Nhìn chung triết học Hy Lạp cónhững đặc trưng sau:- Thể hiện thế giới quan, ý thức hệ và phương pháp luận của giai cấp chủnôthống trị.- Có sự phân chia và các sự đối lập rõ ràng giữa các
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN KHOA TRIẾT HỌC
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN Môn: LỊCH SỬ TRIẾT HỌC PHƯƠNG TÂY
Đề tài: Đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm trong triết học Hy Lạp cổ đại
Giảng viên hướng dẫn: Bùi Thị Thanh HươngSinh viên: Nguyễn Thu Phúc
Mã sinh viên: 2050010037
Lớp: Triết k40
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 2
I HOÀN CẢNH RA ĐỜI VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI 2
II NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC HI LẠP CỔ ĐẠI 4 III MỘT SỐ TRIẾT GIA TIÊU BIỂU CỦA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI 5 1 Hêraclit (520 – 460 tr CN) 5
2 Đêmôcrít (khoảng 460 – 370 tr CN) 6
3 Platôn (427 – 347 tr CN) 7
4 Arixtốt (384 – 322 tr CN) 9
IV ĐẤU TRANH GIỮA CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA DUY TÂM TRONG TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI 12
KẾT LUẬN 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 3MỞ ĐẦU
Triết học ra đời gần như cùng một thời gian (khoảng từ thế kỷ VIII đến thế
kỷ VI TCN) tại một số trung tâm văn minh cổ đại như Trung Hoa, Ấn Độ,
Hy Lạp Các nền Triết học này đóng vai trò quan trọng, nền tảng và là khởinguồn cho các hệ thống lý luận xuất hiện và tồn tại đến tận ngày nay
Có thể nói lịch sử triết học là lịch sử đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủnghĩa duy tâm Đây là một trong những quy luật nội tại của sự phát triển các
tư tưởng triết học trong lịch sử Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật vàchủ nghĩa duy tâm trong triết học Hy Lạp cổ đại diễn ra rất gay gắt
Từ lý do trên em xin phép làm rõ vấn đề “Đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật
và chủ nghĩa duy tâm trong triết học Hy Lạp cổ đại.”
Trang 4các quan hệ xã hội Đó là sự ra đời của xã hội có giai cấp đầu tiên trong lịchsử-chế độ chiếm hữu nô lệ Hy Lạp cổ đại trước đây là một vùng lãnh thổrộng lớn bao gồm phần đất liền và vô số hòn đảo lớn nhỏ trên biển Egie,vùng duyên hải Ban căng và Tiểu Á Sự thuận lợi về thiên nhiên, địa lý đãtạo điều kiện cho Hy Lạp nhanh chóng phát triển tất cả các lĩnh vực, mởrộng bang giao, tiếp nhận nhiều giá trị văn hoá Vì vậy, nơi đây đã hội tụ đầy
đủ những điều kiện để tư duy con người có dịp bay bổng, để thoả sức sángtạo ra những giá trị triết học có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong lịch sử tưtưởng của nhân loại Xứng đáng là chiếc nôi của nền văn minh châu Âu vàcủa cả nhân loại Đúng như Ph.Ăngghen nhận xét: "Không có chế độ nô lệthì không có quốc gia Hy Lạp, không có nghệ thuật và khoa học Hy Lạp,không có chế độ nô lệ thì không có đế quốc La Mã mà không có cái cơ sở lànền văn minh Hy Lạp và đế quốc La Mã thì không có châu Âu hiện đạiđược" Sự hình thành triết học Hy Lạp không diễn ra một cách ngẫu nhiên
