TỔNG QUAN VỀ HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC TOÀN DIỆN VÀ TIẾN BỘ XUYÊN THÁI BÌNH DƯƠNG
Khái quát chung về Hiệp định đối tác toàn diện tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) 3
1.1.1 Sự hình thành và phát triển của CPTPP
CPTPP (Comprehensive and Progressive Trans-Pacific Partnership) là từ viết tắt của Hiệp định đối tác toàn diện tiến bộ xuyên Thái Bình Dương Đây là hiệp định thương mại tự do được ký kết giữa
11 nước, tiếp nối TPP (Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương) sau khi Hoa Kỳ rút khỏi hiệp định này.
Hiệp định CPTPP đã có một cuộc hành trình dài, bắt đầu từ những buổi đàm phán của Hiệp định TPP giữa 12 nước thành viên (Singapore, Chile,New Zealand, Brunei, Hoa Kỳ, Australia, Việt Nam, Malaysia, Mexico, Canada, Nhật Bản) từ tháng 3/2010 Trải qua hơn 30 phiên đàm phán ở cấp kỹ thuật và hơn 10 cuộc đàm phán ở cấp Bộ trưởng, đến ngày 4/2/2016, Hiệp định TPP chính thức được ký kết và được các nước thành viên đặt nhiều kỳ vọng vào thời điểm triển khai (dự kiến là năm 2018) Tuy vậy, hiện thực chẳng phải màu hồng khi mà vào tháng 1/2017, Hoa Kỳ tuyên bố rút khỏi TPP, khiến cho những điều kiện ban đầu giờ đây không còn phù hợp TPP lúc bấy giờ đã ở bờ sụp đổ
Trước tình hình đó, 11 nước thành viên còn lại đã thống nhất tiếp tục Hiệp định, cùng nhau, họ đã điều chỉnh một số nội dung cốt lõi và cũng như thay đổi tên gọi cũ thành Hiệp định CPTPP Vào tháng 3/2018, Hiệp định CPTPP được chính thức ký kết tại Chile, đạt được cái kết viên mãn và chấm dứt chuyến hành trình 8 năm bấp bênh này.
Những cột mốc từ TPP đến CPTPP
- 3/6/2005, Singapore, Chile, New Zealand, Brunei là 4 thành viên sáng lập đã kí kết TPP, khi đó được là Hiệp định P4.
- 22/9/2008, Hoa Kỳ tuyên bố tham gia P4 cũng như đề nghị đàm phán một Hiệp định mới (TPP).
+ Năm 2009, Việt Nam gia nhập TPP với tư cách thành viên quan sát đặc biệt.
- 10/2010, Malaysia tham gia Hiệp định TPP.
- 13-14/11/2010, Việt Nam chính thức tham gia Hiệp định TPP.
- 10/2012, Mexico, Canada gia nhập TPP.
- 3/2013, Nhật Bản gia nhập TPP, nâng tổng số nước tham dự thành 12 thành viên.
- 4/2/2016, 12 nước tham dự Lễ ký kết để xác định lời văn Hiệp định TPP tại Auckland, New Zealand.
- 30/1/2017, Hoa Kỳ chính thức rút khỏi Hiệp định TPP giống như điều Donald Trump đã công bố vào ngày 21/11/2016.
- 11/2017, trong khuôn khổ Tuần lễ Cấp cao APEC tại Đà Nẵng, Việt Nam, 11 nước còn lại đã thống nhất thay đổi nội dung cốt lõi cũng như tên gọi Hiệp định từ TPP thành CPTPP.
- 8/3/2018, các Bộ trưởng của 11 nước thành viên đã chính thức ký kết Hiệp định CPTPP tại thành phố Santiago, Chile.
