Nhưng việc giáo dục và hướng trẻ em đi đến một hướng đúng đắn là một điều rất gian nan đối với mỗi đất nước thậm chí là ở các nước phát triển, Nhưng nếu có các giải pháp hoặc biện pháp
Trang 1BÁO CÁO CUỐI KỲ
HỌC PHẦN: THIẾT KẾ DỰ ÁN I
Tên đề tài Dự án nhóm:……….Tình trạng học sinh, sinh viên Việt Nam thường xuyên học vẹt ảnh hưởng đến chất lượng
giáo dục
Tên giảng viên: Lê Thế Hiển
Năm học: 2020-2021 Học kỳ: 2B
Mã số lớp: .B09
Tên nhóm: … Nhóm C
Tp HCM, tháng 6 /2021…
Trang 2Chủ đề lớp: Phát Triển Bền Vững
Tên đề tài Dự án nhóm: Tình trạng học sinh, sinh viên Việt Nam thường xuyên học vẹt ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục
Mã số lớp: B09
Tên nhóm: Nhóm C
Ngày nộp báo cáo: 28/6/2021
Tên thành viên nhóm: - Nguyễn Phạm Yến Vy
- Trần Thị Nam Phương
- Hoàng Quốc Đạt
- Trần Chí Phát
- Nguyễn Ngọc Hân
- Trần Đại Cương
- Nguyễn Thị Linh Chi
Học kỳ: 2B ; Năm học: 2020 – 2021
Trang 3( Giới thiệu về chủ đề lớp, bối cảnh các đề xuất về đề tài nhóm Nêu lý do, phương pháp đánh giá, chọn
đề tài nhóm, làm rõ vấn đề và đối tượng của đề tài nhóm, mục tiêu giải quyết vấn đề và phương pháp tiếp cận để giải quyết vấn đề: 1-2 trang).
CHƯƠNG II PHÂN TÍCH SỰ TỒN TẠI & NHU CẦU GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ .9
( Đưa ra các minh chứng để phân tích sự tồn tại của vấn đề, nhu cầu giải quyết vấn đề và kết luận: 1-2 trang).
CHƯƠNG III PHÂN TÍCH CÁC GIẢI PHÁP HIỆN CÓ 10
( Liệt kê và phân tích các giải pháp hiện có trên thị trường liên quan đến vấn đề của đề tài nhóm, đánh giá các điểm mạnh, điểm yếu của các giải này này và đề xuất hướng phát triển ý tưởng giải quyết vấn đề: 1-2 trang).
CHƯƠNG IV PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN CỦA VẤN ĐỀ 12
( Phân tích các nguyên nhân của vấn đề, thiết lập tiêu chí đánh giá, lựa chọn nguyên nhân cụ thể của vấn đề: 1/2-1 trang).
CHƯƠNG V TẠO Ý TƯỞNG GIẢI PHÁP 13
(Nêu lại nguyên nhân cụ thể đã lựa chọn, xác định các điều kiện ràng buộc và chỉ số mục tiêu cơ bản cho giải pháp, đề xuất, đánh giá và lựa chọn giải pháp; mô tả giải pháp cuối cùng: Điểm mạnh, điểm yếu …: 1-2 trang).