mà là kết quả tất yếu của việc kế thừa những di sản tinh tuý của truyền thốngtrong sáng tác dân gian, trong thần thoại, trong các mầm mống của tri thứckhoa học (khoa học tự nhiên) Hy Lạp cổ đại là đất nước của thi ca, thầnthoại Thần thoại là nơi để con người tưởng tượng, diễn giải về các hiệntượng thiên nhiên kỳ bí mà còn là nơi thể hiện đời sống tâm linh, sự hìnhthành số phận cũng như muôn mặt của đời sống thường ngày Thần thoại lànơi đầu tiên để tư duy triết học ra đời và từng bước triết học tách khỏi thầnthoại, tự mình tư duy về tự nhiên, đạo đức, về xã hội, về lẽ sống, về chân lý,
về con người… Những tinh hoa về toán học, thiên văn học, địa lý, hệ thống
đo lường, lịch pháp,…đã xuất hiện do nhu cầu buôn bán, vượt biển đến cácnước phương Đông Vì vậy, các nhà triết học đầu tiên của Hy Lạp cũng lànhững người đã nhiều lần đến phương Đông và nhiều vùng đất khác Nhưvậy, có thể thấy rằng sự ra đời của triết học Hy Lạp cổ đại là một tất yếu-đó
Trang 5là kết quả nội sinh của cả một dân tộc, một thời đại C.Mác viết: "Các nhàtriết học không phải những cây nấm mọc trên đất Họ là sản phẩm của thờiđại mình, dân tộc mình mà những tinh lực tinh tế nhất, quý giá nhất và khónhìn thấy nhất đã được suy tư trong các khái niệm triết học" Triết học HyLạp cổ đại phát triển qua 3 thời kỳ sau: - Triết học thời kỳ tiền Xôcrat (thời
kỳ sơ khai) - Triết học thời kỳ Xôcrat (thời kỳ cực thịnh) - Triết học thời kỳ
- Thể hiện thế giới quan, ý thức hệ và phương pháp luận của giai cấp chủnôthống trị
.- Có sự phân chia và các sự đối lập rõ ràng giữa các trào lưu, trường phái,duy vật - duy tâm, biện chứng - siêu hình, vô thần - hữu thần
- Gắn bó mật thiết với khoa học tự nhiên để tổng hợp mọi hiểu biết về cáclĩnh vực khác nhau, nhằm xâydựng một bức tranh về thế giới như một hìnhảnh chỉnh thể thống nhất mọi sự vật, hiện lại xảy ra trong nó
- Đã xây dựng nên phép biện chứng chất phác, hoang sơ
Trang 6III MỘT SỐ TRIẾT GIA TIÊU BIỂU CỦA TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
1 Hêraclit (520 – 460 tr CN)
Hêraclit là nhà biện chứng nổi tiếng ở Hy Lạp cổ đại Khác với các nhàtriết học phái Milê, Hêraclit cho rằng không phải là nước, apeirôn, khôngkhí, mà chính lửa là nguồn gốc sinh ra tất thảy mọi sự vật
“Mọi cái biến đổi thành lửa và lửa thành mọi cái tựa như trao đổi vàngthành hàng hóa và hàng hóa thành vàng” Lửa không chỉ là cơ sở của mọivật mà còn là khởi nguyên sinh ra chúng “Cái chết của lửa – là sự ra đờicủa không khí, và cái chết của không khí là sự ra đời của nước, từ cáichết của nước sinh ra không khí, từ cái chết của không khí – lửa, vàngược lại”
Bản thân vũ trụ không phải do chúa Trời hay một lực lượng siêu nhiênthần bí nào tạo ra Nó “mãi mãi đã, đang và sẽ là ngọn lửa vĩnh viễn đangkhông ngừng bùng cháy và tàn lụi”
Ví toàn bộ vũ trụ tựa như ngọn lửa bất diệt, Hêraclit đã tiếp cận đượcvới quan niệm duy vật nhấn mạnh tính vĩnh viễn và bất diệt của thế giới – Dưới con mắt của Hêraclit, mọi sự vật trong thế giới của chúng ta đềuthay đổi, vận động, phát triển không ngừng
Luận điểm bất hủ của Hêraclit: “Chúng ta không thể tắm hai lần trêncùng một dòng sông”
– Hêraclit thừa nhận sự tồn tại và thống nhất của các mặt đối lập
nhưng trong các mối quan hệ khác nhau.
Trang 7Triết học
8
Những thành tựu của nền triết học Hy Lạ…
Triết học
19
Trắcnghiệmtriết trắc nghiệm triết
Trang 8Chẳng hạn, “một con khỉ dù đẹp đến đâu nhưng vẫn là xấu nếu đem so nóvới con người”.