1.1.2 Sự khác biệt giữa TPP và CPTPP
Hiệp định CPTPP cơ bản giữ nguyên các cam kết chính của Hiệp định TPP, đặc biệt là các cam kết mở cửa thị trường nhưng cho phép các nước tạm hoãn thực thi khoảng 20 nghĩa vụ trong các lĩnh vực quan trọng như sở hữu trí tuệ, đầu tư, mua sắm chính phủ, dịch vụ tài chính,
Về số lượng thành viên và dân số
Hiệp định TPP có 12 thành viên bao gồm: Úc, Brunei, Chile, Malaysia, Mexico, New Zealand, Canada, Peru, Singapore, Việt Nam, Mỹ và Nhật Bản Sau khi Mỹ chính thức rút khỏi TPP, 11 nước thành viên còn lại tiếp tục ký kết hiệp định CPTPP.
Về đóng góp vào thương mại và GDP toàn cầu
Giá trị đóng góp vào GDP và thương mại toàn cầu của Hiệp định TPP tương ứng là 40% và 30% trong khi giá trị đóng góp của Hiệp định CPTPP tương ứng là 15% và 15%.
Mục tiêu và vai trò của CPTPP
CPTPP hi vọng sẽ tạo được một khu vực thương mại tự do rộng lớn xuyên suốt khu vực châu Á,Thái Bình Dương với phạm vi thị trường khoảng 500 triệu người, quy mô chiếm khoảng 13,5%GDP toàn cầu (khoảng 10.100 tỷ USD) CPTPP cũng tạo thuận lợi thương mại tối đa khi chi phí xuất nhập khẩu và thời gian giao dịch được giảm đáng kể; cơ hội tốt để nắm bắt thị trường, chuỗi sản xuất và cung ứng Đối với các nước nhỏ, đây cũng chính là cơ hội tốt để thúc đẩy nền kinh tế thị trường, thu hút các nhà đầu tư và tăng thu nhập.
Bên cạnh đó, khi gia nhập TPP (tiền thân của CPTPP), một số quốc gia Đông Á đã mong muốn nương nhờ "kẻ mạnh" Hoa Kỳ, một phần là để thúc đẩy kinh tế và mở rộng thị trường hàng hóa, dịch vụ Mặt khác, xem Mỹ thành chỗ dựa để đối đầu với yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc - một vấn đề khá gay gắt ở thời điểm hiện tại.
Mỗi quốc gia thành viên khi gia nhập vào TPP hay CPTPP đều có những dự tính riêng biệt cho bản thân, cũng như đạt được những lợi ích khác nhau ở những lĩnh vực khác nhau.
Tổng quan nội dung chính của CPTPP
Hiệp định CPTPP bao gồm các văn kiện: Lời mở đầu, 7 điều khoản và 1 phụ lục, quy định về mối quan hệ với Hiệp định giữa các nước thành viên, cũng như xử lý các vấn đề liên quan đến tính hiệu lực, rút khỏi hay gia nhập CPTPP.
LỜI MỞ ĐẦU và 7 điều khoản: Điều 1 Tích hợp Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương Điều 2 Tạm đình chỉ thực hiện một số điều khoản Điều 3 Hiệu lực Điều 4 Rút khỏi Hiệp định Điều 5 Gia nhập Điều 6 Rà soát Hiệp định CPTPP Điều 7 Các lời văn xác thực PHỤ LỤC
Theo Bộ công thương, nội dung chính vẫn giữ được những nội dung cơ bản từ Hiệp định cũ TPP, bao gồm 30 chương và 9 phụ lục Tuy vậy, các nước thành viên được cho phép tạm hoãn 20 nhóm nghĩa vụ để cân bằng quyền lợi và nghĩa vụ, bao gồm: 11 nghĩa vụ liên quan đến chương 18 Sở hữu trí tuệ; 2 nghĩa vụ liên quan đến chương 15 Mua sắm của Chính phủ và 7 nghĩa vụ còn lại liên quan tới 7 chương là Quản lý hải quan và Tạo thuận lợi Thương mại, Đầu tư, Thương mại dịch vụ xuyên biên giới, Dịch vụ Tài chính, Viễn thông, Môi trường, Minh bạch hóa và Chống tham nhũng.