CHƯƠNG VI KẾT LUẬN 16
(Kết luận lại quá trình phát hiện và giải quyết vấn đề Nêu rõ đối tượng và vấn đề của đề tài nhóm Nếu
rõ mức độ giải quyết vấn đề cụ thể của giải pháp cuối Hướng tìm hiểu/ nghiên cứu tiếp sau này cho đề tài): 1 trang
TÀI LIỆU THAM KHẢO 18 PHỤ LỤC 19
(Kèm theo tất cả các phiếu T và lựa chọn 1 phiếu P cho mỗi hoạt động vào sau phụ lục)
Trang 4TÓM TẮT BÁO CÁO
Chủ đề giáo dục là một vấn đề rất quan trọng trong sự phát triển đất nước, đây là nền móng của cả một đất nước vậy vì sao giáo dục lại quan trọng như thế? Hiển nhiên là vì trẻ em là những trụ cột của đất nước sau này nên giáo dục trẻ em, các thiếu niên và hướng những mầm non này đi những con đường đúng đắn là một điều rất quan trọng vì vậy mục tiêu “Giáo dục có chất lượng” đã được đưa vào là mục tiêu Thứ 4 của Sustainable Development GOALS hay còn được gọi là “Sự phát triển bền vững” đây là những yếu tố mà tổ chức Liên Hợp Quốc đã đặt ra để góp phần xây dựng thế giới sao cho được phát triển bền vững nhất và dần đã trở thành xu hướng mà các quốc gia đang hướng đến Nhưng việc giáo dục và hướng trẻ em đi đến một hướng đúng đắn là một điều rất gian nan đối với mỗi đất nước thậm chí là ở các nước phát triển, Nhưng nếu có các giải pháp hoặc biện pháp để giải quyết được các vấn đề của mục tiêu “Giáo dục có chất lượng” thì sẽ mang lại lượng lớn tiềm lực kinh tế, sự phát triển của của một đất nước trong tương lai
Từ trong môn học Project Design 1 nhóm đã quyết định lấy đề tài dự án nhóm là:
“Tình trạng học sinh, sinh viên Việt Nam học vẹt làm ảnh hưởng đến chất lượn giáo dục” xuất phát từ chủ đề lớp Sustainable Development GOALS thuộc Mục tiêu Thứ 4 “Giáo dục có chất lượng” Hiện nay vấn đề học vẹt xảy ra hầu hết ở các học sinh, sinh viên Việt Nam và mọi lứa tuổi Đây là một tình trạng đáng quan ngại và ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền giáo dục Làm các mầm non tương lai của đất nước thiếu khả năng tư duy, sáng tạo Mặc dù đây là một vấn đề có số lượng đối tượng tương đối lớn nhưng nhóm tin rằng có thể làm được và bắt tay cùng nhau giải quyết vấn đề này thông qua 7 Bước Project Design Sau đây là bài báo cáo của nhóm về quá trình cũng như những thông tin, giải pháp mà nhóm đã tìm ra được trong quá trình giải quyết vấn đề.
Trang 5CHƯƠNG I GIỚI THIỆU CHUNG
Do nhu cầu phát triển của trường, bộ môn Project Design đã được giảng dạy để hướng dẫn sinh viên cách thức và quy trình nhằm hướng đến mục tiêu giải quyết một vấn đề cụ thể Ngoài ra còn giúp cho sinh viên tích cực, chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề và đáp ứng kĩ năng thiết yếu của sinh viên khi ra trường Từ đó, hình thành kĩ năng làm việc nhóm, nâng cao kĩ năng giao tiếp, rèn luyện sự thích nghi cho bản thân, có văn hóa và tôn trọng mọi người.
Nhằm để sinh viên hiểu được sự phát triển về mọi mặt trong xã hội hiện tại mà vẫn phải bảo đảm sự tiếp tục phát triển trong tương lai xa, lớp đã chọn đề tài là: PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG.
Qua đó, mỗi sinh viên sẽ có ý thức và hướng tới mục tiêu cao đẹp của quá trình phát triển về mọi mặt như: Kinh tế, xã hội, môi trường, chính trị, địa lý, văn hóa,… Thông qua các đề tài mà nhóm đã đề xuất trong quá trình học tập
Đề tài dự án nhóm: Tình trạng học sinh, sinh viên ở Việt Nam thường xuyên học vẹt ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục, nằm ở Mục 4: Giáo dục có chất lượng của
17 mục tiêu Phát triển của Liên Hợp Quốc theo chủ đề lớp Từ đó nhóm tiến hành Bước 1 để thu thập các từ khóa thể hiện cho ý tưởng của mỗi thành viên.
Bước 1: Phát hiện vấn đề từ chủ đề lớp
Tìm ra vấn đề từ chủ đề lớp:
- Từ chủ đề lớp đã được giảng viên giao, mỗi thành viên nhóm em đã đưa ra được 3 ý kiến mà thành viên đó cho là phù hợp với chủ đề của lớp.
Đề xuất ý kiến cá nhân:
- Nhóm trưởng dẫn dắt nhóm thảo luận và mỗi thành viên đưa ra được một ý kiến mà bản thân có hứng thú và cho rằng phù hợp với chủ đề lớp.
