Anh chị hãy trình bày những hiểu biết của mình về hướng nghiên cứu ngôn ngữ văn học và thi học (6 chức năng: chức năng thể hiện, chức năng thi ca, chức năng tiếp xúc, chức năng siêu ngôn ngữ, chức năng biểu cảm, chức năng tác động). Sau đó, anhchị hãy phân tích ít nhất 3 văn bản văn học, có sự vận dụng một trong các hướng nghiên cứu nói trên.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TIỂU LUẬN GIỮA KỲ
Đề 3: Anh/ chị hãy trình bày những hiểu biết của mình về hướng nghiên cứu ngôn ngữ văn học và thi học (6 chức năng: chức năng thể hiện, chức năng thi ca, chức năng tiếp xúc, chức năng siêu ngôn ngữ, chức năng biểu cảm, chức năng tác động) Sau đó, anh/chị hãy phân tích ít nhất 3 văn bản văn học, có sự vận dụng một trong các hướng nghiên cứu nói trên
Học phần: Ngôn ngữ văn học và sự phát triển của
tiếng Việt trong thế kỷ 20
Mã lớp học phần: LIN2013
Giảng viên: PGS.TS Nguyễn T Phương Thùy
Sinh viên thực hiện: Đoàn Kim Chi 21030994
Trình Phương Uyên 21031060
Hà Nội, 2023
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 4
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
1 Quan niệm về ngôn ngữ 4
2 Hướng nghiên cứu ngôn ngữ văn học và thi học theo các chức năng của ngôn ngữ 5
CHƯƠNG II PHÂN TÍCH 3 VĂN BẢN VĂN HỌC CỤ THỂ THEO HƯỚNG NGHIÊN CỨU NGÔN NGỮ VĂN HỌC VÀ THI HỌC 11
1 Tác phẩm “Bếp lửa” của Bằng Việt 11
2 Tác phẩm “Chí Phèo" của Nam Cao 18
3 Tác phẩm Vợ Nhặt 28
Chương III Kết luận 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
BẢNG PHÂN CÔNG 47
Trang 3MỞ ĐẦU
Ngôn ngữ - một hệ thống những đơn vị vật chất và những quy tắc hoạt động của chúng ta, được dùng làm công cụ giao tiếp của con người, được phản ánh trong ý thức cộng đồng và trừu tượng hoá khỏi bất kì một tư tưởng, cảm xúc và ước muốn cụ thể nào
Ngôn ngữ trở thành một công cụ giao tiếp vạn năng của con người Phương tiện giao tiếp ấy được bổ sung và hoàn thiện dần theo lịch sử tiến hoá của nhân loại, theo những trào lưu và xu hướng tiếp xúc văn hoá có từ cổ xưa đến tận ngày nay Song, bên cạnh chức năng giao tiếp, ở ngôn ngữ cụ thể đặt trong phạm trù văn học, còn tồn tại những chức năng khác
và giữa chúng có mối liên hệ mật thiết, tác động lẫn nhau Với các lý do nêu trên, trong bài tiểu luận này, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Hướng nghiên cứu ngôn ngữ văn học và thi học (6 chức năng: chức năng thể hiện, chức năng thi ca, chức năng tiếp xúc, chức năng siêu ngôn ngữ, chức năng biểu cảm, chức năng tác động)”
Trang 4NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1 Quan niệm về ngôn ngữ
Thông thường ngôn ngữ được hiểu là tiếng nói của con người được con người dùng
để biểu hiện ý nghĩ, tâm tư, tình cảm và trao đổi thông tin với người khác
Tuy nhiên, xét về những phương diện khác, ngôn ngữ - tiếng nói tự nhiên của con người - vẫn có nhiều điểm khác biệt về bản chất so với những “ngôn ngữ" theo quan niệm rộng trên nhiều phương diện khác nhau Những sự khác biệt cơ bản như:
Xét về mặt thời gian, tức là xét về mặt lịch sử hình thành, tồn tại và phát triển của ngôn ngữ - tiếng nói của con người có lịch sử lâu dài nhất (từ khi có con người và xã hội loài người) Về mặt này, tiếng kêu của các loài động vật (có thể có cả các tín hiệu giao tiếp khác của chúng mà không chỉ âm thanh: cử chỉ, mùi vị, màu sắc…) Chính nhờ có sự trao đổi ý kiến, bàn bạc, thống nhất quan niệm bằng ngôn ngữ nói mà các “ngôn ngữ" đó mới hình thành, tồn tại và phát triển
Xét về mặt không gian (phạm vi sử dụng), ngôn ngữ tự nhiên của con người là loại phương tiện giao tiếp phổ biến nhất (dùng ở mọi ngành nghề, mọi lứa tuổi, mọi dân tộc, mọi nơi chốn, mọi tình huống…) Các nghi lễ tôn giáo chỉ có thể biểu hiện và thông tin những quan niệm về tôn giáo và chỉ những người theo tôn giáo mà thôi Tiếng nói tự nhiên của con người thì trái lại, được sử dụng để giao tiếp giữa tất cả các thành viên của một cộng đồng xã hội, không phụ thuộc vào lứa tuổi, nghề nghiệp, địa điểm giao tiếp
Xét về mặt hiệu quả, ngôn ngữ tự nhiên của con người có công dụng và hiệu quả nhất trong sự biểu hiện, lưu trữ và trao đổi thông tin Không một nội dung nào là không thể biểu hiện được bằng ngôn ngữ, kẻ cả những nội dung từ trừu tượng khái quát đến cụ thể hay tinh
vi, tế nhị như những cảm xúc, trạng thái tâm lý của con người Về những phương diện này,
“ngôn ngữ" của các máy móc; động vật; ngôn ngữ nhân tạo trong các ngành khoa học và
cả các tập tục, nghi lễ thuộc những lĩnh vực khác, thậm chí những tín hiệu viễn thông hiện đại ngày nay… cũng không thể sánh được Chữ viết là một bước tiến lớn của nhân loại
=> Ngôn ngữ âm thanh tự nhiên - tiếng nói của con người - vẫn tồn tại, vẫn được sử dụng ở mọi nơi, mọi lúc và vẫn luôn luôn phát triển Nó vẫn tiếp tục được sử dụng không chỉ trong đời sống thường nhật của con người, mà trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống
xã hội, từ những trường hợp cần hình thành, biểu hiện và truyền đạt những khái niệm trừu tượng khái quát trong tư duy logic, đến những lĩnh vực cụ thể, tế nhị, sâu lắng trong tâm lý, tình cảm của con người… Với những sự khác biệt to lớn giữa tiếng nói tự nhiên của con người và các thứ “ngôn ngữ” khác, trong công tình này từ “ngôn ngữ" vẫn được dùng theo quan niệm là tiếng nói của con người (có thể ở dạng nói hay dạng viết) dùng để tư duy, giao
Trang 5tiếp và sáng tạo nghệ thuật Điều này sẽ được nói rõ khi xem xét những chức năng của ngôn ngữ
2 Hướng nghiên cứu ngôn ngữ văn học và thi học theo các chức năng của ngôn ngữ
Trong quá trình nghiên cứu ngôn ngữ văn học, các nhà ngôn ngữ học đưa ra một số hướng tiếp cận như: hướng nghiên cứu ngôn ngữ văn học theo lý thuyết về hệ thống và cấu trúc; hướng nghiên cứu ngôn ngữ văn học và thi học theo 6 chức năng; hướng nghiên cứu ngôn ngữ văn học và phong cách học (3 quan hệ: quan hệ theo trục ngang, quan hệ theo trục dọc, quan hệ tôn ti) Với những hướng nghiên cứu này, phần nào cho thấy những đặc trưng của tiếng Việt Song, việc nghiên cứu theo phương diện chức năng của ngôn ngữ, nghiên cứu ngôn ngữ gắn liền với sự hành chức của nó, với xã hội, văn hoá, tâm lý, nhận thức và chủ thể người sử dụng ngôn ngữ là những hướng tiếp cận mới đối với tiếng Việt nói chung và ngôn ngữ văn học Việt Nam nói nói riêng
Ngôn ngữ của mọi dân tộc trước hết thực hiện hai chức năng cơ bản: dùng công cụ nhận thức, tư duy và phương tiện giao tiếp Tư duy, nhất là tư duy trừu tượng và giao tiếp
là những hoạt động không thể thiếu của con người, làm nên những đặc trưng của bản chất của con người và xã hội loài người Cụ thể hướng nghiên cứu ngôn ngữ văn học và thi học thể hiện qua 6 chức năng như sau:
2.1 Chức năng thể hiện
Đây là chức năng quan trọng nhất xét về mặt giao tiếp Những thông tin, ước muốn,
truyền giao thông tin giữa người nói – người nghe được ngôn ngữ thực hiện thông qua chức năng này Bằng chức năng thứ 3, những thông tin thuần lí về thế giới, về tư duy, về các sự vật, hiện tượng ở xung quanh đã được truyền tải và tạo nên những thông điệp ngôn ngữ 90% các nội dung thông tin trong các cuộc giao tiếp của cộng đồng là những thông tin thuần
lí do chức năng thứ 3 đảm nhiệm
Ví dụ: Hôm nay tôi đi học lúc 7 giờ (1)
Thông điệp này cho chúng ta biết thời gian, không gian, hành động và mục đích hành động của một sự tình cụ thể do người nói phát lên