NỘI DUNG HIỆP ĐỊNH CPTPP
LỜI MỞ ĐẦU Chương I Các điều khoản và định nghĩa chung Chương 2 Đối xử quốc gia và mở cửa thị trường đối với hàng hóa Chương 3 Quy tắc xuất xứ và các thủ tục chứng nhận xuất xứ Chương 4 Dệt may
Chương 5 Hải quan và tạo thuận lợi thương mại Chương 6 Phòng vệ thương mại
Chương 7 Các biện pháp an toàn thực phẩm và kiểm dịch động vật Chương 8 Hàng rào kỹ thuật đối với thương mại
Chương 9 Đầu tư Chương 10 Thương mại dịch vụ xuyên biên giới Chương 11 Dịch vụ tài chính
Chương 12 Nhập cảnh tạm thời cho khách kinh doanh Chương 13 Viễn thông
Chương 14 Thương mại điện tử Chương 15: Mua sắm chính phủ Chương 16 Chính sách cạnh tranh Chương 17 Doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp độc quyền chỉ định Chương 18 Sở hữu trí tuệ
Chương 19 Lao động Chương 20 Môi trường Chương 21 Hợp tác và nâng cao năng lực Chương 22 Tính cạnh tranh và thuận lợi hóa kinh doanh Chương 23 Phát triển
Chương 24 Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Chương 25.Hài hòa các quy định Chương 26 Minh bạch hóa và chống tham nhũng Chương 27 Các điều khoản hành chính và thể chế Chương 28 Giải quyết tranh chấp
Chương 29 Các ngoại lệ và điều khoản chung Chương 30 Các điều khoản cuối cùng
1.3.1 Các cam kết về thuế nhập khẩu
Các nước thành viên cam kết xóa bỏ gần như toàn bộ thuế nhập khẩu trong Biểu thuế quan nhập khẩu của nước mình Trong đó, các nước Australia, Brunei, Malaysia, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam đã áp dụng chung BIểu thuế quan nhập khẩu; các nước còn lại (Canada, Chile, Mexico , Nhật Bản) áp dụng Biểu thuế nhập khẩu riêng cho từng nước thành viên.
Các cam kết về xóa bỏ và cắt giảm thuế nhập khẩu trong CPTPP được chia thành 3 nhóm chính:
- Nhóm xóa bỏ thuế nhập khẩu ngay: Thuế nhập khẩu sẽ được xóa bỏ ngay khi Hiệp định chính thức có hiệu lực
- Nhóm xóa bỏ thuế nhập khẩu theo lộ trình: Sau một khoảng thời gian nhất định, thuế nhập khẩu sẽ được đưa về 0%
- Nhóm áp dụng hạn ngạch thuế quan (TRQ): Thuế nhập khẩu chỉ xóa bỏ hoặc cắt giảm với một số lượng hàng hóa nhất định. Đối với những hàng hóa có xuất xứ từ Việt Nam, các nước CPTPP cam kết xóa bỏ hoàn toàn từ 97% đến 100% số dòng thuế nhập khẩu Cụ thể:
Canada cam kết xóa bỏ 95% số dòng thuế
Nhật Bản cam kết xóa bỏ 86% số dòng thuế ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực và gần 90% dòng thuế sau 5 năm.
Peru cam kết xóa bỏ 80,7% số dòng thuế ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực và sẽ xóa bỏ thuế quan đối với 99,4% số dòng thuế vào năm thứ 17 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực.
Mexico cam kết xóa bỏ 77,2% số dòng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực và sẽ xóa bỏ thuế đối với 98% số dòng thuế vào năm thứ 10 kể từ khi HIệp định có hiệu lực.