Vũ trụ là một thể thống nhất, nhưng trong lòng nó luôn luôn diễn ra cáccuộc đấu tranh giữa các sự vật, lực lượng đối lập nhau
Nhờ các cuộc đấu tranh đó mà mới có hiện tượng sự vật này chết đi, sựvật khác ra đời Điều đó làm cho vũ trụ thường xuyên phát triển và trẻmãi không ngừng Vì thế, đấu tranh là vương quốc của mọi cái, là quyluật phát triển của vũ trụ Bản thân cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lậpluôn diễn ra trong sự hài hoà nhất định
Nguyên tử có vô vàn hình dạng Theo quan niệm của Đêmôcrít, các sựvật là do các nguyên tử liên kết lại với nhau tạo nên Tính đa dạng củanguyên tử làm nên tính đa dạng của thế giới các sự vật
Nguyên tử tự thân, không vận động, nhưng khi kết hợp với nhau thànhvật thể thì làm cho vật thể và thế giới vận động không ngừng
– Linh hồn, theo Đêmôcrít, cũng là một dạng vật chất, được cấu tạo từcác nguyên tử đặc biệt có hình cầu, linh động như ngọn lửa, có vận tốc
Triết - Triết học mác lenin
Triết học
214
Trang 9lớn, luôn luôn động và sinh ra nhiệt làm cho cơ thể hưng phấn và vậnđộng.
Do đó, linh hồn có một chức năng quan trọng là đem lại cho cơ thể sựkhởi đầu vận động Trao đổi chất với môi trường bên ngoài cũng là mộtchức năng của linh hồn và được thực hiện thông qua hiện tượng thở củacon người
Như vậy, linh hồn là không bất tử, nó chết cùng với thể xác
– Đêmôcrít phân nhận thức con người thành dạng nhận thức do các cơquan cảm giác đem lại và nhận thức nhờ lý tính
Nhận thức đem lại do cơ quan cảm giác là loại nhận thức mờ tối, chưađem lại chân lý
Còn nhận thức lý tính là nhận thức thông qua phán đoán và cho phépđạt chân lý, vì nó chỉ ra cái khởi nguyên của thế giới là nguyên tử, tính đadạng của thế giới là do sự sắp xếp khác nhau của các nguyên tử.– Đêmôcrít đã có những quan điểm tiến bộ về mặt đạo đức
Theo ông, phẩm chất con người không phải ở lời nói mà ở việc làm.Con người cần hành động có đạo đức
Còn hạnh phúc của con người là ở khả năng trí tuệ, khả năng tinh thầnnói chung, đỉnh cao của hạnh phúc là trở thành nhà thông thái, trở thànhcông dân của thế giới
3 Platôn (427 – 347 tr CN)
Platôn là nhà triết học duy tâm khách quan
Trang 10– Điểm nổi bật trong hệ thống triết học duy tâm của Platôn là học thuyết
là thế giới của đúng đắn, chân thực và các sự vật cảm biết chỉ là cái bóngcủa ý niệm
Nhận thức của con người, theo Platôn không phải là phản ánh các sựvật cảm biết của thế giới khách quan, mà là nhận thức về ý niệm Thế giới ý niệm có trước thế giới các vật cảm biết, sinh ra thế giới cảmbiết Ví dụ: cái cây, con ngựa, nước… là do ý niệm siêu tự nhiên về cáicây, con ngựa, nước… sinh ra Hoặc khi nhìn các sự vật thấy bằng nhau
là vì trong đầu ta đã có sẵn ý niệm về sự bằng nhau
Từ quan niệm trên, Platôn đưa ra khái niệm “tồn tại” và “không tồntại” “Tồn tại” theo ông là cái phi vật chất, cái được nhận biết bằng trí tuệsiêu nhiên, là cái có tính thứ nhất Còn “không tồn tại” là vật chất, cái cótính thứ hai so với cái tồn tại phi vật chất
Như vậy, học thuyết về ý niệm và tồn tại của Platôn mang tính chất duytâm khách quan rõ nét
– Lý luận nhận thức của Platôn cũng có tính chất duy tâm
Trang 11Theo ông, tri thức là cái có trước các sự vật cảm biết mà không phải là
sự khái quát kinh nghiệm trong quá trình nhận thức các sự vật đó Do vậynhận thức con người không phải là phản ánh các sự vật của thế giớikhách quan, mà chỉ là quá trình nhớ lại, hồi tưởng lại của linh hồn nhữngcái đã lãng quên trong quá khứ
Trên cơ sở đó, Platôn phân hai loại tri thức: tri thức hoàn toàn đúngđắn, tin cậy và tri thức mờ nhạt Loại thứ nhất là tri thức ý niệm, tri thứccủa linh hồn trước khi nhập vào thể xác và có được nhờ hồi tưởng Loạithứ hai lẫn lộn đúng sai, là tri thức nhận được nhờ vào nhận thức cảmtính, ở đó không có chân lý
– Những quan niệm về xã hội của Platôn thể hiện tập trung trong quan
niệm về nhà nước lý tưởng.
