “Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại", Lê Thị Nhâm Tuyết, Nxb Phụ nữ
Hà Nội, 1973 Đây là công trình nghiên cứu kinh điển về phụ nữ Việt Nam, cuốn cẩm nang của mọi nhà khoa học nghiên cứu về phụ nữ Việt Nam, ghi dấu ấn quan trọng, khởi đầu lĩnh vực nghiên cứu về giới và vai trò của phụ nữ Việt Nam đối với
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc suốt mấy nghìn năm lịch sử.[84]
Sách: “Đặc thù Giới ở Việt Nam và bản sắc dân tộc", sách bao gồm những
nghiên cứu của Bà Lê Thị Nhâm Tuyết từ những năm 60 của thế kỷ trước đến nay[83]
và “Phụ nữ - giới và phát triển ” của Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng, Nxb Phụ
nữ, Hà Nội, 1996 [14] Nội dung hai nghiên cứu này khá tương đồng, chủ yếu đi sâu phân tích đặc thù về giới ở Việt Nam trong tiến trình phát triển của lịch sử và dựa trên nền tảng mối quan hệ giữa phụ nữ - giới và phát triển, từ đó, đưa ra những quan điểm đánh giá về sự phát triển của phụ nữ dưới góc độ bình đẳng giới
quyền con người và Viện Thông tin khoa học Học viện được tài trợ bởi Đại sứ quán Liên bang Thụy Sỹ tại Việt Nam, 1999 Điểm nổi bật của công trình này là đề cập đến những khía cạnh lý luận và thực tiễn liên quan đến việc bảo đảm các quyền của trẻ em
và sự bình đẳng của phụ nữ trên thế giới và Việt Nam trong những năm qua.[81]
Sách: “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong
Hiến pháp Việt Nam ”, Văn phòng Thường trực về Nhân quyền và Học viện Chính
trị quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp thực hiện, 2015 Nội dung của nghiên cứu này
đã khái quát về quyền phụ nữ trong Hiến pháp Việt Nam; đặc biệt có phần về Tư tưởng bình đẳng giới trong Hiến pháp năm 2013 của tác giả TS Nguyễn Thị Báo và Ths NCS Nguyễn Thị Thanh Nhàn.[89]
Trong cuốn “Suy nghĩ về bình đẳng giới dưới góc nhìn pháp luật” của tác giả
Trịnh Đình Thể (XNB Tư pháp năm 2007) tác giả đã tập trung đi sâu nghiên cứu chủ trương bình đẳng giới của Đảng ta, bình đẳng dưới góc độ pháp luật, thực tiễn tư pháp
đã áp dụng để góp phần bảo đảm quyền bình đẳng giới, từ đó tác giả rút ra một số vấn
đề về việc thực hiện chính sách bình đẳng giới qua thực tiễn.[70]
Giáo sư Lê Thi trong cuốn “Vài nét bàn về việc thực thi công bằng, dân chủ
Trang 26và bình đẳng nam nữ ở Việt Nam hiện nay” đã đi từ quan niệm về công bằng, bình
đẳng và dân chủ trong đời sống kinh tế - xã hội và trên cơ sở làm rõ những điều kiện để thực hiện chúng, tác giả đã luận giải việc thực hiện nguyên tắc công bằng, dân chủ và bình đẳng xã hội với tư cách cơ sở nền tảng để thực hiện bình đẳng giới Tập trung phân tích vấn đề công bằng và bình đẳng về cơ hội, tác giả bài viết đã làm
rõ vai trò của nhà nước trong việc tạo ra các cơ hội về kinh tế, chính trị, cơ hội tiếp cận với các quỹ phúc lợi công cộng Làm rõ thực trạng việc thực hiện công bằng, dân chủ và bình đẳng giới ở Việt Nam, chỉ ra những bất cập giữa luật pháp, các chính sách của Nhà nước và việc thực thi những vấn đề này trên thực tế, tác giả bài viết đã nêu lên những nguyên nhân khách quan, chủ quan của nó và đề xuất một số kiến nghị với Nhà nước.[71]
Sách "Quyền của phụ nữ và trẻ em trong các văn bản pháp lý quốc tế và
pháp luật Việt Nam”, Văn phòng Quốc hội, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2003
Công trình nghiên cứu, so sánh tính tương thích của pháp luật Việt Nam so với các chuẩn mực quốc tế về quyền của phụ nữ (trong đó bao hàm quyền bình đẳng giới của phụ nữ) và quyền của trẻ em.[90]
Sách "Công ước của Liên hợp quốc và pháp luật Việt Nam về xóa bỏ sự
phân biệt đối xử với phụ nữ” - Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, Nxb Chính trị
quốc gia Hà Nội, 2004 Đây là tập hợp kết quả nghiên cứu của các tác giả về nguyên tắc xóa bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ trong các quy định của pháp luật Việt Nam so với các chuẩn mực quốc tế về quyền của phụ nữ đặc biệt là theo tinh thần của Công ước CEDAW.[91]
Sách: "Nâng cao năng lực lãnh đạo của cán bộ nữ trong hệ thống chính
trị”, Nguyễn Đức Hạt, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007 Cuốn sách đã đưa ra
những biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao vị trí, vai trò, năng lực lãnh đạo của cán
