Ngoài những người được nhận thừa kế theo di chúc hợp pháp thì trường hơp di chúc không hợp pháp hoặc người chết không đế lại di chúc thì di sản sẽ được phân chia như thế nào, pháp luật q
Trang 1TIỂU LUẬN LUẬT KINH TẾ
Chủ đề: Tự chọn
Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Hồng Lĩnh
Sinh viên thực hiện: Phạm Văn Đồng
Lớp: QL25-43
Mã sinh viên: 2520110829
Hà Nội - 2021
Trang 21 Khái niệm thừa kế theo pháp luật, những trường hợp chia thừa kế theo pháp luật 4
1.1 Khái niệm thừa kế ……….4
1.2 Khái niệm thừa kế theo pháp luật ……….4
1.3 Những trường hợp chia thừa kế theo pháp luật ……… 4
2 Người thừa kế theo pháp luật ……… 8
2.1 Diện thừa kế và hàng thừa kế ……….8
2.1.1 Diện thừa kế ……… 8
2.1.2 Hàng thừa kế ………8
2.2 Ý nghĩa của việc phân định hàng thừa kế ……… 9
2.3 Mối quan hệ giữa người để lại thừa kế và những người trong diện thừa kế ở hàng thứ nhất ……… 9
2.3.1 Quan hệ thừa kế giữa vợ với chồng và ngược lại………9
2.3.2 Quan hệ thừa kế giữa cha mẹ đẻ với con đẻ và ngược lại ……….9
2.3.3 Quan hệ thừa kế giữa cha mẹ nuôi với con nuôi và ngược lại ………10
2.3.4 Quan hệ thừa kế giữa con riêng với bố dượng, mẹ kế ……….10
3 Thừa kế thế vị ………10
3.1 Khái niệm thừa kế thế vi ……… 10
3.2 Điều kiện phát sinh trường hợp thừa kế thế vị ………11
KẾT LUẬN
Tài liệu tham khảo
Trang 3MỞ ĐẦU
Trong cuộc sống bộn bê nhộn nhịp như ngày nay ở thế kỷ 21 này, xã hội ngày càng phát triển đồng nghĩa với việc có nhiều vấn đề nảy sinh và không thế không nhắc đến
đó là vấn đề về thừa kế Mặc dù thừa kế là mối quan hệ lâu đời trong lịch sử và phát triển theo sự phát triến của con người Nhưng nhằm giải quyết những thắc mắc cũng như hạn chế sự tranh chấp không đáng có của những người quan tâm cũng như tránh
sự nhận thức không đầy đủ của cá nhân, sự áp dụng không thống nhất giữa các cấp Tòa án Pháp luật Việt Nam đã quy định trong BLDS 2015 tại phần thứ tư của bộ luật gồm bốn chương : quy định chung, thừa kế theo dị chúc, thừa kế theo pháp luật, thanh toán và phân chia di sản; 51 điêu từ điều 609 đến điều 662 Cũng như đã nói ở trên vấn đề về thừa kế luôn luôn được quan tâm Ngoài những người được nhận thừa
kế theo di chúc hợp pháp thì trường hơp di chúc không hợp pháp hoặc người chết không đế lại di chúc thì di sản sẽ được phân chia như thế nào, pháp luật quy định ra sao tôi xin được làm rõ một số vần đề trong bài tiếu luận dưới đây
Trang 4NỘI DUNG
1, Những khái niệm về thừa kế theo pháp luật, những trường hợp chia theo pháp luật
1.1, Những vấn đề về thừa kế 1.1.1 Khái niêm:
- Thừa kế là sự dich chuyển tài sản của người chết cho người còn sống theo di chúc hoặc theo pháp luật
1.1.2 Khái niệm quyền thừa kế
- Quyền thừa kế là một phạm trù pháp lý
- Quyền thừa kế được hiểu là quyền của chủ thể được để lại tài sản của mình cho người khác hưởng sau khi chết và quyền của chủ thể được hưởng di sản của người khác để lai
- Quyền này được ghi nhận trong các văn bản pháp luật như:
+ Hiến pháp + Luật dân sự + Luật dất đai + Luất hôn nhân gia đình
1.2 Khái niệm thừa kế theo pháp luật
- Thừa kế theo pháp luật là sự chuyến dịch di sản của người chết cho những người còn sống theo mối quan hệ ràng buộc về huyết thống, về hôn nhân, sự thân thuộc giữa người có tài sản để lại sau khi họ chết và người nhận di sản
- Thừa kế theo pháp luật về bản chất là bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của những người có quan hệ huyết thống, gia đình với người có tài sản khi người này chết
- Nói tóm lại, “ Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định” theo Điều 649 BLDS2015
1.3 Những trường hợp chia thừa kế theo pháp luật
- Theo quy định tại Điều 650 BLDS 2015 các trường hợp thừa kế theo pháp luật chia thành hai loại ở hai phạm vi khác nhau: toàn bộ di sản và một phần di sản được chia cho những người thừa kế theo pháp luật:
1.3.1 Toàn bộ di sản thừa kế được chia cho những người thừa kế theo pháp luật
