Đối ngoại là toàn bộ mục tiêu, nhiệm vụ, phương hướng, nguyên tắc, phương châm, biện pháp mà quốc gia theo đuổi trong quan hệ với các quốc giakhác hoặc chủ thể khác trong cộng đồng quốc
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA QUAN HỆ QUỐC TẾ - -
BÀI TIỂU LUẬN MÔN: LỊCH SỬ NGOẠI GIAO & CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VIỆT
Hà Nội – tháng 12 năm 2022
Trang 2HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA QUAN HỆ QUỐC TẾ - -
BÀI TIỂU LUẬN MÔN: LỊCH SỬ NGOẠI GIAO & CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VIỆT
NAM
Đề tài: Tác động của cục diện thế giới và khu vực đến mặt trận ngoại giao
& chính sách đối ngoại của Việt Nam giai đoạn 1954-1975
Sinh viên thực hiện: Vũ Thu Ngân
Mã sinh viên: 2056100030Lớp: Thông tin đối ngoại 40Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Thị Quế
Hà Nội – tháng 12 năm 2022
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1 Lý do chọn đề tài 5
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 5
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Kết cấu tiểu luận: 5
NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ ĐỐI NGOẠI, NGOẠI GIAO VÀ LỊCH SỬ ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM 6
1.1 Một số khái niệm và khái lược lịch sử đấu tranh ngoại giao 6
1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại 8
1.3 Quan điểm và chủ trương của Đảng về đấu tranh ngoại giao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước 15
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH THẾ GIỚI VÀ KHU VỰC GIAI ĐOẠN 1954-1975.16 2.1 Tình hình thế giới 16
2.2 Bối cảnh khu vực 18
CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG CỦA CỤC DIỆN THẾ GIỚI VÀ KHU VỰC ĐẾN CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1954-1975 22
3.1 Đường lối đối ngoại Việt Nam giai đoạn 1954-1975 22
3.2 Những thắng lợi trong đường lối đối ngoại và trên mặt trận ngoại giao Việt Nam giai đoạn 1954-1975 Bài học kinh nghiệm 29
CHƯƠNG 4: ĐẢNG TA TIẾP TỤC KẾ THỪA, PHÁT TRIỂN VÀ VẬN DỤNG NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀO CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI THỜI KỲ ĐỔI MỚI 31
KẾT LUẬN 34
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Ngoài ra, đề tài cũng sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử, tổng hợp và khái quát hóa…
5 Kết cấu tiểu luận:
Chương 1: Lý luận về đối ngoại, ngoại giao và lịch sử đấu tranh ngoạigiao của cách mạng Việt Nam
Chương 2: Tình hình thế giới và khu vực giai đoạn 1954-1975
Chương 3: Tác động cục diện thế giới và khu vực đến chính sách đối ngoại Việt Nam giai đoạn 1954-1975
Chương 4: Đảng ta tiếp tục kế thừa, phát triển và vận dụng những bài học kinh nghiệm vào công tác xây dựng đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới
Trang 5NỘI DUNG CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ ĐỐI NGOẠI, NGOẠI GIAO VÀ LỊCH SỬ ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM.
1.1 Một số khái niệm và khái lược lịch sử đấu tranh ngoại giao.
Còn ngoại giao được hiểu là: Là hoạt động của nhà nước trong lĩnh vực đối ngoại, ngoại giao là công cụ quan trọng nhất, công cụ hòa bình thực hiện chính sách đối ngoại của quốc gia; Là tất cả các cơ quan chuyên trách về quan
hệ đối ngoại ở trung ương cũng như ở nước ngoài và những cán bộ làm công tác ngoại giao nhà nước; Là nghề nghiệp của các nhà ngoại giao; Là khoa học
và nghệ thuật, trước hết là nghệ thuật đàm phán; Mang tính giai cấp sâu sắc
Lịch sử đấu tranh ngoại giao.