bộ nữ, tăng cường sự tham gia lãnh đạo, quản lý của họ trong bộ máy của Đảng, Nhà nước và các tổ chức đoàn thể ở Việt Nam.[30]
Sách " Vai trò của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở trong thực hiện mục
tiêu bình đẳng giới ở Việt Nam”, TS Phạm Minh Anh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Trang 27Nội, 2012 Sách đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở trong thực hiện mục tiêu bình đẳng giới ở Việt Nam đồng thời chỉ
ra những nhân tố ảnh hưởng và đề xuất những giải pháp nâng cao vai trò của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở nhằm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới ở Việt Nam.[15]
Luận án: “Những vấn đề lý luận và thực thực tiễn về bảo vệ quyền phụ nữ
bằng pháp luật hình sự ở Việt Nam” Trần Thị Hồng Lê, 2017 Sự đóng góp lớn nhất
của Luận án là hệ thống hóa sự phát triển của các quy định bảo vệ quyền phụ nữ trong lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam từ thời kỳ phong kiến cho đến nay Từ đó, chỉ ra những vướng mắc và kiến nghị những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự trong việc bảo vệ quyền phụ nữ.[52]
Công trình nghiên cứu khoa học (NCKH) cấp Bộ "Quyền phụ nữ - Một số
vấn đề pháp lý và thực tiễn ”, Phạm Thị Phương Thảo, 2010 Đề tài đã hệ thống hóa
các quy định pháp luật trong nước và pháp luật quốc tế về quyền phụ nữ, đánh giá thực trạng thực thi quyền phụ nữ ở Việt Nam trong giai đoạn 2005-2010 và đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi quyền phụ nữ ở Việt Nam hiện nay.[69]
Công trình NCKH cấp trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
“Quyền phụ nữ trong pháp luật thời Lê sơ (thế kỷ XV) - những kinh nghiệm cần thừa kế”, Trần Quang Trung, 2010, trong đó chủ yếu hệ thống hóa các quyền của
phụ nữ mà Bộ Luật Hồng Đức thời nhà Lê đã quy định, từ đó có sự so sánh và nêu
ra những kinh nghiệm quý báu cần kế thừa đối với pháp luật hiện nay.[80]
Bên cạnh các đề tài khoa học các cấp, quyền phụ nữ nói chung và quyền bình đẳng giới nói riêng cũng được đề cập đến trong khá nhiều trong các bài viết Điển hình:
Bài viết “Địa vị pháp lý của phụ nữ trong pháp luật nhà Lê thế kỷ thứ XV” Phạm Thị Ngọc Huyên đăng trong Kỷ yếu Hội thảo "Quyền con người dưới góc
nhìn của Luật Hiến pháp và Luật Hành chính" của Trường Đại học Luật thành phố
Hồ Chí Minh, 2009 Bài viết đã đi sâu phân tích địa vị pháp lý của người phụ nữ biểu hiện rõ trong nội dung các quy định của Bộ luật Hồng Đức thời Lê Sơ, và xác định tính tiến bộ của những quy định này trên nền tảng tư tường đạo đức Nho giáo.[47]
Trang 28Bài viết “Quyền của phụ nữ và pháp luật hiện hành bảo vệ quyền của phụ
nữ tại Ấn Độ”, Vũ Thị Lan Anh đăng trên Tạp chí Nghề luật, số 6, năm 2014 Bài
viết đã chỉ ra những sự thay đổi mang tính phát triển về quyền của phụ nữ Ấn Độ từ quá khứ đến hiện tại Đồng thời, chỉ ra những rào cản về định kiến giới, tài sản, sử dụng sức lao động đã tác động đến việc thực hiện quyền hiến định của phụ nữ Ấn Độ.[17]
Bài viết “Một số khía cạnh pháp lý về quyền của phụ nữ ở Nước cộng hòa
nhân dân Trung Hoa của Trần Thị Huệ đang ở Tạp chí Luật học, số 2 (129), 2011
Nội dung bài viết chủ yếu giới thiệu về quyền của phụ nữ ở Trung Quốc để thấy được những bước đổi thay rõ nét về vai trò của người phụ nữ trong xã hội Trung Quốc hiện nay.[40]
Bài viết: “Quyền của phụ nữ ở Nhật Bản” của Ngô Thị Hường đăng trong
kỷ yếu hội thảo “Luật bình đẳng giới - một số vấn đề nhận thức và vận dụng” của trường Đại học Luật Hà Nội, 2007 Bài viết đã khái quát quá trình phát triển về quyền phụ nữ ở Nhật Bản từ thế kỷ thứ VI cho đến hiện tại và phân tích xu hướng phát triển quyền phụ nữ ở Nhật Bản trong tương lai.[44]
Bài viết “Về Luật bình đẳng giới của Việt Nam và việc thực hiện một số
quyền chính trị của phụ nữ theo công ước CEDAW ở Việt Nam” TS Nguyễn Thị
Hồi đã phân tích khá toàn diện và sâu sắc nội dung của Luật bình đẳng giới 2006, cũng như chỉ ra những yếu tố tác động gây ảnh hưởng đến vấn đề thực thi Luật bình đẳng giới trên thực tế.[39]
Bên cạnh vấn đề về quyền bình đẳng giới, luận án tập trung nghiên cứu những công trình liên quan đến bảo đảm và bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới Nhưng thực tế, hiện nay tác giả chưa tiếp cận được tài liệu nào nghiên cứu một cách độc lập về bảo đảm pháp lý quyền bình đẳng giới Nguyên nhân có thể lý giải bởi bảo đảm pháp