(1) khác với thông tin khác như:
7 giờ 30 phút, trời vẫn còn tối, không đi học được (2)
Trong phát ngôn (2) này, chúng ta có thể thấy được thêm chức năng thứ nhất thông qua việc thể hiện tính lười biếng của chủ thể phát ngôn
2.2 Chức năng thi ca
Chức năng của thi ca là bằng những phương tiện của chính nó khơi gợi ra cái phần không thể mô tả trong mỗi sự vật; hoạt động của thi ca hiển hiện như là phương tiện hiệu
Trang 6nghiệm do chúng ta sắp đặt để bùng nổ cái điều mà vũ trụ chối từ diễn tả bằng ngôn ngữ minh bạch Thêm vào trong ngôn ngữ thông dụng những từ không hề nói ra, khiến cho từ
ấy có cái biên giới hạn chế của nó, thiết lập sau lưng nó hình bóng khó tả mà nó là phù hiệu, chúng làm tăng lên những kích thước vô hạn, nếu không phải là cầm nắm vũ trụ thì ít ra đó
là linh cảm của chúng ta về nó
Thi ca giải tỏa sự ngột ngạt của ngôn từ thông dụng, nó lia chúng trong không gian
vũ trụ và gây cho chúng sự phản ứng dội lại đến bức thành cản ngăn của thế giới Như thế nghệ thuật của ngôn ngữ phải chăng là nghệ thuật của im lặng, làm cho ngôn ngữ thành tôn nghiêm Một trong vô số kể những lầm lẫn của ý nghĩa chung là đối chiếu “thi ca” với “thực tại”, chính trong thói quen sử dụng ngôn ngữ đã giấu nhẹm chúng ta cái thực tại dưới lớp
da mù mờ của nó: thi ca đem lại cho ngôn từ chiều sâu đục ngầu, nó khiến chúng ta dự đoán, thấy lờ mờ ở phía bên kia của nó, xuyên qua nó, những thực tại mà chúng ta thường ước lượng nương theo sơ đồ hữu dụng, nó mở ra cho chúng ta phía bên kia những ngôn từ rất đơn giản, nhưng lấp lánh không thể lường và choáng ngợp của biển cả Qua đó, nó có được trên thế giới một điều không thể giải thích được, nhưng chắc chắn lớn hơn cái điều
mà ngôn ngữ rút gọn trong phẩm chất trí tuệ, một thực tại mạnh mẽ hơn nhiều
Sự nhận thức thi ca không phải chỉ là sự truy tầm một ánh sáng trong đêm tối, mà là những bóng tối trong ánh sáng , nó thấy xa xa những hình thể nhợt nhạt yếu đuối, nó biết rằng có lắm điều bí mật trong vũ trụ mà có lẽ đã bị che giấu bằng cái áo khoác của ánh thái dương Nó không hề tìm hiểu ý nghĩa của sự kì diệu, mà chỉ tìm những sự khó hiểu hằng
ngày Tất cả cái nhìn với nó là nhân sư (sphinx), tất cả ngôn từ đều là vu thuật khó hiểu,
mỗi một cộng cỏ, mỗi một thân cây đều chứa đựng thần thân hữu hay hung ác, Thái dương chỉ là ánh sáng của hư vô, và trên chiếc lá hiển hiện sự trắng bạch, ngòi bút mà nó thường dùng không hề quên noi theo theo đường gân của hố thẳm
Chỉ có lý trí không hề dao động cái ảo ảnh buồn cười làm cạn kiệt những đối tượng
mà nó áp dụng, thi ca lôi ra cho chúng ta những niềm vui mới mẻ vô tận của một thế giới đồng trinh vĩnh hằng Nó cho chúng ta hình thức cao cả của sự hiểu biết, hay nếu người ta muốn, điều mà chúng ta biết rất ít về thân phận chính của chúng ta không mấy chuẩn xác, Đúng lúc rút ra từ thi ca cái dụng cụ xấu xí của sự tưởng tượng thô lậu, và tức khắc là bài thơ đầy quái trạng Thi ca không hề khởi thủy ít giống với sự điên cuồng, hay
ảo tưởng, hay mơ mộng Nhà thơ, càng là nhà thơ chân chính, ít có mơ mộng như nhà toán học, bởi vì nó không hề chủ trương thay thế những phù hiệu mà nó sưu tập trong thực tại,
mà nó chỉ khêu gợi sự hiện hữu của nó một cách bất toàn Sự hóa trang tinh thần lạ lùng mà cộng đồng khờ khạo gán cho nhà thơ, sự đau đớn, đãng trí, cuồng nhiệt, tưởng tượng lo âu
và lang thang , sự hóa trang ấy phối trí theo cách sống thường nhật dưới hình thức kinh ngạc,
và mộng du, thuộc về những cửa hàng phụ tùng lố bịch vô ích như cái nơ, đùm tóc, kho vận thiếu ấm áp và những ve chai
Trang 7=> Nhằm cung cấp cho ngôn ngữ một khả năng khác cái khả năng thông dụng, thi ca
có thể coi như trái lại với môi trường cộng đồng Nói như Valéry: “Ngôn ngữ của thi ca là một thứ ngôn ngữ ở trạng thái sơ sinh”, nghĩa là cái ngôn ngữ tự tìm thấy ở nó tính trinh bạch; trong khi các ngôn ngữ cộng đồng thích nghi với hình tượng của vũ trụ với tính dửng dưng mà con người nói tên họ người tình nhân theo thói quen, thi nhân gọi những vật thể
và những sinh vật với thái độ cung kính trang trọng
2.3 Chức năng tiếp xúc (giao tiếp)
Chức năng này liên kết người nói với người nghe thành một khối nhằm đảm bảo cho
sự giao tiếp luôn liên tục
Ví dụ:
Khi nghe tiếng điện thoại chúng ta phải luôn “dạ, vâng” để thể hiện mình đang nghe người kia nói Hoặc, trong các diễn ngôn, những ngữ như: “tóm lại là”, “như vậy là”, “bởi thế cho nên”… cũng thể hiện sự liên tục của lời nói
Chức năng này hướng về người nhận, mà diễn đạt ngữ pháp tiêu biểu nhất là hô cách
và mệnh lệnh chức Những câu mệnh lệnh khác hẳn với câu khẳng định Các câu khẳng định có thể kiểm điểm được tính chân ngụy, có thể đúng hay không đúng còn với các câu mệnh lệnh người nghe có thể làm hay hay không làm
Giao tiếp là hoạt động không thể thiếu của con người và xã hội loài người Trong giao tiếp ngôn ngữ thông thường, ngôn ngữ thực hiện nhiều chức năng cụ thể
Trước hết, giao tiếp bằng ngôn ngữ thông thường thực hiện chức năng thông tin sự kiện Thông qua văn bản (diễn ngôn, thông điệp), người phát chuyển đến người nhận những hiểu biết nào đó về tự nhiên, về xã hội hay về chính bản thân mình Nội dung thông tin sự kiện được đánh giá theo tiêu chuẩn đúng sai, phù hợp hay không phù hợp thể hiện ở nhiều cấp độ: phát ngôn (câu), văn bản, thậm chí ở loại văn bản chỉ có một từ
Ví dụ: Một phát ngôn được phát đi để người nghe tiếp nhận là “Ngày mai đã là chủ nhật rồi" Trong đó, thông điệp miêu tả là nội dung bộc lộ (thể hiện qua từ “đã"): có thể người nói thể hiện một sắc thái vui mừng vì sắp đến ngày được nghỉ, có thể là tâm trạng lo lắng, sợ sệt nào đó gắn liền với ngày chủ nhật, Trong hoạt động văn chương, ngôn ngữ cũng vừa thực hiện chức năng thông tin, miêu tả, vừa thực hiện chức năng bộc lộ (cảm xúc, tình cảm, thái độ, sự đánh giá…)của tác giả đối với thông tin miêu tả
Ví dụ: Câu thơ đầu tiên trong “Truyện Kiều":
Trăm năm trong cõi người ta Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau (1-2)
Trang 8Vừa thể hiện hiện tượng đố kị, xung khắc giữa tài và mệnh trong đời người, lại vừa cho thấy một thái độ mỉa mai, chua chát sâu cay của tác giả đối với hiện tượng đó (thể hiện qua từ “khéo là") Độc giả như hình dung ra một nụ cười mỉa (khen mà chê trách) của tác giả đối với hiện tượng thông thường trong cuộc sống: tài và mệnh ghét nhau
Cuối cùng của chức năng giao tiếp ngôn ngữ thông thường là chức năng thuộc về lĩnh vực hành động: tác động đến người nhận nhận để thực hiện (hay không thực hiện) một hành động nào đó Nội dung tác động được đánh giá theo tiêu chuẩn có thực hiện được hay không Trong một hoạt động giao tiếp, 3 chức năng trên thường hoà quyện và tương tác với nhau VD: Trong quảng cáo, một hoạt động giao tiếp rất phổ biến trong xã hội hiện nay, 3 chức năng trên đều được quan tâm và thể hiện trong nội dung, hình thức quảng cáo Một quảng cáo vừa có chức năng thông tin miêu tả (giới thiệu mặt hàng dịch vụ), vừa có chức năng bộc lộ (biểu hiện tình cảm thân thiện tốt đẹp đối với vật được giới thiệu với khách hàng), lại có mục đích tác động đến khách hàng để mua hàng hoá hay sử dụng dịch vụ Các chức năng của ngôn ngữ trong giao tiếp hoà quyện và đồng thời tồn tại trong các hoạt động giao tiếp, trong các văn bản, các diễn ngôn Tuy nhiên, tùy thuộc mục đích giao tiếp, tuỳ thuộc các nhân tố giao tiếp khác (nhân vật, ngữ cảnh, nội dung, cách thức, ) mà một trong các chức năng trên giữ vai trò chủ đạo, trọng yếu, còn các chức năng khác thì vai trò thứ yếu, phụ thuộc