Trang 5- Toàn bộ di sản được chia thừa kế theo pháp luật trong trường hợp không có di chúc Các trường hợp sau đây được coi là không có di chúc và di sản được chia thừa
kế theo pháp luật:
- Chủ sở hữu có điều kiện do pháp luật quy định được lập di chúc nhưng người này không lập di chúc
- Quyền lập di chúc là quyền năng đặc biệt, biểu hiện sự tự do ý chí, sự tự nguyện của người đế lại thừa kế trong việc định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình Quyền
tự do lập di chúc là quyền pháp định cho cá nhân thông qua việc cá nhân thực hiện quyền định đoạt đối với tài sản của mình ngay cả sau khi chết
- Có thế hiểu nguyên tắc này với ý nghĩa rộng hơn, đó là: nếu cá nhân có quyền lập
di chúc thì đồng thời cá nhân cũng có quyền không lập di chúc định đoạt tài sản của mình Như vậy, nếu cá nhân không lập di chúc thì toàn bộ tài sản hợp pháp của cá nhân đó được để lại cho người thừa kế theo pháp luật
- Trước khi chết, cá nhân có tài sản có lập di chúc nhưng sau đó chính họ hủy bỏ di chúc đã lập
-Người lập di chúc có quyền không công nhận do mình lập ra là có giá trị trong trường hợp này người lập di chúc có thể tuyên bố bằng văn bản rằng di chúc mình đã lập vô hiệu hoặc bằng một hành vi cụ thế tiêu hủy toàn bộ di chúc và cho tới thời điếm người này chết mà không lập thêm bất kì di chúc nào thì toàn bộ tài sản của người đó trở thành di sản được chia theo luật
- Trước khi chết, cá nhân có lập di chúc nhưng di chúc bị thất lạc, hư hại đến mức không thể hiện được đầy đủ ý chí của người lập di chúc và cũng không có bằng chứng nào chứng minh ý nguyện đích thực của người lập di chúc thì coi như không
có di chúc và chia theo quy định của pháp luật Điều 642 BLDS 2015
- Trước khi chết, cá nhân có lập di chúc nhưng nội dung di chúc không rõ ràng, gây
ra nhiều cách hiếu khác nhau thì việc chia tài sản được áp dụng theo quy định về thừa
kế theo pháp luật Điều 648 BLDS 2015
- Toàn bộ di sản thừa kế áp dụng thừa kế theo pháp luật trong trường hợp có di chúc nhưng di chúc không hợp pháp Các điều kiện để di chúc hợp pháp khác với điều kiện
di chúc có hiệu lực
+ Di chúc được lập hợp pháp chưa hẳn sẽ phát sinh hiệu lực khi người lập di chúc chết, nhưng chắc rằng để di chúc phát sinh hiệu lực vào thời điếm mở thừa kế thì trước hết di chúc đó phải là di chúc hợp pháp Di chúc có hợp pháp là di chúc có đầy
đủ các điều kiện theo quy định của thừa kế theo pháp luật Điều 630 BLDS 2015 + Toàn bộ di sản được áp dụng thừa kế theo pháp luật trong trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc được coi là chết cùng thời điểm với
Trang 6người lập di chúc thì việc chia tài sản được thực hiện theo quy định của thừa kế theo pháp luật Điều 619 BLDS 2015
- Trong trường hợp thừa kế theo di chúc thì người thừa kế có thế là bất kì cá nhân nào, có thể là Nhà nước, hoặc cơ quan, tổ chức tùy thuộc vào ý nguyện của người lập
di chúc Tuy được chỉ định là người thừa kế theo di chúc nhưng để trở thành người được hưởng thừa kế thì các chủ thế này cũng phải đáp ứng điều kiện do pháp luật quy định Một số điều kiện như sau:
+ Đối với cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế
+ Đối với cơ quan, tổ chức phải là cơ quan, tổ chức còn tồn tại vào thời điếm mở thừa
kế, vẫn đang hoạt động bình thường, chưa bị giải thể hay tuyên bố phá sản
- Vì vậy, nếu toàn bộ những người thừa kế theo di chúc chết trước hay chết cùng thời điểm với người lập di chúc, các cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc đều không tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì toàn bộ tài sản của người lập di chúc được chuyển cho những người thừa kế theo pháp luật của người đó
- Toàn bộ di sản thừa kế áp dụng thừa kế theo pháp luật trong trường hợp những người thừa kế theo di chúc không có quyền hưởng di sản
-Vì pháp luật cho phép người lập di chúc có quyền tự do, tự nguyện lập di chúc, nên