lý là một trong các hình thức bảo đảm chung nên các công trình nghiên cứu hiện nay chủ yếu tiếp cận hình thức bảo đảm pháp lý trong mối quan hệ chặt chẽ với các hình thức bảo đảm khác như: kinh tế, chính trị, xã hội
Đề tài NCKH “ Tác động của giới đối với con đường chức nghiệp của công
chức viên chức ở Việt Nam, Học viện Hành chính quốc gia, 2005 Nghiên cứu này là đã
Trang 29đưa ra những số liệu thực tế để chứng minh tỷ lệ nữ tham gia thấp hơn nhiều so với nam giới trên con đường phát triển sự nghiệp Bên cạnh đó, thông qua các số liệu thực
tế công trình này đã chỉ ra được 4 nhóm yếu tố tác động tiêu cực đến việc phát triển sự nghiệp của nữ công chức, viên chức làm cơ sở để đề xuất giải pháp khắc phục.[37]
Đề tài NCKH cấp Bộ: ‘'Bình đẳng giới trong hoạt động quản lý nhà nước ở
Việt Nam Lý luận và thực tiễn ”, Trần Thị Rồi, 2006 Đề tài đã đi sâu phân tích
thực trạng bất bình đẳng giới trong hoạt động quản lý nhà nước từ khâu bổ nhiệm đến thuyên chuyển cũng như những chính sách bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ làm
cơ sở để đưa ra các giải pháp khắc phục.[62]
Đề tài NCKH cấp Bộ “Nhận thức và chỉ đạo thực hiện bình đẳng giới của đội
ngũ cán bộ quản lý cấp cơ sở ở miền núi phía Bắc ”, Viện Xã hội học, Học viện Chính
trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2007 Đề tài đã phân tích thực trạng nhận thức và việc thực hiện bình đẳng giới của đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp cơ sở ở khu vực nông thôn miền núi phía Bắc dựa trên cơ sở khảo sát tại 2 tỉnh Hà Giang và Lào Cai Đề tài đã chỉ ra những nguyên nhân dẫn tới sự bất bình đẳng giới trong lãnh đạo, quản lý cũng như các giải pháp kiến nghị để khắc phục tình trạng bất bình đẳng giới đang tồn tại.[98]
ự án "Nâng cao việc thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội tại
cấp cơ sở của phụ nữ khu vực miền núi phía Bắc", Viện Nghiên cứu quyền con người,
năm 2015-2016 do tài trợ của Quỹ Sáng kiến Xã hội và Phụ nữ Canada (SWIF) thuộc
Cơ quan phát triển quốc tế Canada ự án đã khái quát hóa các văn kiện quốc tế liên quan quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của phụ nữ mà Việt Nam đã tham gia, cũng như những đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Việt Nam về quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của phụ nữ, trong đó có phụ nữ dân tộc thiểu số ở cấp cơ sở Từ đó, chỉ ra những bất cập và đề xuất những giải pháp nâng cao việc thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội tại cấp cơ sở của phụ nữ dân tộc thiểu
số nói chung và phụ nữ ở khu vực miền núi phía Bắc nói riêng.[96]
Báo cáo: “Phân tích tình hình và đề xuất chính sách nhằm tăng cường tiến
bộ của phụ nữ và bình đẳng giới ở Việt Nam ” và “Hướng tới bình đẳng giới ở Việt Nam thông qua chu trình chính sách quốc gia có trách nhiệm giới ”, Ủy ban Quốc
Trang 30gia vì sự tiến bộ của phụ nữ (NCFAW) 2000 - 2003 NCFAW đã xem xét thực trạng phụ nữ Việt Nam tham gia lãnh đạo chính trị và vấn đề bất bình đẳng giới trong lĩnh vực này, trên cơ sở đó đề xuất các chính sách hợp lý nhằm nâng cao khả năng tham gia lãnh đạo, quản lý của phụ nữ Việt Nam.[87]
Luận án: “Vai trò của nữ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hóa” (trường hợp tỉnh Quảng Ngãi), Võ Thị Mai, 2011 Nội
dung của luận án đã phân tích thực trạng của tỉnh Quảng Ngãi và chỉ ra các yếu tố tác động cũng như những thách thức mà các cấp, các ngành phải vượt qua Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của nữ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong sự nghiệp đổi mới đất nước.[57]
Luận án “Vấn đề phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở Việt Nam
hiện nay”, Nguyễn Thị Giáng Hương, 2013 Luận án đã nêu thực trạng phát triển
nguồn nhân lực nữ chất lượng cao ở Việt Nam, chỉ rõ những yếu tố tác động tiêu cực hạn chế sự phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao trên thực tế làm cơ sở
để đề xuất các giải pháp khắc phục hiệu quả tình trạng này.[46]
Bài viết “Định kiến giới đối với nữ trong lãnh đạo, quản lý ”, Nguyễn Thị
Thu Hà, đăng trên Tạp chí Cộng sản số (1), 2008, đã phân tích ảnh hưởng của rào cản về định kiến giới đến vai trò tham gia hoạt động chính trị của phụ nữ.[28]