VD: Trong văn bản báo chí (nhất là bản tin) thì chức năng thông tin sự kiện (miêu tả) giữ vai trò chủ đạo, trong văn ban nghệ thuật thì chức năng bộc lộ cảm xúc thẩm mĩ, trong văn bản khoa học thì chức năng thông tin lí trí (miêu tả), trong nhiều loại văn bản hành chính thì thông tin hành động là những thông tin chính yếu Cho nên có những văn bản cùng một đề tài, cùng đề cập đến một sự vật, hiện tượng…nhưng do khác nhau về chức năng giao tiếp chủ đạo nên cũng khác nhau về chất liệu nội dung cũng như sự tổ chức hình thức của văn bản
=> Như vậy, cùng với chức năng tư duy, ngôn ngữ thực hiện chức năng giao tiếp thông qua các chức năng cụ thể về thông tin miêu tả (thông tin sự việc, thông tin lí trí), thông tin bộc lộ (trong đó có bộc lộ cảm xúc thẩm mĩ) và thông tin tác động
2.4 Chức năng siêu ngôn ngữ
So với các thứ “ngôn ngữ" hiểu theo nghĩa rộng ở trên, ngôn ngữ tự nhiên của con người còn nổi bật ở chức năng siêu ngôn ngữ: dùng ngôn ngữ để nói về chính ngôn ngữ Điều này không chỉ thể hiện ở các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ được viết bằng ngôn ngữ, tài liệu dạy ngôn ngữ này thông qua các ngôn ngữ khác…, mà cả trong việc sử dụng ngôn ngữ hàng ngày và trong ngôn ngữ văn chương Lúc đó có thể phân biệt ngôn ngữ với
Trang 9tư cách đối tượng trọng hiện thực và trong tư cách phương tiện lí giải về đối tượng, mặc dù vẫn chỉ có một ngôn ngữ (hiện tượng hai trong một, một thể chất mà đóng hai vai trò) Trong hoạt động giao tiếp ngôn ngữ hàng ngày, không hiếm trường hợp, người nói dẫn lời người khác, hay dùng lời nói của mình để nhận xét, phân tích, bình phẩm, đánh giá… về lời nói của người khác Đó chính là khi ngôn ngữ thực hiện chức năng siêu ngôn ngữ Lời dẫn, hay phẩm bình đóng vai ngôn ngữ đối tượng, còn lời phẩm bình đánh giá vai trò ngôn ngữ phương tiện
- Chúng con ăn rồi
Bà cụ nhòm vào liễn cơm hỏi:
- Chúng mày có được ăn thịt không?
- Mẹ nói bà không ăn thịt, bà ốm
(Nguyễn Khải - Đời vẫn vui)
Trong đoạn hội thoại trên, chức năng siêu ngôn ngữ thể hiện rõ nhất ở hai lượt lời im đậm của bà cụ Bà phát hiện lời nói dối của hai đứa cháu, nên dùng lời của mình để phê bình, chê trách Còn trong lời nói cuối cùng của thằng nhỏ, chức năng siêu ngôn ngữ lại thể hiện ở việc nó dùng lời của mình dẫn lời người mẹ
Những cách sử dụng ngôn ngữ theo chức năng siêu ngôn ngữ như thế rất phổ biến trong ngôn ngữ hàng ngày và cả trong ngôn ngữ ở tác phẩm văn chương Trong ngôn ngữ của tác giả có dẫn hay phẩm bình ngôn ngữ nhân vật, trong ngôn ngữ nhân vật này có dẫn hay phẩm bình về ngôn ngữ nhân vật khác, thậm chí dẫn lời người ngoài truyện Đó không phải chỉ là sự khác nhau về chủ thể của lời nói mà quan trọng còn là sự đa dạng, phong phú
Trang 10trong điểm nhìn, trong sự đánh giá, thái độ, tình cảm của các cá thể khác nhau Điều đó góp phần tạo nên tính đa thanh, tính phức điệu trong tác phẩm văn chương, tạo nên nét độc đáo và ưu thế to lớn của loại hình nghệ thuật này Điều đó liệu có thể có được trong các
“ngôn ngữ” khác: ngôn ngữ của các loài động vật, của máy móc, của các kí hiệu khoa học, hay ngôn ngữ của các loại hình nghệ thuật khác: hội họa, âm nhạc, điêu khắc, kiến trúc hay không? Câu trả lời chắc chắn là theo hướng phủ định: không thể nhận định về một bức tranh qua một bức tranh khác, không thể phẩm bình về một bức tượng thông qua một bức tượng khác Điều đó thích hợp với câu tục ngữ “Dao sắc không gọt được chuôi”
2.5 Chức năng biểu cảm
Trong ngôn ngữ tập trung vào người nói (thể hiện thái độ đối với nội dung mệnh đề) nhằm bày tỏ một cảm xúc nào đó, liên quan đến cái đang được nói đến Vì vậy, chức năng này rất quan tâm đến tình thái của phát ngôn Chức năng biểu cảm được biểu hiện bằng cách thay đổi sắc thái biểu cảm trong những tình huống khác nhau
Thuộc về chức năng này là sự phản ánh được những tình cảm, thái độ, cảm xúc và quan điểm của người nói
Ví dụ: tình cảm (vui, buồn…); trình độ học vấn…
2.6 Chức năng tác động (nhận thức và tư duy)
Hoạt động nhận thức của sinh vật có thể phân biệt làm hai giai đoạn: cảm tính và lí tính
Ở nhận thức cảm tính thì mới chỉ dừng lại ở biểu hiện bên ngoài của đối tượng và chưa có sự tham gia của ngôn ngữ, thực hiện nhờ các giác quan trong cơ thể của sự vật VD: Mọi con vật đều nhận thức được sức nóng nếu vô tình chạm phải lửa và phải nhanh chóng tránh xa, dù chúng không biết được bản chất của lửa và gọi tên đối tượng
Ở nhận thức lí tính thì nhận thức đã đạt đến trình độ cao hơn, không chỉ dừng lại ở những dấu hiệu bên ngoài mà đi sâu và nắm được bản chất của đối tượng Từ ngữ trong ngôn ngữ của con người chính là một công cụ để ghi nhận, cố định hoá các khái niệm và là cái biểu đạt cho khái niệm (định danh) và thay thế cho khái niệm trong mọi hoạt động tư suy và giao tiếp của con người Ngôn ngữ dùng làm công cụ cho nhận thức và tư suy của con người
VD: Từ xa xưa khi tổ tiên của người Việt tiếp xúc với thế giới tự nhiên xung quanh, nhận ra một đối tượng gần gũi mà khoa học sau này gọi là giới thực vật, hay ngôn ngữ thông thường của người Việt Nam gọi là cây
Trang 11Và lịch sử hình thành diễn ra cũng như thế đối với các khái niệm và phạm trù khác được gọi tên bằng các từ khác: con, cái, núi, sông, đất, nước, Cả các hoạt động, tính chất, đặc điểm, quan hệ cũng trải qua quá trình nhận thức, tư duy và định danh như vậy: đi, ăn, ngủ, bơi, đẹp, cao, thấp,
Từ nhu cầu nhận thức tư duy và cả nhu cầu giao tiếp mà các từ ngữ hình thành để định danh, gọi tên các đối tượng nhận thức của con người Sau đó, các tên gọi (các từ) lại trở thành vật thay thế cho đối tượng mà nó gọi tên để con người làm công cụ tư duy tiếp theo
và làm phương tiện giao tiếp cho người khác Đó là điều diễn ra ở mọi ngôn ngữ tự nhiên của mọi dân tộc và thành một nguyên lí chung chi phối ngôn ngữ của loài người
Về chức năng tác động của ngôn ngữ: Thứ nhất, đó là sự tác động đến tư duy Thứ hai, ngôn ngữ có chức năng liên nhân thể hiện ở chỗ nó có khả năng liên kết con người với nhau Thứ ba, ngôn ngữ tạo nên sự thay đổi theo con đường từ nhận thức đến hành động Chức năng tác động của ngôn ngữ thể hiện 3 bình diện: tư tưởng, thông điệp và liên nhân Tư tưởng thể hiện qua bình diện tổ chức thông điệp hay nói cách khác tổ chức thông điệp thể hiện chức năng tư tưởng Về chức năng tác động qua bình diện quan hệ liên nhân, tập trung về các từ xưng hô và hành động ngôn từ Hành động ngôn từ tức là sự tương tác qua lại giữa người nói với người nghe mà ở đây chính là liên nhân Khi người nói thực hiện hành động ngôn từ, tương tác với người nghe, tác động đến ý niệm nhưng ở mức độ cao thông qua nhạc điệu và cảm xúc để kết nối tác giả và người đọc, sự tương tác đó thể hiện quan hệ liên nhân
CHƯƠNG II PHÂN TÍCH 3 VĂN BẢN VĂN HỌC CỤ THỂ THEO HƯỚNG
NGHIÊN CỨU NGÔN NGỮ VĂN HỌC VÀ THI HỌC
1 Tác phẩm “Bếp lửa” của Bằng Việt
Ngữ liệu:
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm Cháu thương bà biết mấy nắng mưa!
Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi,
Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy, Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!
Tám năm ròng, cháu cùng bà nhóm lửa
Trang 12Tu hú kêu trên những cánh đồng xa Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà?
Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!
Mẹ cùng cha công tác bận không về, Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe,
Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học, Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,
Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà, Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?
Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:
“Bố ở chiến khu, bố còn việc bố, Mày có viết thư chớ kể này kể nọ,
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”
Rồi sớm rồi chiều, lại bếp lửa bà nhen, Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn, Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng
Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm, Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi, Nhóm niềm xôi gạo mới, sẻ chung vui, Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa!
Giờ cháu đã đi xa Có ngọn khói trăm tàu,
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả, Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:
- Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?
Trang 13Bài thơ được sáng tác năm 1963, in trong tập “Hương cây bếp lửa” là một trong số những
tác phẩm làm nên tên tuổi của nhà thơ Bằng Việt trên nền địa hạc văn chương Việt Nam thông qua nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ tài tình Cụ thể qua 6 chức năng ngôn ngữ như sau:
a Chức năng thể hiện:
• Thể hiện hiện thực xã hội: Tác phẩm “Bếp lửa” phản ánh chân thực và sâu sắc về
những năm tháng chống Pháp ác liệt, dân tộc ta chìm trong đau thương, mất mát Nạn đói năm 1945 lúc bấy giờ ở Việt Nam qua trí nhớ, hoài niệm của người cháu:
Lên 4 tuổi cháu đã quen mùi khói Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Đó là một nạn đói khủng khiếp thể hiện qua từ ngữ “đói mòn đói mỏi”, cái đói rùng
rợn khiến con người kiệt quệ về thể xác lẫn tinh thần Cái đói, khổ khiến cho bao gia đình Việt phải chia xa, mỗi người một phương: bố mẹ đi công tác nơi chiến tuyến, cháu lớn lên trong sự bao bọc, nuôi dưỡng của bà
• Thể hiện vẻ đẹp tình bà cháu ấm áp, sâu đậm: Xuyên suốt mạch thơ, từng từng câu
chữ diễn tả tình cảm bà cháu gắn bó, đùm bọc thể hiện qua từng giai đoạn trong hồi
ức của người cháu về bà và kỷ niệm tuổi thơ Ví dụ như ngay từ mở đầu bài thơ, bằng những hình ảnh thơ đầy ám ảnh diễn tả :
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm Cháu thương bà biết mấy nắng mưa
Tình cảm bà cháu được khơi gợi, nhen nhóm từ hình ảnh quen thuộc - ngọn lửa
"chờn vờn sương sớm" là ngọn lửa thực trong lòng bếp lửa được nhen lên trong mỗi sớm mai Còn ngọn lửa "ấp iu nồng đượm" là ngọn lửa của yêu thương mà bà dành cho cháu Bởi vậy nên nhắc đến bếp lửa là nhắc đến bà với bao tình thương và nỗi nhớ: "Cháu thương
bà biết mấy nắng mưa" - thể hiện và diễn tả trực tiếp tình yêu, nỗi nhớ của người cháu dành cho người bà tần tảo, giàu đức hy sinh và giàu tình thương của mình
Vẻ đẹp tình bà cháu thiết tha còn được thể hiện qua tình yêu, sự giáo dưỡng, chăm sóc và dạy bảo của người bà dành cho cho cháu khi bố mẹ đi công tác xa lâu ngày:
Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm, Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi,
Trang 14Nhóm niềm xôi gạo mới, sẻ chung vui, Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Từ “nhóm” lặp đi lặp lại 4 lần trong khổ thơ, được Bằng Việt “dụng ý” để nhấn mạnh tình yêu và sự chăm sóc tận tình, chu đáo của người bà: dù cuộc sống vất vả, khó khăn bà vẫn tiếp tục nhóm lên ngọn lửa của yêu thương, của sẻ chia ấm áp, của bầu trời tuổi thơ đẹp
đẽ trong cháu, Bà trở thành người cha,người mẹ yêu thương và giáo dưỡng,dạy bảo cháu tận tình Qua đó thể hiện tình bà ấm áp, thân thương như ánh lửa xuyên suốt trong mạch thi phẩm
nét chân dung, vẻ đẹp của nhân vật Chẳng hạn như: “Thương bà biết mấy nắng mưa” , "bà khó nhọc”, “lận đận đời bà” - hình ảnh bà hiện lên qua ý thơ là người đàn bà vất vả, lam
lũ, cuộc đời đầy cực nhọc, giãi nắng dầm mưa “Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học”; “Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm”; “bà nhóm” hình ảnh, mối chữ thơ phác họa chân dung vẻ đẹp
bà mẹ Việt Nam anh hùng, một người bà thương yêu con cháu, tần tảo, giàu đức hy sinh Qua ý thơ, với tài sử dụng ngôn ngữ tài tình Bằng Việt khắc họa hình tượng người bà mang
vẻ đẹp điển hình về cả dáng vẻ lẫn nhân cách tốt đẹp của một hậu phương, một người mẹ, người bà cao quý
Bên cạnh đó, khi diễn tả những trạng thái, những tình cảm thì nhà thơ lại sử dụng những vần “thi”, hình ảnh rất tình, rất phù hợp Nhân vật cháu khi thể hiện nỗi xót xa, xúc
động trước những hồi ức về hiện thực nạn đói năm 1945 được diễn tả qua: “khô rạc ngựa gầy, sống mũi còn cay”; khi nói về tình yêu thương, nỗi nhớ nhung khôn xiết dành cho bà
và bếp lửa trong ký ức tuổi thơ thì: điệp ngữ “bếp lửa” lặp đi lặp lại xuyên suốt thi phẩm;
“cháu thương bà biết mấy nắng mưa”, “bà còn nhớ không bà”; “những vẫn chẳng khi nào
quên nhắc nhở” Có lẽ trong văn học Việt Nam hiếm có một tác phẩm nào mà có sự hòa hợp các loại hình, các cấp độ ngôn ngữ rất thành thạo, rất nhuần nhuyễn như trong bài thơ
“Bếp lửa” của Bằng Việt
c Chức năng tiếp xúc:
Tác phẩm “Bếp lửa” là dòng hồi tưởng của người cháu về bà, về tuổi thơ được khơi gợi từ hình ảnh thân thương - bếp lửa Bởi vậy, xuyên suốt mạch thơ là cuộc hội thoại, quá trình “tiếp xúc” trong tâm tưởng của người cháu với bà
Trang 15Bố ở chiến khu bố còn việc bố Mày có viết thư chớ kể này kể nọ
Cứ bảo rằng nhà vẫn được bình yên
Cuộc đối thoại giữa bà và cháu, qua từ ngữ “Mày viết thư chớ kể này kể nọ” thể hiện
sự cao cả của người bà khi căn dặn, khuyên bảo cháu phải sống có trách nhiệm, cố gắng không để bố mẹ công tác xa phải phiền lòng Bà là hậu phương vững chãi, là người phụ
nữ Việt Nam anh hùng Hay trong tác phẩm, người cháu giãi bầy tiếng lòng của mình với
bà qua lời thoại, lời tâm tình:
Giờ cháu đã đi xa
… Nhưng chẳng bao giờ quên nhắc nhở Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?