Đấu tranh ngoại giao là một trong những nội dung quan trọng, xuyên suốt chiều dài lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc, góp phần giữ yên bờ cõi, bảo vệ nền độc lập, khẳng định chủ quyền quốc gia
Nghệ thuật đấu tranh ngoại giao Việt Nam trải qua hàng nghìn năm lịch sử với các giai đoạn: Từ thời kỳ Bắc thuộc, đến khi các vua Hùng dựng nước, tiếp
đó là thời kỳ xuất hiện các nhà nước phong kiến tự chủ đến khi Đảng Cộng sảnViệt Nam thành lập dưới sự dẫn dắt của Chủ tịch Hồ Chí Minh Với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm, trải qua sự trị vì, cai quản của các triều đại phong kiếnViệt Nam từ nhà Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần đến nhà Hồ, Lê Sơ, Mạc, Tây
Trang 6Sơn và nhà Nguyễn, nghệ thuật ngoại giao của nước ta được nghiên cứu, phát triển, vận dụng khá hiệu quả, trở thành nội dung cốt lõi, xuyên suốt, đóng góp quan trọng vào bảo vệ, khẳng định nền độc lập, tự chủ, giữ gìn bản sắc văn hóadân tộc không bị đồng hóa bởi sự thống trị của các nền văn hóa ngoại bang.Truyền thống ngoại giao Việt Nam có những đặc điểm rất đáng tự hào, kiên định chủ trương “nội yên ngoại tĩnh”, thể hiện tinh thần hòa bình, hữu nghị, nhân văn, thân thiện với láng giềng, ngoại giao tâm công, lấy lẽ phải, công lý và chính nghĩa để thuyết phục lòng người Cùng với đấu tranh trên mặttrận quân sự, nhân dân ta còn linh hoạt vận dụng các chính sách ngoại giao mềm dẻo, khôn khéo nhưng thông minh,cứng rắn; khẳng định tư duy, trí tuệ, hào khí của một dân tộc không chịu khuất phục, không chịu làm chư hầu, lệ thuộc, bảo đảm “trong ấm, ngoài êm”, giữ yên bờ cõi Các chính sách ngoại giao của nước ta được thực thi một cách thiên biến vạn hóa, đa dạng, phù hợp với từng thời kỳ lịch sử, mang đậm nét đặc trưng, bản sắc văn hóa dân tộc, sắc thái chính trị của mỗi chế độ, triều đại phong kiến Việt Nam, nhưng đều nhằm giữ vững độc lập, tự chủ, ngăn chặn họa xâm lăng, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, xây dựng nền thái bình lâu bền cho nhân dân.
Trong bản sắc của ngoại giao Việt Nam, tinh thần độc lập, tự cường và bảođảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc là nguyên tắc bất biến Đây được xem
là sợi chỉ đỏ xuyên suốt chiều dài lịch sử, xuất phát từ tinh thần yêu nước của dân tộc - không trông đợi vào bên ngoài, mà phải dựa vào chính mình để bảo
vệ lợi ích chân chính của đất nước, dân tộc
Kiên quyết, kiên trì, vừa đánh vừa đàm, biết thắng từng bước để đạt thắng lợi cuối cùng, cũng là một trong những bản sắc truyền thống nổi bật của ngoại giao Việt Nam Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, do đặc điểm là quốc gia nhỏ, Việt Nam liên tục phải đấu tranh, đương đầu với các đế chế hùng mạnh gấp nhiều lần, luôn lăm le xâm chiếm , do đó, cần biết thắng từng bước để đạt thắng lợi cuối cùng
Trang 7quốc tế 100% (4)
12
Lsqhqt
quốc tế 100% (4)
14
ĐỀ CƯƠNG QHQTQuan hệ
quốc tế 100% (2)
27
Trang 8Ngoại giao Việt Nam luôn vì sự phát triển phồn vinh của dân tộc, điều này được chứng minh qua việc: Các hoạt động ngoại giao không chỉ phục vụ mục đích chính trị, quân sự, đấu tranh giữ vững độc lập, tự chủ của dân tộc, bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ đất nước, bảo toàn thể diện quốc gia, kiến tạo hòa bình chodân tộc, mà còn góp phần mở rộng các mối quan hệ giao lưu thương mại, tiếp nhận những giá trị tinh hoa văn hóa của nhân loại.
1.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại.