Bài viết “Kết quả nghiên cứu định tính về nữ lãnh đạo trong khu vực Nhà
nước ở Việt Nam", Trần Thị Vân Anh đăng trên tạp chí Sign, 2009 Thông qua
việc phân tích các số liệu cụ thể, bài viết đã phân tích các yếu tố thúc đẩy và các trở ngại mà phụ nữ tham chính gặp phải và qua đó rút ra kết luận và khuyến nghị cho vấn đề này.[13]
Bài viết “Phụ nữ làm quản lý và lãnh đạo trong khu vực công ở Việt Nam”, Vũ Mạnh Lợi, 2012 Bài viết đã phân tích thực trạng phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý ở
tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội ở các vùng miền, từ đó chỉ ra sự phân biệt đối
xử mang tính hệ thống cản trở sự tham gia hoạt động chính trị của họ.[54]
Bài viết: “Vai trò và sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị tại Việt
Nam”, Thục Quyên, đăng trên tạp chí Lao động và xã hội số (498), 2015 Bài viết
Trang 31này, ngoài việc đưa ra các số liệu thực tế để chứng minh cho vấn đề Việt Nam mặc
dù xếp thứ hạng cao về xóa bỏ khoảng cách giới nhưng Việt Nam vẫn còn một khoảng cách khá lớn giữa tỷ lệ nam và nữ làm đại biểu Quốc hội Từ đó chỉ ra những nguyên nhân gây ảnh hưởng tiêu cực đến công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ nữ.[61]
Đề tài NCKH cấp Bộ "Bảo đảm quyền phụ nữ ở Việt Nam hiện nay”, PGS
TS Nguyễn Thị Báo, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2014-2015 Đóng góp lớn của đề tài: trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn bảo đảm quyền của phụ
nữ, đề tài đã đánh giá thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của thành tựu, hạn chế làm
cơ sở đề xuất các quan điểm và giải pháp có tính khả thi nhằm bảo đảm quyền của phụ nữ ở Việt Nam hiện nay.[19]
Đề tài NCKH cấp Bộ "Phụ nữ Việt Nam trong lãnh đạo, quản lý công hiện
nay”, TS Đặng Ánh Tuyết, Viện Xã hội học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh năm 2015-2016 Đe tài đã đi sâu phân tích những kinh nghiệm thăng tiến của phụ nữ trong lãnh đạo, quản lý trên thế giới kết hợp với phân tích điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội của Việt Nam và đưa ra những giải pháp hữu hiệu giúp phụ nữ thăng tiến trong lãnh đạo, quản lý.[85]
Đề tài NCKII cấp cơ sở: “Tác động của toàn cầu hóa đối với thực hiện bình
đẳng giới ở Việt Nam hiện nay” PGS, TS Đỗ Thị Thạch, Viện Chủ nghĩa xã hội
khoa học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2010 Đề tài đi sâu phân tích các luận chứng chứng minh sự tác động của toàn cầu hóa đen việc thực hiện bình đẳng giới trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Trên cơ sở đó đã đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy tác động tích cực của toàn cầu hóa tới thực hiện bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ ở Việt Nam.[67]
Bài viết “Bình đẳng giới trong hoạt động quản lý Nhà nước ở Việt Nam - lý
luận và thực tiễn” Nguyễn Thị Ngân Hoa, Kỷ yếu hội thảo Trường Đại học Luật
thành phố Hồ Chí Minh, 2007 Bài viết đã phân tích những yếu tố văn hóa, xã hội cản trở sự thăng tiến của phụ nữ cũng như những mâu thuẫn trong chính sách sử dụng cán bộ nữ đồng thời đưa ra các khuyến nghị để nâng cao vị thế người phụ nữ trong công tác quản lý, lãnh đạo.[35]
Trang 32Bài viết: “Nomen ’s leadership in VietNam: opportunities and chall eges -
Lãnh đạo nữ ở Việt Nam: Cơ hội và thách thức ”, Trương Thị Thúy Hằng, tạp chí
tiếng Anh Signs, 2008 Trên cơ sở mô tả hiện trạng sự tham gia của phụ nữ Việt Nam trong lĩnh vực chính trị, tác giả đã nêu lên những cơ hội và thách thức của phụ
nữ Việt Nam trong vai trò lãnh đạo trong thời kỳ mới.[32]
1.1.3 Những công trình nghiên cứu về giải pháp có liên quan đến bảo đảm pháp
lý quyền bình đẳng giới
Ấn phẩm “Bình đẳng giới trong các cơ quan dân cử ở Châu Á - Thái Bình
Dương: Sáu hành động nhằm tăng cường trao quyền cho phụ nữ", Giáo sư Pippa
Norris, Trường đại học Harvard và đại học Sydney cùng các cộng sự, 2012 Nghiên cứu này đã đưa ra sáu cải cách thể chế nhanh bao gồm: xem xét các hạn ngạch ràng buộc pháp lý, các quyền hiến pháp, tuyển lựa của các đảng chính trị, các sáng kiến tăng cường năng lực, cải cách nghị viện và tuyển lựa của các đảng chính trị nhằm góp phần hướng tới đạt mục tiêu bình đẳng giới trong các cơ quan dân cử, và trao quyền chính trị cho phụ nữ một cách hiệu quả nhất.[109]