- Từ phiếu 1T-1, nhóm em đã thu được các ý kiến tương ứng với mỗi thành viên như sau:
• Trần Đại Cương: Tình trạng thu nhập thấp của công nhân
• Trần Chí Phát: Khai thác mỏ khoáng sản một cách quá mức dẫn đến việc khan hiếm
• Nguyễn Phạm Yến Vy: Rác thải nhựa làm ô nhiễm môi trường biển ở Nha Trang
• Trần Thị Nam Phương: Tình trạng học sinh, sinh viên ở Việt Nam thường xuyên học học vẹt ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục
Trang 6• Nguyễn Thị Linh Chi: Cháy rừng dẫn đến trái đất nóng lên làm biến đổi khí hậu
• Hoàng Quốc Đạt: Sử dụng điện hao phí ở thành thị
• Nguyễn Ngọc Hân: Sự phun trào nham thạch của núi lửa dưới lòng biển và các khí thải độc hại từ nhà máy làm ảnh hưởng đến nước biển
và các loài sinh vật ở Việt Nam.
Đánh giá các đề tài, đề xuất:
- Từ kết quả thu được từ mỗi thành viên, mọi người sẽ cùng nhau bàn luận, đánh giá và đưa ra một vấn đề mà các thành viên đều đồng tình và có hứng thú với chủ đề đó
- Các thành viên suy nghĩ và chọn các tiêu chí đánh giá, kiểm tra xem đề xuất có phù hợp với các tiêu chí đặt ra hay không Các tiêu chí đánh giá và lựa chọn như:
• Không đòi hỏi chi phí cao để thực hiện.
• Dễ thu nhập thông tin cho vấn đề này.
• Có thể hoàn thành trong thời gian khóa học.
• Mang lại sự hữu ích cho xã hội.
• Dễ dàng tiếp cận được với các bên liên quan đến vấn đề.
• Nhiều người muốn tham gia giả quyết vấn đề này.
• Dễ sử dụng kiến thức và kinh nghiệm hiện có
- Từ phiếu 1T-2, đề tài nhóm tạm thời được chọn ra chính là: Tình trạng học sinh, sinh viên ở Việt Nam thường xuyên học vẹt ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục.
Bước 2: Khảo sát thực trạng của vấn đề
Sau khi đưa ra các vấn đề để lựa chọn ở Bước 1 nhóm quyết định lựa chọn
vấn đề của bạn Nam Phương để làm đề tài dự án của nhóm: “Tình trạng học
sinh, sinh viên Việt Nam học vẹt làm ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục” Nhóm lựa chọn vấn đề này vì đây là một vấn đề đáng quan ngại của ngành giáo dục, nếu có thể giải quyết được vấn đề này sẽ giúp ích rất lớn cho các bạn học sinh, sinh viên nói riêng và ngành giáo dục ở Việt Nam nói chung.
Từ phiếu 2P1 và 2P2 nhóm đã đưa ra một bộ câu hỏi để khảo sát các bên liên quan như phụ huynh, học sinh và sinh viên tới các vấn đề xoay quanh tình trạng học vẹt khảo sát được chia làm 2 lần:
- Lần khảo sát thứ nhất 15 phụ huynh với 2 câu hỏi:
• Cô/ Chú cho thấy tình trạng học vẹt ở học sinh, sinh viên hiện nay như thế nào?
Trang 7• Cô/ Chú nghĩ đâu là lý do học sinh, sinh viên học vẹt?
KẾT QUẢ:
Qua kết quả khảo sát cho thấy có 86.7% phụ huynh được khảo sát cho rằng hiện nay rất nhiều các bạn học sinh, sinh viên đang sử dụng phương pháp học vẹt trong
đó có cả con em của họ Có rất nhiều
lý do, cụ thể là 53,3% phụ huynh cho rằng do các em có cách học sai lệch như thế là do chương trình giáo dục khô khan và quá tải, gây cho các em cảm giác nhàm chán khi tới các tiết học đó Bên cạnh đó 26,7% phụ huynh cho rằng các em học vẹt vì muốn đối phó với giáo viên, phụ huynh và 6,7% người được khảo sát cho rằng do các em chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc học dẫn đến không có hứng thú với bài học.
- Lần khảo sát thứ 2 gồm 60 người trong đó có : 24 sinh viên, 15 phụ huynh,
10 thầy cô và 25 học sinh, với lần khảo sát này nhóm đã đưa ra 5 câu hỏi cho việc khảo sát:
• Anh chị nghĩ học vẹt là như thế nào?
• Anh chị nghĩ như thế nào về tình trạng học vẹt ở Việt Nam?
• Hậu Quả của việc học vẹt là gì?
• Tính nghiêm trọng của việc học vẹt như thế nào?