họ có quyền chỉ định bất kì ai được hưởng quyền thừa kế
- Tuy nhiên muốn trở thành người thừa kế theo di chúc thì những người này phải đáp ứng đầy đủ những điều kiện do pháp luật quy định Một trong những điều kiện đó là: không phụ thuộc một trong những trường hợp không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 BLDS 2015
- Vì vậy, toàn bộ di sản thừa kế sẽ được áp dụng thừa kế theo pháp luật Khi di sản thừa kế được áp dụng thừa kế theo pháp luật và nêu những người nêu trên thuộc diện
và hàng thừa kế hoặc thừa kế thế vị thì họ vân thuộc trường hợp không có quyền hưởng di sản
- Toàn bộ di sản thừa kế áp dụng thừa kế theo pháp luật trong trường hợp những người thừa kế theo di chúc từ chối quyền hưởng di sản
- Pháp luật không những chỉ bảo đảm cho người thừa kể được hưởng di sản của người chết mà còn bảo đảm cho người thừa kế quyền từ chối nhận di sản thừa kế, trừ trường hợp việc từ chối thừa kế nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sân của người thừa kế đối với người thứ ba Điều 620 BLDS 2015
- Nếu việc từ chối nhận di sản thừa kế của những người thừa kế theo di chúc hợp pháp thì di chúc bị xem là không có hiệu lực, và di sản thừa kế được áp dụng chia thừa kế theo pháp luật
Trang 7- Trong trường hợp người thừa kế theo di chúc cũng đồng thời là người thừa kế theo pháp luật mà họ từ chối nhận di sản thừa kế thì cần phân biệt hai trường hợp sau: + Nếu họ chỉ từ chối quyền hưởng di sản theo di chúc thì di sản đó được chia cho những người thừa kế theo pháp luật và người từ chối vẫn được hưởng phần di sản được chia theo thừa kế pháp luật
+ Nếu họ từ chối toàn bộ quyền hưởng di sản thì di sản không chia cho người từ chối quyền hưởng di sản mà chỉ chia cho những người thừa kế theo pháp luật còn lại
1.3.2 Một phần di sản thừa kế chia theo pháp luật, còn một phần vẫn chia theo
di chúc
- Áp dụng thừa kế theo pháp luật trong trường hợp một phần di sản không được định đoạt trong di chúc
- Nếu người lập di chúc chỉ định một phần di sản trong di chúc đã lập thì khi mở thừa
kế phần tài sản còn lại sẽ được chuyển dịch những người thừa kế theo pháp luật trong trường hợp một người đã được hưởng di sản theo di chúc, nhưng nếu họ là người thuộc hàng thừa kế để được hưởng di sản theo pháp luật thì vân được hưởng phần di sản chia theo pháp luật, trù trường hợp người lập di chúc khắng định trong nội dung di chúc là người này chỉ được hưởng phần di sản mà người lập di chúc đã chỉ định trong nội dung
- Áp dụng thừa kế theo trường pháp luật trong trường hợp một phần di sản có liên quan đến phần di chúc không hợp pháp
- Khi di chúc bị coi là vô hiệu toàn bộ thì toàn bộ di sản mà người lập di chúc để lại
sẽ được chia cho những người thừa kế theo pháp luật của họ
- Trong trường hợp di chúc vô hiệu một phần mà phần đó không ảnh hưởng đến hiệu lực các phần còn lại của di chúc thì chỉ phần đó vô hiệu, các phần còn lại vân hợp pháp tại Điều 130 BLDS 2015 Trong trường hợp này, phần di sản liên quan đến phần di chúc có hiệu lực vẫn được chia theo di chúc, chỉ áp dụng thừa kế theo pháp luật đối với di sản liên quan đến phần di chúc không hợp pháp
- Trường hợp những người có quyền thừa kế di sản của nhau đều chết cùng thời điểm hoặc được coi là chết cùng thời điểm do không thể xác định được người nào chết trước (sau đây gọi chung là chết cùng thời điểm) thì họ không được thừa kế di sản của nhau và di sản của mỗi người do người thừa kế của người đó hưởng, trừ trường hợp thừa kế thế vị theo quy định tại Điều 652 của Bộ luật này ( Điều 619 BLDS 2015)
- Áp dụng thừa kế theo pháp luật đối với phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản tại Điều 621 BLDS
2015 Áp dụng thừa kế theo pháp luật đối với phần di sản có liên quan đến người
Trang 8được thừa kể theo di chúc nhưng họ từ chối quyền nhận di sản tại Điều 620 BLDS 2015