Luận án “Thực hiện pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam ”, Trần Thị
Quốc Khánh, 2012 Luận án đi sâu phân tích và đánh giá khách quan về thực trạng thực hiện pháp luật về bình đẳng giới trên các lĩnh vực từ năm 1992 đến nay, đồng thời đề xuất các quan điểm và giải pháp hữu hiệu nhằm hoàn thiện pháp luật về bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.[50]
Bài viết “Bình đẳng giới trong chính trị ở Việt Nam: Thực trạng và giải
pháp”, Lê Thị Bích Tuyền, Tạp chí Cộng sản ngày 17/02/2016 Bài viết tập trung
phân tích các số liệu thực tế về tỷ lệ phụ nữ tham gia quản lý ở các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao
tỷ lệ này đáp ứng mục tiêu bình đẳng giới.[82]
Bài viết “Thúc đẩy bình đẳng giới nhằm tăng cường sự tham gia của phụ
nữ trong lĩnh vực chính trị ở Quảng Ninh “ Hoàng Minh Hoa, tạp chí Lao động và
Xã hội, số (514), 2005 Bài viết đã phân tích thực trạng chính sách lồng ghép giới trong công tác cán bộ ở tỉnh Quảng Ninh và chỉ ra nguyên nhân của hạn chế này Từ
Trang 33đó, đưa ra 6 giải pháp đồng bộ nhằm khắc phục tình trạng trên và tăng cường sự tham gia của phụ nữ tỉnh Quảng Ninh vào lĩnh vực chính trị.[34]
Bài viết: “Nhận thức về quyền bình đẳng giới của phụ nữ trong vai trò lãnh
đạo – quản lý ở Việt Nam hiện nay” Ngô Thị Minh Hằng, Kỷ yếu Hội thảo Trường
Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, 2015 Bài viết đi sâu phân tích thực trạng nhận thức về bình đẳng giới trong việc phụ nữ tham gia vào công tác lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam, từ đó đề xuất những giải pháp nâng cao nhận thức về bình đẳng giới trong việc phụ nữ tham gia quản lý, lãnh đạo ở nước ta hiện nay.[31]
1.2 Đánh giá tình hình nghiên cứu
Từ quá trình khảo cứu các công trình đã thực hiện trong và ngoài nước về nội dung bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng có liên quan đến đề tài, tác giả nhận thấy hoạt động nghiên cứu đạt được một số kết quả cơ bản sau:
1.2.1 Những kết quả nghiên cứu được kế thừa trong luận án
+ Về lý luận:
Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, đặc biệt là ở trong nước đã đề cập, phân tích cơ sở lý luận của vấn đề bình đẳng giới và vấn đề bảo đảm quyền bình đẳng Các nghiên cứu này đã góp phần làm sáng tỏ khái niệm, nội dung, mục đích, các phương thức bảo đảm quyền bình đẳng giới cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả bảo đảm quyền bình đẳng giới Vì rằng, quyền bình đẳng giới là trọng tâm đồng thời cũng là yếu tố nền tảng của dân chủ trong mọi lĩnh vực
Trong hầu hết các công trình nghiên cứu các tác giả đã tập trung chỉ ra vấn
đề nội luật hóa các Công ước quốc tế liên quan đến quyền phụ nữ trong nội dung những quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, các nhà nghiên cứu đã luận giải, đối sánh với những căn cứ thuyết phục Bên cạnh đó, trên cơ sở so sánh với pháp luật một số quốc gia trên thế giới, trong nội dung các nghiên cứu đa số các tác giả đều đồng thuận trong việc đánh giá giá trị các quy định của pháp luật về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam, chứng minh được yếu tố khác biệt và sự tiến bộ trong các quy định của pháp luật Việt Nam so với pháp luật một số quốc gia ở Đông Nam Á, Châu Mỹ, Châu Phi
Trang 34Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam và nước ngoài cũng đã cung cấp những quan điểm về quan niệm, vị trí, vai trò, đặc điểm, nội dung quyền bình đẳng giới
+ Về thực tiễn:
Những nghiên cứu nói trên đã khái quát về thực trạng pháp luật về quyền bình đẳng giới Đây là cơ sở khoa học quan trọng có thể đánh giá một cách khách quan và toàn diện hơn về thực trạng bảo đảm pháp lý quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay
Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã phân tích những điều kiện bảo đảm chung về kinh tế, xã hội, chính trị, pháp lý để quyền bình đẳng giới
có thể thực hiện trên thực tế
+ Về quan điểm và giải pháp:
Các công trình nghiên cứu ở Việt Nam và nước ngoài đã tạo nên bức tranh toàn cảnh về vai trò, nội dung, phương thức thực hiện cũng như hiệu quả bảo đảm quyền bình đẳng giới Những tri thức này là cơ sở khoa học quan trọng để có thể nghiên cứu,