Những vẫn thơ, mỗi ngôn từ như nút giao thoa giữa 2 tâm hồn, 2 cảm xúc “Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?” câu hỏi tu từ, là khoảng không “tiếp xúc” trong nỗi nhớ của cháu về hình ảnh bà, tình yêu của bà và những kỷ niệm về bà Qua đó diễn tả sự gần gũi, thân thương giữa hai nhân vật chính
Bên cạnh đó, văn chương cũng là hoạt động giao tiếp, tiếp xúc giữa tác giả và độc giả Đọc từng câu chữ, với dòng cảm xúc của người cháu - chính là xúc cảm của chính thi sĩ, mỗi vần thơ, hình ảnh thơ là nút giao gắn kết tiếng lòng, nỗi nhớ nhung bà da diết, khôn nguôi với độc giả Người đọc như được sống, được tiếp xúc trực tiếp và hòa quyện với Bằng Việt, để đồng cảm và chạm tới cảm xúc không nguôi dành cho bà của mình
“Cháu thương bà biết mấy nắng mưa” - thương cho sự tần tảo, vất vả, hy sinh cả đời
khó nhọc nhưng giàu tình thương yêu, che chở cháu chắt của người bà trong “Bếp lửa” nói nói riêng và trong lòng mỗi người cháu nói chung
d Chức năng siêu ngôn ngữ
Trong bài thơ “Bếp lửa”, chức năng siêu ngôn ngữ được thể hiện thông qua quá trình biểu trưng hóa tín hiệu, cụ thể bằng các phương diện: ngôn ngữ, hình ảnh biểu trưng mang nghĩa hàm ẩn nhằm thực hiện chức năng hình tượng Bằng Việt sử dụng ngôn ngữ một cách giản dị, mộc mạc, gần gũi với đời sống hằng ngày của người dân quê Việt Nam thể
hiện qua các một loạt các từ, hình ảnh như “bếp lửa, mùi khói, khói hun, cánh đồng xa, làng, giặc đốt làng, túp lều tranh, khoai sắn ngọt bùi, xôi gạo mới, chim tu hú…” Những
sự vật, sự kiện diễn tả khung cảnh, viễn cảnh về cuộc sống sinh hoạt đời thường của người dân quê Bên cạnh đó, ý thơ còn hàm ẩn “chức năng hình tượng” được thể hiện qua nghệ thuật sử dụng ngôn từ với các biện pháp tu từ trong ngôn ngữ Ví dụ như phép điệp ngữ và
ẩn dụ qua các hình ảnh “bếp lửa”, “người bà” xuất hiện xuyên suốt thi phẩm:
Trang 16- Từ “Bếp lửa”: chỉ một từ ngữ nhưng xuất hiện xuyên suốt tác phẩm Theo nghĩa thực, bếp lửa được hiểu là một vật dụng quen thuộc trong mỗi gia đình Việt Song trong thi phẩm, “bếp lửa” hàm ẩn mang nhiều ý nghĩa biểu tượng: thể hiện một nét đẹp văn hóa
cổ truyền, tượng trưng cho một thời khó khăn của đất nước “những năm đói mòn đói mỏi”,
thể hiện tình cảm gia đình thiêng liêng Cụ thể, hình ảnh bếp lửa luôn gắn liền với hình ảnh
bà, nhớ đến bếp lửa là cháu nhớ đến bà và cuộc sống gian khổ “hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi…/bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy” Bếp lửa bàn tay bà nhóm mỗi sớm mai là nhóm
tình yêu thương, niềm vui sưởi ấm, sự san sẻ tình làng nghĩa xóm, những tâm tình và ước vọng của tuổi thơ Bếp lửa là tình cảm yêu thương, bình dị mà thiêng liêng của bà Bếp lửa còn là biểu tượng của gia đình, quê hương, đất nước, cội nguồn…
Giờ cháu đã đi xa Có ngọn khói trăm tàu,
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả, Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:
- Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?
Bếp lửa tượng trưng cho cội nguồn, quê hương nơi đó có bà, có cha mẹ, có những ký
ức tuổi tuổi thơ sống mãi trong lòng cháu Bếp lửa là bến đỗ, là điểm tựa, để để dù cháu có lớn lên, vươn bay trên những vùng đất rộng lớn cũng sẽ mãi nhớ về
• Hình ảnh “Người bà”: hình ảnh xuất hiện xuyên suốt mạch thơ Người bà hiện diện mang theo những đức tính phẩm chất tốt đẹp: người chịu thương chịu khó, tần tảo hi sinh
“cháu thương bà biết mấy nắng mưa”; Bà là người phụ nữ nông thôn thuần hậu nhưng có
bản lĩnh vững vàng, là chỗ dựa tinh thần cho con cháu; Bà là người yêu thương, chăm sóc
và dạy cháu lên người “Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe/ Bà chăm cháu học, bà dạy cháu làm” Bà đã nhóm lên trong cháu tình yêu thương, mơ ước và khát vọng về tương
lai… Hình ảnh “người bà” là biểu tượng khơi nguồn trong cháu về những kỷ niệm tuổi thơ, nhen nhóm tình yêu với gia đình, với quê hương, đất nước Bên cạnh đó, hình ảnh ấy còn
là vẻ đẹp, tín hiệu điển hình để thi sĩ phác họa và ca ngợi về chân dung những người phụ
nữ Việt Nam anh hùng nói chung trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp của dân tộc
e Chức năng biểu cảm
Chức năng biểu cảm trong tác phẩm "Bếp lửa" được thể hiện qua các phương diện:
sử dụng ngôn ngữ giàu tính biểu cảm, sử dụng hình ảnh, chi tiết mang tính biểu cảm và sử dụng giọng điệu trữ tình Điều này đã góp phần tạo nên cảm xúc, tình cảm cho người đọc, giúp người đọc hiểu sâu sắc hơn về tác phẩm
“Thơ là tiếng lòng của người nghệ sĩ” Bởi vậy, bao trùm thi phẩm là tiếng lòng, sự bộc bạch, giãi bầy cảm xúc của người cháu - chính là nhà thơ Bằng Việt dành cho người bà
của mình Bài thơ gói gắm niềm xúc động sâu xa của nhà thơ khi nghĩ về bà, nghĩ về quá
khứ tuổi thơ đầy khó nhọc, vất vả thể hiện qua từng câu, từng chữ Trong dòng chảy của
Trang 17hồi tưởng, từ kỉ niệm, đứa cháu nay đã trưởng thành suy ngẫm, thấu hiểu cuộc đời bà, về lẽ
sống của bà Cuối cùng, trong hoàn cảnh xa cách, đứa cháu gửi nỗi nhớ mong được gặp
Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn cho dòng hồi tưởng, cảm xúc về bà
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm Một bếp lửa ấp iu nồng đượm Cháu thương bà biết mấy nắng mưa
Người cháu “thương” bà - tình yêu, nỗi nhớ mong bộc bạch trực tiếp Hình ảnh thơ
“bếp lửa chờn vờn”, “ấp iu nồng đượm” kết hợp với chữ “thương” như một sự lắng đọng
cảm xúc, người cháu thấu hiểu, xót xa trước cuộc đời “biết mấy nắng mưa” vất vả, cơ cực của bà Trân trọng những kỷ niệm tuổi thơ, những hồi ức ở cùng bà Người cháu còn bộc
lộ nỗi nhớ nhung khôn xiết về những năm tháng sống cùng bà và bếp lửa vất vả, cực nhọc,
đầy khó khăn qua một loạt từ ngữ “đói mòn đói mỏi, khô rạc ngựa gầy” nhưng đong đầy
tình yêu thương Trước những dòng hồi ức ấy, người cháu thể hiện nỗi nghẹn ngào xúc động “Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay”
Bốn tuổi cháu đã quen mùi khói Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi
Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay
=> Xuyên suốt mạch thơ, thi sĩ đã bộc bạch, diễn tả các cung bậc cảm xúc chủ đạo đó là: nỗi nghẹn ngào, xúc động trước hiện thực khốc liệt của nạn đói năm 1945; niềm nhớ nhung khôn nguôi về hình ảnh bà và bếp lửa thân thương; nỗi xót xa, thấu cảm và trân trọng trước cuộc đời cơ cực, vất vả và giàu hy sinh của bà; Nhà thơ giãi bầy tình yêu thương, sự trân quý trước trước công lao nuôi dưỡng, chăm sóc của bà dành cho mình…
f Chức năng tác động
Chức năng tác động trong tác phẩm gắn liền với chức năng biểu cảm Thông qua các từ ngữ mang tính biểu cảm, nhà thơ Bằng Việt đem đem đến sự tác động tới nhận thức, tình cảm, thái độ tạo ra các biến chuyển đối với độc giả
Thông qua nội dung tác phẩm, "Bếp lửa" đã phản ánh chân thực và sâu sắc nạn đói năm 1945 ở Việt Nam Nạn đói khủng khiếp đã khiến cho hàng triệu người chết, số người
sống sót thì cũng lâm vào cảnh túng quẫn, đói khổ Trong hoàn cảnh đó, cuộc sống của con người vô cùng cơ cực, nhà cửa bị phá nát, “cháy tàn rụi” con cái không được sống trong sự đoàn tụ, chăm sóc đủ đầy từ cha mẹ Dẫu hoàn cảnh khó khăn, ngặt nghèo như vậy, song tình yêu thương giữa con người với nhau vẫn không mất đi: tình làng nghĩa xóm “Giặc đốt làng làng cháy tàn cháy rụi/ Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi/ Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh”; tình cảm gia đình cụ thể ở đây là tình cảm bà cháu gần gũi, thiêng liêng và ấm
áp Những nội dung này đã tác động đến độc giả, khiến họ hiểu rõ, đồng cảm, xót xa về
Trang 18những đau thương, mất mát mà người dân Việt Nam đã phải chịu đựng trong nạn đói năm
1945 Đồng thời, tác phẩm cũng khiến người đọc thêm trân trọng, nâng niu những thứ tình
cảm thiêng liêng cao quý của con người
Bên cạnh đó, bằng cách thức thể hiện của tác giả Bằng Việt là một người có giọng thơ trong trẻo, mượt mà, thường khai thác những kỉ niệm và ước mơ của tuổi trẻ hay những kí
ức tuổi ấu thơ không thể nào quên và khai thác cuộc sống thôn quê dân dã Cách thức thể hiện theo lối ngôn ngữ, hình ảnh giản dị, mộc mạc, gần gũi với đời sống hàng ngày của người dân quê giàu sức gợi đã tác động đến người đọc Từ đó, khiến cảm nhận được tình cảm của nhà thơ đối với cuộc sống nghèo khổ, cơ cực đồng thời cũng khiến họ thêm trân trọng những tình cảm tốt đẹp của con người
Hơn thế,bài thơ còn gửi gắm và tác động đến bạn đọc nhận thức về sự trân trọng, biết
ơn với những người có công ơn nuôi dưỡng Khơi gợi tình yêu với gia đình, với cội nguồn quê hương, đất nước Chức năng tác động trong tác phẩm "Bếp lửa" của Bằng Việt được
thể hiện qua các phương diện: làm thay đổi nhận thức, khơi gợi tình yêu gia đình, thức tỉnh lòng biết ơn cội nguồn, quê hương, đất nước
2 Tác phẩm “Chí Phèo" của Nam Cao
Ngữ liệu:
Bây giờ thì Chí Phèo đã mửa xong Hắn mệt quá, lại vật người ra đất Hắn đờ hai con mắt khẽ rên: hắn chỉ còn đủ sức để rên khe khẽ Từ đống mửa bay lại một mùi gì thoảng như mùi rượu, hắn bỗng nhiên rùng mình
Thị Nở lại Đặt một tay lên ngực hắn (thị suy nghĩ đến bây giờ mới xong), thị hỏi hắn:
Không có giường, chỉ có một cái chõng tre Thị để hắn nằm lên và đi nhặt nhạnh tất
cả những manh chiếu rách đắp lên cho hắn Hắn hết rên Hình như hắn ngủ Thị cũng lim dim chực ngủ Nhưng trong nhà nhiều muỗi quá Muỗi nhắc cho thị cái áo quên ngoài vườn Thị ra vườn Đôi lọ nhắc cho thị việc đi kín nước, thị mải mốt mặc áo, kín nước, rồi xách đôi lọ nước đi về nhà
Trăng chưa lặn, không chừng trời còn khuya Thị lên giường định ngủ Nhưng nhớ lại việc lạ lùng tối qua Thị cười Thị thấy không buồn ngủ, và thị cứ lăn ra lăn vào
Khi Chí Phèo mở mắt thì trời đã sáng lâu Mặt trời chắc đã cao, và nắng bên ngoài chắc là rực rỡ Cứ nghe chim ríu rít bên ngoài là đủ biết Nhưng trong cái lều ẩm thấp vẫn
Trang 19chỉ hơi tờ mờ Ở đây người ta thấy chiều lúc xế trưa và gặp đêm thì bên ngoài trời vẫn sáng Chưa bao giờ Chí Phèo nhận thấy thế bởi chưa bao giờ hết say
Nhưng bây giờ thì hắn tỉnh Hắn bâng khuâng như tỉnh dậy, hắn thấy miệng đắng, lòng mơ hồ buồn Người thì bủn rủn, chân tay không buồn nhấc, hay là đói rượu, hắn hơi rùng mình Ruột gan lại nôn nao lên một tý Hắn sợ rượu cũng như những người ốm sợ cơm Tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá! Có tiếng cười nói của những người đi chợ Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá
Những tiếng quen thuộc ấy hôm nào chả có Nhưng hôm nay hắn mới nghe thấy Chao ôi là buồn!
- Vải hôm nay bán mấy?
- Kém ba xu dì ạ
- Thế thì còn ăn thua gì!
- Thật thế đấy Nhưng chẳng lẽ rằng lại chơi
Chí Phèo đoán một người đàn bà hỏi một người đàn bà khác đi bán vải ở Nam Ðịnh
về Hắn nôn nao buồn, là vì mẩu chuyện ấy nhắc cho hắn một cái gì rất xa xôi Hình như
có một thời hắn đã ao ước có một gia đình nho nhỏ Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải, chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm Tỉnh dậy hắn thấy già mà vẫn còn cô độc Buồn thay cho đời! Có lý nào như thế được? Hắn đã già rồi hay sao? Ngoài bốn mươi tuổi đầu Dẫu sao, đó không phải tuổi mà người
ta mới bắt đầu sửa soạn Hắn đã tới cái dốc bên kia của đời Ở những người như hắn, chịu đựng biết bao nhiêu là chất độc, đầy đọa cực nhọc mà chưa bao giờ ốm, một trận ốm có thể gọi là dấu hiệu báo rằng cơ thể đã hư hỏng nhiều Nó là một cơn mưa gió cuối thu cho biết trời gió rét, nay mùa đông đã đến Chí Phèo hình như đã trông thấy trước tuổi già của hắn, đói rét và ốm đau, và cô độc, cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau
Cũng may Thị Nở vào Nếu thị không vào, cứ để hắn vẩn vơ mãi, thì đến khóc được mất Thị vào cắp một cái rổ, trong có một nồi gì đậy vung Đó là một nồi cháo hành còn nóng nguyên Là vì lúc còn đêm, thị trằn trọc một lát, thị bỗng nhiên nghĩ rằng: cái thằng liều lĩnh ấy kể ra thì đáng thương, còn gì đáng thương bằng đau ốm mà nằm còng queo một mình Giá thử đêm qua không có thị thì hắn chết Thị kiêu ngạo vì đã cứu sống một người Thị thấy như yêu hắn: đó là một cái lòng yêu của một người làm ơn Nhưng cũng có
cả lòng yêu của một người chịu ơn Một người như thị Nở càng không thể quên được Cho nên thị nghĩ: mình bỏ hắn lúc này thì cũng bạc Dẫu sao cũng đã ăn nằm với nhau! Ăn nằm với nhau như “vợ chồng” Tiếng “vợ chồng”, thấy ngường ngượng mà thinh thích Đó vẫn
là điều mong muốn âm thầm của con người khốn nạn ấy chăng Hay sự khoái lạc của xác thịt đã làm nổi dậy những tính tình mà thị chưa bao giờ biết?