Là người khai sinh ra nền ngoại giao của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, ngày nay là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh hình thành và phát triển gắn liền với toàn bộ sự nghiệp hoạt động cách mạng của Người
Tư tưởng đối ngoại và đoàn kết quốc tế của Người đã thể hiện nổi bật trong hệ thống các tác phẩm báo chí, các bức thư, các lời kêu gọi, các tác phẩm chính luận của Người Các quan điểm đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển, hoàn thiện được thể hiện tập trung trong “Đường cách mệnh” (1927), Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt (1930), Chương trình 10 điểm của mặt trận Việt Minh (1944), Tuyên ngôn Độc lập (2.9.1945), thể hiện tập trung nhất trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta trong văn kiện Đại hội, Nghịquyết của Trung ương, nghị quyết của Bộ chính trị từ 1930 đến nay
Thực tiễn hoạt động cách mạng cùng nền tảng tri thức và vốn văn hóa đãkết tinh ở Hồ Chí Minh hệ thống tư tưởng toàn diện, sâu sắc Trong đó, tưtưởng của Người về đối ngoại chứa đựng nhiều nội dung không chỉ bền vữngqua thời gian, mà còn có những tư duy đi trước thời đại; thể hiện ở những điểmsau:
Một là, phải độc lập, tự chủ trong đối ngoại và hợp tác quốc tế
Độc lập, tự chủ là tư duy nổi bật, nhất quán trong toàn bộ hoạt độngchính trị của Hồ Chí Minh, nguyên lý chủ yếu của tư tưởng đó là “muốn người
ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã” Giữ vững độc lập, tự chủ
CHỨC NĂNG TƯ TƯỞNG CỦA BÁO…Quan hệ
quốc tế 83% (6)
34
Trang 9vừa là đường lối, vừa là nguyên tắc bất biến để bảo vệ tốt nhất lợi ích quốc gia
- dân tộc Đường lối và nguyên tắc đó cũng được kết tinh trong tư tưởng vàthực tiễn hoạt động đối ngoại của Hồ Chí Minh
Theo Người, độc lập là không phụ thuộc, không bắt chước, theo đuôi,giáo điều; tự chủ là chủ động suy nghĩ và làm chủ suy nghĩ của mình, tự chịutrách nhiệm trước nhân dân, trước đất nước, biết làm chủ bản thân và côngviệc Trong quan hệ quốc tế, Người khẳng định: “Độc lập nghĩa là chúng tôiđiều khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp ở ngoàivào”; và nhấn mạnh: “Độc lập mà không có quân đội riêng, ngoại giao riêng,kinh tế riêng Nhân dân Việt Nam quyết không thèm thứ thống nhất và độc lậpgiả hiệu ấy”
Như vậy, dân tộc Việt Nam độc lập, tự chủ, thống nhất không chỉ là toànvẹn về lãnh thổ mà ngoại giao, đối ngoại của dân tộc cũng phải độc lập, không
bị bất kỳ thế lực, lực lượng nào chi phối Trong quan hệ giữa các đảng thuộcphong trào cộng sản, công nhân quốc tế, Người xác định: “Các đảng dù lớn dùnhỏ đều độc lập và bình đẳng, đồng thời đoàn kết nhất trí giúp đỡ lẫn nhau”.Người cũng đã thể hiện rất cụ thể và sâu sắc mối quan hệ biện chứng, sựgắn kết giữa độc lập, tự chủ với mở rộng và tăng cường đoàn kết, hợp tác quốctế; giữa tự lực, tự cường với hợp tác và phát triển Trong mối quan hệ biệnchứng đó, “độc lập, tự chủ” luôn giữ vai trò quyết định, là nền tảng vững chắc
để đoàn kết quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân thế giới
Hai là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong công tác đối ngoại
Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân Đây là những nhân tố đặc biệt quan trọng trong ngoại giao với các nước lớn, quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam Tuy nhiên,không phải bao giờ yếu tố ngoại lực và nội lực cũng được nhận thức một cách đầy đủ Sự sùng ngoại hoặc bài ngoại quá mức cũng dẫn đến sự trì trệ trong quá trình phát triển
Trang 10Phát huy sức mạnh nội lực trước hết là phát huy sức mạnh của tập thể, cộng đồng Sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn lực nội sinhquan trọng, nó luôn được coi là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối, chiến lược của Đảng trong chiến tranh cũng như trong đổi mới, xây dựng và bảo vệ đất nước Sức mạnh thời đại là những yếu tố “ngoại lực”; có tác dụng hỗ trợ, bổ sung cho “nội lực”, là điều kiện không thể thiếu trong chiến lược đối ngoại của Việt Nam Hồ Chí Minh cho rằng, cần phải đưa phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam đi theo quỹ đạo cách mạng vô sản, đưa dân tộc Việt Nam hội nhập với trào lưu chung của thời đại