so sánh dưới góc nhìn luật học về vai trò, nội dung, phương thức thực hiện cũng như hiệu quả của bảo đảm chung về quyền bình đẳng giới; rút ra những ưu điểm, những bài học kinh nghiệm từ hoạt động bảo đảm quyền bình đẳng giới ở các quốc gia tiến bộ trên thế giới Vì thế, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước sẽ là tư liệu khoa học quan trọng gợi mở cho tác giả đề xuất những giải pháp khả thi, khoa học nhằm phát huy vai trò của bảo đảm pháp lý quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay
1.2.2 Những vấn đề còn chưa được giải quyết thấu đáo cần phải tiếp tục nghiên cứu
Việc khảo cứu các công trình nghiên cứu đã được đề cập ở trên cho thấy vấn
đề nghiên cứu về bảo đảm pháp lý quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay còn
có những hạn chế và bất cập cần được nghiên cứu, gồm các vấn đề sau:
Khái niệm bảo đảm pháp lý quyền bình đẳng giới chưa được các công trình nghiên cứu ở Việt Nam giải quyết thấu đáo, thuyết phục;
Hầu hết các nghiên cứu về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu thực tiễn bảo đảm quyền bình đẳng giới ở góc độ hẹp
và mang tính thống kê, chưa đi sâu, phân tích đánh giá cụ thể, toàn diện trên các
Trang 35giác độ của nội dung bảo đảm pháp lý Mới chỉ dừng lại ở việc phân tích các quy định pháp luật về quyền bình đẳng của phụ nữ là chủ yếu Đồng thời cũng thiếu sự phân tích, đánh giá một cách toàn diện nội dung bảo đảm pháp lý quyền bình đẳng giới thông qua một công trình nghiên cứu độc lập
Các quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền bình đẳng giới mới chỉ được đề cập ở góc độ các bảo đảm chung trong các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước một cách tản mạn Vì vậy, vẫn thực sự cần thiết xây dựng quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện và phát huy vai trò của bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới một cách toàn diện và có hệ thống thể hiện trong một công trình nghiên cứu mang tính độc lập với các hình thức bảo đảm chung
1.3 Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
1.3.1 Giả thuyết nghiên cứu
giới ở Việt Nam hiện nay cũng nhu thực tiễn bảo đảm thực hiện quyền bình đẳng giới trong thời gian qua, chúng tôi xác định luận án cần phải hướng vào trình bày và luận cứ cho một số giả thuyết khoa học sau:
Thứ nhất, trong Nhà nước pháp quyền XHCN, bảo đảm pháp lý là “hình thức
bảo đảm quan trọng" trong các hình thức bảo đảm chung, bởi nó thể hiện tính nhân văn sâu sắc, coi trọng con người đặc biệt là tôn trọng quyền của phụ nữ, có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc thực thi các quyền bình đẳng giới trong thực tế
Thứ hai, trong thực tiễn bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở Việt
Nam những năm qua, mặc dù đã đạt được những thành quả nhất định, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế o vậy việc bảo đảm pháp lý quyền bình đẳng giới ở Việt Nam trong thời gian qua chưa thực sự phát huy hết vai trò và ý nghĩa to lớn của mình, làm ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng và hiệu quả của bảo đảm thực hiện quyền bình đẳng giới trong thực tế
Thứ ba, muốn nâng cao hơn nữa hiệu quả của việc bảo đảm thực hiện quyền
bình đẳng giới cần phải đổi mới, hoàn thiện mạnh mẽ bảo đảm pháp lý quyền bình đẳng giới theo hướng: đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và phù hợp với yêu cầu
Trang 36của công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN đồng thời, tạo ra môi trường pháp lý thuận lợi để mọi người tham gia tích cực vào đời sống xã hội của đất nước nhằm bảo đảm bình đẳng giới theo xu hướng chung của toàn thế giới
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, trên cơ sở tình hình nghiên cứu của
đề tài, Luận án đã đặt ra một số câu hỏi cơ bản như sau:
Thứ nhất, tại sao trong Nhà nước pháp quyền XHCN, bảo đảm pháp lý về
quyền bình đẳng giới lại đóng vai trò quan trọng trong các loại hình thức bảo đảm quyền bình đẳng giới?
Thứ hai, ở nước ta hiện nay, bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới trên
thực tế như thế nào, có những thành tựu, hạn chế nào?
Thứ ba, những yêu cầu đặt ra và những quan điểm, giải pháp đối với việc tiếp
tục hoàn thiện bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là gì?