• Anh chị nghĩ học vẹt , học tủ và gian lận trong thi cử vấn đề nào đang được diễn ra nhiều nhất?
Biểu đồ khảo sát mức độ nghiêm trọng của tình trạng học vẹt
Trang 8Biểu đồ khảo sát tình trạng đang xảy ra nhiều nhất
KẾT QUẢ :
Lần khảo sát thứ 2 nhóm chúng em đã chứng minh được vấn đề học vẹt đang được quan tâm rất nhiều, thậm chí nó còn gây ra hậu quả nghiêm trọng cho ngành giáo dục hiện tại của đất nước và sau đây là kết quả khảo sát:
• Với câu hỏi đầu tiên có 28 người nghĩ học vẹt là học như con vẹt không hiểu nghĩa, 15 người cho rằng trong học vẹt là học thuộc lòng
lý thuyết và 17 người chọn học là học cho có
• Câu thứ 2 có 48 người cho rằng có rất nhiều học sinh, sinh viên học vẹt ở Việt Nam, số còn lại họ không quan tâm nhiều đến vấn đề này
vì họ cho rằng học vẹt là việc rất bình thường ở học sinh, sinh viên
• Với câu hỏi thứ 3 và thứ 4 có 71,4% cho rằng học vẹt là vấn đề cực
kỳ nghiêm trọng và nó gây ra các hậu quả như không nắm vững kiến thức để vào thực tế, thiếu khả năng tư duy, sáng tạo
• Với câu hỏi cuối cùng các đối tượng khảo sát cho rằng học vẹt là vấn
đề đang được diễn ra nhiều nhất chiếm phần trăm cao nhất: 62,1% Mục tiêu sau khi khảo sát: Sau khi qua 2 đợt khảo sát nhóm đã đặt ra 3 mục tiêu
khi giải quyết vấn đề Tình trạng học sinh sinh viên Việt Nam học vẹt là :
1 Giảm thiểu số lượng học sinh sinh viên học vẹt
2 Tạo ra các lớp học không gây nhàm chán
3 Đổi mới các phương pháp giảng dạy của giáo viên
Trang 9CHƯƠNG II PHÂN TÍCH SỰ TỒN TẠI & NHU CẦU
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
Bước 3: Khảo sát ý kiến nhu cầu giải quyết vấn đề của các bên liên
quan
Câu trả lời phỏng vấn của các bên liên quan:
• Thanh Trúc (Sinh Viên Trường UEF - Ngành KDQT): “Nhà trường nên tạo điều cho học sinh, sinh viên học thực hành song song với lý thuyết để tạo hứng thú học hơn”
• Cô Hồng Minh (Giáo Viên Toán - Trường THPT Trần Phú):‘‘Các em học sinh, sinh viên nên thử phương pháp học theo sơ đồ tư duy để có thể hiểu bài’’
• Chú Ngọc Hải (Phụ Huynh em Mai Ngọc):‘‘Giáo viên nên dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh”
• Em Mai Ngọc (Học Sinh Trường THCS Chu Văn An): “Dạ giảm bớt bài tập để cho chúng em có thể có thời gian thực hành hơn”
Ưu điểm của đề tài
• Đề tài tương đối dễ quản lí và thực hiện
• Mang lại lợi ích cho cá nhân và cộng đồng
• Dễ tiếp cận với các bên liên quan, dễ thu thập thông tin của vấn đề
• Dễ sử dụng kiến thức và kinh nghiệm hiện có của mỗi cá nhân
• Không đòi hỏi chi phí cao để thực hiện
• Nhiều người muốn tham gia giải quyết vấn đề này
• Học vẹt là tình trạng đang đáng quan ngại và có tính ảnh hưởng nghiêm trọng
• Làm trì trệ đến chất lượng giáo dục nên là vấn đề được mọi lứa tuổi quan tâm
Khuyết điểm của đề tài:
• Hầu hết học sinh sinh viên Việt Nam đều học vẹt nên có quá nhiều đối tượng học sinh sinh viên
• Khó hoàn thành trong thời gian ngắn
• Phạm vi rộng khó khảo sát để lấy thông tin
Đề tài nhóm chính thức: Tình trạng học sinh, sinh viên Việt Nam thường xuyên học vẹt làm ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục.