Chỉ biết rằng thị muốn gặp Chí Phèo, gặp hắn mà nhắc lại chuyện đêm qua thì chắc buồn cười lắm Gớm! Sao lại có thứ người đâu mà lì quá thế? Người ta ngồi đấy mà dám xán lăn ngay vào, nó chả ngang ngược mà người ta kêu bé, nó lại làm to hơn Mà kể thì cũng ngù ngờ Cái thằng trời đánh không chết ấy, nó còn sợ ai mà hòng kêu Nhưng mà
Trang 20đáng kiếp Thổ trận ấy thật là phải biết Cứ gọi là hôm nay nhọc đừ Phải cho hắn ăn tí gì mới được Đang ốm thế thì chỉ ăn cháo hành Ra được mồ hôi thì là nhẹ nhõm người ngay
đó mà Thế là vừa sáng thì đã chạy đi tìm gạo Hành thì nhà thị may lại còn
Thị nấu bỏ vào cái rổ, mang ra cho Chí Phèo
Thằng này rất ngạc nhiên Hết ngạc nhiên thì hắn thấy mắt mình hình như ươn ướt Bởi vì lần này là lần thứ nhất hắn được một người đàn bà cho Xưa nay, nào hắn có thấy
ai tự nhiên cho cái gì Hắn vẫn phải doạ nạt hay giật cướp Hắn phải làm cho người ta sợ Hắn nhìn bát cháo bốc khói mà bâng khuâng Thị Nở thì chỉ nhìn trộm hắn, rồi lại toe toét cười Trông thị thế mà có duyên Tình yêu làm cho có duyên Hắn thấy vừa vui lại vừa buồn
Và một cái gì nữa, giống như là ăn năn Cũng có thể như thế lắm Người ta hay ăn năn hối hận về tội ác khi không đủ sức để ác nữa Thị Nở giục hắn ăn nóng Hắn cầm lấy bát cháo đưa lên mồm Trời ơi cháo mới thơm làm sao! Chỉ khói xông vào mũi cũng đủ làm người nhẹ nhõm Hắn húp một húp và nhận ra rằng: những người suốt đời không ăn cháo hành không biết rằng cháo rất ngon Nhưng sao lại mãi đến bây giờ hắn mới nếm vị mùi cháo? Hắn tự hỏi rồi lại tự trả lời: vì có ai nấu cho ăn đâu? Mà còn ai nấu cho mà ăn nữa! Ðời hắn chưa bao giờ được săn sóc bởi một tay “đàn bà” Hắn nhớ đến “bà ta”, cái con quỷ cái hay bắt hắn bóp chân mà lại kêu bóp lên trên, trên nữa, nó chỉ nghĩ đến sao cho thỏa nó chứ có yêu hắn đâu Hồi ấy hắn hai mươi Hai mươi tuổi, người ta không là đá, nhưng cũng không toàn là xác thịt Người ta không thích cái gì người ta khinh Vả lại bị một con đàn bà gọi đến nhà mà bóp chân! Hắn thấy nhục hơn là thích, huống hồi lại sợ Quả thật, từ khi biết rằng con vợ chủ sai hắn làm một việc không chính đáng, hắn vừa làm vừa run Không làm thì không được: mọi việc trong nhà, quyền đàn bà Chứ hắn, hắn có lòng nào đâu! Ðến nỗi người đàn bà phát cáu Bà thấy xa xôi không được, phải làm đến nơi Bà bảo hắn rằng: “Mày thực thà quá! Con trai gì hai mươi tuổi mà đã như ông già” Hắn vẫn giả vờ không hiểu Bà lẳng lơ bảo: “Chả nhẽ tao gọi mày vào chỉ để bóp chân thế này thôi ư? ” và thấy hắn dùng dằng, bà mắng xơi xơi vào mặt Hắn chỉ thấy nhục chứ yêu đương gì Không, hắn chưa được một người đàn bà nào yêu cả Vì thế mà bát cháo hành của thị Nở làm hắn suy nghĩ nhiều Hắn có thể tìm bạn được, sao lại chỉ gây kẻ thù? Bát cháo húp xong rồi, thị Nở đỡ lấy bát cháo và múc thêm bát nữa Hắn thấy mình
vã bao nhiêu mồ hôi Mồ hôi chảy ra trên đầu, trên mặt, những giọt to như giọt nước Hắn đưa tay áo quệt ngang một cái, quệt mũi cười rồi lại ăn Hắn càng ăn, mồ hôi lại càng nhiều Thị Nở nhìn hắn, lắc đầu thương hại Hắn thấy lòng thành trẻ con Hắn muốn làm nũng với thị như với mẹ Ôi sao mà hắn hiền, ai dám bảo đó là thằng Chí Phèo vẫn đập đầu, rạch mặt mà đâm chém người? Ðó là cái bản tính của hắn, ngày thường bị lấp đi Hay trận ốm thay đổi hẳn về sinh lý, cũng thay đổi cả tâm lý nữa? Những người yếu đuối vẫn hay hiền lành Muốn ác, phải là kẻ mạnh Hắn đâu còn mạnh nữa Và có lúc hắn ngẫm mình mà lo Xưa nay hắn chỉ sống bằng giật cướp và dọa nạt Nếu không còn sức mà giật cướp, dọa nạt nữa thì sao? Ðã đành, hắn chỉ mạnh vì liều Nhưng hắn mơ hồ thấy rằng sẽ
có một lúc mà người ta không thể liều lĩnh được nữa Bấy giờ mới nguy! Trời ơi! Hắn thèm
Trang 21lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn Thị
có thể sống yên ổn với hắn thì sao người khác lại không thể được Họ sẽ nhận lại hắn vào cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của những người lương thiện Hắn băn khoăn nhìn thị
Nở, như thăm dò Thị vẫn im lặng, cười tin cẩn, hắn thấy tự nhiên nhẹ người Hắn bảo thị:
- Giá cứ thế này mãi thì thích nhỉ?
Thị không đáp, nhưng cái mũi đỏ của thị như càng bạnh ra Hắn thấy thế cũng không
có gì là xấu Bằng một cái giọng nói và một vẻ mặt rất phong tình theo ý hắn, hắn bảo thị:
- Hay mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui
Thị lườm hắn Một người thật xấu khi yêu cũng lườm Hắn thích chí khanh khách cười Lúc tỉnh táo, hắn cười nghe thật hiền Thị Nở lấy làm bằng lòng lắm Bấy giờ mấy bát cháo
ý chừng đã ngấm Hắn thấy lòng rất vui Hắn bẹo thị Nở một cái làm thị nẩy hẳn người lên
Và hắn cười, hắn lại bảo:
- Ðằng ấy còn nhớ gì hôm qua không?