Chile cam kết xóa bỏ 95,1% số dòng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực, và sẽ xóa bỏ thuế quan đối với 99,9% số dòng thuế vào năm thứ 8 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực.
New Zealand cam kết xóa bỏ 94,6% số dòng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực và sẽ được xóa bỏ hoàn toàn vào năm thứ 7 kể từ khi thực hiện Hiệp định.
Singapore cam kết xóa bỏ hoàn toàn thuế quan đối với tất cả các mặt hàng ngay từ lúc Hiệp định có hiệu lực.
Malaysia cam kết xóa bỏ 84,7% số dòng thuế ngay khi Hiệp định có hiệu lực và xóa bỏ dần có lộ trình đối với các dòng thuế còn lại Vào năm thứ 11, số dòng thuế cam kết cắt giảm của Malaysia lên tới 99,9%.
Bru-nây cam kết xóa bỏ 92% số dòng thuế đối với hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam (tương đương 7.639 dòng) ngay khi Hiệp định có hiệu lực, xóa bỏ tới 99,9% vào năm thứ 7 và xóa bỏ hoàn toàn thuế nhập khẩu vào năm thứ 11.
1.3.2 Cam kết một số ngành hàng a Giày dép
Việt Nam sang Canada: 78% kim ngạch xuất khẩu giày dép của sẽ được hưởng thuế suất 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực hoặc được hưởng mức cắt giảm 75% so với mức thuế suất hiện tại
Việt Nam sang Nhật Bản: Thuế nhập khẩu sẽ được giảm dần đều và được xóa bỏ hoàn toàn vào năm thứ 16 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực
Mexico và Peru: Thuế sẽ được giảm dần đều và xóa bỏ vào năm thứ 16 kể từ khi Hiệp định có hiệu lực. b Thủy sản
Vị trí và vai trò của VN trong CPTPP
Theo nguyên chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng (2018), việc gia nhập và phê chuẩn sớm Hiệp địnhCPTPP giúp Việt Nam khẳng định vị thế và vai trò của đất nước trong Đông Nam Á nói riêng cũng như châu Á - Thái Bình Dương nói chung Triển khai hiệp định CPTPP sẽ củng cố hợp tác với các đối tác quan trọng trong khu vực, góp phần tăng cường đan xen lợi ích, làm mối quan hệ giữa ViệtNam và các nước thành viên CPTPP càng trở nên sâu sắc, tốt đẹp Bên cạnh đó giúp ta nâng cao vị thế của quốc gia trong khối ASEAN và cả quốc tế, thể hiện cam kết mạnh mẽ với đổi mới và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng Sự tăng trưởng kinh tế vượt bậc của Việt Nam trong những thập niên gần đây đã hỗ trợ rất lớn cho sự phát triển kinh tế toàn khối ASEAN, nâng cao vị thế của ViệtNam như một cường quốc kinh tế mới trong khối.
Tình hình chung về hoạt động thương mại quốc tế VN
1.5.1 Trước khi hiệp định CPTPP có hiệu lực
Việt Nam trước khi CPTPP có hiệu lực cũng đã kí kết những Hiệp định về kinh tế khác như FTA, EVFTA, hay tham gia khối ASEAN, Tuy nhiên mức tăng trưởng của Việt Nam ở thời điểm đó vẫn chưa cao hay có sự phát triển đáng kể.
1.5.2 Sau khi hiệp định CPTPP có hiệu lực
Có thể nói CPTPP đã đem lại một sự thay đổi đáng kể đến với các nước thành viên nói chung và Việt Nam nói riêng Thông qua sự cố gắng không ngừng của Nhà nước, ta đã đạt được những kết quả tích cực từ sau khi Hiệp định có hiệu lực và ngay cả trong thời điểm dịch Covid đã gây khó dễ với nền kinh tế thế giới, Hiệp định CPTPP vẫn có những trợ giúp rất lớn trong việc xuất nhập khẩu đến các nước thành viên.