Trang 10Kết luận: Với mức độ nghiêm trọng của vấn đề về tình trạng học vẹt sẽ để lại các hậu quản nghiêm trọng, làm trì trệ nền giáo dục, ảnh hưởng đến chất lượng học tập và giảng dạy, các bên liên quan mong muốn đưa ra các biện pháp thay đổi và cải thiện vấn đề càng sớm càng tốt để làm giảm đi số lượng học sinh, sinh viên học vẹt mỗi năm.
CHƯƠNG III PHÂN TÍCH CÁC GIẢI PHÁP HIỆN CÓ
Bước 4: Khảo sát các giải pháp hiện có của vấn đề
Qua phiếu 4P1 của các thành viên, nhóm em đã khảo sát và đưa ra 3 giải pháp chính:
Nhà trường thay đổi cách dạy học tích cực, dạy học theo hướng phát triển năng lực của học sinh
Nhà trường tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên học thực hành song song với lý thuyết để tạo hứng thú học tập
Phương pháp học theo sơ đồ tư duy giúp học sinh, sinh viên hiểu bài hơn
Giải pháp 1: Nhà trường thay đổi cách dạy học tích cực, dạy học theo hướng phát
triển năng lực của học sinh
• Thầy cô phải thay đổi thói quen dạy học trước đây
• Chương trình ở các cấp giảm tải nhưng tuy nhiên vẫn còn khá nặng đối với nhiều giáo viên và học sinh
• Nhiều cán bộ giáo viên còn mơ hồ, lúng túng không biết những phương pháp dạy học hiện đại, phát triển năng lực học sinh
Giải pháp 2: Nhà trường tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên học thực hành song
song với lý thuyết để tạo hứng thú học tập
Trang 11• Ngoài ra, các bạn có cơ hội vận dụng kiến thức được học, hình thành năng lực và hoàn thiện về nhân cách, phẩm chất Tăng cường thảo luận nhóm, tăng tương tác giữa giáo viên và học sinh thúc đẩy sự phát triển năng lực xã hội của học sinh.
Giải pháp 3 : Phương pháp học theo sơ đồ tư duy giúp học sinh, sinh viên hiểu bài hơn
Điểm mạnh:
• Làm nổi bật vấn đề trung tâm, vấn đề cần được thảo luận.
• Giúp cho việc ghi nhớ trở nên đơn giản và dễ dàng hơn rất nhiều Đồng thời, thời gian ghi nhớ cũng lâu hơn so với cách học thông thường
• Dễ dàng thêm thông tin vào sơ đồ tư duy.
• Có thể sử dụng sự hỗ trợ của nhiều phần mềm khác nhau trên máy tính.
• Bao quát toàn bộ kiến thức và liên kết kiến thức
• Cải hiện thời gian học
• Phát huy khả năng sáng tạo
Trang 12CHƯƠNG IV PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN CỦA VẤN
ĐỀ
Bước 5: Phân tích cấu trúc, nguyên nhân của vấn đề
Phân tích cấu trúc nguyên nhân vấn đề:
Qua phiếu 5T1, nhằm khảo sát ý kiến của các thành viên trong nhóm và để chỉ ra nguyên nhân cụ thể của vấn đề, và bởi vì vấn đề càng lớn thì càng tìm thấy nhiều lý do làm phát sinh vấn đề nếu cố giải quyết vấn đề lớn ngay từ đầu thì sẽ gặp khó khăn Cũng chính vì lý do đó nhóm đã quyết định lựa chọn nguyên nhân gần gũi, dễ bám sát và đặc biệt là dễ tiếp cận với các thành viên trong nhóm cũng như mọi người và nguyên nhân cụ thể đó chính
là : Vấn đề cá nhân
Từ đó nhóm cũng đã bàn luận ra được các nhóm nguyên nhân của vấn đề
qua phương pháp Brainwriting (theo vòng suy nghĩ) theo từng thành viên
như sau:
Bạn Yến Vy:
• Học sinh sinh viên không chú ý nghe giảng
• Lớp học nhàm chán thụ động
• Học sinh sinh viên không nêu lên được quan điểm cá nhân
• Các môn học học bài quá nhiều không thể tóm gọn lại để học bài
Bạn Chí Phát :
• Học sinh sinh viên không chủ động tìm hiểu về mặt thực hành
• Thiếu sự tương tác giữa giáo viên và học sinh
Bạn Đại Cương:
• Học sinh sinh viên học lí thuyết không áp dụng vào thực
• Học lí thuyết không song song thực hành làm cho học sinh,sinh viên không hiểu rõ bài học
• Lượng bài học, kiến thức quá dài
Trang 13• Sách giáo khoa không cô động kiến thức
• Học sinh, sinh viên sẽ nhàm chán khi học không đúng theo năng lực của mình
• Phụ huynh không biết được năng lực thật sự của con em mình
Bạn Quốc Đạt:
• Không gian học không gây hứng thú cho học sinh sinh viên Nhóm tìm ra được các nhóm nguyên nhân lớn bao quát mỗi nguyên nhân nêu trên:
• Ý thức của học sinh, sinh viên.