Ông đã phê phán ba hình thức nhà nước trong lịch sử và xem đó lànhững hình thức xấu Một là, nhà nước của bọn vua chúa xây dựng trên
sự khát vọng giàu có, ham danh vọng đưa tới sự cướp đoạt Hai là, nhànước quân phiệt là nhà nước của số ít kẻ giàu có áp bức số đông, nhànước đối lập giữa giàu và nghèo đưa tới các tội ác Ba là, nhà nước dânchủ là nhà nước tồi tệ, quyền lực thuộc về số đông, sự đối lập giàu –nghèo trong nhà nước này hết sức gay gắt
Còn trong nhà nước lý tưởng, sự tồn tại và phát triển của nhà nước lýtưởng dựa trên sự phát triển của sản xuất vật chất, sự phân công hài hoàcác ngành nghề và giải quyết mâu thuẫn giữa các nhu cầu xã hội
4. Arixtốt (384 – 322 tr CN)
– Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác coi Arixtốt là bộ óc bách khoa nhất
trong số các nhà tư tưởng cổ đại Hy Lạp.
Trang 12Triết học của ông cùng với triết học của Đêmôcrít và Platôn làm nên giaiđoạn phát triển cao nhất của triết học Hy Lạp.
Là bộ óc bách khoa, Arixtốt đã nghiên cứu nhiều ngành khoa học: triếthọc, lôgíc học, tâm lý học, khoa học tự nhiên, sử học, chính trị học, đạo đứchọc, mỹ học
– Sự phê phán của Arixtốt đối với Platôn là sự đóng góp quan trọng trong
– Giá trị của triết học Arixtốt còn thể hiện ở quan điểm về thế giới tự nhiên.
Tự nhiên là toàn bộ những sự vật có một bản thể vật chất mãi mãi vậnđộng và biến đổi Thông qua vận động mà giới tự nhiên được biểu hiện ra Vận động không tách rời vật thể tự nhiên Vận động của giới tự nhiên cónhiều hình thức: sự tăng và giảm; sự thay đổi về chất hay sự chuyển hóa; sự
ra đời và tiêu diệt; sự thay đổi trong không gian, v.v
Quan niệm về giới tự nhiên của Arixtốt cũng biểu hiện sự dao động giữachủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm Giới tự nhiên, theo ông vừa là vậtchất đầu tiên, cơ sở của mọi sinh tồn, vừa là hình dáng (cái đưa từ bên ngoàivật chất)
Nhận thức luận của Arixtốt có một vai trò quan trọng trong lịch sử triết học
Hy Lạp cổ đại.
Trang 13Lý luận nhận thức của ông được xây dựng một phần trên cơ sở phê phánhọc thuyết Platôn về “ý niệm” và “sự hồi tưởng”.
Trong lý luận nhận thức của mình, Arixtốt thừa nhận thế giới khách quan làđối tượng của nhận thức, là nguồn gốc, kinh nghiệm và cảm giác Tự nhiên
là tính thứ nhất, tri thức là tính thứ hai
Cảm giác có vai trò quan trọng trong nhận thức, nhờ cảm giác về đối tượng
mà có tri thức đúng, có kinh nghiệm và lý trí hiểu biết được về đối tượng Ởđây, Arixtốt đã thừa nhận tính khách quan của thế giới
Về các giai đoạn của nhận thức, Arixtốt thừa nhận giai đoạn cảm tính làgiai đoạn thứ nhất, giai đoạn nhận thức trực quan (ví dụ sự quan sát nhậtthực, nguyệt thực bằng mắt thường) Còn nhận thức lý tính là giai đoạn thứhai, giai đoạn này đòi hỏi sự khái quát hóa, trừu tượng hóa để rút ra tính tấtyếu của hiện tượng
Sai lầm có tính chất duy tâm của Arixtốt ở đây là thần thánh hóa nhận thức
lý tính, coi nó như là chức năng của linh hồn, của Thượng đế
Tuy nhiên, nhìn chung nhận thức luận của Arixtốt chứa đựng các yếu tốcủa cảm giác luận và kinh nghiệm luận có khuynh hướng duy vật
Arixtốt cũng có những nghiên cứu sâu sắc về các vấn đề của lôgíc học và phép biện chứng.
Ông hiểu lôgíc học là khoa học về chứng minh, trong đó phân biệt hai loạiluận đoán từ cái riêng đến cái chung (quy nạp) và từ cái chung đến cái riêng(diễn dịch)
Trang 14Ông cũng trình bày các quy luật của lôgíc: quy luật đồng nhất, quy luậtcấm mâu thuẫn trong tư duy, quy luật bài trừ cái thứ ba.