Mục tiêu của Đảng Cộng sản Việt Nam là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người Cuộc đấu tranh của nhân dân ta không tách rời mà gắn liền với cuộc đấu tranh của nhân dân các nước trên thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội Kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại đã trở thành quy luật của cách mạng Việt Nam, góp phần làm cho Việt Nam trở thành nước độc lập, thống nhất, xã hội chủ nghĩa Ngày nay, sức mạnh thời đại còn bao hàm cả hòa bình Sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại khi kết hợp
sẽ tạo ra nguồn lực to lớn, góp phần đưa cách mạng vượt qua khó khăn, thách thức
Trên cơ sở xác định vị trí, vai trò của từng nguồn sức mạnh, Người chỉ
rõ sự cần thiết phải chú trọng xây dựng và phát huy sức mạnh của công tác đốingoại nhân dân nhằm vận động được nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thếgiới ủng hộ sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước củaĐảng và nhân dân Việt Nam Bởi như Người khẳng định: “Sức mạnh, sự vĩ đại
và sự bền bỉ của nhân dân Việt Nam cơ bản là ở sự đoàn kết của nhân dân ViệtNam và sự ủng hộ của nhân dân thế giới ”
Ba là, luôn yêu chuộng hòa bình, chống chiến tranh xâm lược
Trang 11Tư tưởng yêu chuộng hòa bình, chống chiến tranh xâm lược được thểhiện từ rất sớm và luôn nhất quán trong suốt quá trình hoạt động cách mạngcủa Người Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Hồ Chí Minh viết Thưgửi những người Pháp ở Đông Dương (tháng 10-1945), thể hiện sự kính trọngđối với nhân dân Pháp, nêu lên những điểm tương đồng giữa hai dân tộc Việt -Pháp là khát vọng độc lập, tự do và kêu gọi: “Hỡi những người Pháp ở ĐôngDương! Các bạn không nghĩ rằng máu nhân loại đã chảy nhiều, rằng hòa bình -một nền hòa bình chân chính xây trên công bình và lý tưởng dân chủ - phảithay cho chiến tranh, rằng tự do, bình đẳng, bác ái phải thực hiện trên khắp cácnước không phân biệt chủng tộc và màu da ư?”.
Ngay cả khi phải tiến hành cuộc chiến tranh một mất một còn với đếquốc thực dân để giành độc lập dân tộc, Người cũng luôn tìm kiếm những cơhội đối thoại, đàm phán để tránh một cuộc chiến bạo lực phi nghĩa
Bốn là, luôn có tinh thần hòa hiếu, “thêm bạn, bớt thù”
Trong thực tiễn lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh luôn phân biệt rõgiữa bạn và thù, tìm cách giảm bớt kẻ thù, tránh đối phó với nhiều kẻ thù cùngmột lúc, xác định kẻ thù chính để tập trung mũi nhọn đấu tranh Người khẳngđịnh: “Muốn làm cách mạng thắng lợi thì phải phân biệt rõ ai là bạn ai là thù,phải thực hiện thêm bầu bạn, bớt kẻ thù” Để “thêm bạn, bớt thù”, Người chủtrương phân biệt giữa nhân dân yêu chuộng hòa bình với lực lượng phản động,hiếu chiến trong chính phủ của nước đối phương Trả lời phỏng vấn của nhàbáo Ôxtrâylia W.Bớcsét tháng 8-1963 và tháng 4-1964, Hồ Chí Minh khẳngđịnh: “Trước đây, chúng tôi đã chú ý phân biệt thực dân Pháp với nhân dânPháp yêu chuộng hòa bình, thì ngày nay chúng tôi cũng chú ý phân biệt nhândân Mỹ vĩ đại có truyền thống tự do, với bọn can thiệp Mỹ và bọn quân phiệt ởHoa Thịnh Đốn đang nâng đỡ chúng”; “ chúng tôi phân biệt nhân dân Mỹvới đế quốc Mỹ.”(11)
Như vậy, trong lực lượng của đối phương thì “thêm bạn” chính là “bớtthù”, khi đó nhân dân Việt Nam chỉ phải chống chính phủ hiếu chiến của Pháp
Trang 12và Mỹ chứ không phải chống toàn bộ nước Pháp và nước Mỹ Tương quan lựclượng vì thế đã xoay chuyển theo chiều hướng có lợi cho ta Trong khi kẻ thù
bị cô lập trên thế giới và ngay trong nội bộ đất nước mình thì sự nghiệp đấutranh giải phóng dân tộc của Đảng và nhân dân Việt Nam lại được cả nhânloại, kể cả nhân dân nước đi xâm lược - vượt lên tình cảm dân tộc - hết mìnhủng hộ
Năm là, xây dựng quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ
Tiếp cận với bản Sơ thảo lần thứ nhất Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin, Hồ Chí Minh thấy được sự cần thiết phải liên hiệp giữa các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới chống chủ nghĩa thực dân, đế quốc Với trách nhiệm của người cộng sản chân chính, Người đã nêu rõ nguyên nhân đầu tiên gây ra sự suy yếu của các dân tộc phương Đông là “Sự biệt lập” - hậu quả của chính sách “chia để trị” của bọn thực dân đế quốc Người chỉ ra: “Sẽ rất
có ích cho người An Nam biết bao, nếu họ được biết những người anh em Ấn
Độ của họ tự tổ chức như thế nào để đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc Anh, hoặc biết công nhân Nhật Bản đoàn kết nhau lại như thế nào để chống lại ách bóc lột của chủ nghĩa tư bản ”
Người kiến nghị với Ban phương Đông của Quốc tế Cộng sản những biện pháp nhằm tăng cường sự hiểu biết giữa các dân tộc ở phương Đông Vì theo Người: “Làm cho các dân tộc thuộc địa, từ trước đến nay vẫn cách biệt nhau, hiểu biết nhau hơn và đoàn kết lại để đặt cơ sở cho một Liên minh phương Đôngtương lai, khối liên minh này sẽ là một trong những cái cánh của cách mạng vô sản”
Trên báo L’Humanite (ngày 2/8/1919), Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “ Xét
về nguyên tắc, tiến bộ chung phụ thuộc vào việc phát triển chủ nghĩa quốc tế
và văn minh chỉ có lợi khi các quan hệ quốc tế được mở rộng và tăng cường.”
Trang 13Năm 1921, Người chủ trì và sáng lập tổ chức Hội liên hiệp thuộc địa và xuất bản tờ báo Người cùng khổ (Le Paria) Trong lời kêu gọi thành lập Hội, Người viết: Đồng bào thân mến, nếu câu phương ngôn “Đoàn kết làm ra sức mạnh” không phải là một câu nói suông, nếu đồng bào muốn giúp đỡ lẫn nhau, nếu đồng bào muốn bênh vực cho quyền lợi của bản thân mình, cũng như quyền lợi của tất cả đồng bào ở các xứ thuộc địa, hãy gia nhập Hội liên hiệp thuộc địa”.Hội này và báo Le Paria- tờ báo đầu tiên trên thế giới lấy đối tượng phục
vụ là các dân tộc thuộc địa - đã góp phần tích cực thức tỉnh các dân tộc thuộc địaPháp đứng lên làm cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, thực hiện đoàn kết quốc
tế Trong thời kỳ hoạt động tại Trung Quốc, Người đã cùng các đồng chí Trung Quốc, Ấn Độ, Triều Tiên, Inđônêxia, Miến Điện thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức (1925) nhằm đoàn kết các dân tộc nhỏ yếu bị áp bức trong một
tổ chức cách mạng vì mục tiêu giải phóng đất nước khỏi ách thực dân
Trong những năm 1938 - 1940, Hồ Chí Minh hoạt động và chiến đấu bên cạnh nhân dân Trung Quốc do Đảng Trung Quốc lãnh đạo Hoạt động này của Người đã gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng Trung Quốc, tạo cơ sở vững chắc cho quan hệ đoàn kết Việt -Trung
Sau ngày Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, Bác Hồ đã dành thời gian suy nghĩ đến việc mở rộng quan hệ quốc tế nhằm phát triển kinh tế-xã hội đất nước Việc đầu tiên mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nghĩ đến là cử cán bộ học tập khoa học-kỹ thuật tiên tiến của nước ngoài
Song tư tưởng chiến lược kinh tế mở được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập tập trung, đầy đủ và rõ ràng nhất trong bức thư “Lời kêu gọi Liên hợp quốc” (tháng 12/1946), với những nội dung chính: “Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực: Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà
kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình; Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán
Trang 14và quá cảnh quốc tế; Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc; Nước Việt Nam sẵn sàng kýkết với các lực lượng hải quân, lục quân trong khuôn khổ của Liên hợp quốc những hiệp định an ninh đặc biệt và những hiệp ước liên quan đến việc sử dụng một vài căn cứ hải quân và không quân.” Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, các dân tộc phải mở cửa giao lưu, quan hệ bình đẳng, cùng có lợi và phê phán tư tưởng biệt lập giữa dân tộc này với dân tộc khác.