2 Người thừa kế theo pháp luật 2.1 Diên thừa kế và hàng thừa kế.
2.1.1 Diện thừa kế
- Phạm vi những người được quyền thừa kế di sản của người chết theo qui định của pháp luật được gọi là diện thừa kế
* Quan hệ hôn nhân + Quan hệ vợ chồng cho đến khi mở thừa kế, phải là quan hệ hôn nhân hợp pháp hoặc là quan hệ hôn nhân thực tế, được Toàn án thừa nhận
+ Trường hợp một bên xin ly hôn hoặc cả hai bên xin thuận tình ly hôn, nếu một bên chết, bên còn sống vân có quyền thừa kế của bên kia, vì về mặt pháp lý, quan hệ vợ chồng vẫn còn
* Quan hệ huyết thống + Quan hệ huyết thống là quan hệ giữa người để lại thừa kế và những người thừa kế cùng một “gốc” sinh ra với giới hạn phạm vi “mấy đời” theo quy định của pháp luật trong từng giai đoạn lich sử Như vậy, quan hệ huyết thống là quan hệ giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ và bàng hệ Trực hệ là mối quan hệ giữa những người mà người này sinh ra người kia Bàng hệ là mối quan hệ giữa những người thân thuộc không sinh ra nhau nhưng cùng từ một “gốc”
* Quan hệ nuôi dưỡng + Quan hệ nuôi dưỡng là quan hệ được xác lập trên cơ sở mối quan hệ giữa người để lại thừa kế và người được thừa kế mà trong đó họ đã chăm sóc nhau, nuôi dưỡng nhau, coi như “cha mẹ - con” đối với nhau Quan hệ nuôi dưỡng có thể là quan hệ giữa cha nuôi - con nuôi, mẹ nuôi - con nuôi, cha nuôi mẹ nuôi - con nuôi hoặc quan
hệ con riêng của vợ với bố dượng, con riêng của chồng với mẹ kế
2.1.2 Hàng thừa kế
- Hàng thừa kế là nhóm người trong diện thừa kế được pháp luật quy định xếp một lượt với nhau dựa vào mức độ quan hệ gần gũi với người để lại thừa kế nhằm hưởng
di sản của người này Theo diều 651 BLDS 2015 những người thừa kế được chia theo thứ tự sau đây:
+ Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ,
con nuôi của người chết
Trang 9+ Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột,
em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
+ Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại
2.2 Ý nghĩa việc phân định hàng thừa kế
Ý nghĩa: Quy định về ba hàng thừa kế theo pháp luật đã là một bước tiến trong quá
trình lập pháp ở nước ta và bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của người thùa kế
có quan hệ thân thuộc, gần gũi với người để lại di sản Đặc biệt, quyền sở hữu tài sản của công dân được mở rộng nhóm khách thể thuộc quyền sở hữu cá nhân bao gồm không những tư liệu sinh hoạt mà còn là tư liệu sản xuất không bị hạn chế về khối lượng và giá trị
2.3 Mối quan hệ người để lai thừa kế và những người trong diện thừa kế ở hàng thứ nhất
2.3.1 Quan hệ thừa kế giữa vợ với chồng và ngược lại:
- Vợ sẽ được thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất của chồng và ngược lại Tuy nhiên, chỉ coi là vợ chồng nếu hai bên nam nữ kết hôn hợp pháp Đối với quan hệ thừa kế giữa
vợ và chồng cần lưu ý:
+ Trong trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân mà sau đó một người chết thì người còn sống vẫn được hưởng thừa kế di sản