Arixtốt còn đưa ra phương pháp chứng minh ba đoạn (tam đoạn luận), v.v Phép biện chứng của Arixtốt ngoài sự thể hiện ở các quan niệm về các vậtthể tự nhiên và sự vận động của chúng, còn thể hiện rõ trong sự giải thích vềcái riêng và cái chung
Khi phê phán Platôn tách rời “ý niệm” như là cái chung khỏi các sự vậtcảm biết được như là cái riêng, Arixtốt đã cố gắng khảo sát cái chung trong
sự thống nhất không tách rời với cái riêng Theo ông, nhận thức cái chungtrong cái đơn lẻ là thực chất của nhận thức cảm tính
– Đạo đức học được Arixtốt xếp vào loại khoa học quan trọng sau triết học.
Trong đạo đức học ông đặc biệt quan tâm đến vấn đề phẩm hạnh Theo ôngphẩm hạnh là cái tốt đẹp nhất, là lợi ích tối cao mà mọi công dân cần phải
có Phẩm hạnh của con người thể hiện ở quan niệm về hạnh phúc
Xã hội có nhiều quan niệm khác nhau về đạo đức, song, theo Arixtốt, hạnhphúc phải gắn liền với hoạt động nhận thức, với ước vọng là điều thiện Tóm lại, triết học của Arixtốt tuy còn những hạn chế, dao động giữa chủnghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, nhưng ông vẫn xứng đáng là bộ óc vĩđại nhất trong các bộ óc vĩ đại của triết học cổ đại Hy Lạp
IV ĐẤU TRANH GIỮA CHỦ NGHĨA DUY VẬT VÀ CHỦ NGHĨA DUY TÂM TRONG TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI
Hy Lạp bị phân hoá thành hai bộ phận chính là chủ nô dân chủ và chủ nôquý tộc Chủ nô dân chủ có tư tưởng cấp tiến thường đứng trên lập trường
Trang 15duy vật vô thần và dựa trên những tri thức khoa học để chống lại những thếlực tôn giáo, bảo thủ, khởi xướng những cải cách dân chủ, thúc đẩy xã hộiphát triển Trái lại bộ phận chủ nô quý tộc có tư tưởng bảo thủ chống lại chủ
nô dân chủ thường đứng trên lập trường duy tâm tôn giáo lạc hậu và phảnđộng Đây là cơ sở cội nguồn cho cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật vàchủ nghĩa duy tâm tôn giáo trong triết học Hy Lạp cổ đại mà đại biểu làĐêmôcrít đứng trên lập trường duy vật vô thần và Platôn đứng trên lậptrường duy tâm tôn giáo Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủnghĩa duy tâm trong triết học Hy Lạp cổ đại về sau này được Lênin khái quát
là cuộc đấu tranh giữa đường lối Đêmôcrít và Platôn trong triết học Đâychính là cuộc đấu tranh ý thức hệ của hai tầng lớp chủ nô dân chủ và chủ nôquý tộc trong triết học Hy Lạp cổ đại
Về Bản thể luận, Đêmôcrít kiên định lập trường duy vật vô thần Theo ông
khởi nguyên của thế giới không phải là một sự vật cụ thể nào đó như nhiềunhà triết học trước đó đã quan niệm mà là nguyên tư, là vật chất Ông đã kếthừa và phát triển thuyết nguyên tử của Lơxíp lên một trình độ mới Nguyên
tử vận động trong chân không, khi kết hợp lại thì thành sự vật, khi tách rờithì sự vật mất đi Theo Đêmôrít nguyên tử là những hạt vật chất rất nhỏnhiều vô hạn không thể phân chia được, không khác nhau về chất mà khácnhau về hình dạng, tư thế và trình tự sắp xếp Chính sự khác nhau này màtạo nên sự khác nhau giữa các sự vật Sự xuất hiện hay mất đi của các sự vậthiện tượng là kết quả của sự kết hợp hay phân tán của nguyên tử Đêmôcrít
đã dùng thuyết nguyên tử để giải thích sự hình thành vũ trụ Ông cho rằng
vũ trụ là một khoảng không vô cùng tận trong đó chứa vô số các hành tinhkhác nhau Sự hình thành vũ trụ là do cơn lốc nguyên tử xô đẩy làm cho cácnguyên tử to nặng thì ở tâm, các nguyên tử nhẹ, nhỏ thì ở xa tâm Nhờ đó