Thị phát khẽ hắn một cái, làm vẻ không ưa đùa Sao mà e lệ thế Xấu mà e lệ thì cũng đáng yêu Hắn cười ngất, và muốn làm thị thẹn thùng hơn nữa, hắn véo thị một cái thật đau vào đùi Lần này thì không những thị nẩy người Thị kêu lên choe choé Thị nắm cổ hắn mà giúi xuống Chúng tỏ tình với nhau, không cần đến những cái hôn Ai lại hôn, khi có những cái môi nứt nẻ như bờ ruộng vào kỳ đại hạn và cái mặt rạch ngang dọc như mặt thớt Vả lại, có những cách âu yếm bình dân hơn, chúng cấu véo hoặc phát nhau thiết thực biết mấy
Chúng sẽ làm thành một cặp rất xứng đôi Chúng cũng nhận thấy thế, và nhất định là lấy nhau Như thế năm ngày chẵn, thị ở nhà hắn cả ngày lẫn đêm, trừ những lúc đi kiếm tiền Hắn không còn kinh rượu nhưng cố uống cho thật ít Ðể cho khỏi tốn tiền, nhưng nhất
là để tỉnh táo để yêu nhau Ðàn bà không men như rượu nhưng cũng làm người say Và hắn say thị lắm Nhưng thị lại là người dở hơi Ðến hôm thứ sáu thì thị bỗng nhớ rằng thị có một người cô ở đời Người cô ấy nội ngày nay sẽ về Thị nghĩ bụng: hãy đừng yêu để hỏi
cô thị đã
a Chức năng thể hiện
• Thể hiện hiện thực xã hội: Tác phẩm xoay quanh câu chuyện có thật tại làng Đại Hoàng – quê hương của nhà Văn Nam Cao Truyện ngắn tái hiện bức tranh hiện thực sinh động về xã hội nông thôn Việt Nam trước cách mạng Tháng Tám 1945 Xã hội cũ khiến con người vô cùng ngột ngạt, tối tăm với nhiều sự áp bức, bóc lột, những bi kịch đau đớn, kinh hoàng, những hủ tục phong kiến lạc hậu,
• Thể hiện khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc, khát vọng hoàn lương của con người:
Xuyên suốt tác phẩm từng câu chữ đều ẩn chứa giá trị về khát vọng cao đẹp của nhưng con người hiền lành, có số phận bất hạnh như Chí Phèo, Thị Nở bị xã hội vùi dập, đẩy đến bước đường cùng Chẳng hạn như, với nhân vật Chí trong truyện ngắn, xã hội
Trang 22phong kiến mục ruỗng và thối nát đã đẩy Chí Phèo từ chàng trai lương thiện, hiền lành được
miêu tả qua các từ ngữ, hình ảnh: “cảm thấy nhục khi bà ba kêu hắn bóp chân, mà cứ bóp lên trên nữa, hắn từng ao ước “ ao ước có một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải ” trở nên tha hóa về cả nhân hình lẫn nhân tính, túng quẫn sống bằng
“tiếng chửi và nghề ăn vạ” Thế nhưng, trong ái cùng quẫn, khốn khổ ấy, ở Chí Phèo vẫn
ẩn chứa khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc thể hiện qua quá trình thức tỉnh lương tâm:
• Đến với Thị Nở bằng bản năng: “ăn nằm với nhau ngủ say dưới trăng”
• Nhớ lại quá khứ: “hắn ao ước có một gia đình nhỏ”, thể hiện khát vọng hạnh phúc
• Ý thức được hoàn cảnh bản thân: “ già mà vẫn còn cô độc, cái dốc bên kia của đời ”
• Phục thiện: “ muốn làm hòa với mọi người”
=> Từ quỷ dữ, thức tỉnh lương tâm thành người lương thiện Chí Phèo bộc lộ tình yêu với Thị Nở Là ngọn lửa nhen nhóm cho tính thiện bị vùi tắt bấy lâu nay trong con người Chí Trong hoàn cảnh cùng quẫn, tưởng chừng như bị dồn đến bước đường cùng không lối thoát ở Chí Phèo vẫn sáng ngời khát khao được sống, được hạnh phúc và khát vọng quay trở về con đường hoàn lương
b Chức năng thi ca
Trong tác phẩm thể hiện qua nghệ thuật miêu tả chân dung nhân vật, Nghệ thuật miêu
tả tâm lý nhân vật và nghệ thuật sử dụng ngôn từ
Nghệ thuật miêu tả chân dung nhân vật:
Nam Cao đã khắc họa hình tượng nhân vật bằng những ngôn ngữ rất cụ thể, vừa chấm phá được nét tự nhiên,vừa phác hoạ được ngoại hình đặc trưng thể hiện con người
của nhân vật Chẳng hạn như khi giới thiệu về Thị Nở, tác giả đã đưa ra các hình ảnh “ Cái mặt của thị đích thực là một sự mỉa mai của hóa công: nó ngắn đến nỗi người ta có thể tưởng bề ngang lớn hơn bề dài, thế mà hai má nó lại hóp vào mới thật là tai hại, nếu má
nó phinh phính thì mặt thị lại còn được hao hao như mặt lợn, là thứ mặt vốn nhiều hơn người ta tưởng, trên cổ người Cái mũi thì vừa ngắn, vừa to, vừa đỏ, vừa sần sùi như vỏ cam sành” Các hình ảnh, ngôn ngữ khắc họa chân dung người phụ nữ “xấu ma chê quỷ hờn” có vẻ ngoài không được ưa nhìn, phần nào hé lộ số phận của Thị - người phụ nữ có thân phận nhỏ bé trong xã hôi,“một người ngẩn ngơ như những người đần trong cổ tích’”
Khi miêu tả chân dung, Nam Cao đã miêu tả rât ấn tượng, khó gỡ ra trong tâm trí người đọc
Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật kết hợp với nghệ thuật thuật sử dụng ngôn từ:
Trong truyện ngắn, bằng bút lực tài tình Nam Cao đã thu hút bạn đọc trước nghệ thuật miêu tả diễn biến tâm lý của nhân vật một cách logic, liên kết Mỗi nhân vật, dù là
Trang 23Chí Phèo, Thị Nở hay Bá Kiến… Nam Cao đều tập trung xoáy sâu vào cảm xúc, tâm lý được thể hiện qua từng lời thoại, ý nghĩ, hành động hay cả các sự vật ngoại cảnh xung quanh Điều này được diễn tả qua cách sử dụng hình ảnh, ngôn từ hàm súc, hợp lý
Chẳng hạn như khi miêu tả tâm lý của nhân vật Chí Phèo: Tưởng rằng Chí sẽ trượt
dài trên con đường tha hóa, lưu manh nhưng Chí hoàn toàn thay đổi sau cái đêm ăn nằm
với Thị Nở, một người đàn bà xấu đến ma chê quỷ hờn Sau bao ngày tháng ngủ mê, chính Thị Nở đã đánh thức lương tri, soi rọi vào chốn tối tăm của tâm hồn Chí Phèo, để thức tỉnh gọi dậy bản tính nơi Chí, thắp sáng một trái tim đã ngủ mê qua bao ngày tháng bị vùi dập, hắt thủi Nam Cao sử dụng các từ ngữ miêu tả ngoại cảnh để thấy rõ được bước đầu trong
sự giác ngộ của Chí: Lần đầu tiên trong cuộc đời, Chí tỉnh dậy chợt nhận ra “nơi căn lều
ẩm ướt ướt là ánh nắng ngoài kia rực rỡ biết bao, nghe được tiếng chim hót vui vẻ quá, tiếng Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá trên sông, tiếng lao xao của người đi chợ bán vải về”…Những âm thanh ấy ngày nào chả có, nhưng hôm nay chỉ mới nghe thấy Chao ôi
là buồn! chính cuộc sống đã lay động trong tiềm thức xa xôi của Chí, nó như cơn gió thổi tung đám tro tàn, nguội lạnh Từng giọt nước nhỏ vào tâm hồn sỏi đá, cằn khô làm tan đi giá băng tâm hồn Hơn hết, nó làm sống dậy ước mơ thời trai trẻ, “có một gia đình nho nhỏ, chồng quốc mướn, vợ dệt vải, chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng Khá giả thì
mua dăm ba sào ruộng, rồi cũng trong cái phút giây tỉnh táo ấy, Chí như đã thấy tuổi già của hắn, đói rét, ốm đau, cô độc, cái này còn sợ hơn đói rét và ốm đau Phải chăng Chí đang hối hận và ăn năn những việc mình đã làm” Chẳng biết có phải hay không mà chỉ thấy trong lòng buồn man mác, và nếu Thị nở không qua, chắc chí sẽ khóc mất Và rồi
chính bàn tay ân cần của Thị Nở cùng với tình yêu của Thị đã khơi dậy trong Chí phần
người Bát cháo hành chính là liều thuốc giải độc góp phần thức tỉnh phần người trong con quỷ dữ Kỳ diệu làm sao bát cháo hành Thị Nở một liều tiên dược vừa giải cảm, vừa giải
độc Cháo hành đã gột rửa đi men rượu, gột rửa những tội lỗi con người Cháo hành có hương vị đặc biệt, những kẻ vô nhân tính như cha con nhà Bá Kiến làm sao mà hiểu được
Đó là hương vị của tình người, hương vị của tình yêu, khi mà cả làng Vũ Đại không chấp nhận Chí là con người, thì Thị Nở đã giang rộng vòng tay để đón lấy anh và bát cháo hành
kia vô hình đã sưởi ấm cho trái tim nguội lạnh và mở đầu cho một mối thiên duyên Bát
cháo hành giản dị, nhưng bao nhiêu tình ẩn chứa nó, giữ chân Chí Phèo ở lại ở bên kia của phần người
=> Các ngoại cảnh, nhân vật xuất hiện như “Thị Nở, bát cháo hành, căn lều ẩm ướt…” được lựa chọn và diễn tả qua từ ngữ vào đúng thời điểm, đúng mạch Tất cả những biểu hiện tâm lý và cách sử dụng ngôn ngữ tài tình đó rất hợp với logic hoàn cảnh, diễn biến của cốt truyện Đẩy câu chuyện lên đỉnh điểm và lôi cuốn hơn, khiến cho tính cách, con người nhân vật Chí Phèo được bộc lộ một cách rõ nét
c Chức năng tiếp xúc