+ Trong trường hợp vợ, chồng xin ly hôn mà chưa được hoặc đã được Tòa án cho ly hôn bằng bản án hoặc quyết định chưa có hiệu lực pháp luật, nếu một người chết thì người còn sống vẫn được hưởng di sản thừa kế (khoản 2 Điều 680 Bộ luật dân sự 2015)
+ Người đang là vợ hoặc chồng của một người tại thời điểm người đó chết thì dù sau
đó đã kết hôn với người khác vẫn được thừa kế di sản (Khoản 3 Điều 680 Bộ luật dân
sự 2015)
+ Đối với trường hợp một người có nhiều vợ, nhiều chồng trước ngày 13/1/1960 ở Miền Bắc, trước ngày 25/3/1977 ở Miền Nam, cán bộ Miền Nam tập kết ra Bắc (trong khoảng thời gian từ năm 1954 đến 1975) lấy vợ, lấy chồng khác và kết hôn sau không bị Tòa án hủy bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật Trong trường hợp này, người chồng, người vợ được hưởng thừa kế ở hàng thừa kế thứ nhất của tất cả những người chồng (vợ) và ngược lại
2.3.2 Quan hệ thừa kế giữa cha mẹ đẻ với con đẻ và ngược lại:
Trang 10- Cha đẻ, mẹ đẻ, con đẻ được thừa kế theo pháp luật của nhau không chỉ là quy định của pháp luật thừa kế Việt Nam mà còn của hầu hết các nước trên thế giới Con đẻ được hưởng thừa kế của cha mẹ đẻ không kể là con trong giá thú hay con ngoài giá thú và ngược lại
2.3.3 Quan hệ thừa kế giữa cha mẹ nuôi với con nuôi và ngược lại:
+ Về phía gia đình cha nuôi, mẹ nuôi, con nuôi chỉ có quan hệ thừa kế với cha nuôi,
mẹ nuôi mà không có quan hệ thừa kế với cha đẻ, mẹ đẻ của người nuôi con nuôi Cha đẻ, mẹ đẻ của người nuôi con nuôi cũng không được thừa kế của người con nuôi đó
- Trường hợp cha nuôi, mẹ nuôi kết hôn với người khác thì người con nuôi đó không đương nhiên trở thành con nuôi của người đó, cho nên họ không phải là người thừa
kế của nhau theo pháp luật
+ Người đã làm con nuôi người khác vẫn có quan hệ thừa kế với cha đẻ, mẹ đẻ, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh chị em ruột, cô, bác, chú, dì, cậu ruột như người không làm con nuôi người khác
2.3.4 Quan hệ thừa kế giữa con riêng với bố dượng, mẹ kế:
Nếu có quan hệ nuôi dưỡng, chăm sóc nhau như cha con, mẹ con thì được hưởng thừa kế tài sản của nhau và còn được hưởng thừa kế tài sản theo quy định tại Điều
677 và Điều 678 Bộ luật dân sự 2015
3 Thừa kế thế vị 3.1 Khái niệm thừa kế thế vị.
Trước hết, cần phải hiểu thừa kế chính là việc tài sản thuộc sở hữu của người chết được giao lại cho những người còn sống qua sự định đoạt của chính họ bằng di chúc hoặc theo quy định của pháp luật
Lưu ý:
Người còn sống để hưởng di sản thừa kế được xác định:
– Còn sống tại thời điểm người đó chết – Người thành thai trước khi người đó chết, sau khi sinh ra còn sống
Như vậy, theo quy định này, có thể xác định người thừa kế của người chết nếu chết trước hoặc cùng lúc với người đó thì về nguyên tắc sẽ mất quyền hưởng di sản, vì họ không còn là “người còn sống” Tuy nhiên, nếu như người này là con của người để lại di sản thừa kế thì quyền của họ vẫn sẽ được duy trì nếu như vào thời điểm người này chết, họ đang có con hoặc cháu nội, ngoại (nếu con cũng đã chết) bởi lúc này