Trang 37TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ là giá trị mang tính phổ biến chung của nhân loại, gắn liền với lịch sử phát triển của các quốc gia, dân tộc và toàn nhân loại, có tác động mạnh mẽ đến các quan hệ chính trị, pháp lý và xã hội ở tất cả các cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế
Việt Nam luôn ghi nhận và đánh giá cao vai trò của bình đẳng giới trong công cuộc dựng nước và giữ nước, nên việc bảo đảm và thúc đẩy sự thụ hưởng quyền bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực luôn là mục tiêu nhất quán của Đảng và Nhà nước ta từ trước đến nay Vì thế, trong thời gian qua có khá nhiều công trình chuyên khảo, các tạp chí khoa học chuyên ngành trong nước và nước ngoài nghiên cứu về về quyền bình đẳng giới và bảo đảm quyền bình đẳng giới trên các lĩnh vực được tiếp cận dưới các góc độ khác nhau Tuy nhiên, không có tài liệu nào phân tích một cách có hệ thống, toàn diện và sâu rộng việc thực hiện các quyền bình đẳng phụ
nữ tại Việt Nam
Bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới bao gồm cả bảo đảm bằng thể chế, thiết chế thực hiện quyền bình đẳng giới trong thực tiễn và cả ý thức pháp luật của các chủ thể cũng như thực tiễn đời sống xã hội cũng rất cần được quan tâm nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện và sâu sắc
Trong nội dung của đa số các công trình nghiên cứu, các quan điểm và giải pháp về việc nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền bình đẳng giới chỉ mới được đề cập đến ở góc độ bảo đảm chung bởi các nhà khoa học.Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng về bình đẳng giới để từ đó nêu rõ quan điểm và xây dựng giải pháp nhằm hoàn thiện nội dung bảo đảm pháp lý về quyền bình đẳng giới ở Việt Nam là rất cần thiết
Trang 38Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN BẢO ĐẢM PHÁP LÝ
VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỚI 2.1 Quyền bình đẳng giới và bảo đảm quyền bình đẳng giới
2.1.1 Quyền bình đẳng giới
2.1.1.1 Khái niệm quyền bình đẳng giới
Bình đẳng giới không chỉ là ước muốn chung của tất cả mọi người mà còn là một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá sự phát triển và tiến bộ của một xã hội, một quốc gia.Quyền bình đẳng giới đảm bảo mọi người, bao gồm cả nam và nữ, có cơ hội truy cập và tham gia vào các lĩnh vực như giáo dục, chính trị, kinh tế và xã hội một cách công bằng và bình đẳng Việc tăng cường quyền lợi và tiến bộ của phụ nữ không chỉ mang lại lợi ích cho chính họ mà còn góp phần quan trọng vào sự phát triển bền vững của một đất nước Sự tham gia đầy đủ và bình đẳng của phụ nữ trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, và xã hội không chỉ mang lại đa dạng và sức sáng tạo
mà còn tăng cường năng suất lao động và sự công bằng trong xã hội Đối với Việt Nam, việc thúc đẩy tiến bộ của phụ nữ không chỉ đảm bảo quyền lợi cá nhân mà còn là yếu tố quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới Sự tham gia mạnh mẽ và đồng đều của phụ nữ trong mọi lĩnh vực không chỉ thúc đẩy sự phát triển kinh tế mà còn tạo điều kiện cho xã hội phát triển ổn định và bền vững Qua việc thúc đẩy bình đẳng giới và tăng cường tiến bộ của phụ nữ, xã hội có thể hướng đến một tương lai công bằng hơn, với cơ hội và quyền lợi được phân phối đồng đều,
từ đó thúc đẩy sự phát triển toàn diện và bền vững cho cả quốc gia và cộng đồng
Quan điểm của Liên Hợp Quốc về bình đẳng giới đồng nhất với tư tưởng và cam kết của Việt Nam về sự bình đẳng giới Từ cương lĩnh đầu tiên của Đảng, thông qua vào tháng 2/1930, việc nhấn mạnh "Thực hiện nam nữ bình quyền" đã chỉ
ra một trong những mục tiêu cốt lõi của cuộc cách mạng Việt Nam: sự bình đẳng giới Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tư duy và lý tưởng về việc tôn vinh và giải phóng phụ nữ, đã không chỉ thể hiện sự quan tâm đặc biệt đối với vấn đề này mà còn coi
đó là một phần quan trọng trong chiến lược phát triển của đất nước Việc "Thực
Trang 39hiện nam nữ bình quyền" không chỉ là một phương pháp để tôn vinh vai trò của phụ