• Môi trường học tập
• Tình trạng học sinh, sinh viên ngày nay
• Phương pháp giảng dạy
• Bộ giáo dục
• Phụ huynh
Nguyên nhân cụ thể của vấn đề: Học sinh, sinh viên không chú ý nghe giảng
CHƯƠNG V TẠO Ý TƯỞNG GIẢI PHÁP
Bước 6: Lựa chọn nguyên nhân vấn đề cụ thể của vấn đề
Bước 7:Đề xuất giải pháp giải quyết nguyên nhân cụ thể của vấn đề
Nguyên nhân cụ thể đã lựa chọn: Học sinh, sinh viên không chú ý
nghegiảng
Đơn giản là bởi vì xung quanh cuộc sống của các cô cậu học trò thời buổi hiện nay
có hàng ngàn, hàng vạn cám dỗ khác nhau thú vị hơn rất nhiều so với những kiến thức trong bài giảng của thầy cô Và tất nhiên, xu hướng của tâm trí con người sẽ
là chọn những thứ tạo ra sự thoả mãn về mặt cảm xúc trước, hơn là phải suy nghĩ
về những con số, bài toán, những kiến thức khoa học đầy phức tạp Không tập
Trang 14trung nghe giảng sẽ không thể hiểu rõ bài học dẫn đến tình trạng học vẹt, học qua loa cho có, không khắc sâu kiến thức
Qua các khảo sát nhóm đã xác định được điều kiện ràng buộc như sau:
Điều kiện 1: Tiền bạc (Chi phí cho học sinh, sinh viên phục vụ cho việc học) và điều kiện cần phải thỏa mãn là từ 2 – 5 triệu nhằm đáp ứng đủ nhu cầu chủ quan đến khách quan trong học tập
Minh chứng từ :“ Nguồn : Trung tâm vật tư thiết bị thí nghiệm Nguyên Việt Triều”
Điều kiện 2: Thời gian (Thời gian để học sinh thay đổi về mặt ý thức của bản thân)
và điều kiện cần thỏa mãn giao động từ 3 – 6 tháng để học sinh, sinh viên kịp thích nghi và có hứng thú với môi trường học mà mình đã yêu thích và lựa chọn.
Minh chứng từ “Nguồn: Phỏng vấn 20 học sinh, sinh viên thành phố Thủ Đức”.
Điều kiện 3: Sự thay đổi trong cơ cấu giảng dạy và quản lí (Rèn luyện phẩm chất)
và nhóm đã đưa ra dẫn chứng về điều kiện cần phải thỏa mãn là tạo ra một hệ thống đánh giá phẩm chất trên bảng điểm (từ 0-50 là yếu), (51-75 khá), (75-95 tốt), (95-100 xuất sắc), nhằm đánh giá được học sinh, sinh viên một cách bao quát và thấy rõ được khả năng thích ứng, tham gia các hoạt động trong chính môi trường học
Minh chứng từ:” Nguồn: https://student.uef.edu.vn”.
Qua các điều kiện ràng buộc ở phiếu 6T1 - 6P1 mà nhóm đã thảo luận và tìm hiểu thì mỗi thành viên trong nhóm đã tự nghiên cứu và đưa ra những ý tưởng và nêu ra những đề xuất giải pháp cho riêng mình qua phiếu 7P1:
• Ghi chép rõ ràng, có khoa học (Của bạn Đại Cương)
• Lập kế hoạch cho việc học (Của bạn Yến Vy)
• Xác định phương pháp học tập phù hợp năng lực của bản thân (Của bạn Nam Phương)
• Học sinh sinh viên chuẩn bị bài trước ở nhà (Của bạn Linh Chi)
• Học tập kết hợp thư giãn (Của bạn Ngọc Hân)
• Học sinh sinh viên phải rèn luyện ý thức tích cực tham gia xây dựng các hoạt động của nhóm, lớp, trường, bài học (Của bạn Quốc Đạt)
• Tổ chức Mini game thi đua giữa các sinh viên trong lớp (Của bạn Chí Phát).