Cụ thể, năm 2019, Việt Nam xuất khẩu sang 6 nước thành viên thuộc CPTPP (Mexico, Canada,Australia, New Zealand, Singapore và Nhật Bản) đạt 34,3 tỷ USD, tăng 8,1%, được ghi nhận từ nước nhập siêu sang xuất siêu Đặc biệt là ở Nhật Bản, một gương mặt không mấy xa lạ với Việt
Nam nhờ Hiệp định FTA, đã trở thành thị trường xuất siêu khá lớn của Việt Nam, tăng 8,9% trong
Năm 2020, xuất khẩu sang 6 nước này duy trì ở mức gần tương đương 2019, đạt 34 tỷ USD Tỷ trọng trong tổng xuất khẩu năm 2018 là 12,02%, năm 2019 là 13% và năm 2020 là 12,02%. Đến tháng 7 năm 2021, Việt Nam xuất siêu 59,08 triệu USD sang thị trường CPTPP, tăng 60,52% so với tháng 6/2021 và giảm 22,58% so với tháng 7/2020 Về xuất khẩu, giá trị hàng hóa của Việt Nam sang thị trường này đạt 3,98 tỷ USD, tăng 0,79% so với tháng 6/2021 và tăng 21,64% so với tháng 7/2020.
Trong 4 năm đồng hành kể từ năm 2019, nhiều ghi nhận cho thấy VIệt Nam có thế mạnh trong việc xuất khẩu điện thoại, linh kiện, máy móc, thiết bị phụ tùng, hàng thủy sản, Theo thống kê của VASEP, thị trường 10 nước thành viên CPTPP chiếm trên 25% tổng kim ngạch xuất khẩu thủy hải sản nước ta, đặc biệt Nhật Bản luôn giữ vị trí top 3 trung thành với thị trường xuất khẩu thủy hải sản Vừa qua trong bối cảnh dịch Covid gây khó dễ làm sụt giảm xuất khẩu vào năm 2020, thì việc xuất khẩu sang các thị trường lớn vẫn được ghi nhận với mức tăng trưởng dương như sang Australia tăng 9%, Peru tăng 8%, Canada và Chile tăng 14% và còn tiếp tục tăng vào năm 2021.
Mặt khác, một số ngành được kỳ vọng sẽ đạt được mức tăng trưởng cao khi tham gia CPTPP như dệt may, da giày, lại không đạt được thành công như mong đợi Xuất nhập khẩu dệt may của ViệtNam sang CPTPP (7/2021) đã thu hẹp từ 13,04% của 7 tháng đầu năm 2020 xuống còn 10,92%.Việc chưa đáp ứng được yêu cầu “từ sợi trở đi” đã khiến Việt Nam chưa thể hưởng được ưu đãi thuế quan cao nhất.
NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN HIỆN TẠI TRONG QUAN HỆ KINH TẾ GIỮA VIỆT NAM VÀ CÁC NƯỚC THÀNH VIÊN CP-TPP
Mối quan hệ kinh tế giữa VN và các nước thành viên CP-TPP trước và sau khi hiệp định có hiệu lực
Toàn cầu hóa và hội nhập với kinh tế thế giới là một trong những bước đi tất yếu trong sự phát triển của một quốc gia, đặc biệt là đối với một nước đang phát triển như Việt Nam Điều này tạo điều kiện cho Việt Nam không những giúp cho Việt Nam có thể giao lưu và học hỏi với các quốc gia về kinh tế - văn hóa – chính trị mà còn đem lại nhiều cơ hội để phát triển nền kinh tế, tiếp cận được thị trường, thu hút được đầu tư nước ngoài, xóa bỏ được hàng rào thuế quan Một trong những minh chứng rõ ràng nhất cho việc toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam không thể không kể tới đó chính là tham gia vào TPP
Sau khi tham gia hiệp định TPP, mối quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và các nước thành viên CP- TPP ngày càng có nhiều dấu hiệu khởi sắc Điều đó được thể hiện qua việc, Việt Nam đã bắt đầu thiết lập được quan hệ FTA với một số nước thành viên CP-TPP, thị trường xuất khẩu một số mặt hàng có thế mạnh của Việt Nam được mở rộng hơn trước, cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu của Việt Nam trở nên đa dạng và không bị phụ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc, công nghệ và vốn đầu tư nước ngoài đang được cải thiện không ngừng Và sau đây là một trong số những quốc gia là thành viên CP-TPP được đánh giá là có mối quan hệ tốt đẹp đồng thời cũng là những đối tác phát triển tiềm năng của Việt Nam, cụ thể:
Trải qua hơn 49 năm thiết lập mối quan hệ ngoại giao và phát triển song phương với nhau, Canada đã trở thành một trong nước quốc gia được coi đối tác phát triển chiến lược hàng đầu của Việt Nam.Đặc biệt, sau khi CPTPP có hiệu lực đã giúp cải thiện khả năng tiếp cận cho hoạt động thương mại hàng hóa và dịch vụ giữa Canada và Việt Nam, củng cố một bộ quy tắc chung, giảm chi phí đối với thương mại và giúp cho hoạt động đầu tư dễ dự đoán hơn Điều này làm cải thiện lợi thế cạnh tranh của các sản phẩm tại hai thị trường Và để có cái nhìn tổng quan hơn thì tình hình giá trị hàng hóa thương mại giữa Việt Nam và Canada trong giai đoạn 2018-2020 sau khi hiệp định CP-TPP có hiệu lực, sẽ được thể hiện qua đồ thị dưới đây:
Biểu đồ 1: Giá trị hàng hóa song phương giữa Vtệt Nam và Canada giai đoạn 2018 – 2020 Đơn vị tính: Tỷ đô Canada
Giá trị hàng hóa song phương giữa Việt Nam và Canada
(Nguồn: Www.dangcongsan.vn) Đồ thị 1 cho thấy giá trị hàng hóa song phương giữa Việt Nam và Canada giai đoạn 2018 – 2020 có sự gia tăng liên tục qua các năm Cụ thể:
Năm 2019, giá trị hàng hóa song phương giữa Việt Nam và Canada đạt 7,95 tỷ đô tăng 1,46 tỷ đô so với năm 2018, tương đương với tỷ lệ tăng 22,49%
Năm 2020, giá trị hàng hóa song vương giữa Việt Nam và Canada đạt 8,9 tỷ đô tăng 0,95 tỷ đô so với năm 2019 tương đương với tỷ lệ tăng 12,07%
Mặc dù năm 2020, giá trị gia tăng hàng hóa song phương giữa Việt Nam và Canada tăng ít hơn tuy nhiên giá trị này vẫn đạt mức kỷ lục trong lịch sử, bất chấp ảnh hưởng tiểu cực của đại dịch Covid
19 đến thương mại toàn cầu Và nguyên nhân khiến cho giá trị hàng hóa song phương giữa Việt Nam và Canada trong giai đoạn này ghi nhận được nhiều thành quả đáng mong đợi như vậy chủ yếu là do tác động của hiệp định CP-TPP đã thiết lập khả năng tiếp cận miễn thuế cho thương mại hàng hóa giữa Canada và Việt Nam; đồng thời, làm cho những sản phẩm chất lượng cao của Canada có giá phải chăng hơn đối với người tiêu dùng tại Việt Nam đồng thời sản phẩm của Việt Nam lại được phân phối và thương mại rộng rãi, dễ dàng tiếp xúc với thị trường Canada hơn.