nữ mà còn là "kim chỉ nam" cho sự tiến triển và phát triển của Việt Nam Sự nhất quán trong tư tưởng và cam kết của Đảng và Nhà nước Việt Nam với quyền bình đẳng giới không chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng một xã hội công bằng mà còn là nền tảng để thúc đẩy sự phát triển toàn diện và bền vững của quốc gia Sự đề cao vai trò của phụ nữ, quan tâm đến bình đẳng giới là một trong những nét đặc trưng quan trọng của tư tưởng và chính sách của Việt Nam
Bình đẳng giới là mục tiêu và thước đo sự phát triển của một xã hội, ngoài ra còn là tiêu chí văn hóa trong đời sống xã hội Bình đẳng giới được thể hiện ở nhiều phương diện, như: Bình đẳng trong việc đối xử, bình đẳng về cơ hội, bình đẳng về hưởng thụ và lợi ích, bình đẳng trong việc kiểm soát và ra quyết định Như vậy, bình đẳng giới không chỉ là sự phân chia số lượng nam và nữ, trẻ em trai và trẻ em gái tham gia vào tất cả các hoạt động một cách bình đẳng Cũng không có nghĩa là nam giới và phụ nữ giống nhau Bình đẳng giới có nghĩa là sự công nhận và vị thế ngang nhau của nam giới và phụ nữ trong xã hội Nam và nữ cần có điều kiện bình đẳng để phát triển tối đa tiềm năng của mình, có cơ hội để tham gia, đóng góp và hưởng lợi một cách bình đẳng khi tham gia vào các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội Ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong số đó có Việt Nam, từ quan điểm quyền con người đã được Hiến pháp ghi nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ ở mọi lĩnh vực Đây là sự tiến bộ lớn Tuy nhiên, chỉ dừng lại ở mức này chưa thể coi là bình đẳng thực sự Thực tế cho thấy
rõ ràng rằng nam và nữ không có điểm khởi đầu như nhau trong quá trình phát triển
o dó, mặc dù cơ hội được mở ra cho cả nam và nữ như nhau,nhưng phụ nữ khó có khả năng tận dụng được do những nguyên nhân sức khỏe, gia đình, con nhỏ Bình đẳng giới thể hiện vị trí, vai trò của nam và nữ ngang nhau trong các quan hệ xã hội, do
đó bình đẳng giới có các đặc điểm sau:
Tính ngang quyền: Muốn thực hiện mục tiêu bình đẳng giới tính, phụ nữ cần
được đảm bảo quyền có địa vị như nam giới trong mọi khía cạnh của cuộc sống xã hội Ví dụ, cần có quy định ngang nhau giữa phụ nữ và nam giới để hưởng thụ các quyền và thực hiện các nhiệm vụ Đây là các quy định bình đẳng có tính bắt buộc,
Trang 40không thể nào thiếu hụt nhằm đảm bảo trên phương diện pháp luật quyền bình đẳng giới (cả nam và nữ giới cùng có quyền bỏ phiếu, ứng cử và có quyền tự do kết hôn theo quy định của luật pháp; có quyền tự do kinh doanh và tự do cư trú )
Tính ưu đãi tích cực: o những đặc tính sinh học và di truyền khác biệt của phụ
nữ so với nam giới, việc đạt được bình đẳng giới đòi hỏi sự ưu đãi, khuyến khích và xử
lý hợp lý đối với phụ nữ
Tính linh hoạt: Bình đẳng giới cần phải nhận thức rõ không phải bao giờ nam
giới và nữ giới cũng giống như nhau mà bình đẳng giới cần phải linh hoạt theo từng hoàn cảnh cụ thể chẳng hạn như vì đặc thù của phụ nữ là yêu cầu đối với sức khỏe kém hơn đàn ông nên cần có chế độ ưu đãi đối với lao động nhất là phụ nữ làm việc tại khu vực nặng nhọc, độc hại Sự đối xử công bằng với phụ nữ cần được điều chỉnh linh hoạt theo những hoàn cảnh lịch sử cụ thể, không có tính chất cố định Khi khoa học tiến bộ, điều kiện lao động được cải thiện, cần có sự điều chỉnh chính sách thích hợp để xóa bỏ lệnh hạn chế trong các ngành nghề, khu vực đã được cải thiện điều kiện lao động, nhằm tăng tối đa khả năng có công ăn việc làm đối với phụ nữ
Tính phân loại: Trong quá trình tìm hiểu về bình đẳng giới, chúng ta cũng
cần phải được thông qua nhiều khía cạnh khác nhau Điều này không chỉ là việc nhìn nhận bình đẳng giới trong mối quan hệ giữa phụ nữ và nam giới, mà còn phải xem xét bình đẳng trong từng tầng lớp xã hội khác nhau và từng vùng lãnh thổ riêng biệt Ví dụ, các quy định về tuổi nghỉ hưu có thể mang lại lợi ích cho lao động nữ ở các môi trường làm việc nhẹ nhàng, như công việc văn phòng, giảng dạy hay nghiên cứu Tuy nhiên, lại gây ra sự không công bằng cho phụ nữ lao động ở các khu vực nguy hiểm và nông thôn o đó, chúng ta cần hiểu rõ ràng về bình đẳng giới để có thể giảm thiểu sự chênh lệch trong xử lý và đối xử theo giới tính
Bình đẳng giới cần được hiểu dưới các khía cạnh sau:
Trước hết, bình đẳng giới không chỉ có ý nghĩa cơ học là số lượng phụ nữ và nam giới tham gia trong tất cả các hoạt động là như nhau Bình đẳng giới có nghĩa
là việc công nhận và hưởng các vị thế ngang nhau trong xã hội của nam và nữ được thực hiện