Đánh giá và lựa chọn giải pháp:
Trang 15Qua phiếu 7T-1, nhóm đã có đánh giá và đưa ra giải pháp như sau: Lập kế hoạch cho việc học là giải pháp được đánh giá cao điểm nhất (6đ)
• Hầu như các giải pháp đều rất dễ thực hiện
• Các giác giải pháp đều ứng dụng sẽ mang lại nhiều đóng góp cho xã hội cũng như các bên liên quan.
• Qua các giải pháp trên, nhóm quyết định chọn đề tài có mức điểm cao nhất để làm giải pháp cho nhóm, vì những nguyên nhân sau:
• Giải pháp lập kê hoạch cho việc học có thể được nhận diện và áp dụng với mức khả thi cao.
• Giải pháp sẽ thu hút được sự chú ý của mọi người
Mô tả giải pháp đã chọn:
• Kế hoạch cho việc học là một lịch trình có tổ chức, phác thảo thời gian học và mục tiêu học tập Học sinh, sinh viên nên xây dựng một lịch trình thời gian dành riêng cho việc học mỗi tuần Lịch trình này nên bao gồm các công việc của ngày hôm sau, các môn học cần phải học, bài kiểm tra và kỳ thi, cũng như thời hạn cho các bài tập và dự án.
• Bạn hãy dành một chút ít thời gian của tối hôm trước, trước khi đi ngủ,
để đánh dấu các công việc của ngày hôm sau Một cuốn sổ tay hay một cuốn lịch để bàn sẽ giúp bạn đánh dấu những việc quan trọng Việc đánh dấu những việc quan trọng giúp bạn kiểm soát công việc cũng như thời gian một cách chủ động và có thể tập trung hoàn toàn cho một công việc.
Điểm mạnh của giải pháp:
• Sử dụng thời gian 1 cách hợp lí đảm bảo rằng bạn đang dành đủ thời gian
để giải trí cũng như để hoàn thành bài tập về nhà, ôn tập cho các bài kiểm tra cũng như xem lại các bài bạn đang học.
• Có kế hoạch, mục tiêu rõ ràng giúp bạn không lơ mơ trong việc học mà tập chung chú ý nghe giảng hơn
• Sẽ làm tốt công việc hơn vì đã được đặt ra các kế hoạch, mục tiêu rõ ràng
Điểm yếu của giải pháp:
• Trong một ngày có thể có những công việc xảy ra không theo kế hoạch
Trang 16• Tốn thời gian để thống kê lại những việc cần phải làm để lập ra kế hoạch
• Phải hoạt động, lập trình theo 1 kế hoạch nhất định đôi khi sẽ hơi rập khuôn, không thoải mái
CHƯƠNG VI KẾT LUẬN
Qua môn học Project Design 1, các bạn sinh viên đã có cái nhìn khái quát hơn
để rèn luyện các kĩ năng: Kĩ năng giao tiếp, làm việc nhóm, thuyết trình, tìm kiếm thông tin, lập kế hoạch, phỏng vấn, phân tích- tổng hợp, viết báo cáo, đưa
ra giải pháp tối ưu, Giúp sinh viên nâng cao ý thức, tư duy biện luận và rèn luyện kỹ năng mềm nhằm giải quyết các vấn đề trong thực tế đời sống Sinh viên học cách phát hiện và giải quyết vấn đề một cách hiệu quả, sáng tạo Đây
là môn học cần thiết để sinh viên học tốt các môn học chuyên ngành của ở bậc học cao hơn, đồng thời cũng giúp sinh viên có thể thích nghi ngay với môi trường làm việc sau khi tốt nghiệp.
Trong suốt 15 buổi học và quy trình 7 bước project design, mỗi sinh viên trong nhóm đã có bước tiến lớn trong quá trình làm việc Trở thành một người có khả năng suy nghĩ độc lập trong nhiều môi trường khác nhau, sinh viên được cộng tác với những người khác Sinh viên có suy nghĩ và hành động độc lập,ứng dụng suy nghĩ chủ động và phân tích Cụ thể hơn, các bạn có thể mạnh dạn và
tự tin hơn khi đứng thuyết trình trước lớp, điều mà các bạn khó có thể làm được trước khi học bộ môn này Đồng thời, nâng cao tinh thần trách nhiệm của bản thân trong quá trình làm việc nhóm, thể hiện rõ ràng hơn qua deadline của mỗi phiếu và mỗi bước.
