1. Trang chủ
  2. » Kinh Doanh - Tiếp Thị

Chương 1 giới thiệu quản trị tài chính

40 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giới Thiệu Quản Trị Tài Chính
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 274,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản trị còn là quá trình các nhà quản trị hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra.- Quản trị là các hoạt động được thực hiện nhằm bảo đảm sự hoàn thành công việcqua những nỗ lực của n

Trang 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN TRỊ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

Nội dung Chương 1, giới thiệu những vấn đề chung về quản trị tài chính doanh nghiệpbao gồm: Khái niệm về các loại hình doanh nghiệp; Tài chính doanh nghiệp; Mục tiêu hoạtđộng của doanh nghiệp; Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động tài chính doanh nghiệp; Bảngcân đối kế toán; Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; Thị trường tài chính Với nhữngmục tiêu chính và mục tiêu cụ thể như sau:

Mục tiêu chính: G1 Hiểu biết những vấn đề chung của có liên quan đến tài chính

doanh nghiệp là nền tảng kiến thức tiếp tục nghiên cứu các chương sau

O1.3 Hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến tài chính doanh nghiệp

O1.4 Hiểu hoạt động của doanh nghiệp, quan hệ giữa tài chính doanh nghiệp và thịtrường tài chính

O1.5 Ý thức tôn trọng luật pháp, lợi ích cộng đồng, xã hội; sự cạnh tranh lành mạnh

và bảo vệ môi trường sinh thái

1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN TRỊ

1.1.1 Lịch sử quản trị

Từ những năm 1840 - 1890 khi những cơ sở sản xuất nhỏ, những công trường thủcông, xưởng thợ ra đời kèm theo nó là sự xuất hiện của những quản trị viên Họ là chủ sở hữunhững cơ sở sản xuất nhỏ của mình và đồng thời là nhà quản trị

Sau năm 1890, nhiều xí nghiệp lớn, nhiều liên hiệp xí nghiệp ra đời và phát triểnmạnh Để quản lý các doanh nghiệp có quy mô ngày càng lớn này và thích ứng với môitrường kinh doanh thường xuyên thay đổi, các nhà nước, các chính phủ đã xây dựng và banhành nhiều đạo luật nhằm quy định quyền hạn và trách nhiệm của những nghiệp này

Trang 2

Trong quá trình cải tổ doanh nghiệp, không chỉ có các chủ sở hữu mà cả những luậtgia cũng tham gia vào những chức vụ quan trọng của quản trị doanh nghiệp và hoạt độngquản trị được thực hiện trong phạm vi những điều luật quy định.

Tuy nhiên, trong giai đoạn trước năm 1910 chưa có những tác phẩm đáng kể viết vềquản trị doanh nghiệp, kể cả vấn đề tổng kết lý luận và kinh nghiệm thực tiễn Có chăng chỉ lànhững kinh nghiệm được sao chép, truyền lại qua các đời, từ các cá nhân, từ các gia đình,dòng họ Vì vậy, quản trị doanh nghiệp chưa phải là môn khoa học chính thống

Từ năm 1910, nhiều doanh nghiệp, nhiều tập đoàn sản xuất lớn được hình thành,nhiều ngân hàng xuất hiện nhằm phục vụ cho sự phát triển của các doanh nghiệp lớn và cáctập đoàn Các chức danh Giám đốc, Tổng Giám đốc ra đời Vấn đề quản trị doanh nghiệpcàng được đặt ra cụ thể và chặt chẽ với nhiều điều luật cụ thể

Vào năm 1911, tác phẩm quản trị doanh nghiệp có giá trị đầu tiên được xuất bản ở

Mỹ Cuốn sách do nhà khoa học quản trị nổi tiếng F W Taylo biên soạn với tiêu đề: “Nhữngnguyên lý và phương pháp quản trị khoa học - Principles and methods of scienticeadministration" Cuốn sách chủ yếu đề cập vấn đề quản trị nhân sự là làm thế nào để ngườilao động hoàn thiện và sử dụng có hiệu quả công cụ lao động và thời gian làm việc để tăngnăng suất lao động

Sau chiến tranh Thế giới lần thứ nhất - WW1 (1913 - 1918), tiếp đó là cuộc đại khủnghoảng kinh tế và tài chính đã làm cho hàng loạt các doanh nghiệp bị phá sản Nhiều doanhnghiệp còn tồn tại được tái tổ chức hoặc hợp nhất với nhau Cơ chế quản lý mới ra đời thíchứng với thời kỳ mới Trên cơ sở này, các nhà quản trị doanh nghiệp mới xuất hiện với nhữngnguyên tắc, phương pháp và kinh nghiệm quản lý mới

Năm 1922 đã ra đời một tác phẩm có giá trị cao về quản trị doanh nghiệp Đó là tácphẩm của nhà khoa học Pháp Henry Fayol về: "Quản trị công nghiệp và trị tổng hợp(Industrial and General Administration" Nội dung cơ bản của cuốn sách đề cập đến phươngpháp quản trị văn phòng, chủ yếu nói về những chức năng cơ bản của quản trị doanh nghiệp.Những tư tưởng và quan điểm cơ bản của cuốn sách cho đến nay vẫn được áp dụng

Cho đến năm 1940, các doanh nghiệp và các nhà kinh doanh đã nhận thấy tính tất yếuphải xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng một đội ngũ quản trị viên doanh nghiệp và một hệ thống

Trang 3

trường lớp, giáo trình đào tạo quản trị viên đã ra đời Từ đó, khoa học quản trị doanh nghiệp

đã góp phần đem lại hiệu quả kinh tế lớn cho các doanh nghiệp

P Fonet viết trong cuốn sách: “Đường xoắn ốc của những phương pháp khoa học vàhiệu quả của nó đối với quản lý công nghiệp - Papus of scientirc methods and its effect uponindustrial manngement” Cuốn sách đã xác định những tư tưởng triết học và những quan điểmcủa quản trị tiến bộ

Sự phát triển của quản trị doanh nghiệp từ năm 1946 đến nay: Đây là giai đoạn sau kếtthúc chiến tranh thế giới lần thứ hai - WW2 (1945), chuyển sang khôi phục, phát triển kinh tế

và giao lưu quốc tế Cùng với trào lưu đó, công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở nhiều nước côngnghiệp tiên tiến đã đạt được tốc độ cao trong tăng trưởng kinh tế Từ năm 1946 trở đi, ngàycàng xuất hiện nhiều tác phẩm có giá trị nói về quản trị doanh nghiệp Ở nhiều nước đã thànhlập các trường riêng để giảng dạy và đào tạo những nhà quản trị doanh nghiệp từ cấp thấp đếncấp cao nhất doanh nghiệp

Có thể kể đến các trường ở Mỹ: Trường Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh - MBA (Master

of Business Administration), Trường Kinh doanh Harvard (Harvard Business School); ởNhật: Trường Đào tạo Giám đốc dưới chân núi Phi-ghi Có thể kể đến một số tác phẩm quảntrị doanh nghiệp đặc biệt có giá trị trong thời kỳ này như Cuốn sách: "Quản lý năng động"xuất bản năm 1945 của hai nhà khoa học người Anh và Mỹ Tác phẩm này đã tổng kết nhữngnguyên tắc của quản trị doanh nghiệp đạt được từ xưa đến năm 1945 Trên cơ sở lý luận vềquản trị doanh nghiệp mới phù hợp với điều kiện hiện tại

Sau đó lần lượt hàng trăm cuốn sách khác nhau, nhiều sách giáo khoa, bài báo về quảntrị doanh nghiệp ra đời Những hội thảo, hội nghị quốc tế, nhiều lớp học được tổ chức để làmsáng tỏ những vấn đề cơ bản của quản trị doanh nghiệp trong điều kiện hiện đại Từ sau năm

1960, là thời kỳ sôi nổi, phát triển nhất của quản trị doanh nghiệp mà nhân loại đạt được từnền kinh tế tư bản phát triển tới nay Một công ty Mỹ trong năm 1960, đã phải chi tới 3 triệu

đô chỉ để phục vụ việc sưu tầm, thu thập, tổng hợp những tài liệu về quản trị doanh nghiệp,nhằm bồi dưỡng cho những quản trị viên của công ty (chưa kể tiền lương và những chi phíkhác phục vụ cho đội ngũ giáo sư, cán bộ giảng dạy )

Như vậy, qua các giai đoạn phát triển của quản trị doanh nghiệp chúng ta thấy nổi bậtmột vấn đề là xã hội từ chỗ chấp nhận một phần đến chấp nhận toàn phần vai trò của quản trịdoanh nghiệp, mà gắn liền với nó là các quản trị viên có nghiệp vụ và các cố vấn có năng lực

Trang 4

vận dụng những kiến thức lý luận quản trị doanh nghiệp vào thực tiễn Ngày nay, nhất lànhững năm đầu của thập kỷ 90, ở hầu hết các nước đã hình thành một hệ thống trường lớp đểđào tạo, bồi dưỡng các nhà quản trị doanh nghiệp tài ba đem lại.

1.1.2 Khái niệm quản trị

Quản trị là một khái niệm rất rộng bao gồm nhiều lĩnh vực Ví dụ quản trị hành chínhtrong các tổ chức xã hội, quản trị kinh doanh trong các tổ chức kinh tế Trong lĩnh vực quảntrị kinh doanh lại chia ra nhiều lĩnh vực: Quản trị tài chính, quản trị nhân sự, quản trịMarketing, quản trị sản xuất,v.v

Quản trị nói chung theo tiếng Anh là “Administration” Tuy nhiên, khi dùng từ, theothói quen, chúng ta coi thuật ngữ quản lý gắn liền với với quản lý nhà nước, quản lý xã hội,tức là quản lý ở tầm vĩ mô Còn thuật ngữ quản trị thường dùng ở phạm vi nhỏ hơn đối vớimột tổ chức, một doanh nghiệp Có rất nhiều quan điểm về quản trị:

- Quản trị là phối hợp hiệu quả các hoạt động của người cùng chung trong tổ chức.Đây là quá trình nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra bằng việc phối hợp nguồn lực của tổchức Quản trị còn là quá trình các nhà quản trị hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra

- Quản trị là các hoạt động được thực hiện nhằm bảo đảm sự hoàn thành công việcqua những nỗ lực của những người khác

Quản trị là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sựkhác cùng chung một tổ chức

- Quản trị là sự tác động của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị nhằm đạt đượcmục tiêu đề ra trong một môi trường luôn luôn biến động

- Quản trị là một quá trình nhằm đạt đến các mục tiêu đề ra bằng việc phối hợp hữuhiệu các nguồn lực của doanh nghiệp

- Quản trị theo quan điểm hệ thống, còn là việc thực hiện những hoạt động trong mỗi

tổ chức một cách có ý thức và liên tục Quản trị trong một doanh nghiệp tồn tại trong một hệthống bao gồm các khâu, các phần, các bộ phận có mối liên hệ khăng khít với nhau, tác độngqua lại lẫn nhau và thúc đẩy nhau phát triển Nhiều người cùng làm việc với nhau trong mộtnhóm để đạt tới một mục đích nào đó, cũng giống như các vai mà các diễn viên đảm nhiệmtrong một vở kịch, dù các vai trò này là do họ tự vạch ra, là những vai trò ngẫu nhiên hoặc

Trang 5

tình cờ, hay là những vai trò đã được xác định và được sắp đặt bởi một người nào đó, nhưng

họ đều biết chắc rằng mọi người đều đóng góp theo một cách riêng vào sự nỗ lực của nhóm

Như vậy, quản trị được hiểu là sử dụng một nguồn lực hữu hạn để đạt được mục tiêutối đa Hay nói cách khác là tận dụng tốt nhất nguồn lực, sử dụng nguồn lực đạt hiệu quả nhất

1.1.3 Bản chất của quản trị

Mục tiêu của quản trị là tạo ra giá trị thặng dư tức tìm ra phương thức thích hợp đểthực hiện công việc nhằm đạt hiệu quả cao nhất với chi phí các nguồn lực ít nhất Nói chung,quản trị là một quá trình phức tạp mà các nhà quản trị phải tiến hành nhiều hoạt động từ khâuđầu đến khâu cuối của một chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thực chất của quảntrị là quản trị các yếu tố đầu vào, quá trình sản xuất các yếu tố đầu ra theo quy trình hoạt độngcủa một tổ chức, một doanh nghiệp

Những quan niệm trên cho dù có khác nhau về cách diễn đạt, nhưng nhìn chung đềuthống nhất ở chỗ quản trị phải bao gồm ba yếu tố (điều kiện):

Thứ nhất: Phải có chủ thể quản trị là tác nhân tạo ra tác động quản trị và một đốitượng quản trị tiếp Đối tượng bị quản trị phải tiếp nhận sự tác động đó Tác động có thể chỉmột lần và cũng có thể nhiều lần

Thứ hai: Phải có một mục tiêu đặt ra cho cả chủ thể và đối tượng Mục tiêu này là căn

cứ để chủ thể tạo ra các tác động Sự tác động của chủ thể quản trị lên đối tượng quản trị đượcthực hiện trong một môi trường luôn luôn biến động Về thuật ngữ chủ thể quản trị, có thểhiểu chủ thể quản trị bao gồm một người hoặc nhiều người, còn đối tượng quản trị là một tổchức, một tập thể con người, hoặc giới vô sinh (máy móc, thiết bị đất đai, thông tin )

Thứ ba: Phải có một nguồn lực để chủ thể quản trị khai thác và vận dụng trong quátrình quản trị

Như vậy, quản trị xét về mặt kinh tế - xã hội là quản trị vì mục tiêu, lợi ích của doanhnghiệp, bảo đảm cho doanh nghiệp tồn tại, sống còn và phát triển lâu dài Nói cách khác bảnchất của quản trị tùy thuộc vào chủ sở hữu của doanh nghiệp Quản trị xét về mặt kỹ thuật tổchức là sự kết hợp nỗ lực của con người trong tổ chức Nói một cách khác, quản trị là quản trịcon người trong doanh nghiệp thông qua đó sử dụng có hiệu quả nhất mọi tiềm năng củadoanh nghiệp

1.1.4 Chức năng quản trị

Trang 6

5 chức năng cơ bản của quản trị là: hoạch định, tổ chức, chỉ đạo, điều phối và kiểmsoát Quản trị nói chung, dù ở lĩnh vực này hay lĩnh vực khác, cũng là một phần không thểthiếu của đời sống và đặc biệt cần thiết khi chúng ta cần thực hiện một loạt những hành độngnhằm đạt được một mục tiêu nào đó.

Hình 1.1 Chức năng quản trị 1.1.5 Cấp bậc quản trị

Hình 2 Cấp bậc quản trị 1.1.6 Vai trò quản trị

Nhà quản trị giữ vai trò là người lãnh đạo, là đầu tàu dẫn dắt nhân viên thực hiện cáccông việc, nhiệm vụ của doanh nghiệp Phạm vi lãnh đạo của nhà quản trị rất rộng, bao gồm

Trang 7

từ việc tuyển dụng, đào tạo, đãi ngộ, đánh giá, khen thưởng và cả việc cho dừng hợp đồng laođộng.

Theo kết quả nghiên cứu của Henry Mintzberg vào những năm 1960, nhà quản trị phảiđảm đương 10 vai trò khác nhau Các vai trò này được chia thành ba nhóm:

Nhóm 1 Vai trò quan hệ với con người: Tổ chức mạnh khi nhiều người trong tổ chức

đó đều hoạt động hướng đến mục tiêu của tổ chức Để đạt được điều đó, nhà quản trị có vaitrò hướng các thành viên của tổ chức đến mục tiêu chung vì lợi ích của doanh nghiệp

(1) Vai trò đại diện: Đại diện cho công ty và những người dưới quyền trong tổ chức.(2) Vai trò lãnh đạo: Phối hợp và kiểm tra công việc của nhân viên cấp dưới; Tuyểndụng, đào tạo, hướng dẫn, khích lệ nhân viên

(3) Vai trò liên kết: Quan hệ với người khác để hoàn thành công việc được giao chođơn vị của họ NQT luôn là 1 người trọng tài, có trách nhiệm hòa giải, đoàn kết tất cả cácthành viên thành một khối thống nhất để phát huy sức mạnh tập thể

Nhóm 2 Vai trò thông tin: Thông tin là tài sản của doanh nghiệp, do vậy quản lýthông tin cũng là một vai trò quan trọng của nhà quản trị

(4) Vai trò thu thập và tiếp nhận các thông tin: Nhà quản trị có nhiệm vụ thường xuyênxem xét, phân tích bối cảnh xung quanh tổ chức để thu thập những tin tức, sự kiện có ảnhhướng tới hoạt động của tổ chức

(5) Vai trò phổ biến thông tin: Phổ biến cho mọi người có liên quan tiếp xúc các thôngtin cần thiết đối với công việc của họ

(6) Vai trò cung cấp thông tin: Thay mặt tổ chức để đưa tin tức ra bên ngoài với mụcđích cụ thể có lợi cho doanh nghiệp

Nhóm 3 Vai trò quyết định:

(7) Vai trò doanh nhân: Vai trò này được thể hiện khi nhà quản trị tìm cách cải tiếnhoạt động của tổ chức như việc áp dụng công nghệ mới hay điều chỉnh một kỹ thuật đang ápdụng

(8)Vai trò giải quyết xáo trộn: Ứng phó với những bất ngờ làm xáo trộn hoạt độngbình thường của tổ chức nhằm đưa tổ chức sớm trở lại ổn định

Trang 8

(9)Vai trò người phân phối tài nguyên: Phân phối tài nguyên hợp lý giúp đạt hiệu quảcao Các tài nguyên bao gồm con người, tiền bạc, thời gian, quyền hạn, trang bị hay vật liệu.

(10) Vai trò đàm phán: Thay mặt tổ chức để thương thuyết với những đơn vị kháccũng như với bên ngoài

1.1.7 Năng lực quản trị

Quản trị là quá trình làm việc cùng và thông qua các cá nhân, các nhóm và các nguồnlực khác Quản trị được thử thách và đánh giá qua việc đạt được các mục tiêu thông qua sự tổchức và thực hiện các kỹ năng khác nhau Trước tiên, nhà Quản trị cần có những năng lựcquản lý của người lãnh đạo như hiểu biết một vốn kiến thức nhất định về hệ thống luật và thuếtrong kinh doanh, về marketing, tài chính doanh nghiệp, dây chuyền sản xuất, công nghệ …Đây là yêu cầu tiên quyết vì nó gắn liền với hiệu quả của quá trình ra quyết định thì mới cóthể trở thành một nhà Quản trị tài năng.Theo Robert L Katz, nhà quản trị cần có năng lực:

(1) Năng lực kỹ thuật (kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ): Là năng lực áp dụng cácphương pháp, quy trình và kỹ thuật cụ thể trong 1 lĩnh vực, chuyên môn nào đó; là khả năngthực hiện 1 công việc nhất định thể hiện trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nhà quản trị

(2) Năng lực nhân sự: Liên quan đến khả năng tổ chức, động viên và điều khiển nhânsự; là năng lực đặc biệt của nhà quản trị trong mối quan hệ với những người ở bên trong vàbên ngoài doanh nghiệp, nhằm tạo thuận lợi và thúc đẩy sự hoàn thành công việc chung

(3) Năng lực nhận thức hay tư duy: Nhà quản trị cần xây dựng phương pháp tư duychiến lược để đề ra đường lối, chính sách đúng đắn với những bất trắc và đe dọa từ môitrường kinh doanh

Một số năng lực quan trọng mà một nhà quản trị cần phải có, cụ thể:

(1) Năng lực lãnh đạo: Đây có lẽ không thể nào nằm ngoài năng lực quản lý của ngườilãnh đạo Lãnh đạo giỏi được thử thách qua sự thành công trong việc thay đổi hệ thống và conngười Thuật ngữ “lãnh đạo” đang được sử dụng ngày càng nhiều hơn khi nhắc đến vai tròcủa nhà quản trị vì chức năng của lãnh đạo là xử lý thay đổi Nhà quản trị cần phải lãnh đạogiỏi để thay đổi sản phẩm, hệ thống và con người một cách năng động Nhà quản trị giỏi phải

là người thúc đẩy quá trình quyết định một vấn đề và trao cho nhân viên của họ quyết địnhvấn đề đó Nếu bạn là một nhà quản trị giỏi, quyền lực sẽ tự đến với bạn, nhưng bạn cũng

Trang 9

phải biết khai thác quyền lực của những người khác Bạn phải thúc đẩy quá trình quyết định

và làm cho quá trình đó hoạt động Đó là một bài toán khó

(2) Năng lực lập kế hoạch: Nhà quản trị là người ra quyết định và toàn bộ bộ máy củacông ty sẽ hành động theo quyết định đó Nghĩa là quyết định của nhà quản trị ảnh hưởng rấtlớn tới vận mệnh của doanh nghiệp Một kế hoạch sai lầm rất có thể sẽ đưa đến những hậuquả khó lường Vì vậy kỹ năng lập kế hoạch rất quan trọng để đảm bảo cho nhà quản trị cóthể đưa ra những kế hoạch hợp lý và hướng toàn bộ nhân viên làm việc theo mục tiêu của kếhoạch đã định Khi kế hoạch được hoàn thành, nhà quản trị phải chuyển tải thông tin kế hoạchcho cấp trên và cấp dưới để tham khảo ý kiến Trong suốt quá trình thực hiện kế hoạch, ngườiquản lý sẽ cần đến những công cụ giải quyết vấn đề và khi cần thiết, phải ra và thực thi cácquyết định trong quyền hạn của mình

(3) Năng lực giải quyết vấn đề: Trong các năng lực quản lý của nhà quản trị thì khảnăng lường trước rủi ro và giải quyết vấn đề gần như bắt buộc và quyết định cấp độ thànhcông của nhà lãnh đạo đó Quá trình giải quyết vần đề có thể được tiến hành qua các bướcnhận diện vấn đề, tìm nguyên nhân của vấn đề, phân loại vấn đề, tìm giải pháp và lựa chọngiải pháp tối ưu Một nhà quản trị giỏi sẽ tiến hành quá trình này một cách khéo léo và hiệuquả

(4) Năng lực giao tiếp tốt: Càng ngày người ta càng nhận ra sức mạnh của các mốiquan hệ, cái mà có được từ một kỹ năng giao tiếp tốt Bạn phải thành thạo giao tiếp bằng vănnói và cả văn viết Bạn phải biết cách gây ấn tượng bằng giọng nói, ngôn ngữ cơ thể, đôi mắt

và cách diễn đạt dễ hiểu, thuyết phục Các bản hợp đồng ngày nay có được phụ thuộc rấtnhiều vào mối quan hệ và khả năng thương thuyết Khả năng giao tiếp tốt cũng phát huy tácdụng trong quản lý nhân sự Một chuyên gia về nhân sự đã từng kết luận rằng tiền có thể muađược thời gian chứ không mua được sự sáng tạo hay lòng say mê công việc Mà mức độ sángtạo hay lòng say mê công việc lại phụ thuộc vào khả năng tạo động lực cho nhân viên đểkhẳng định lòng trung thành và sự cam kết của người lao động không thể có được bằng việctrả lương cao Thực tế là mức lương cao và một văn phòng đầy đủ tiện nghi chỉ là điều kiệncần chứ chưa phải là điều kiện đủ để nhà quản trị có thể giữ một nhân viên tốt

Một số tính cách quyết định đến năng lực quản trị của nhà quản trị, cụ thể:

(1) Tầm nhìn xa: Một nhà quản trị có vai trò quan trọng hơn một cá nhân rất nhiều.Phải dường như luôn biết cách hoạch định tốt mọi công việc và là người cung cấp những lời

Trang 10

khuyên hữu ích nhất cho những cộng sự hay thuộc cấp của mình Không chỉ có một tầm nhìn

xa, anh ta còn biết cách truyền đạt những ý tưởng của mình cho người khác hiểu để cùng vớimình thực hiện tốt những ý tưởng đó Những thông điệp được truyền đi phải luôn sinh động,

rõ ràng và có sức thuyết phục cao Do đó, sự thành thạo trong khả năng giao tiếp bằng lời nóiluôn là phẩm chất cần có của một người lãnh đạo giỏi như đã nói ở trên Trong khi mọi ngườiđều bị thuyết phục bởi tài năng của nhà quản trị, họ thường không nhận ra rằng tài năng đóchỉ đóng vai trò bổ trợ cho những kinh nghiệm mà nhà quản trị có thể tiếp thu từ thực tiễncông việc: khả năng lên kế hoạch và thiết lập mục tiêu cần đạt được nhà quản trị là ngườiluôn có những giải pháp để giải quyết mọi khó khăn trong những tình huống nan giải nhất bởi

vì, nhà quản trị đã nhìn rõ bản chất của sự việc ngay cả trước khi khi chúng ta chỉ mới bắt đầunghĩ về nó

(2) Sự tự tin: Một nhà quản trị thật sự phải luôn có lòng tin vào chính mình Thôngthường, sự tự tin này hình thành từ sự thật là bất cứ một người lãnh đạo nào cũng đã từng trảiqua thời gian dài rèn luyện những kỹ năng trong công việc, tích lũy vốn kiến thức rộng cùngvới sự thông minh sẵn có của anh ta Bên cạnh đó, cho dù không có những kỹ năng, kinhnghiệm kia thì nhà quản trị cũng là người biết nhận thức, học hỏi điều đó từ những ngườikhác

(3) Tính kiên định: Một nhà quản trị mạnh mẽ cần phải có lập trường vững vàng trongcác quyết định của mình Tuy nhiên, điều này không bao gồm những tư tưởng bảo thủ, ngoan

cố không biết sửa chữa những sai lầm Hơn nữa, anh ta phải biết nghiêng về lẽ phải trong việcphân xử các xung đột trong nội bộ của mình

(4) Khả năng thích nghi: Phương thức kinh doanh có thể hiệu quả trong hôm naynhưng ngày mai thì nó lại khác Một nhà quản trị có tài cần phải nhận thức được điều đó vàphải biết thức thời trong việc thích nghi và chấp nhận thay đổi Nhà quản trị phải luôn cậpnhật những kỹ năng, công nghệ và phương pháp mới để thúc đẩy sự phát triển trong côngviệc Để trở thành một nhà quản trị tài năng thật không dễ dàng chút nào Nó đòi hỏi phải thật

sự yêu thích công việc cùng với những công sức và sự nỗ lực không ngơi nghỉ để có thể hội tụđược những phẩm chất cần có của nhà quản trị Hãy tự hỏi vì sao những người khác cần phảilắng nghe, tôn trọng và thực hiện theo sự điều động, hướng dẫn của mình Chắc chắn, bạn sẽtìm thấy động lực để hoàn thành tốt vai trò của một nhà quản trị

Trang 11

(5) Biết chấp nhận mạo hiểm: Nhiều người không dám mạo hiểm bởi vì họ sợ phảinhận lấy thất bại Tuy nhiên, nếu là một nhà quản trị có tham vọng, cần phải tự hỏi rằng liệu

sự mạo hiểm đó có đáng giá hay không? Nếu cảm thấy sự liều lĩnh là đáng bỏ công, thì cầnbiết vượt qua rào cản tâm lý lo sợ, e ngại và dũng cảm đương đầu với thử thách Nếu thửthách là quá khó, hãy dành thời gian cho việc lên kế hoạch tác nghiệp, càng có nhiều sự chuẩn

bị, mức độ rủi ro trong tình huống càng được giảm bớt

(6) Sự kiên trì: Nhà quản trị không bao giờ đầu hàng khó khăn khi chưa thật sự đốiđầu với nó Mọi thứ không phải luôn luôn dễ dàng đối với nhà quản trị và bởi vì là ngườiđứng đầu nên cần biết thử trải nghiệm thật nhiều cho đến khi nào thành công thì thôi

(7) Sự quả quyết: Là người đứng đầu, nhà quản trị được trông chờ trong việc đưa ranhững quyết định quan trọng trong khi những người khác thường cố gắng tránh xa nó Cho dùnhững quyết định này đôi khi sẽ tạo ra những tác động lớn ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa

cá nhân và những người xung quanh thì bản thân cũng phải chấp nhận điều đó Sự cả nể, nhânnhượng trong cách đưa ra quyết định có thể dẫn bạn đến những sai lầm khi tạo tiền lệ xấu dẫnđến việc làm mất đi cái “uy” trong vị thế là nhà quản trị của cá nhân Đôi khi nhà quản trịcũng cần nhẫn tâm một chút trong việc sa thải một nhân viên nào đó vì hành động của nhâviên này gây tổn hại lớn đến lợi ích của doanh nghiệp

(8) Sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân: Là nhà quản trị có sẵn sàng để làm điều đó đểcông việc của cá nhân mình tiến triển tốt hay không? Là một người đứng đầu một tập thể, nhàquản trị phải tốn rất nhiều thời gian và công sức để quản lý tốt những người dưới quyền vàcông việc của mình Thậm chí, sự bận rộn đó còn chiếm cả những khoảng thời gian riêng tưdành cho bản thân và gia đình mình

1.1.8 Ý nghĩa quản trị

Khi con người kết hợp với nhau để làm việc trong một tổ chức, người ta có thể làmnhững việc cần thiết theo cách suy nghĩ riêng của mỗi người tự phát Lối làm việc như thếcũng có thể đem lại kết quả hoặc cũng có thể không đem lại kết quả Nhưng nếu người ta biết

tổ chức hoạt động thì triển vọng đạt kết quả sẽ chắc chắn hơn, đặc biệt quan trọng không phảichỉ là kết quả mà sẽ còn ít tốn kém thời gian, tiền bạc, nguyên vật liệu và những phí tổn khác

Khi chúng ta so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí để thực hiện sẽ có khái niệm là

Hiệu quả = Kết quả - Chi phí Hiệu quả sẽ tăng trong hai trường hợp: Tăng kết quả với chi

Trang 12

phí không đổi Giảm chi phí mà vẫn giữ nguyên kết quả Muốn đạt được cả hai điều đó đòihỏi phải biết cách quản trị, không biết cách quản trị lãnh đạo cũng đạt được kết quả nhưnghiệu quả sẽ đạt thấp

Một nhà quản trị giỏi không những mang lại nhiều lợi nhuận cho doanh nghiệp mà còn

có ý nghĩa quan trọng góp phần đưa nền kinh tế đất nước nhanh chóng phát triển Mục tiêucủa hoạt động quản trị như vậy là nhằm giúp chúng ta có những kiến thức, kỹ năng cần thiết

để gia tăng hiệu quả trong hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận cũng như mục tiêu philợi nhuận

1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÀI CHÍNH

1.2.1 Lịch sử Tài chính

Sản xuất hàng hóa và tiền tệ là nhân tố mang tính khách quan có ý nghĩa quyết định sự

ra đời, tồn tại và phát triển của tài chính và Nhà nước là nhân tố có ý nghĩa định hướng tạođiều kiện, tạo ra hành lang pháp lý và điều tiết sự phát triển của tài chính, cụ thể:

(1) Sự ra đời do sản xuất hàng hóa và tiền tệ, khi xã hội có sự phân công về lao động,

có sự chiếm hữu khác nhau về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động, nền sản xuất hànghóa ra đời và tiền tệ xuất hiện Các quỹ tiền tệ được tạo lập và được sử dụng bởi các tổ chứckinh tế, tổ chức xã hội hay cá nhân nhằm mục đích tiêu dùng và đầu tư phát triển kinh tế - xãhội Các quan hệ kinh tế đó đã làm nảy sinh phạm trù tài chính

(2) Sự ra đời của nền sản xuất hàng hóa - tiền tệ, làm xuất hiện các nguồn tài chính, đó

là của cải xã hội được biểu hiện dưới hình thức giá trị Sản xuất và trao đổi hàng hóa xuấthiện, theo đó tiền tệ đã xuất hiện như một đòi hỏi khách quan với tư cách là vật ngang giáchung trong quá trình trao đổi Trong điều kiện kinh tế hàng hóa - tiền tệ, hình thức tiền tệ đãđược các chủ thể trong xã hội sử dụng vào việc phân phối sản phẩm xã hội và thu nhập quốcdân để tạo lập nên các quỹ tiền tệ riêng phục vụ cho những mục đích riêng của mỗi chủ thể

(3) Sự ra đời do sự xuất hiện nhà nước, cùng với quá trình phát triển của xã hội,khi Nhà nước ra đời đã thúc đẩy sự phát triển của hoạt động tài chính Nhà nước, với chứcnăng, quyền lực và để duy trì hoạt động của mình đã tạo lập quỹ ngân sách nhà nước thôngqua quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị, hình thành lĩnh vực tàichính nhà nước, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, thúc đẩy và mở rộng phạm vihoạt động của tài chính

Trang 13

Như vậy, hoạt động phân phối tài chính là khách quan nhưng chịu sự chi phối trực tiếphoặc gián tiếp của nhà nước thông qua các chính sách được ban hành và áp dụng trong nềnkinh tế (chính sách thuế, chính sách tiền tệ, ) Bằng quyền lực chính trị và thông qua một hệthống chính sách, chế độ, nhà nước đã tạo nên môi trường pháp lý cho sự hoạt động của tàichính; đồng thời nắm lấy việc đúc tiền, in tiền và lưu thông tiền tệ.

1.2.2.Bản chất tài chính

Là các quan hệ tài chính trong phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức tổng giátrị, thông qua đó tạo lập các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng yêu cầu tích lũy và tiêu dùng của cácchủ thể trong nền kinh tế

Tài chính phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình phânphối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền

Giá cả của các hàng hóa trên thị trường sẽ phản ánh xu hướng phát triển của nền kinh

tế Giá cả hàng hóa giảm thì hiệu quả nền kinh tế sẽ yếu, giá cả hàng hóa mà tăng thì nền kinh

tế rất hiệu quả (ngoại trừ lạm phát)

1.2.3.Chức năng của tài chính

(1) Chức năng huy động: Đây là chức năng tạo lập các nguồn tài chính, thể hiện khảnăng tổ chức khai thác các nguồn tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế.Việc huy động vốn phải tuân thủ cơ chế thị trường, quan hệ cung cầu và giá cả của vốn

(2) Chức năng phân phối: Chức năng phân phối của tài chính là một khả năng kháchquan của phạm trù tài chính Con người nhận thức và vận dụng khả năng khách quan đó để tổchức việc phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị Khi đó, tài chính được sử dụng với

tư cách một công cụ phân phối

Chức năng phân phối của tài chính là chức năng mà nhờ đó, các nguồn tài lực đại diệncho những bộ phận của cải xã hội được đưa vào các quỹ tiền tệ khác nhau, để sử dụng chonhững mục đích khác nhau, đảm bảo những nhu cầu, những lợi ích khác nhau của đời sống xãhội

Phân phối qua tài chính là sự phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị.Thông qua chức năng này, các quỹ tiền tệ tập trung và không tập trung được hình thành và sửdụng theo những mục đích nhất định

Trang 14

Phân phối thông qua tài chính gồm: phân phối lần đầu (là việc phân phối tại các khâu

cơ sở, đó là các khâu tham gia trực tiếp vào các hoạt hoạt động sản xuất) và phân phối lại (làphân phối cho các khâu không tham gia trực tiếp trong quá trình sản xuất mà chỉ nhằm đảmbảo hoạt động bình thường của xã hội)

Tuy nhiên, thực tế phân phối được chia thành 3 nhóm: Phân phối có hoàn lại có thờihạn Ví dụ: Tín dụng; Phân phối không hoàn lại Ví dụ: Ngân sách nhà nước; Phân phối hoànlại có điều kiện Ví dụ: Bảo hiểm

Đối tượng phân phối: Đối tượng phân phối là của cải xã hội dưới hình thức giá trị, làtổng thể các nguồn tài chính có trong xã hội

Xét về mặt nội dung, nguồn tài chính bao gồm các bộ phận: Bộ phận của cải xã hộimới được tạo ra trong kỳ - Tổng sản phẩm trong nước GDP; Bộ phận của cải xã hội còn lại từ

kỳ trước - Phần tích lũy quá khứ của xã hội và dân cư; Bộ phận của cải được chuyển từ nướcngoài vào và bộ phận của cải từ trong nước chuyển ra nước ngoài; Bộ phận tài sản, tài nguyênquốc gia có thể cho thuê, nhượng bán có thời hạn

Xét về mặt hình thức tồn tại, nguồn tài chính tồn tại dưới dạng: Nguồn tài chính hữuhình; Nguồn tài chính vô hình

Chủ thể phân phối: Nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, hộ gia đình, cá nhân.Kết quả phân phối của tài chính là sự hình thành hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhấtđịnh cho các mục đích khác nhau của các chủ thể trong xã hội

Đặc điểm của phân phối: Là sự phân phối chỉ diễn ra dưới hình thức giá trị, nó khôngkèm theo sự thay đổi hình thái giá trị; Là sự phân phối luôn luôn gắn liền với sự hình thành và

sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định; Là quá trình phân phối diễn ra một cách thường xuyên, liêntục bao gồm cả phân phối lần đầu và phân phối lại

Quá trình phân phối: Phân phối lần đầu sản phẩm xã hội là quá trình phân phối chỉdiễn ra ở lĩnh vực sản xuất cho những chủ thể tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chấthay thực hiện các dịch vụ

Chủ thể phân phối: doanh nghiệp, người lao động, nhà nước, ngân hàng,

Kết quả phân phối: Hình thành nên các phần thu nhập của các chủ thể phân phối

Trang 15

Phân phối lại là quá trình tiếp tục phân phối những phần thu nhập cơ bản đã hìnhthành qua phân phối lần đầu ra phạm vi toàn xã hội để đáp ứng nhiều nhu cầu khác nhau, thỏamãn nhiều lợi ích khác nhau trong xã hội.

Chức năng giám sát: Đây là chức năng kiểm tra sự vận động của các nguồn tài chínhtrong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ Thông qua chức năng này để kiểm tra vàđiều chỉnh các quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị, phù hợp vớiyêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của mỗi thời kỳ, kiểm tra các chế độ tài chính của Nhànước,v.v

Hệ thống tài chính là tổng thể các hoạt động tài chính trong các lĩnh vực khác nhaucủa nền kinh tế quốc dân, nhưng có quan hệ hữu cơ với nhau về việc hình thành và sử dụngcác quỹ tiền tệ ở các chủ thể kinh tế - xã hội hoạt động trong lĩnh vực đó Hệ thống tài chínhbao gồm, cụ thể:

- Tài chính công (gồm ngân sách nhà nước và các quỹ ngoài ngân sách);

- Tài chính doanh nghiệp;

- Thị trường tài chính (gồm thị trường tiền tệ và thị trường vốn);

- Tài chính quốc tế;

- Tài chính hộ gia đình, cá nhân;

- Tài chính các tổ chức xã hội;

- Tài chính trung gian (bao gồm tín dụng, bảo hiểm)

Các thành phần này có quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển củatài chính, cụ thể:

Căn cứ vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể có các mối quan

hệ tài chính sau:

Mối quan hệ tài chính giữa DN với NSNN: Mối quan hệ này thể hiện ở chỗ Nhà nướccấp phát, hỗ trợ vốn và góp vốn cổ phần theo những nguyên tắc và phương thức nhất định đểtiến hành sản xuất kinh doanh và phân chia lợi nhuận Đồng thời, mối quan hệ tài chính nàycũng phản ánh những quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị phát sinh trong quá trình phânphối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân giữa NSNN với các DNđược thể hiện thông qua các khoản thuế mà DN phải nộp vào NSNN theo luật định

Trang 16

Mối quan hệ tài chính giữa các doanh nghiệp với thị trường tài chính: Các quan hệ nàyđược thể hiện thông qua việc tài trợ các nhu cầu vốn của doanh nghiệp Với thị trường tiền tệthông qua hệ thống ngân hàng, các doanh nghiệp nhận được các khoản tiền vay để tài trợ chocác nhu cầu vốn ngắn hạn và ngược lại, các doanh nghiệp phải hoàn trả vốn vay và tiền lãitrong thời hạn nhất định Với thị trường vốn, thông qua hệ thống các tổ chức tài chính trunggian khác, doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ khác để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạnbằng cách phát hành các chứng khoán

Ngược lại, các doanh nghiệp phải hoàn trả mọi khoản lãi cho các chủ thể tham gia đầu

tư vào doanh nghiệp bằng một khoản tiền cố định hay phụ thuộc vào khả năng kinh doanh củadoanh nghiệp (Thị trường chứng khoán) Thông qua thị trường tài chính, các doanh nghiệpcũng có thể đầu tư vốn nhàn rỗi của mình bằng cách ký gửi vào hệ thống ngân hàng hoặc đầu

tư vào chứng khoán của các doanh nghiệp khác

Mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các thị trường khác: Các thị trường khácnhư thị trường hàng hóa, dịch vụ, thị trường lao động, Là chủ thể hoạt động SXKD, cácdoanh nghiệp phải sử dụng vốn để mua sắm các yếu tố sản xuất như vật tư, máy móc thiết bị,trả công lao động, chi trả các dịch vụ Đồng thời, thông qua các thị trường, doanh nghiệp xácđịnh nhu cầu sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp cung ứng, để làm cơ sở hoạch định ngânsách đầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thị nhằm làm cho sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệpluôn thỏa mãn nhu cầu của thị trường

Mối quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp: Đây là mối quan hệ tài chính kháphức tạp, phản ánh quan hệ tài chính giữa các bộ phận SXKD, giữa các bộ phận quản lý, giữacác thành viên trong doanh nghiệp, giữa quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn

1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP

1.3.1.Khái niệm doanh nghiệp

Doanh nghiệp là doanh thương là một tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản và có trụ

sở giao dịch ổn định được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đíchthực hiện các hoạt động kinh doanh

1.3.2 Các loại hình doanh nghiệp

Trang 17

Căn cứ vào hình thức sở hữu, mỗi quốc gia thường có những loại hình DN khác nhau,tuy nhiên về cơ bản các loại hình doanh nghiệp bao gồm DNTN, CTHD, CTCP, CTTNHH vàDNNN, cụ thể:

(1) DNTN là doanh nghiệp chỉ có một sở hữu chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộtài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp

(2) CTHD là doanh nghiệp trong đó phải có ít nhất hai thành viên hợp danh, ngoài haithành viên hợp danh có thể có các thành viên góp vốn Thành viên hợp danh phải là các cánhân có trình độ chuyên môn có uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tàisản của mình về các nghĩa vụ của công ty Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về cáckhoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn góp của mình vào công ty

(3) CTTNHH bao gồm CTTNHH nhiều thành viên và một thành viên, cụ thể:

- CTTNHH nhiều thành viên là DN trong đó thành viên có thể là tổ chức, cá nhân và sốlượng thành viên không quá 50, thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụtài sản khác của DN trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào DN

- CTTNHH một thành viên là DN do một tổ chức làm chủ chịu trách nhiệm về cáckhoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi số vốn điều lệ của DN

(4) CTCP là DN trong đó vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổphần, số cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm

vi số vốn vào DN, cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người kháctrừ cổ đông nắm quyền ưu đã và cổ đông sáng lập trong 3 năm đầu Công ty cổ phần phânthành 2 loại: Công ty cổ phần nội bộ (Internal Corporation) và công ty cổ phần đại chúng(Public Corporation)

(5) DNNN là phần vốn do NSNN cấp, hiện nay đang có xu thế cổ phần hóa hoặc

chuyển đổi thành CTCP hay CTTNHH một thành viên cho phù hợp với nền kinh tế thịtrường Từ ngày 01/07/2011 các DNNN được đổi tên thành các công ty TNHH một thànhviên

Bảng 1.1 Tóm tắt ưu nhược điểm của các loại hình doanh nghiệp

Trang 18

Loại hình DN Ưu điểm Nhược điểm

• Chịu trách nhiệm cá nhân

vô hạn

• Hạn chế về kỹ năng vàchuyên môn quản lý

• Hạn chế khả năng huy độngvốn

• Không liên tục hoạt độngkhi chủ doanh nghiệp quađời

• Có thể thu hút kỹ năng quản lý từcác thành viên

• Có thể thu hút thêm thành viêntham gia

• Ít bị chi phối bởi các quy định pháplý

• Năng động

• Không bị đánh thuế hai lần

• Chịu trách nhiệm vô hạn

• Khó tích lũy vốn

• Khó giải quyết khi có mâuthuẫn lợi ích giữa các thànhviên

• Chứa đựng nhiều tiềm năngmâu thuẫn cá nhân và quyềnlực giữa các thành viên

• Các thành viên bị chi phốibởi luật đại diện

• Có thể hoạt động mãi mãi, không

bị giới hạn bởi tuổi thọ của chủ sởhữu

• Có thể chuyển nhượng quyền sởhữu

• Có khả năng huy động được kỹnăng, chuyên môn, tri thức của nhiềungười

• Có lợi thế về quy mô

• Tốn nhiều chi phí và thờigian trong quá trình thànhlập

• Tiềm ẩn nguy cơ mất khảnăng kiểm soát của nhữngngười sáng lập công ty

Mặc dù có nhiều loại hình khác nhau như đã trình bày trên đây, nhưng trong phạm vichương trình học ta chỉ tập trung xem xét tài chính và quản trị tài chính của loại hình CTCP.Loại hình công ty này đã và đang đóng vai trò chủ yếu ở các nước phát triển và sẽ đóng vaitrò chủ yếu ở Việt Nam trong tương lai cùng với tiến trình cổ phần hóa DNNN

1.3 TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP

1.3.1.Khái niệm

Mọi hoạt động kinh tế, bằng cách này hay cách khác đều là sự phối hợp giữa lao động

Trang 19

trung tâm trong sự phối hợp này Chính là chúng phối hợp lao động và vốn cần thiết cho việcsản xuất các của cải và dịch vụ bán trên thị trường (Theo J.M.Albertini – Giám đốc trung tâmnghiên cứu khoa học (C.NR.S)).

Doanh nghiệp là các đơn vị sản xuất cơ bản trong một nền kinh tế tư bản hoặc hỗnhợp Nó thuê lao động và mua những thứ khác ở đầu vào nhằm sản xuất và bán hàng hóa.(Theo Paul A.Samuelson – Giáo sư đại học Massachusetts institution of Technology &William D Nordhus – Giáo sư kinh tế học Yale University Cowles Foundation)

Hai khái niệm nêu trên tuy có những điểm khác biệt, nhưng đều có chung những đặcđiểm sau đây khi đề cập về doanh nghiệp và Tài chính Doanh nghiệp:

Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế thực hiện chức năng kinh doanh và như thế mụctiêu của DN là lợi nhuận

Hoạt động của Doanh nghiệp là một sự kết hợp giữa các yếu tố đầu vào như vốn vàlao động để tạo ra các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ tiêu thụ trên thị trường và như vậy bản chấtcủa tài chính DN chính là sự phối hợp một cách tối ưu các yếu tố đầu vào nhằm đạt được mụctiêu của DN chính là lợi nhuận

Trong quá trình hoạt động của DN, ba câu hỏi cần phải trả lời từ các nhà quản trị tàichính Doanh nghiệp trong các quyết định có liên quan đến vấn đề tài chính của DN đó là:

- Từ rất nhiều các cơ hội đầu tư có được thì DN sẽ phải đưa ra quyết định lựa chọn cơhội đầu tư nào cho hiệu quả cao nhất vì nguồn lực của DN là có giới hạn hay nói khác hơn làkhan hiếm?

- DN nên dùng những nguồn tài trợ nào để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư đã hoạch định?

- DN nên thực hiện chính sách cổ tức (đối với CTCP) như thế nào nhằm thỏa mãnđược nguyện vọng của cổ đông đồng thời nâng cao giá trị của mình trên thị trường?

Câu hỏi thứ nhất liên quan đến việc chi tiêu tiền; câu hỏi thứ hai liên quan đến vấn đềhuy động vốn và câu hỏi thứ ba liên quan đến sự kết hợp giữa hai quyết định (1) và (2) trên.Như vậy tài chính DN chính là cách giải quyết ba vấn đề trên sao cho hợp lý nhất

1.3.2 Các quyết định tài chính

Ba vấn đề nêu trên được giải quyết trực tiếp bởi nhà quản trị tài chính Tùy theo quy môcủa DN, nhà quản trị tài chính CFO (Chief Finance Officer) có thể có nhiều tên gọi khác

Trang 20

nhau Với những công ty vừa và nhỏ thì CFO có thể là kế toán trưởng, nhưng nếu công ty lớnthì hai chức danh kia là hoàn toàn khác nhau Nhìn chung, các quyết định tài chính của nhàquản trị bao gồm: Quyết định đầu tư hay hoạch định ngân sách vốn (Capital budgeting), quyếtđịnh tài trợ (Capital Structure), quyết định quản trị vốn lưu động (Working CapitalManagement) và quyết định phân chia cổ tức.

1.3.2.1.Quyết định đầu tư

Tổng giá trị tài sản và giá trị từng bộ phận tài sản (TSCĐ và TSLĐ) cần có

Mối quan hệ cân đối giữa các bộ phận tài sản trong DN (tức là tỷ lệ phân chia TSLĐ

và TSCĐ như thế nào là hợp lý) Quyết định đầu tư thể hiện ở phía bên trái (hay phía trên)của bảng cân đối kế toán Cụ thể, nó bao gồm các quyết định sau:

- Doanh nghiệp cần những loại tài sản nào để phục vụ cho quá trình SXKD của mình?

- Mối quan hệ giữa TSCĐ và TSLĐ như thế nào?

- Doanh nghiệp cần đầu tư bao nhiêu vào TSLĐ? Bao nhiêu vào TSCĐ?

Chi tiết hơn, DN cần đầu tư bao nhiêu vào hàng tồn kho, lưu lượng tiền mặt cần cótrong ngày là bao nhiêu? Nên mua sắm những loại TSCĐ nào?v.v

1.3.2.2 Quyết định tài trợ

Nếu quyết định đầu tư liên quan đến bên trái (phía trên) thì quyết định tài trợ liên quanđến bên phải (bên dưới) của bảng cân đối kế toán, gắn liền việc lựa chọn nguồn vốn nào cungcấp để mua sắm tài sản, nên sử dụng vốn chủ sở hữu hay vốn vay, nên dùng vốn ngắn hạn hayvốn dài hạn

Ngoài ra, quyết định tài trợ cần xem xét:

- Mối quan hệ giữa lợi nhuận giữ lại tái đầu tư và lợi nhuận phân chia cho cổ đôngdưới hình thức cổ tức?

- Khi xem xét chọn lựa nguồn vốn nào tài trợ thì tiếp theo là huy động nguồn vốn đónhư thế nào?

- Nên sử dụng lợi nhuận giữ lại hay phát hành thêm cổ phiếu?

- Nên vay ngân hàng hay nên huy động vốn bằng cách phát hành các công cụ nợ?

Ngày đăng: 25/12/2023, 16:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2. Cấp bậc quản trị 1.1.6. Vai trò quản trị - Chương 1  giới thiệu quản trị tài chính
Hình 2. Cấp bậc quản trị 1.1.6. Vai trò quản trị (Trang 6)
1.6. Bảng kết quả hoạt động kinh doanh - Chương 1  giới thiệu quản trị tài chính
1.6. Bảng kết quả hoạt động kinh doanh (Trang 27)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w