Từ 1954 trở đi, Người dành nhiều sự quan tâm và đóng góp tích cực trongviệc xây dựng khối đoàn kết giữa các thuộc địa ở châu Á là Việt Nam, Ấn Độ, Inđônêxia, Miến Điện đặc biệt là khối đoàn kết giữa ba nước Đông Dương là Việt - Miến - Lào Suốt quá trình cách mạng, với những quan điểm trên, đã thể hiện tư duy nhìn xa trông rộng của Bác Hồ
Thời gian này, mặc dù tình hình thế giới diễn biến phức tạp, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn cố gắng tìm cách mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trên thế giới để vừa tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước bạn cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đồng thời, cũng để xây dựng mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam đấu tranh thống nhất đất nước.Với tư duy của một lãnh tụ thiên tài, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện chính sách đối ngoại đúng đắn với các nước làm cơ sở cho việc hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta hiện nay và sau này
Sáu là, nhất quán phương châm “Dĩ bất biến ứng vạn biến” trong hoạt động đối ngoại.
“Dĩ bất biến ứng vạn biến” là câu nói được Hồ Chí Minh nêu lên lần đầutiên vào ngày 31-5-1946, khi Người trao nhiệm vụ thiêng liêng giữ gìn nền độclập của Tổ quốc vừa giành lại được cho cụ Huỳnh Thúc Kháng; Người căndặn: “Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khókhăn nhờ cậy ở Cụ cùng anh em giải quyết cho, mong Cụ “Dĩ bất biến ứng vạnbiến”
Trang 15“Dĩ bất biến ứng vạn biến” là lấy cái không thể thay đổi (bất biến) đểứng phó với muôn sự thay đổi (vạn biến) Theo đó, cái “bất biến” là lợi ích củaquốc gia, dân tộc, độc lập dân tộc, chủ quyền là cốt lõi; cái “vạn biến” làcách ứng phó tài tình, khéo léo, linh hoạt, kết hợp hài hòa giữa mềm dẻo vàkiên quyết, giữa chiến lược và sách lược, giữa cương và nhu, giữa chủ động vàsáng tạo trong những tình huống cụ thể Để thực hiện “ứng vạn biến”, điềuquan trọng là phải đánh giá đúng tình hình quốc tế và sự tác động đối với nước
ta, cả mặt thuận và khó khăn
1.3 Quan điểm và chủ trương của Đảng về đấu tranh ngoại giao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Trong tình hình đất nước tạm thời bị chia cắt thành hai miền, Đảng và Chính phủ đề ra cho cách mạng mỗi miền những nhiệm vụ chiến lược phù hợp với đặc điểm tình hình và yêu cầu của cách mạng từng miền, nhằm chấm dứt tình trạng đất nước bị chia cắt
Ở miền Bắc, sau khi kháng chiến chống Pháp kết thúc, cuộc cách mang dân tộc dân chủ nhân dân căn bản hoàn thành, Đảng chủ trương chuyển sang xây dựng chủ nghĩa xã hội Trước khi bắt đầu những nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Bắc phải trải qua giai đoạn đấu tranh đòi phía Pháp thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ, tiếp quản vùng mới giải phóng, hoàn thành cải cách ruộng đất, hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế Xây dựngchủ nghĩa xã hội còn nhằm xây dựng miền Bắc thành căn cứ địa cách mạng của
cả nước và là hậu phương cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của toàn dân tộc
Ở miền Nam, do vẫn còn dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, Đảng chủ trương tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Mở đầuthời kỳ ta đấu tranh đòi Mỹ-Diệm thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Giơnevơ
1954 về Việt Nam Trong quá trình diễn biến, cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân phát triển thành cuộc chiến tranh nhân dân, chiến tranh giải phóng dân tộc chống cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của Mỹ, nhằm giải phóng
Trang 16miền Nam, bảo vệ miền Bắc, phối hợp với cuộc chiến đấu của nhân dân hai nước Lào và Campuchia
Hai miền đồng thời thực hiện những nhiệm vụ, mục tiêu chung của cách mạng cả nước là đánh Mỹ và bọn tay sai của chúng, giải phóng miền Nam, bảo
vệ miền Bắc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thống nhất đất nước, tạo điều kiện để cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần bảo vệ hoà bình ở Đông Nam Á và thế giới Trong việc thực hiện những nhiệm
vụ, mục tiêu chung của cách mạng cả nước, cách mạng mỗi miền có vị trí và vaitrò khác nhau Miền Bắc là hậu phương, có vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng cả nước và sự nghiệp thống nhất đất nước Miền Nam là tiền tuyến có vai trò quyết định trực tiếp trong việc đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH THẾ GIỚI VÀ KHU VỰC GIAI ĐOẠN 1975.