Hiệu lực của CP-TPP ngoài việc cải thiện khả năng tiếp cận cho hoạt động thương mại hàng hóa và dịch vụ giữa Canada và Việt Nam, thì còn giúp cho Việt Nam thiết lập được quan hệ FTA, tận dụng và xóa bỏ được hàng rào thuế quan để góp phần thúc đẩy tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu Điều đó được thể hiện qua việc, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Canada trong giai đoạn 2019-2021 có mức tăng trưởng đáng ghi nhận, và cao hơn rất nhiều so với các giai đoạn trước như sau:
Bảng 1: Kim nghạch xuất khẩu các ngành thế mạnh của Việt Nam sang Canada giai đoạn
2019-2021 Đơn vị tính: Tỷ USD
(Nguồn: Tổng cục Hải Quan Việt Nam)
Bảng 1 cho thấy kim ngạch xuất khẩu các ngành thế mạnh của Việt Nam sang Canada giai đoạn2019-2021 có sự gia tăng đáng kể qua các năm Năm 2020, tổng kim ngạch xuất khẩu các ngành thế mạnh của Việt Nam năm 2020 đạt 4361 tỷ đồng tăng 439 tỷ đồng so với năm 2019, tương đương với tỷ lệ tăng 11.19% Tổng kim ngạch xuất khẩu các ngành hàng thế thế mạnh của Việt Nam năm
2021 đạt 5269 tỷ USD tăng 908 tỷ USD so với năm 2020, tương đương với tỷ lệ tăng 20.82% Cụ thể:
- Đối với các mặt hàng dệt, may:
+ Kim ngạch xuất khẩu năm 2020 đạt 793 tỷ USD tăng 61 tỷ USD so với năm 2019 tương đuơng với tỷ lệ tăng 8.33%
+ Kim ngạch xuất khẩu năm 2021 đạt 934 tỷ USD tăng 141 tỷ USD so với năm 2020, tương đương với tỷ lệ tăng 17.78%
- Đôí với ngành linh kiện, điện tử:
+ Kim ngạch xuất khẩu năm 2020 đạt 365 tỷ USD, tăng 20 tỷ USD so với năm 2019, tương đương với tỷ lệ tăng 5,79%.
+ Kim ngạch xuất khẩu năm 2021 đạt 408 tỷ USD, tăng 43 tỷ USD so với năm 2020, tương đương với tỷ lệ tăng 11,78%
- Đối với các sản phẩm từ hạt điều:
+ Kim ngạch xuất khẩu năm 2020 đạt 93 tỷ USD, tăng 5 tỷ USD so với năm 2019, tương đương với tỷ lệ tăng 5,68%.
+ Kim ngạch xuất khẩu năm 2021 đạt 112 tỷ USD, tăng 19 tỷ USD so với năm 2020, tương đương với tỷ lệ tăng 20,43%
Như vậy có thể thấy rõ ràng trong giai đoạn 2019-2021, thì kim ngạch xuất khẩu và tỷ lệ tăng trưởng của kim ngạch xuất khẩu của một số mặt hàng thế mạnh của Việt Nam sang Canada những năm đầu tuy có tăng song chỉ tăng một cách đồng đều chưa có sự biến động quá lớn Nhưng sang đến 2021, kim ngạch xuất khẩu của các mặt hàng này lại có sự gia tăng đáng kể cả về giá trị lẫn tỷ lệ Nguyên nhân chủ yếu là do, những năm đầu trong giai đoạn 2019-2021, là lúc CP-TPP bắt đầu có hiệu lực vì vậy tốc độ tăng trưởng chưa thực sự lớn Nhưng từ 2020-2021, nhờ vận dụng được những lợi thế từ hàng rào thuế quan từ FAT mà kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng thế mạnh của Việt Nam gia tăng đáng kể.