Thông qua môn Project Design 1, sinh viên có thể nhận ra được sinh viên cần làm gì khi vướng mắc một vấn đề và sắp xếp xử lý nó như thế nào cho hợp lý với thực tế, theo một hướng tích cực để mọi người có thể hiểu được điều chúng
ta muốn hướng đến, môn học này mang lại những kinh nghiệm trong cuộc sống
và công việc của mỗi sinh viên Giống như vấn đề của nhóm đặt ra, lên kế hoạch, thực hiện giải quyết vấn đề của nhóm, dựng nên một chương trình cụ
Trang 17thể, có hoạch định rõ ràng sẽ giúp chúng ta có thể giải quyết mọi vấn đề từ cải thiện cho đến hoàn thành một cách trọn vẹn Môn học này tạo mối liên kết cho các thành viên hiểu được khả năng của mỗi người trong nhóm hơn thông qua các suy nghĩ hành động của mỗi cá nhân và giúp đỡ nhau đưa ra hướng giải quyết thích hợp Đồng thời, môn học còn giúp cho sinh viên có tư duy phản biện, tiếp nhận thông tin tốt hơn để làm bước đệm cho tương lai sau này
Với đề tài nhóm “Tình trạng học sinh, sinh viên Việt Nam thường xuyên học vẹt ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục” mà nhóm đã đưa ra Thông qua những cuộc khảo sát, phỏng vấn thì có rất nhiều các bạn học sinh, sinh viên đã từng hay đang gặp phải tình trạng này Từ đó nhóm đã đưa ra những biện pháp hiện
có để giúp cho học sinh sinh viên cải thiện học tập tốt hơn và phần nào cũng giải quyết được tình trạng mà lứa tuổi đi học đang gặp phải.Tuy nhiên, để giải quyết triệt để tình trạng học vẹt thì rất khó, vì phụ thuộc vào ý thức và sự rèn luyện phẩm chất của mỗi người Vì thế, qua nhiều thời gian tìm hiểu cũng như suy nghĩ hướng giải quyết phù hợp hợp thì nhóm đã quyết định giải pháp cuối cho đề tài này là “Lập kế hoạch cho việc học” với dự định sẽ có thể giúp các bạn học sinh, sinh viên Sử dụng thời gian 1 cách hợp lí đảm bảo rằng các bạn học sinh, sinh viên dành đủ thời gian để giải trí cũng như để hoàn thành bài tập
về nhà, ôn tập cho các bài kiểm tra cũng như xem lại bài các bạn đang học Khi
có kế hoạch, mục tiêu rõ ràng giúp các bạn học sinh, sinh viên không lơ mơ trong việc học mà tập chung chú ý nghe giảng hơn Sẽ làm tốt công việc của mình hơn vì đã được đặt ra các kế hoạch, mục tiêu rõ ràng.
Trang 18TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Khánh Kiều – Vì sao học sinh mất tập trung trong học tập – 28/10/2012
a3051.html
https://baodongkhoi.vn/vi-sao-hoc-sinh-mat-tap-trung-trong-hoc-tap-28102012-[2] Sơn Thuỷ – “Nước Đến Chân Mới Nhảy” – Tình Trạng Chung Của Sinh Viên
https://amslink.edu.vn/thu-vien-1/so-do-tu-duy-phuong-phap-hoc-dot-pha-va-hieu-[4] Nguyễn Quỳnh – Học sinh FPT “Vẽ” Lịch Sử bằng sơ đồ tư duy – 16/08/2013
qua- 5e63cc2d06979c146769f492
https://www.ybox.vn/ky-nang/tomo-15-cach-sang-tao-de-ve-so-do-tu-duy-hieu-[5] Nghiêm Huê, Nguyễn Hà – Giáo dục và mục tiêu phát triển bền vững – 12/12/2021
http://c2binhnhan.tuyenquang.edu.vn/tin-tuc-su-kien/chuyen-de-giao-duc/doi-moi-[11] Tuyết Vân – Vận dụng sơ đồ tư duy trong học tập – 26/11/2011
https://thanhnien.vn/giao-duc/van-dung-so-do-tu-duy-trong-hoc-tap-124963.html
[12] Hoàng Nga – Cùng học sinh chinh phục đỉnh cao kiến thức – 15/11/2017