1954-2.1 Tình hình thế giới
Ngoại giao có vài trò rất quan trọng trong giai đoạn 1954-1975, cũng chính
là thời kỳ diễn ra cuộc kháng chiến chống Mỹ Với chủ trương “vừa đánh vừa đàm”, ngoại giao kết hợp với quân sự, chúng ta đã từng bước giành thắng lợi
và đi đến thắng lợi hoàn toàn
* Thuận lợi
Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam diễn ra vào thời kỳ cao điểm của chiến tranh lạnh Thế giới hình thành hai phe chống đối nhau gay gắt bằng chiến tranh lạnh và chạy đua vũ trang Mỹ xâm lược Việt Nam vì lợi ích chiến lược toàn cầu Liên Xô luôn theo đuổi mục tiêu cân bằng chiến lược với Mỹ Trung Quốc nhằm mục tiêu vươn lên thành cường quốc thứ ba Liên
Xô, Trung Quốc vừa giúp Việt Nam vừa sử dụng vấn đề Việt Nam để chống hai nước lớn kia Chiến tranh Việt Nam, về mặt quốc tế, luôn nằm trên trục chuyển động của ba cặp quan hệ Mỹ-Xô, Mỹ-Trung, Xô-Trung Thất bại ở Việt Nam,
Trang 17Mỹ hoà hoãn với Liên Xô, Trung Quốc cùng hai nước này dàn xếp vấn đề Việt Nam, hình thành “tam giác chiến lược Mỹ-Xô-Trung”, tác động mạnh mẽ tới diễn biến chiến tranh.
Sau Điện Biên Phủ, phong trào giải phóng dân tộc lên cao, đưa tới việc hình thành lực lượng thứ ba Năm 1961, chính thức ra đời phong trào Không liên kết, năm 1963, tổ chức Thống nhất châu Phi và năm 1966 tổ chức Đoàn kết
ba châu ra đời
Thời kỳ này phong trào đấu tranh cho hoà bình, dân chủ, tiến bộ xã hội trên thế giới lên mạnh Thông tin bùng nổ, lương tri loại người thức tỉnh Các tầng lớp nhân dân, tổ chức chính trị, xã hội, tôn giáo của các nước đều ủng hộ sựnghiệp chính nghĩa của các dân tộc
Phong trào cách mạng thế giới cũng trải qua những thăng trầm Phong trào
xã hội chủ nghĩa khủng hoảng về đường lối, không thống nhất quan điểm, sáchlược đấu tranh Phong trào Không liên kết thời đầu không nhất trí về mục tiêu
và phương hướng hành động
Nổi cộm nhất là mâu thuẫn Xô-Trung, hai đồng minh chiến lược của Việt Nam Mâu thuẫn và đối chọi nhau ngay cả trên vấn đề Việt Nam và giúp Việt Nam Mâu thuẫn lợi ích đưa tới xung đột vũ trang trên biên giới hai nước.Đặc điểm lớn nhất trong cuộc chiến tranh là tương quan giữa hai bên tham chiến Mỹ là nước giàu mạnh; Việt Nam là nước nghèo Có nhà nghiên cứu nói
Trang 18về thực lực, Mỹ mạnh hơn Việt Nam một ngàn lần Cũng khó đo đếm, nhưng nếu tính riêng về sự giàu có, về tiềm lực kinh tế, đúng là Mỹ hơn Việt Nam đếnngàn lần Việt Nam có chỗ mạnh áp đảo về chính trị, chiến đấu vì độc lập dân tộc Mỹ làm chiến tranh phi nghĩa, chỗ yếu của Mỹ là về chính trị.
Do đặc điểm của thời đại, Mỹ dùng ngoại giao để khắc phục chỗ yếu về chính trị - Mỹ sử dụng thế ngoại giao, đặt ngoại giao thành một bộ phận của chiến lược chiến tranh Trong cuộc họp tại Nhà trắng ngày đầu chiến tranh, Johnson nói: “Cuộc chiến tranh này giống như một trận đấu ăn giải Tay phải tanắm lực quân sự, song tay trái cần có các đề nghị hòa bình Mỗi khi đưa quân lên phía trước, thì cũng đưa các nhà ngoại giao lên phía trước Các vị tướng cần đưa quân nhiều hơn nữa; song Bộ Ngoại giao cũng phải cung cấp cho tôi thêm cái gì nữa ” Chính vì vậy mà thời kỳ Mỹ leo thang (1965-1966), Mỹ mởnhiều “chiến dịch hòa bình” và không ngớt lời đòi Hà Nội “thương lượng không điều kiện” với Mỹ Rồi suốt cuộc chiến tranh, Mỹ đều dùng ngoại giao
và đàm phán trên thế mạnh để che chắn cho quân Mỹ ở chiến trường
2.2 Bối cảnh khu vực.
Sự thất bại của Nhật vào tháng 8 năm 1945 kéo theo sự nổi lên của một nền Hòa bình kiểu Mỹ ở Châu Á- Thái Bình Dương trong thời kì hậu Chiến tranh thế giới lần thứ 2 Mặc dù Chiến tranh Lạnh ở Châu Á- Thái Bình Dươngđược đặc trưng bởi cấu trúc tam cực, với Mỹ, Trung Quốc và Liên Xô đứng đầu mỗi cực, cũng như sự dịch chuyển tương quan lực lượng trong trật tự hình tam giác này, nhưng yếu tố trung tâm lại chính là địa vị ưu việt, hay như quan điểm của một số người, là vị thế bá quyền của Mỹ Không giống như Tây Âu, nơi vai trò lãnh đạo an ninh của Mỹ được đặt trong cấu trúc đa phương xoay quanh NATO, một hệ thống các liên minh song phương được coi như là xươngsống của quan hệ an ninh trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương Cố gắng duy nhất trong việc xây dựng liên minh đa phương thời kì Chiến tranh Lạnh đãthất bại: Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO) được thành lập năm 1954
và bao gồm Australia, Anh, Pháp, New Zealand, Pakistan (cho tới năm 1973),
Trang 19Philippines, Thái Lan và Mỹ Sự hợp tác không bao giờ thực sự đạt được vì mức độ da dạng cao giữa các thành viên SEATO cuối cùng tan rã vào năm
1977 Một hệ thống các hiệp ước an ninh song phương mà Mỹ khởi xướng với các đồng minh chủ chốt của nó tại Châu Á- Thái Bình Dương là Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Philippines sau Chiến tranh thế giới lần thứ 2 đã tỏ ra
là một sự thay thế triển vọng hơn cho chủ nghĩa đa phương
Trong các đồng minh, trục đồng minh Mỹ – Nhật nổi lên như là mối quan
hệ quan trọng nhất Năm 1951, Mỹ và Nhật kí Hòa ước San Francisco và các Hiệp ước An ninh Tương hỗ hết sức bất bình đẳng Trong khi Hòa ước San Francisco chính thức chấm dứt tình trạng chiếm đóng của Mỹ ở Nhật, Hiệp ước An ninh Tương hỗ đưa Nhật lên vị thế vệ tinh quân sự của Mỹ Năm 1960,một hiệp ước quốc phòng song phương giữa hai nước nâng cao vị thế của Nhật
vì nó loại bỏ các quy định trước đây cho phép Mỹ can thiệp vào chính trị Nhật,cung cấp một chiếc “ô hạt nhân” và buộc Mỹ phải có nghĩa vụ bảo vệ Nhật nếuNhật bị tấn công Hiệp ước đó cũng đòi hỏi Washington phải thảo luận với Tokyo về việc sử dụng các căn cứ quân sự đặt tại Nhật Đồng thời, hiệp ước quân sự càng gắn kết Nhật hơn nữa vào bàn cờ chiến lược an ninh và quốc phòng Chiến tranh Lạnh toàn cầu của Mỹ với tư cách là một con cờ quan trọng(xem phân tích sâu hơn tại Umbach 2000)
Kiến trúc an ninh Chiến tranh Lạnh của Châu Á- Thái Bình Dương đặc biệt khác với Châu Âu, không chỉ về cấu trúc mà còn về cả tác động Trong khicân bằng quyền lực Mỹ – Xô giữ cho Châu Âu được ổn định và an toàn thì sự đối lập về chính trị và ý thức hệ giữa hai cường quốc đã dẫn tới những xung đột an ninh trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương Trên thực tế, hai “cuộc chiến tranh nóng” thời Chiến tranh Lạnh lại xảy ra ở Đông Á, đó là ở Triều Tiên (1950-53) và Việt Nam (1965-73)
Khoảng từ năm 1949 đến 1975, sự hiện diện của Mỹ ở khu vực Châu Á- Thái Bình Dương chủ yếu nhằm phục vụ chiến lược chống cộng toàn cầu của