Mặc dù có sự gia tăng đáng kể từ lợi thế thiết lập FATCA của CP-TPP tuy nhiên tỷ lệ tận dụng ưu đãi CPTPP chung của xuất khẩu Việt Nam chỉ đạt 1,67% đối với các nước khác nhưng tỷ lệ này vớiCanada vẫn đạt 8% Điều đó cho thấy, quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam và Canada là 1 trong mẫu hình thành công nhất, hiệu quả nhất trong việc thực hiện CPTPP Kết quả này có được là nhờ những nỗ lực vượt bậc của Chính phủ và doanh nghiệp hai bên trong thiết lập cơ chế, khai phá thị trường, trong kết nối hợp tác kinh doanh giữa hai bên và vượt qua những trở ngại cả khách quan và chủ quan trong suốt những năm qua.
Một trong những nước thành viên nổi bật nhất của TPP không thể không kể tới Chile Dù là một quốc gia thuộc khu vực Nam Mỹ với khoảng cách địa lý nửa bán cầu thế nhưng không vì thế mà cản trở mối quan hệ ngoại giao toàn diện song phương được xây dựng lâu năm giữa Việt Nam và Chile.
Trước khi CP-TPP có hiệu lực, thì Chile là quốc gia thuộc khu vực Nam Mỹ đầu tiên xây dựng quan hệ ngoại giao với Việt Nam vào ngày 25/03/1971 Trong gần 51 năm thiết lập quan hệ ngoại giao, Chile luôn đồng hành vào thực chiến kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam và đồng thời cũng là quốc gia duy nhất xây dựng mặt trận đoàn kết dân tộc đồng thời tham gia nghiên cứu các mạng lưới y tế để tiến hành cấp cứu và điều trị cho những nạn nhân chịu thiệt hại và ảnh hưởng do chiến tranh tại Việt Nam Bên cạnh công tác đồng hành thực chiến và hỗ trợ hậu qua hậu chiến tranh tại Việt Nam, Chile cũng là quốc gia duy nhất đưa ra quyết định thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đồng ý chấp thuận để Chính phủ Cách mạng lâm thời miền nam Việt Nam đặt cơ đại diện tại Chile Chính những sự giúp đỡ và hợp tác này đã tạo nền tảng xây dựng nên nhiều trang mới trong lịch sử ngoại giao của Việt Nam và Chile Và mối quan hệ ngoại giao này lại một lần nữa được khẳng định, gắn bó và phát triển khi hai nước thông qua ký kết các hiệp định thương mại song phương trên nhiều lĩnh vực hợp tác toàn diện vào tháng 05/2007 Trong đó có lẽ phải kể tới Hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa Việt Nam và Chile được thiết lập và có hiệu lực vào ngày 01/01/2014.
Từ những bước đầu thiết lập thì sau ba năm triển khai FTA, thì đến năm 2017 tổng kim ngạch thương mại hai chiều của Việt Nam – Chile đạt 1,28 tỷ USD so với năm 2016 tức là tăng 24,3% và đồng thời cao gấp 2,5 lần thời cao so với 2016 thì kết quả này cao gấp 2,5 lần thời điểm trước khi FTA có hiệu lực Kết quả đáng ghi nhận này đã đưa Chile trở thành đối tháng thương mại lớn đứng thứ 4 của Việt Nam sau Brazil, Mexico và Argentina tại khu vực Mỹ Latinh.
Trong hai năm 2019 và 2020 vừa qua, mặc dù khu là một trong những quốc gia Nam Mỹ phải chịu nhiều hậu quả xấu do đại dịch Covid19 trên toàn thế giới, thì kim ngạch xuất khẩu giữa Việt Nam và Chile vẫn đạt được những kết quả đáng ghi nhận Và điều đó được thể hiện qua biểu đồ sau:
Biểu đồ 2: Tổng trao đổi thương mại hai chiều 2019 – 2020 giữa Việt Nam và Chile Đơn vị tính: Triệu USD
(Nguồn: Tổng cục Hải Quan Việt Nam, 2021)
Biểu đồ cho thấy tổng trao đổi thương mại hai chiều năm 2020 đạt hơn 1285 triệu USD, tăng 57,5 triệu USD so với năm 2019 tương đương với tỷ lệ tăng 4,4% Cụ thể: