1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(TIỂU LUẬN) TIỂU LUẬN sự kết hợp các mặt đối lập

69 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự Kết Hợp Các Mặt Đối Lập
Tác giả Thái Nguyễn Nguyệt Minh
Người hướng dẫn TS. Trần Nguyên Ký
Trường học Trường Đại Học
Chuyên ngành Triết Học Mác - Lênin
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản K46
Thành phố Việt Nam
Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 610,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giữa các nhân tố, các lực lượng xã hội, tồn tại với tư cách là những mặt đối lập của nhau phải cónhững điểm chung, tương đồng có thể đi tới sự điều hòa, thỏa hiệp trong một giới hạn nhất

Trang 1

Môn: TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN

(TS TRẦN NGUYÊN KÝ)

Sinh viên: Thái Nguyễn Nguyệt Minh

Lớp: MRC02 Khóa: K46

SỰ KẾT HỢP CÁC MẶT ĐỐI LẬP

Trang 2

MẶT ĐỐI LẬP VÀ THỂ HIỆN TRONG CHÍNH SÁCH KINH TẾ MỚI (NEP) CỦA V.I LÊNIN………4

CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG SỰ KẾT HỢP CÁC MẶT ĐỐI LẬP CỦA TRIẾT HỌC MÁCXÍT VÀO THỰC TIỄN ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM TỪ KINH NGHIỆM TRONG CHÍNH SÁCH KINH TẾ MỚI (NEP) CỦA LÊNIN…….28

CHƯƠNG 3: NHỮNG YÊU CẦU CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP ĐỊNH HƯỚNG ĐỐI VỚI VIỆC KẾT HỢP CÁC MẶT ĐỐI LẬP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY… 50

KẾT LUẬN CHUNG………67 NGUỒN THAM KHẢO……… 68

Trang 3

tính kế hoạch của từng xi nghiệp, từng công ty và tính tự phát vô chính phủ của nền sản xuất hànghoá Mâu thuẫn tồn tại song hành cùng sự vật hiện sự việc từ lúc sự vật sự việc bắt đầu cho tới khi sựvật sự việc đó kết thúc Trong mỗi một sự vật, không phảihình thành chỉ là một mà là nhiều mâuthuẫn, và sự vật trong cùng một lúc có nhiều mặt đối lập thì mâu thuẫn này mất đi thì mâu thuẫn kháclại hình thành.

Tuy vậy, quan niệm về “Mâu thuẫn” vẫn tồn tại nhiều điều chưa đúng Các quan điểm sai lầm nàylàm hạn chế sự giải quyết mâu thuẫn, làm chậm lại sự phát triển của xã hội, và nó cũng mang lại nhiềukhó khăn cho sự phát triển kinh tế nói chung và sự phát triển kinh doanh của các doanh nghiệp nóiriêng Quy luật đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập là ‘‘hạt nhân’’ của phépbiện chứng duyvật vì nó vạch ra nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát triển cảu thế giới quan và vì nó là chìakhóa, là cơ sở giúp chúng ta nắm vững thực chất của tất cả các quy luật và phạm trù phép biện chứngduy vật Vì vậy việc kết hợp các mặt đối lập một cách biện chứng theo tinh thần của V.I.Lênin mangmột vấn đề quan trọng Và đề tài của bài tiểu luận này chính là vấn đề này: tư tưởng kết hợp các mặtđối lập và vận dụng tư tưởng này trong hoạt động các doanh nghiệp

Và điều quan trong hơn cả, em muốn dành lời cảm ơn chân thành nhất đến thầy Trần Nguyên Ký vàcuốn sách “SỰ KẾT HỢP CÁC MẶT ĐỐI LẬP TRONG THỜI KÌ QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃHỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY” được chấp bút bởi thầy đã giúp em rất nhiều trong quá trình nghiêncứu và làm tiểu luận Em xin cảm ơn thầy!

Trang 4

VÀ THỂ HIỆN TRONG CHÍNH SÁCH KINH TẾ MỚI (NEP) CỦA V.I LÊNIN

1.Tư tưởng biện chứng mácxít về sự kết hợp các mặt đối lập

Trong lý luận biện chứng mác xít, vấn đề mâu thuẫn nói chung, vấn đề kết hợp biện chứng các mặtđối lập nói riêng luôn được chú ý xem xét giải quyết Kế thừa tư tưởng biện chứng của Hêghen, cácnhà kinh điển của chủ nghĩa Mác Lênin luôn khẳng định mâu thuẫn sự vật, biểu hiện ở cuộc đấu tranh

và thống nhất các mặt đối lập, là nguồn gốc, động lực của sự phát triển sự vật đó Giải quyết vấn đềnày, C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin một mặt khẳng định vai trò của cuộc đấu tranh các mặt đối lập,mặt khác cũng khẳng định vai trò của sự thống nhất giữa chúng Chính từ cơ sở đó, với tư cách lànhững nhà “triết học thực tiễn”, các ông đã đi đến tư tưởng biện chứng về sự kết hợp các mặt đối lậptrong thực tiễn cách mạng Nói một cách khác, trong tư tưởng biện chứng của C.Mác, Ph.Ăngghen,V.I.Lênin về mâu thuẫn, khi quan niệm nguồn gốc của mọi sự vận động, phát triển của sự vật kháchquan đều bắt nguồn từ mâu thuẫn bên trong, các ông luôn chú trọng giải quyết những vấn đề liên quanđến mâu thuẫn, đó là vấn đề thống nhất, vấn đề đấu tranh và vấn đề kết hợp các mặt đối lập Trong đóvấn đề kết hợp các mặt đối lập đã được các ông xem xét với tính cách là một biểu hiện hoạt động củachủ thể con người trong việc giải quyết một số mâu thuẫn xã hội cụ thể nhất định, trên cơ sở nhậnthức sự đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập trong mâu thuẫn này Vì thế, việc xem xét tưtưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin về vấn đề thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lậpđược các ông thể hiện trong phép biện chứng duy vật là điều cần thiết để hiểu rõ về vấn đề kết hợpcác mặt đối lập

Đề cập đến vấn đề đấu tranh giữa các mặt đối lập, C.Mác, Ph.Ăngghen cho rằng, sở dĩ các mặt đối lậpluôn đấu tranh với nhau vì bắt nguồn từ bản chất của các mặt đối lập Chính sự đối lập trái ngược cănbản giữa những mặt, những yếu tố, những khuynh hướng vận động trong một sự vật, hiện tượng đãtạo nên sự đấu tranh giữa chúng Chính với nhận thức như vậy, khi phân tích phép biện chứng củaHêghen, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phê phán sai lầm của Hêghen ở chỗ đã không chú ý tới vấn đề đấutranh của các mặt đối lập, thậm chí muốn dung hòa, xoa dịu, làm mờ đi cuộc đấu tranh của chúng.Trong phép biện chứng duy tâm của Hêghen, một mặt ông coi “mâu thuẫn là nguồn gốc của mọi sựvận động và của tất cả mọi sự sống” và “tất cả mọi vật đều có tính chất mâu thuẫn trong bản thân nó”mặt khác, khi phải đề cập tới việc giải quyết mâu thuẫn, ông lại cố tình quên đi khía cạnh đấu tranhcủa các mặt đối lập, khẳng định sự giải quyết mâu thuẫn thông qua sự thống nhất của chúng trong ýniệm C.Mác và Ph.Ăngghen đã vạch rõ sai lầm duy tâm đó của Hêghen như sau:

Sai lầm chủ yếu của Hêghen là chỗ ông hiểu mâu thuẫn của hiện tượng là sự thống nhất trong bảnchất, trong ý niệm, kỳ thực bản chất của mâu thuẫn ấy cố nhiên là một cái gì đó sâu sắc hơn, cụ thể đó

là mâu thuẫn có tính bản chất

Khi khẳng định cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập sẽ dẫn tới việc giải quyết mâu thuẫn của bản thân

sự vật, hiện tượng khách quan, làm cho sự vật, hiện tượng phát triển, C.Mác và Ph.Ăngghen cũng chorằng vai trò của từng mặt đối lập trong mâu thuẫn là không giống nhau Trong hai mặt đối lập, tùy vàotừng hoàn cảnh, thời điểm cụ thể sẽ có một mặt thể hiện tính tất yếu của sự phát triển Trong quá trìnhđấu tranh, chuyển hóa giữa chúng, mặt đối lập này sẽ chiến thắng mặt đối lập kia, từ lúc đó thúc đẩy

sự phát triển của sự vật Vì thế, hai ông vạch rõ, không thể có một sự thỏa hiệp giữa hai mặt đối lậpdẫn tới xóa nhòa mâu thuẫn, kìm hãm sự phát triển

Trang 5

Có thể thấy rõ nhưng tư tưởng của C.Mác Ph.Ăngghen về vai trò của đấu tranh giữa các mặt đối lậptrong quá trình giải quyết mâu thuẫn, thông qua sự phân tích của hai ông về mâu thuẫn giữa hai giaicấp: tư sản và và vô sản, biểu hiện trong các tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản” và “Tư bản”.Trong các tác phẩm này, các ông đã chỉ rõ chính giai cấp vô sản mới là người đại diện cho phươngthức sản xuất mới, tiến bộ Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống tư sản chính là cuộc đấu tranh vì

sự phát triển, tiến bộ xã hội

Tiếp thu tư tưởng biện chứng của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin sau này cũng đã nhấn mạnh tớivấn đề đấu tranh giữa các mặt đối lập; đến mối quan hệ giữa cuộc đấu tranh của chúng đối với sự pháttriển của sự vật, hiện tượng khách quan

Theo V.I.Lênin, thì sự phát triển chẳng qua “là một cuộc “đấu tranh” giữa các mặt đối lập” Chínhcuộc đấu tranh này đã dẫn đến việc mâu thuẫn bên trong của sự vật được diễn ra liên tục và mang tínhkhách quan, tự than V.I.Lênin viết:

Sự phát triển của sự vật ấy” (Respective (cũng như) của hiện tượng), sự vận động của chính nó, đờisống của chính nó”, và… “Những khuynh hướng (và…những mặt) mâu thuẫn bên trong sự vật ấy”

“Sự đấu tranh Respective sự triển khai của các mặt đối lập ấy”, của những khuynh hướng mâu thuẫn.Đối với V.I.Lênin, một quan niệm biện chứng thực sự bắt buộc người ta phải thừa nhận “…nhữngkhuynh hướng mâu thuẫn, bài trừ lẫn nhau; đối lập trong tất cả các hiện tượng và quá trình của giới tựnhiên (kể cả tinh thần và xã hội)”

Như vậy, có thể khẳng định rằng, trong tư tưởng của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin, vaitrò của sự đấu tranh giữa các mặt đối lập trong mâu thuẫn đối với sự phát triển sự vật được đánh giárất cao Chính cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập đã dẫn tới việc giải quyết mâu thuẫn và qua đó làmcho sự vật phát triển Chính vì thế, về mặt phương pháp luận, cần phải nhận thức được rằng, trong quátrình giải quyết một mâu thuẫn xã hội cụ thể nào đó, đòi hỏi chủ thể hoạt động phải có thái độ tôntrọng cuộc đấu tranh giữa các mặt đối lập trong mâu thuẫn, tạo nên điều kiện để các mặt đối lập thựchiện tốt cuộc đấu tranh nhằm thúc đẩy sự phát triển của sự vật, hiện tượng Hơn nữa, trong lĩnh vực xãhội, hai mặt đối lập thường biểu hiện ra là một mặt đại diện cho cái tiến bộ, tích cực chiến thắng mặtđối lập đại diện cho cái lạc hậu, tiêu cực

Trong lý luận biện chứng mác xít, vấn đề thống nhất giữa các mặt đối lập trong mâu thuẫn cũng đượcchú ý xem xét Với tư cách một phương diện trong mối quan hệ giữa các mặt đối lập của mâu thuẫn,

sự thống nhất các mặt đối lập thể hiện tính ràng buộc, quy định lẫn nhau, làm điều kiện cho sự tồn tạicủa nhau Sẽ thật sai lầm nếu cho rằng các nhà lý luận của chủ nghĩa Mác Lênin chỉ coi trọng tới khíacạnh đấu tranh mà không coi trọng sự thống nhất giữa các mặt đối lập Trái lại, khi giải quyết vấn đềmâu thuẫn C.Mác, Ph.Ăngghen không dừng lại ở việc đánh giá mặt đấu tranh của các mặt đối lập, màcác ông còn ghi nhận sự thống nhất khăng khít của chúng Có thể thấy rằng, C.Mác và Ph.Ăngghen đã

đi tới sự phân tích, nhận thức các mặt đối lập, đánh giá quá trình đấu tranh giữa các mặt đối lập trongmối quan hệ hữu cơ, thống nhất chặt chẽ giữa chúng Chẳng hạn khi xem xét cuộc đấu tranh giữa vôsản với tư sản, các ông luôn đặt chúng trong mối quan hệ thống nhất, ràng buộc lẫn nhau, trong chỉnhthể của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa

Đặc biệt, đến V.I.Lênin, vấn đề thống nhất của các mặt đối lập biện chứng được xem xét một cách cụthể hơn cả Chúng ta dễ dàng nhận thấy rằng, mỗi khi đề cập đến phép biện chứng duy vật, đến vấn đềmâu thuẫn biện chứng với mối quan hệ của các mặt đối lập trong mâu thuẫn, V.I.Lênin luôn nhắc tớikhía cạnh thống nhất trong mối quan hệ đó Theo V.I.Lênin, phép biện chứng chẳng qua là:

Học thuyết vạch ra rằng những mặt đối lập làm thế nào mà có thể và thường là (trở thành) đồng trong những điều kiện nào chúng là đồng nhất, bằng cách chuyển hóa lẫn nhau” và “tại sao lý trí con

Trang 6

nhất-người không nên xem những mặt đối lập ấy là chết, cứng đờ, mà là sinh động, có điều kiện, năngđộng, chuyển hóa lẫn nhau Thậm chí, V.I.Lênin đã khẳng định rõ ràng:

Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập Như thế

là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có sự giải thích và một sự pháttriển thêm

Trong lý luận về mâu thuẫn của V.I.Lênin, sự thống nhất của các mặt đối lập biện chứng là một thực

tế khách quan chứ không phải do sự suy nghĩ chủ quan của con người tạo ra Không những thế, sựthống nhất của chúng đóng một vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự đấu tranh, sự bài trừ lẫn nhaucủa các mặt đối lập này và qua đó có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của sự vật Ở đây, khi đặtvấn đề về tính khách quan và vai trò của sự thống nhất các mặt đối lập, V.I.Lênin cũng cảnh báo vềthái độ xem nhẹ mặt này trong mối quan hệ giữa các mặt đối lập Người viết: “Thưởng người takhông chú ý đầy đủ đến mặt này của phép biện chứng (…): sự đồng nhất của các mặt đối lập được coinhư một tổng số của các thí dụ (…), mà không được coi như là quy luật của nhận thức (và như là quyluật của thế giới khách quan)2 Theo V.I.Lênin:

Sự đồng nhất của các mặt đối lập (“Sự thống nhất” của chúng, nói như vậy có lẽ đúng hơn? Tuy ở đây

sự phân biệt giữa từ đồng nhất và thống nhất không quan trọng lắm Theo một nghĩa nào đấy, cả haiđều đúng), đó là sự thừa nhận (sự tìm ra) những khuynh hướng mâu thuẫn, bài trừ lẫn nhau, đối lập,trong tất cả các hiện tượng và quá trình của giới tự nhiên (kể cả tinh thần và xã hội) Điều kiện củamột sự nhận thức về tất cả các quá trình của thế giới trong “sự tự vận động” của chúng, trong sự pháttriển tự phát của chúng, trong đời sống sinh động của chúng là sự nhận thức chúng với tính cách là sựthống nhất của các mặt đối lập

Rõ ràng theo V.I.Lênin, khi nói tới mâu thuẫn của sự vật, nói tới các mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn,với cuộc đấu tranh của chúng thì cũng phải nói tới sự thống nhất tất yếu giữa các mặt đối lập này Đấutranh là đấu tranh của hai mặt đối lập trong thể thống nhất Thống nhất là sự thống nhất của hai mặtđối lập đang không ngừng bài trừ nhau, đấu tranh với nhau Rõ ràng, vai trò của sự thống nhất các mặtđối lập biểu hiện như là điều kiện cần để có thể thực hiện được cuộc đấu tranh giữa chúng và qua đómới có thể thực hiện được sự phát triển của bản thân sự vật Một sự vật chỉ có thể tồn tại và phát triểnnếu bản thân nó chứa đựng sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập của nó Ở đây, có một sựgắn bó chặt chẽ giữa mặt thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập Thống nhất là điều kiện đấutranh, muốn đấu tranh thì phải thống nhất, đồng thời thống nhất là để dẫn tới đấu tranh Đấu tranh lànội dung bên trong của thống nhất, còn thống nhất là hình thức chuyển tải đấu tranh Chỉ trên cơ sởgắn bó hữu cơ giữa thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập thì mâu thuẫn mới có điều kiện giảiquyết, từ đó làm cho sự vật phát triển Theo nghĩa đó, cũng có thể khẳng định sự thống nhất và đấutranh giữa các mặt đối lập trong mâu thuẫn, hay nói gọn, chính mâu thuẫn khách quan (sự tồn tại vàgiải quyết nó) là nguồn gốc của sự phát triển Nếu như chỉ có đấu tranh thì sự vật sẽ không có lý do đểtồn tại với tư cách là sự vật Còn nếu chỉ có sự thống nhất thì sự vật không thể phát triển được

Khi đánh giá về tác động của sự thống nhất và đấu tranh giữa hai mặt đối lập đối với quá trình vậnđộng phát triển, cũng cần thấy rằng, mặc dù gắn bó chặt chẽ với nhau, song tác động của chúng đốivới sự phát triển sự vật ở đây không phải lúc nào cũng như nhau, cân bằng với nhau V.I.Lênin chorằng:

Sự thống nhất (phù hợp, đồng nhất, tác dụng ngang nhau) của các mặt đối lập là có điều kiện, tạmthời, thoáng qua, tương đối Sự đấu tranh của các mặt đối lập, bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng như

sự phát triển, vận động là tuyệt đối

Ở đây cần lưu ý rằng, “tính tạm thời, thoáng qua, tương đối” của sự thống nhất cũng như tính liên tục,tuyệt đối của sự đối tranh giữa các mặt đối lập trong nhận định trên của V.I.Lênin không đơn giản chỉbiểu hiện ở khía cạnh thời gian như một số ý kiến Chẳng hạn trong một số sách giáo khoa triết học ở

Trang 7

nước ta đã từng giải thích rằng sở dĩ sự thống nhất các mặt đối lập có tính tương đối là do nó chỉ diễn

ra ở một thời điểm nào đó Còn sự đấu tranh giữa các mặt đối lập mang tính tuyệt đối vì nó diễn raliên tục, trong suốt quá trình tồn tại sự vật Cách giải thích như vậy là không thỏa đáng Bởi lẽ, quanđiểm như vậy không cho người ta thấy được vai trò của sự thống nhất giữa các mặt đối lập là điềukiện, nền tảng cho sự đấu tranh, bài trừ giữa chúng Với quan điểm như vậy, rõ ràng đã tách rời giữa

sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập Quan điểm này sẽ đưa người ta tới nhận thức cho rằngkhi nào các mặt đối lập tiến hành đấu tranh với nhau thì giữa chúng không có sự thống nhất, và ngượclại, khi chúng thống nhất là giữa chúng không có đấu tranh Cách hiểu như vậy thực ra lại không biệnchứng mà trái lại, siêu hình

Đánh giá vấn đề này, cần lưu ý tư tưởng của V.I.Lênin khi ông so sánh giữa sự thống nhất và đấutranh của các mặt đối lập với hai trạng thái đứng im và vận động của sự vật V.I.Lênin coi sự đấutranh giữa các mặt đối lập là tuyệt đối cũng như sự vận động phát triển là tuyệt đối Điều đó có thểsuy ra rằng, sự thống nhất giữa các mặt đối lập, giống như sự đứng im của sự vật cũng là tương đối,song không phải đơn thuần về mặt thời gian Nghĩa là, tương tự như đối với trạng thái đứng im có tínhtương đối của sự vật, được người ta hiểu đó chỉ là đứng im có tính tương đối của sự vật, được người tahiểu đó chỉ là đứng im xét ở từng mối quan hệ xác định cụ thể; sự thống nhất có tính tương đối giữacác mặt đối lập trong một mâu thuẫn khách quan, nhìn tổng thể, giữa chúng luôn có sự đấu tranh vớinhau Tuy nhiên, ở từng phương diện cụ thể, ở từng phạm vi không gian thời gian cụ thể, giữa các mặtđối lập đó vẫn có biểu hiện thống nhất với nhau Điều đó quy định tính tương đối của sự thống nhấtcủa chúng với nhau

Chính sự nhận thức về mối quan hệ hữu cơ giữa thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập như thế,cùng với quan niệm đúng đắn về sự thống nhất, sự đấu tranh với tư cách những phạm trù triết học sẽgiúp người ta tránh rơi vào thái độ cực đoan trong đời sống thực tiễn Chẳng hạn, thái độ coi mâuthuẫn, đấu tranh là hiện tượng không bình thường, kìm hãm sự phát triển xã hội Xã hội muốn pháttriển thì phải có sự thống nhất (sự thống nhất được hiểu là sự nhất trí, sự thống nhất về ý chí) Từ đó

đi tới hành động thủ tiêu mâu thuẫn, thủ tiêu đấu tranh; hoặc nếu có đấu tranh lại biểu hiện ở nhữnghành động bạo lực Cách hiểu sai lầm dẫn tới hành động cực đoan như thế thực ra đã đồng nhất kháiniệm thống nhất, đấu tranh của phép biện chứng với quan niệm thống nhất và đấu tranh ở đời thường.Trong lý luận biện chứng mác xít, bên cạnh vấn đề đấu tranh và thống nhất, vấn đề kết hợp giữa cácmặt đối lập cũng được đặt ra và giải quyết Đây là biểu hiện hoạt động tích cực, chủ động của chủ thểtrên cơ sở nhận thức mâu thuẫn khách quan, nhận thức sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đốilập Chính xuất phát từ việc nhận thức sự thống nhất khách quan, từ những điểm chung vốn có giữacác mặt đối lập, đồng thời cũng xã hội xuất phát từ nhu cầu hoạt động thực tiễn xã hội của mình, conngười có thể chủ động tiến hành kết hợp các yếu tố, thậm chí cả các mặt đối lập nào đó nhằm giảiquyết được những mâu thuẫn xã hội cụ thể, đem lại lợi ích cụ thể cho chủ thể con người

Có thể nói, khi đề cập tới vấn để thống nhất giữa các mặt đối lập trong một mâu thuẫn biện chứng,người ta có thể và cần phải tiếp cận từ ba góc độ cụ thể sau :

Thứ nhất, xem xét sự thống nhất giữa các mặt đối lập từ góc độ bản thể luận, tức sự thống nhất kháchquan vốn có của chúng Ở góc độ này, mâu thuẫn của sự vật được biểu hiện ra với tư cách một thểthống nhất hoàn chỉnh Đương nhiên, đó không phải là sự thống nhất có tính tuyệt đối, mà trái lại, làmột sự thống nhất tương đối , thống nhất trong sự khác biệt , kể cả sự đối lập

Thứ hai, xem xét sự thống nhất giữa các mặt đối lập từ góc độ nhận thức luận Ở góc độ này, sự thốngnhất giữa các mặt đối lập được xem như đối tượng nhận thức của con người Nhiệm vụ của chủ thể ởđây là phải phát hiện, vạch ra những mặt đối lập đang tồn tại, ẩn náu bên dưới cái vỏ thống nhất hoànchỉnh Điều này rõ ràng là một công việc không đơn giản, không chỉ tùy thuộc vào nhân tố chủ quan,vào chủ thể mà còn phụ thuộc vào chính bản thân mâu thuẫn Bởi vì mâu thuẫn không tự bộc lộ ra, mà

Trang 8

nó tồn tại bên trong cái "vỏ bọc" thống nhất với những hình thức cụ thể của nó Để nhận thức nó, cầnphải tiến hành thao tác nhận thức như V.I.Lênin đã chỉ dẫn:" phân đôi cái thống nhất" Có biết "phânđôi" một cái vốn thống nhất thì mới có khả năng phát hiện và nắm bắt được các mặt đối lập tạo thànhmâu thuẫn Điều này V.I.Lênin viết như sau : " Sự phân đội của cái thống nhất và sự nhận thức các bộphận mâu thuẫn của nó ( ), đó là thực chất (một trong những "bản chất", một trong những đặc trưnghay đặc điểm cơ bản , nếu không phải là đặc trưng hay đặc điểm cơ bản nhất) của phép biện chứng ".

Cố nhiên, "sự phân đôi" ở đây không phải là hoạt động chủ quan tùy tiện mà phải dựa trên cơ sở tôntrọng tính khách quan của mâu thuẫn biện chứng Nhiệm vụ của chủ thể ở đây là phải vạch ra được sựtồn tại của các mặt đối lập trong thể thống nhất vốn có của chúng

Thứ ba, xem xét sự thống nhất giữa các mặt đối lập từ góc độ thực tiễn Ở góc độ này, trên cơ sở nhậnthức sự thống nhất (và đương nhiên bao hàm cả sự đấu tranh) giữa các mặt đối lập của một mâu thuẫnnhất định, chủ thể có thể thực hiện việc kết hợp các mặt đối lập để từ đó tạo điều kiện giải quyết mâuthuẫn được tốt Dĩ nhiên, vì đây là biểu hiện hoạt động của chủ thể cho nên, việc kết hợp các mặt đốilập cũng xuất phát từ nhu cầu, lợi ích của chủ thể Có thể khẳng định sự kết hợp các mặt đối lập phảnánh mối quan hệ biện chứng giữa điều kiện khách quan, tính tất yếu khách quan với nhân tố chủ quan.Một mặt, con người với tư cách chủ thể tiến hành hoạt động kết hợp các mặt đối lập nhằm giải quyếtmột mâu thuẫn xã hội cụ thể theo hướng có lợi cho bản thân, đáp ứng được nhu cầu, lợi ích của bảnthân; song mặt khác , đó lại không phải là hoạt động chủ quan tùy tiện , mà phải trên cơ sở nhận thứcđúng và tuân theo những yêu cầu khách quan, cũng như những điều kiện khách quan của việc giảiquyết mâu thuẫn đó

Việc kết hợp các mặt đối lập trong lĩnh vực xã hội không phải là hành động được tiến hành với bất cứyếu tố, mặt đối lập nào, trong bất kỳ điều kiện nào Càng không nên hiểu việc kết hợp này là một hoạtđộng mang tính chủ quan thuần túy, thậm chí là tùy tiện, vô nguyên tắc của chủ thể hành động Việckết hợp các mặt đối lập ở đây, với tư cách là hoạt động tích cực của nhân tố chủ quan, phải được dựatrên cơ sở khách quan cụ thể, đó là những đòi hỏi tất yếu của việc kết hợp và ở cả những điều kiệnkhách quan cho phép để có thể tiến hành việc kết hợp này Đồng thời, việc kết hợp các mặt đối lậptrong đời sống xã hội cũng phải thể hiện được tính định hướng rõ ràng Cụ thể là việc kết hợp nàyphải làm sao cho quá trình vừa thống nhất, vừa đấu tranh giữa các mặt đối lập trong một chỉnh thểmâu thuẫn xã hội cụ thể, mặt đối lập đại diện cho sự tiến bộ sẽ dần dần chiến thắng được mặt đối lậpđại diện cho sự lạc hậu Có như vậy, việc giải quyết mâu thuẫn xã hội mới đem lại động lực thúc đẩy

sự phát triển của xã hội, phù hợp với quy luật phát triển khách quan của xã hội

Sở dĩ như vậy là vì trong thực tế xã hội, không giống như ở giới tự nhiên, những mâu thuẫn xã hộithường được biểu hiện thông qua thái độ, nguyện vọng của các lực lượng xã hội Các mặt đối lậptrong chỉnh thể mâu thuẫn xã hội thường biểu hiện ra là một mặt đại diện cho cái cũ, là lực cản sựphát triển xã hội, còn mặt kia đại diện cho cái mới, cái thúc đẩy xã hội phát triển Trong sự phát triển

xã hội, cái mới và cái cũ này không tách rời nhau mà gắn bó với nhau, đan xen nhau, vừa thống nhất,vừa đấu tranh với nhau Vai trò của cái mới đối với sự phát triển xã hội chỉ được phát huy trên cơ sởphủ định biện chứng, biết kế thừa cái cũ Bởi vì, bản thân cái cũ, dù là nhân tố, về căn bản, kìm hãm

sự phát triển, song không vì thế mà không còn chứa đựng những yếu tố có thể góp phần vào sự pháttriển xã hội Do đó, việc kết hợp các mặt đối lập - giữa cái cũ và cái mới - với tính cách là một hoạtđộng tích cực chủ quan nhằm giải quyết mâu thuẫn xã hội khách quan không thể không tiến hành vàhơn nữa, không thể tiến hành một cách tùy tiện, vô nguyên tắc, không tuân theo quy luật khách quan

Có thể nói, lý luận Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủquan hoàn toàn xa lạ với quan điểm tả khuynh, nóng vội, chủ quan, duy ý chí cũng như sự bảo thủ, trìtrệ, thụ động trong hoạt động thực tiễn Ở đây, hoạt động của con người chỉ tự do trong giới hạn nhậnthức và làm theo tất yếu khách quan

Trang 9

Theo tinh thần của lý luận biện chứng mác xít, khi đề cập đến việc giải quyết mâu thuẫn biện chứngmác xít nói chung, đương nhiên phải nhận thức được rằng đó là quá trình tự giải quyết Tuy nhiên, đốivới loại mâu thuẫn biện chứng Xã hội lại có những biểu hiện đặc thù của việc giải quyết mâu thuẫn

đó Do chỗ xã hội, trong đó có cả quy luật xã hội, mâu thuẫn xã hội: một mặt tồn tại khách quan, đốilập với ý thức và ý chí con người; song mặt khác, xét cho cùng, lại chính do con người tạo ra, thôngqua sự tồn tại của bản thân con người cũng như những hoạt động tự giác của họ Mà khi đã nói tớihoạt động của con người thì không thể không nói tới lợi ích, động cơ của hoạt động đó Bởi vì, hoạtđộng của con người (cá nhân, nhóm, giai cấp, nhân loại…) bao giờ cũng gắn liền với những lợi ích cụthể Cũng vì hoạt động của con người luôn gắn với lợi ích cho nên mâu thuẫn xã hội nảy sinh từ hoạtđộng của con người, suy cho cùng, chính là mâu thuẫn về mặt lợi ích, giữa những lợi ích nhất định Vìvậy, việc giải quyết mâu thuẫn xã hội, rõ ràng không giống với việc giải quyết mâu thuẫn trong tựnhiên Việc giải quyết mâu thuẫn xã hội được thực hiện thông qua hoạt động của con người Việc giảiquyết mâu thuẫn này sẽ tốt hơn, tạo động lực thúc đẩy xã hội phát triển mạnh mẽ hơn, khi thông quahoạt động tự giác, tích cực của con người Ở đây, thuật ngữ tự giải quyết có nghĩa là quá trình giảiquyết một mâu thuẫn xã hội cụ thể nào đó đã diễn ra một cách khách quan đối với con người, đối vớimột lực lượng xã hội nhất định Con người không thể xóa bỏ một mâu thuẫn xã hội, cũng như thủ tiêuquá trình tự giải quyết của nó Trái lại, con người chỉ có thể tác động, làm chậm lại hoặc thúc đẩynhanh hơn quá trình giải quyết mâu thuẫn xã hội đó, tùy vào mức độ nhận thức và làm theo tính tấtyếu khách quan của việc giải quyết mâu thuẫn xã hội này Qua đó, con người có thể kìm hãm hoặcthúc đẩy sự phát triển của xã hội Đó là biểu hiện của mối quan hệ biện chứng giữa khách quan và chủquan trong đời sống xã hội, trong sự phát triển xã hội Hoạt động giải quyết mâu thuẫn xã hội của chủthể chỉ đúng, và qua đó đem lại lợi ích cho chủ thể, khi hoạt động đó xuất phát từ bản thân mâu thuẫn,lấy bản chất khách quan của mâu thuẫn làm cơ sở Phương pháp giải quyết mâu thuẫn xã hội mà chủthể tiến hành cũng phải phù hợp với bản chất khách quan của mâu thuẫn đó Tuy nhiên, việc giảiquyết mâu thuẫn xã hội, thực chất lại là biểu hiện hoạt động của chủ thể con người Do đó, quá trìnhgiải quyết mâu thuẫn cũng in dấu ấn của chủ thể Điều đó được biểu hiện ở phương pháp giải quyếtmâu thuẫn mà chủ thể sử dụng trong việc giải quyết một mâu thuẫn xã hội cụ thể Trên cơ sở tôntrọng nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn thông qua sự đấu tranh giữa các mặt đối lập, chủ thể có thể chủđộng tìm ra một phương pháp giải quyết mâu thuẫn thích hợp nhất để có thể giải quyết tốt nhất mộtmâu thuẫn xã hội cụ thể, đem lại hiệu quả cao nhất cho chủ thể Chính trong quá trình hoạt động tựgiác như vậy, trong điều kiện cho phép, chủ thể có thể sử dụng phương pháp kết hợp các mặt đối lập,coi như một hình thức cụ thể để các mặt đối lập thực hiện sự đấu tranh của chúng, dẫn tới việc giảiquyết một mâu thuẫn xã hội cụ thể theo hướng có lợi cho chủ thể

Cũng chính vì thế, việc tiến hành kết hợp các mặt đối lập để giải quyết mâu thuẫn xã hội, rõ ràngkhông thể là một giải pháp duy nhất và cũng không phải là giải pháp có thể áp dụng đối với mọitrường hợp Trong đời sống xã hội, mâu thuẫn xã hội với tính cách là mâu thuẫn giữa người với người

về mặt lợi ích, là cội nguồn cho sự phát triển xã hội, được thể hiện ra rất nhiều hình thức, nhiều loại

cụ thể Mỗi một loại lại có những đặc điểm, tính chất… khác nhau, và do đó quy định hình thức, biệnpháp giải quyết mâu thuẫn khác nhau Ngay trong quá trình vận động, phát triển của một mâu thuẫn,tùy thuộc vào tương quan giữa các mặt đối lập của nó, tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh trong đómâu thuẫn nảy sinh và phát triển, mà có thể có những hình thức, biện pháp giải quyết mâu thuẫn cụthể Chẳng hạn, đối với loại mâu thuẫn đối kháng, phương pháp giải quyết nhìn chung là sử dụng bạolực, thực hiện loại trừ một mặt đối lập nào đó Tuy nhiên, trong điều kiện cụ thể, khi giữa hai lựclượng xã hội cụ thể tồn tại với tư cách là hai mặt đối lập của nhau, mặc dù xét về bản chất vẫn có sựđối kháng về lợi ích với nhau, song lại xuất hiện một số điểm chung nào đó về lợi ích; thì khi đó cóthể thực hiện hình thức “kết hợp các mặt đối lập” Điều đó cho phép việc giải quyết mâu thuẫn giữachúng được thực hiện tốt hơn, đem lại lợi ích cho chủ thể nhiều hơn Đương nhiên, ở đây đòi hỏi chủthể thực hiện việc kết hợp phải có đủ khả năng (cả trí tuệ và bản lĩnh chính trị) cần thiết, đáp ứngđược yêu cầu của việc thực hiện giải pháp này Trong trường hợp này, mặc dù về cơ bản, mâu thuẫn

đó vẫn là mâu thuẫn đối kháng; song ở một khía cạnh cụ thể nào đó, vẫn có thể cho phép kết hợp các

Trang 10

mặt đối lập Ví dụ, trong việc giải quyết mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản, trong điều kiện giai cấp vôsản đã giành được chính quyền, song vẫn cần tới kinh nghiệm làm ăn kinh tế, quản lý kinh tế của nhà

tư bản, đồng thời có một chính quyền vô sản vững mạnh, thì điều đó cho phép tiến hành kết hợp giữa

tư sản và vô sản để giải quyết mâu thuẫn này được tốt hơn

Đối với loại mâu thuẫn xã hội không đối kháng, thể hiện ở quan hệ giữa những nhân tố, lực lượng xãhội có lợi ích cơ bản nhất trí với nhau, chủ thể hoạt động hoàn toàn có thể tiến hành kết hợp các mặtđối lập Bởi lẽ, ở đây, giữa các mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn dễ dàng xuất hiện những điểm chung,tương đồng cho phép tiến hành việc kết hợp này nhằm đạt mục đích mong muốn Tuy nhiên, nếutrong trường hợp chủ thể mắc sai lầm nghiêm trọng và kéo dài; khi chủ thể không còn đủ năng lực trítuệ và bản lĩnh chính trị cần thiết để thực hiện sự kết hợp đúng đắn, khoa học; thì khi đó lại xuất hiệnyêu cầu khách quan giải quyết mâu thuẫn bằng phương pháp loại trừ các mặt đối lập

Thực tế sự khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội hiện thực vừa qua đã cho thấy, khi Đảng cộng sản cầmquyền mắc sai lầm chủ quan nghiêm trọng và kéo dài thì mâu thuẫn giữa quần chúng nhân dân vớiđảng của giai cấp công nhân, vốn không mang tính đối kháng đã dần dần xuất hiện những biểu hiệnđối kháng Do đó, thay vì giải quyết mâu thuẫn một cách hòa bình, bằng biện pháp thuyết phục thìcũng đã xuất hiện cách giải quyết bằng bạo lực

Tóm lại, việc kết hợp các mặt đối lập trong quá trình giải quyết một mâu thuẫn xã hội cụ thể chỉ cóthể tiến hành được khi có đầy đủ những điều kiện khách quan và chủ quan cho phép Tuyệt đối đâykhông phải là một giải pháp có tính phổ biến, có thể thực hiện trong mọi trường hợp, với mọi điềukiện

Thứ nhất, về mặt khách quan: việc kết hợp các mặt đối lập chỉ có thể tiến hành trong các trường hợp

cụ thể sau:

1 Giữa các nhân tố, các lực lượng xã hội, tồn tại với tư cách là những mặt đối lập của nhau phải cónhững điểm chung, tương đồng có thể đi tới sự điều hòa, thỏa hiệp trong một giới hạn nhất định.Trong trường hợp này, chủ thể hoạt động có thể thực hiện việc kết hợp các mặt đối lập, trong đó chấpnhận một sự thỏa hiệp nào đó, nhằm hướng sự giải quyết mâu thuẫn xã hội theo hướng có lợi cho chủthể Dĩ nhiên, việc kết hợp các mặt đối lập, với những thỏa hiệp nhất định ở đây không phải là hànhđộng xóa bỏ nguyên tắc đấu tranh giữa các mặt đối lập Đây chỉ là hành động đưa cuộc đấu tranh giữacác mặt đối lập vào trong một hình thức cụ thể, có lợi cho chủ thể mà thôi Trong trường hợp giữa cácmặt đối lập hoàn toàn không có điểm chung, tương đồng, mâu thuẫn xã hội này hoàn toàn không cóđiểm chung, tương đồng, mâu thuẫn xã hội này hoàn toàn mang tính đối kháng thì việc kết hợp khôngthể thực hiện được một cách đúng đắn và đem lại hiệu quả mong muốn cho chủ thể

2 Việc kết hợp các mặt đối lập chỉ có thể thực hiện trong điều kiện hoàn cảnh xã hội thuận lợi (baogồm cả điều kiện trong nước và quốc tế) Cụ thể đó phải là những điều kiện hoàn cảnh cho phép chủthể thực hiện được việc kết hợp theo mong muốn Thậm chí đó còn là những điều kiện hoàn cảnh nhưmột đòi hỏi tất yếu khách quan, buộc chủ thể phải tiến hành giải quyết mâu thuẫn bằng phương thứckết hợp này Chẳng hạn, những biến đổi về kinh tế quốc tế hiện nay, về sự phát triển như vũ bão củacuộc cách mạng khoa học và tính công nghệ hiện nay là những điều kiện khách quan cho phép chủthế hoạt động có thể thực hiện sự kết hợp các mặt đối lập

Thứ hai, về mặt chủ quan: việc kết hợp các mặt đối lập chỉ thực hiện được và đạt kết quả mong muốnkhi chủ thể có đủ năng lực và bản lĩnh chính trị cần thiết đáp ứng được yêu cầu của sự kết hợp này.Đòi hỏi chủ thể ở đây phải có khả năng sớm nắm bắt được yêu cầu khách quan cũng như thời cơthuận lợi của việc kết hợp, từ đó tiến hành tổ chức kết hợp một cách khéo léo, khoa học nhằm hướngcuộc đấu tranh giữa hai mặt đối lập trong mâu thuẫn theo hướng có lợi cho chủ thể Có thể khẳngđịnh, trong chừng mực nào đó, vai trò của chủ thể trong việc kết hợp các mặt đối lập ở đây là có ýnghĩa quyết định

Trang 11

Cũng cần nhấn mạnh ở đây rằng, do việc kết hợp các mặt đối lập là hành động của chủ thể trong quátrình giải quyết mâu thuẫn xã hội khách quan, cho nên, đương nhiên quá trình này ngay từ đầu đã thếhiện và cần phải thể hiện tính định hướng của nó Nghĩa là, việc kết hợp các mặt đối lập sẽ được tiếnhành nhằm đáp ứng nhu cầu, lợi ích của chủ thể hoạt động Song đồng thời, để việc kết hợp nàykhông rơi vào tình trạng là biểu hiện của hoạt động chủ quan thuần túy, không còn tồn tại với tư cách

là su phản ánh tính tất yếu khách quan, lại đòi hỏi việc kết hợp phải được tiến hành một cách khoahọc, phù hợp với bản chất của các mặt đối lập Cụ thể là, việc tiến hành kết hợp các mặt đối lập phảiđảm bảo sao cho các mặt đối lập vẫn thực hiện được cuộc đấu tranh của chúng mà vẫn đáp ứng đượcyêu cầu chủ thể Bởi vì, xuất phát từ bản chất đối lập nhau, các mặt đối lập khi tổn tại trong một chỉnhthể tất yếu sẽ đấu tranh với nhau Vấn đề ở đây là phải làm sao để cuộc đấu tranh đó, thông qua việckết được mối nào hợp, sẽ diễn ra theo chiều hướng có lợi cho chủ thể Nói cách khác, việc kết hợp với

tư cách hoạt động chủ quan vẫn phải đảm bảo nguyên tắc đấu tranh giữa các mặt đối lập chứ khôngphải kết hợp đi tới sự thủ tiêu cuộc đấu tranh của chúng Đây chính là điểm khác biệt cơ bản giữa hoạtđộng kết hợp các mặt đối lập một cách đúng đắn, có tính khoa học, với những hoạt động kết hợp phikhoa học, kết hợp sai lầm chủ quan

Ở đây, nếu xét về hình thức, có thế chia hoạt động kết hợp ra làm ba loại:

Thứ nhất, đó là sự kết hợp khoa học, biện chứng, đúng đắn, Đây là sự kết hợp có nguyên tắc, đảm bảonguyên tắc đấu tranh giữa các mặt đối lập Sự kết hợp này phản ánh đúng đắn tính biện chứng trongmối quan hệ giữa các mặt đối lập là vừa thống nhất lại vừa đấu tranh

Thứ hai, đó là sự kết hợp mang tính chiết trung Sự kết hợp này được thực hiện một cách tùy tiện , vônguyên tắc Chủ thể kết hợp đã thực hiện sự kết hợp hoàn toàn dựa vào ý chí chủ quan , kết hợp bất

cứ cái gì , trong bất kỳ điều kiện hoàn cảnh nào Đây là sự kết hợp được tiến hành không dựa trên cơ

sở thống nhất khách quan giữa các mặt đối lập Nó được tiến hành ngay cả đối với những mặt đối lậpkhông có mối liên hệ nào , cũng không có những điểm chung , tương đồng nào với nhau Sự kết hợpchiết trung không đem lại những giá trị đích thực cho sự phát triển và tiến bộ xã hội

Thứ ba , đó là sự kết hợp mang tính cải lương Đây là sự kết hợp các mặt đối lập không đảm bảonguyên tắc đấu tranh giữa chúng với nhau Sự kết hợp này thể hiện sự nhượng bộ , thỏa hiệp vô điềukiện , sự thiếu bản lĩnh của chủ thể để có thể đưa sự kết hợp tới kết quả mong muốn Kết quả tất yếucủa sự kết hợp này là sự thất bại của chủ thể hành động Trong công cuộc cải tổ ở Liên Xô nhữngnăm 80 , thế kỷ XX , chính với hành động kết hợp vô nguyên tắc , mang tính cải lương, biểu hiệntrong chính sách đối ngoại của Đảng , nhân dân Xô Viết đối với phương Tây , đã trở thành mộtnguyên nhân quan trọng đưa Liên Xô tới chỗ sụp đổ

Như vậy , có thể khẳng định rằng , trong quá trình giải quyết một mâu thuẫn xã hội cụ thể , tùy vàonội dung , tính chất của mối quan hệ giữa các mặt đối lập , cũng như tùy vào điều kiện hoàn cảnhkhách quan trong nước và ngoài nước ) , năng lực của chủ thể hoạt động có thể tiến hành việc kếthợp các mặt đối lập nhằm để giải quyết một mâu thuẫn xã hội cụ thể một cách tốt nhất , đem lại lợiích cao Mâu thuẫn trong chế độ tư hữu biểu hiện ra giữa thiện và ác , tốt và xấu song lại không thấyđược mối quan hệ thống nhất vốn có của các mặt đối lập đó Điều đó làm cho Pruđông nhất cho chủthể Từ sự phân tích tư tưởng biện chứng mác xít về sự kết hợp các mặt đối lập ở trên cho phép rút rakết luận sau Kết hợp các mặt đối lập là một hoạt động tự giác , tích cực của chủ thể thực tiễn trongquá trình giải quyết một số mâu thuẫn xã hội cụ thể trong những điều kiện khách quan và chủ quan

cụ thể nhằm đem lại lợi ích nhất định cho chủ thể Đó chính là hoạt động kết hợp những nhân tố , lựclượng xã hội tồn tại với tư cách là những mặt đối lập của nhau , dựa trên cơ sở nhận thức về tínhthống nhất vốn có giữa những nhân tố , lực lượng xã hội này , đồng thời tôn trọng sự đấu tranh kháchquan của chúng

Có thể khẳng định tư tưởng kết hợp các mặt đối lập trong quá trình giải quyết mâu thuẫn, được thểhiện rõ trong tư duy biện chứng của các vị sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin Ngay ở tác phẩm “Sựkhốn cùng của triết học”, một tác phẩm được C.Mác xuất bản vào năm 1847, giai đoạn đánh dấu sự

Trang 12

trưởng thành về tư tưởng của C.Mác, Người đã chỉ ra sự cần thiết phải kết hợp các mặt đối lập tronghoạt động thực tiễn xã hội, nhằm giải quyết một mâu thuẫn xã hội khách quan cụ thể C.Mác chorằng, Pruđông đã nhìn thấy mâu thuẫn trong chế độ tư hữu biểu hiện ra giữa thiện và ác, tốt và xấusong lại không thấy được mối quan hệ thống nhất vốn có của các mặt đối lập đó Điều đó làm choPrudong không có khả năng kết hợp các mặt đối lập này nhằm tái hiện sự thống nhất của chúng trongnhận thức và hoạt động thực tiễn Trái lại, Pruđông lại đem đối lập, tách rời hoàn toàn chúng, đề racách giải quyết mâu thuẫn mang tính siêu hình , đó là thực hiện việc giữ lại mặt tốt và thủ tiêu chặtxấu Điều đó theo C.Mác, không phải là giải quyết mâu thuẫn mà là thủ tiêu mâu thuẫn

Khẳng định tính tất yếu của việc kết hợp biện chứng các mặt đối lập , trong " Tuyên ngôn của ĐảngCộng sản " , C.Mác , Ph.Ăngghen cho rằng người cộng sản cần phải tỏ thái độ sẵn sàng hợp tác vớicác đảng phái đối lập vì lợi ích của phong trào công nhân Ở đây cũng cần thấy rằng tư tưởng kết hợpcác mặt đối lập của C.Mác và Ph.Ăngghen hoàn toàn không phải là một sự thỏa hiệp , dung hòa mộtcách vô nguyên tắc , nghĩa là xóa bỏ nguyên tắc đấu tranh của các mặt đối lập Trái lại, thái độ củacác ông trong việc ủng hộ hợp tác với các đảng đối lập được đặt trên nền tảng của nguyên tắc đấutranh, vì mục tiêu chiến lược của phong trào cộng sản Do nhận thức được sự hạn chế của các đảngđối lập, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng sự ủng hộ này chỉ trong chừng mực các phong trào này cònphù hợp và đáp ứng được lợi ích, mục tiêu của phong trào cộng sản

Còn đối với V.I.Lênin, trong điều kiện trực tiếp lãnh đạo nước Nga tiến lên chủ nghĩa xã hội,V.I.Lênin chính là người đầu tiên vận dụng tư tưởng kết hợp các mặt đối lập trong giải quyết mâuthuẫn xã hội vào thực tiễn của đất nước, Người đã cho thấy vấn để kết hợp các mặt đối lập là một yêu Cầu tất yếu khách quan đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga lúc bấy giờ TheoV.I.Lênin, trong quá trình giải quyết mâu thuẫn xã hội, một tư duy biện chứng phải thể hiện bằng khảnăng biết kết hợp các mặt đối lập

Sở dĩ cần phải cần phải và có thể làm như vậy là vì trên thực tế, giữa các mặt đối lập luôn tồn tại một

số điểm chung tương đồng nào đó, bên cạnh những điểm dị biệt, trái ngược nhau Chính những điểmchung này cho phép kết hợp những mặt đối lập đó, trong những điều kiện hoàn cảnh nào đó Bằngviệc kết hợp các mặt đối lập đó lại, có thể giúp cho việc giải quyết mâu thuẫn diễn ra tốt hơn, có thểgiúp cái mới chiến thắng cái cũ, nhờ đó thúc đẩy nhanh sự phát triển của xã hội Bởi lẽ, sự kết hợp cónguyên tắc này không phải thủ tiêu sự đấu tranh các mặt đối lập, động lực của sự phát triển, mà tráilại, làm cho sự đấu tranh vẫn tiếp tục được thực hiện dưới một hình thức mới mẻ

V.I.Lênin cho rằng, việc kết hợp các mặt đối lập không chỉ là biểu hiện của tư duy biện chứng trongviệc nhận thức, giải quyết mâu thuẫn nói chung, mà quan trọng hơn, đây phải được coi như một chínhsách thực tiễn quan trọng của Đảng và Nhà nước Xô Viết Mục đích của chính sách thực tiễn này lànhằm kết hợp được như thế nào đó của các mặt đối lập đang tồn tại khách quan trong đời sống xã hội.Qua đó tạo điều kiện giải quyết mâu thuẫn tốt hơn, thúc đẩy nhanh quá trình phát triển lên chủ nghĩa

xã hội Người cho rằng, đó là biểu hiện của việc vận dụng chủ nghĩa Mác, vận dụng phép biện chứngcủa chủ nghĩa Mác vào thực tiễn cách mạng

Trên thực tế, những chính sách mà Đảng và Nhà nước Xô Viết, đứng đầu là V.I.Lênin đã thi hànhtrong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước những năm đầu Cách mạng tháng Mười, chính là biểuhiện của vận dụng phép biện chứng về sự kết hợp các mặt đối lập Chẳng hạn,khi Cách mạng thángMười mới thành công, nhằm để có điều kiện và thời gian để củng cố chính quyền non trẻ, Đảng vàNhà nước Xô Viết đã không ngần ngại tiến hành sự thỏa hiệp với giai cấp tư sản Pháp để chống lại sựxâm lược của đế quốc Đức V.I.Lênin cho rằng, sự thỏa hiệp tạm thời này có lợi cho chủ nghĩa xã hộinên cần được ủng hộ, dù rằng cả hai bên Nga và Pháp “đều muốn trèo lên cổ nhau”

Trang 13

Nhưng tạm thời, lợi ích của chúng tôi thống nhất với nhau Để chống lại bọn tham tàn Đức đánhchúng tôi, chúng tôi, vì lợi ích của cách mạng xã hội chủ nghĩa Nga và quốc tế, đã lợi dụng những lợiích đối chọi nhau, cũng không kém tham tàn, của bọn đế quốc khác

Tuy nhiên, trong tư tưởng của V.I.Lênin về việc thực hiện các mặt đối lập để giải quyết nhiệm vụ thựctiễn của cách mạng, tiêu biểu và đặc sắc nhất phải kể tới, đó là Chính sách kinh tế mới (NEP) Trongchính sách này, V.I.Lênin đã cho chúng ta thấy một cách rõ nét nhất về tính tất yếu của sự kết hợp cácmặt đối lập giữa chủ nghĩa tư bản(CNTB) và chủ nghĩa xã hội (CNXH) trong quá trình phát triển xãhội từ xã hội tư bản chủ nghĩa lên xã hội chủ nghĩa, cũng như cách thức kết hợp như thế nào để có thểđem lại lợi ích tốt nhất cho chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ởnước Nga Chính sách này đã cho phép CNTB, cũng như sự tự do buôn bán tồn tại trong nền kinh tếcủa nước Nga Xô Viết sau thời kỳ nội chiến(1918-1921) Trong điều kiện vai trò kiểm soát nền kinh

tế thuộc về Nhà nước Xô viết thì sự có mặt của CNTB, của giai cấp tư sản cho phép nước Nga Xô viếtnon trẻ thoát khỏi cơn khủng hoảng kinh tế-xã hội sau nội chiến và đạt được những tiến bộ ban đầutrên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội

2 Sự kết hợp các mặt đối lập trong NEP:

2.1 Tính tất yếu của sự kết hợp các mặt đối lập trong NEP

Chúng ta biết rằng, sự ra đời NEP và qua đó vấn đề kết hợp các mặt đối lập trong chính sách này gắnliền một cách trực tiếp với bối cảnh nước Nga thời kỳ nội chiến (1918-1921) Sau khi giành thắng lợibằng cuộc cách mạng tháng mười vĩ đại, những người cộng sản Nga, đứng đầu là V.I.Lênin, buộcphải cùng với quần chúng cách mạng tiến hành cuộc nội chiến, nhằm đập tan sự phản kháng của phảnđộng trong nước, với sự tiếp sức của tư bản nước ngoài, bảo vệ thành quả cách mạng của mình Trongtình hình nội chiến cấp bách, để có thể có đủ lương thực cho quân đội một cách nhanh chóng, đồngthời tập trung lực lượng chống thù trong giặc ngoài, Nhà nước Xô viết buộc phải thực hiện một giảipháp tình thế-đó là chính sách cộng sản thời chiến Thực chất của chính sách này là ở chỗ Nhà nước

Xô viết tiến hành quá trình tập hóa mọi lĩnh vực của đời sống xã hội: từ kinh tế đến chính trị, từ sảnxuất lương thực cho đến phân phối sản phẩm lao động làm ra Để là được điều đó, chính quyền Xôviết đã thực hiện việc quốc hữu hóa, tước đoạt tài sản của tư sản ở thành thị và Culắc ở nông thôn,thực hiện việc cưỡng bức lao động, thực hiện chính sách trưng thu lương thực thừa và chế độ phânphối bình quân, phân phối bằng hiện vật, thông qua nhà nước… Đồng thời thu hẹp thị trường và coi

tự do buôn bán là vũ khí của kẻ thù chống chính quyền Xô viết… Rõ ràng, tình hình nội chiến cấpbách đã buộc chính quyền Xô viết phải chia nước Nga thành hai trận tuyến, hai mặt đối lập rạch ròi: ta

và địch Nếu như bên này là ta bao gồm chính quyền Xô viết, quần chúng cách mạng đồng thời đikèm với nó là chế độ công hữu là sản xuất và phân phối đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của nhà nước Xôviết thì bên kia lại bao gồm bọn phản cách mạng trong và ngoài nước, là sự tư hữu cũng như tự dobuôn bán… Việc giải quyết mâu thuẫn giữa hai mặt đối lập này được thực hiện bằng giải pháp cứngrắn, có tính “cộng sản thời chiến” Ở một phương diện nào đó, cách giải quyết mâu thuẫn của chínhsách cộng sản thời chiến này đã phát huy tác dụng, góp phần đập tan sự phản kháng của bọn phảnđộng trong và ngoài nước, bảo vệ thành quả cách mạng

Tuy nhiên, chính sự thắng lợi trên mặt trận quân sự do chính sách cộng sản thời chiến trực tiếp đemlại trong cuộc nội chiến lại làm cho những người cộng sản đi tới một sự ngộ nhận rằng, bằng chínhsách này, với những nội dung cơ bản của nó như quá trình tập trung hóa sản xuất, quản lý và phânphối vào tay nhà nước, việc xóa bỏ quan hệ hàng hóa-tiền tệ, nước Nga Xô viết có thể nhanh chóngtiến lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản được Sự ngộ nhận này càng được củng cố bởi sựnhận thức còn non nớt , không lường hết được những khó khăn còn vấp phải trên con đường tiến lênchủ nghĩa xã hội từ một đất nước mà nền sản xuất tuyệt đại đa số còn ở tình trạng tiểu nông Và cốnhiên, sai lầm nhận thức này cũng bị tác động bởi ý chí, tình cảm của người dân Xô viết muốn nhanh

Trang 14

chóng thoát khỏi xã hội lạc hậu, dã man để đi tới xã hội tốt đẹp hơn Chính V.I.Lênin sau này cũng đãthừa nhận điều đó Trong bài viết kỉ niệm lần thứ tư Cách mạng tháng Mười Nga, V.I.Lênin đã chỉ rõ:Được cao trào nhiệt tình lôi cuốn, chúng ta, những người đã từng thức tỉnh nhiệt tình của nhân dân,-trước hết là về mặt chính trị, rồi sau về mặt quân sự, - chúng ta đã tính là có thể dựa vào nhiệt tình đó

mà trực tiếp thực hiện những nhiệm vụ kinh tế to tát như những nhiệm vụ chính trị chúng, như nhữngnhiệm vụ quân sự Chúng ta đã tính-hay có lẽ nói như thế này đúng hơn: chúng ta chưa tính toán đầy

đủ mà đã tưởng là-có thể trực tiếp dung pháp lệnh của nhà nước vô sản, để tổ chức theo kiểu cộng sảnchủ nghĩa, trong một nước tiểu nông, việc nhà nước sản xuất và phân phối sản phẩm Đời sống thực tế

đã vạch rõ sai lầm của chúng ta

Thực tế cho thấy, sau những thắng lợi nhất thời, quan điểm tuyệt đối hóa sự đối lập giữa kế hoạch vàthị trường, công hữu và tư hữu… trong chính sách cộng sản thời chiến đã bộc lộ tính chất sai lầm của

nó Chế độ trưng thu lương thực thừa trong chính sách cộng sản thời chiến đã thủ tiêu lợi ích kinh tếcủa người lao động – nguồn kích thích quan trọng cho sự phát triển của sản xuất Nền sản xuất củanước Nga, do đó đã rơi vào sự đình đốn trầm trọng, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp.Sản lượng lương thực ngày càng giảm, đời sống của nông dân, công nhân và binh lính ngày càng khókhăn Nghiêm trọng hơn, trong xã hội đã xuất hiện tâm lý hoài nghi, dao động, không còn tin tưởngvào đường lối xây dựng đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng Bônsêvích Thậm chí còn xuấthiện cả những cuộc bãi công của công nhân, cả những cuộc bạo loạn phản cách mạng, mà người thamgia có cả nông dân, binh lính, những người trước đó đã cầm súng dũng cảm chiến đấu bảo vệ chínhquyền Xô viết Liên minh công – nông, một trong những điều kiện tiên quyết cho sự thắng lợi củacách mạng vô sản, đặc biệt trong một nước mà giai cấp vô sản là thiểu số, giai cấp nông dân chiếm đa

số đã bị rạn nứt Chính Quyền Xô viết đang đứng trước một thử thách không kém phần khó khăn sovới thời nội chiến Rõ ràng, chính sách cộng sản thời chiến với việc đối lập tuyệt đối giữa tập trung kếhoạch với thị trường hàng hóa Thực hiện việc tập trung hóa cao độ vào tay Nhà nước Xô viết trênmọi lĩnh vực của đời sống xã hội chỉ thích hợp trong điều kiện cấp bách, đất nước có chiến tranh Nóchỉ có giá trị tích cực với tư cách một giải pháp tình thế trong điều kiện hoàn cảnh đặc biệt Việc kéodài chính sách này sang giai đoạn hòa bình đã làm cho nó không còn giá trị và gây hậu quả nghiêmtrọng đối với sản xuất và đời sống nhân dana Bản thân V.I.Lênin sau này cũng đã từng khẳng định vềđiều đó Theo V.I.Lênin, trong điều kiện chiến tranh khốc liệt thì chính sách cộng sản thời chiến cănbản là đúng Song, trong điều kiện hòa bình, việc duy trì chính sách này lại là sai lầm Bởi vì “đókhông phải là một chế độ kinh tế chặt chẽ Đó là một biện pháp không phải do những điều kiện kinh

tế đề ra, mà phần lớn là do những điều kiện quân sự bắt buộc phải thi hành” Chính những hậu quảnghiêm trọng từ việc kéo dài chính sách cộng sản thời chiến đã làm cho vấn đề kết hợp các mặt đốilập ở đây trở nên một tất yếu và cấp bách

Vấn đề đặt ra là phải thay thế chính sách cấm tự do buôn bán, trao đổi gắn liền với chính sách trưngthu lương thực thừa bằng một chính sách mềm dẻo, biện chứng hơn, cho phép tự do buôn bán, traođổi Tương tự như thế, cũng cần phải thay thế chính sách bất hợp tác với CNTB, không chấp nhận sựtồn tại của kinh tế tư bản trong nền kinh tế của nước Nga Xô viết bằng một chính sách mềm dẻo, sẵnsàng hợp tác với CNTB, với các nhà tư bản trong hoạt động kinh tế Tóm lại, cần phải tiến hành sự kếthợp giữa một số nhân tố của chủ nghĩa xã hội và một số nhân tố của CNTB nhằm đem lại lợi ích tốtnhất cho công cuộc xây dựng đất nước

Nhằm luận chứng cho tính tất yếu phải tiến hành kết hợp giữa chủ nghĩa xã hội và CNTB trong hoạtđộng kinh tế dưới hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước, V.I.Lênin chỉ ra rằng:

Thứ nhất, chính việc cho phép tự do trao đổi, tự do buôn bán kinh doanh nhằm khôi phục tính tích cựcsản xuất của người sản xuất, đã làm cho việc thực hiện hình thức chủ nghĩa tư bản của nhà nước trởnên tất yếu hơn lúc nào hết Điều đó trước hết xuất phát từ khả năng thực tế của sự phục hồi CNTB

mà theo nhận định của V.I.Lênin sẽ tất yếu xảy ra một khi thi hành chính sách tự do buôn bán là “tự

Trang 15

do khôi phục CNTB trên một mức độ lớn” là tự do của CNTB Bởi lẽ, một đất nước với sản xuất nhỏ

là phổ biến thì việc tự do buôn bán, trao đổi chắc chắn không tránh khỏi sự phục hồi CNTB Do đó đểđảm bảo cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đi tới thắng lợi thì phải biết chấp nhận thực tế đó,

sử dụng CNTB sao cho có lợi cho đất nước Như thế có nghĩa là tất yếu phải thực hiện kết hợp giữaCNXH và CNTB dưới hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước

Thứ hai, nếu không thực hiện việc kết hợp giữa CNXH và CNTB dưới hình thức CNTB thì sẽ khôngthể đưa nước Nga tiểu nông lên CNXH được Người cho rằng, trong điều kiện nền sản xuất của nướcNga chủ yếu là nông nghiệp lạc hậu, nếu thì hành kinh tế hàng hóa thì sản phẩm trao đổi trên thịtrường chủ yếu vẫn là nông sản Điều đó hoàn toàn không thỏa mãn nhu cầu về các vật phẩm tiêudùng công nghiệp do đó không thể kích thích nông dân phát triển sản xuất nông nghiệp được Để cósản phẩm công nghiệp nhằm trao đổi với người nông dân thì nhà nước phải phát triển công nghiệp Ởmột nước lạc hậu như nước Nga, lại bị chiến tranh tàn phá suốt 7 năm trời (1914-1921) thì việc pháttriển công nghiệp quả là một khó khăn lớn Để làm được điều đó, để vực dậy và phát triển nền côngnghiệp què quặt của đất nước, theo V.I.Lênin, chỉ có thể nhờ vào sự giúp đỡ của chính tư bản nướcngoài Mà để tư bản nước ngoài, một kẻ thù vốn không bao giờ mong muốn sự lớn mạnh của nhànước Xô viết, có thể giúp đỡ thì phải thực thi hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước Chính hình thứcnày cũng đem lại lợi ích cho nhà tư bản, điều mà bất cứ một nhà tư bản nào cũng không thể bỏ qua,đặc biệt nếu như lợi ích đó quá lớn và có thể trông thấy được V.I.Lênin viết:

…Trong một nước tiểu nông đã bị cực kỳ tàn phá và quá đỗi lạc hậu thì sự phát triển của CNTB donhà nước vô sản kiểm soát và điều tiết (tức là chủ nghĩa tư bản nhà nước hiểu theo nghĩa ấy) là có lợi

và cần thiết (…) vì sự phát triển đó có thể đẩy nhanh sự phát triển ngay tức khắc của nền nông nghiệpnông dân

Và Người còn nói thêm: “người nào không đắm chìm trong ảo tưởng mà nhìn vào thực tế, thì phảihiểu điều đó”3

Thứ ba, việc thực hiện kết hợp giữa CNXH và CNTB dưới hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước là tấtyếu còn xuất phát từ đặc điểm của xã hội lạc hậu khi đi vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đóchính là tính tự phát tiểu tư sản Phân tích đời sống kinh tế của xã hội Xô viết, V.I.Lênin cho rằngđiều đáng ngại nhất, “kẻ thù nguy hiểm nhất” của CNXH không phải là chủ nghĩa tư bản nhà nước màlại chính là tính tự phát tiểu tư sản Người chỉ rõ: “Ở đây không phải là chủ nghĩa tư bản nhà nước đấutranh chống chủ nghĩa xã hội, mà là giai cấp tiểu tư sản cộng với chủ nghĩa tư bản tư nhân cùng nhauđấu tranh chống lại cả chủ nghĩa tư bản nhà nước lẫn chủ nghĩa xã hội.”

Luận chứng về mối nguy hiểm đến từ tình trạng tư hữu nhỏ với tính tự phát trong hoạt động kinh tếcủa nó và sự cần thiết phải thực hiện ngay chủ nghĩa tư bản nhà nước, V.I.Lênin cho rằng chính tầnglớp tư hữu nhỏ, với bản tính tự do, tự phát vốn có, sẽ chống lại bất cứ một sự can thiệp, kiểm kê, kiểmsoát của nhà nước Xô viết Nền sản xuất lớn, mang tính kế hoạch của chủ nghĩa xã hội sẽ không thểxây dựng và phát triển được nếu vẫn còn tồn tại phổ biến kiểu làm ăn tự phát, vô tổ chức của nhữngngười tư hữu nhỏ Đối với nước Nga lạc hậu, tiểu nông thì quá trình xây dựng nền sản xuất lớn xã hộichủ nghĩa sẽ là rất khó khăn Bằng việc thực hiện chủ nghĩa tư bản nhà nước có khả năng cải thiệnnhanh chóng nền sản xuất nhỏ lạc hậu của nước Nga Bởi lẽ, xét về góc độ trình độ phát triển thì chủnghĩa tư bản nhà nước cao hơn nhiều so với kinh tế tiểu nông Hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước,với lối làm ăn lớn, có tổ chức sẽ khắc phục được tình trạng lạc hậu, vô tổ chức của kinh tế tiểu nông.Chủ nghĩa tư bản nhà nước sẽ góp phần giúp nhà nước vô sản chống lại những thế lực tự phát tiểu tưsản đó, bắt thế lực tiểu tư sản này phải phục tùng sự kiểm soát của nhà nước vô sản Chính việc thựchiện chủ nghĩa tư bản nhà nước sẽ là một bước tiến lớn, đem lại chiến thắng trước tình trạng hỗn loạn,

vô chính phủ do những thói quen, tập quán của nền sản xuất nhỏ Nhờ đó sẽ giúp nước Nga Xô viếtthoát khỏi sự diệt vong và tiến lên, một cách vững chắc, trên con đường xã hội chủ nghĩa…“Chủnghĩa tư bản nhà nước là một bước tiến so với thế lực tự phát tiểu tư hữu (và tiểu gia trưởng và tiểu tưsản)”.4

Trang 16

Thứ tư, khẳng định về tính tất yếu của việc kết hợp một cách biện chứng giữa chủ nghĩa xã hội vớiCNTB trong hoạt động kinh tế dưới hình thức đặc biệt – chủ nghĩa tư bản nhà nước, V.I.Lênin cònvạch ra một lợi ích to lớn nữa, đó là việc thi hành chính sách chủ nghĩa tư bản nhà nước còn góp phần

to lớn trong việc đấu tranh chống lại những mặt tiêu cực khác của một xã hội lạc hậu, dựa trên nềnkinh tế tiểu nông Biểu hiện ở tình trạng đầu cơ, bệnh quan liêu – những căn bệnh phát sinh từ sự tưhữu nhỏ Theo V.I.Lênin, tệ đầu cơ, bệnh quan liêu, giấy tờ chính là kẻ thù chính trong nội bộ đấtnước là kẻ thù bên trong của chính quyền Xô Viết Những căn bệnh này bắt nguồn chính từ sự tồn tạicủa nền sản xuất nhỏ, lạc hậu, ở sự phân tán, manh mún trong sản xuất, ở sự dốt nát, mù chữ củangười tư hữu nhỏ Vì vậy, V.I.Lênin chỉ ra rằng cuộc đấu tranh chống nạn đầu cơ phải được biếnthành “cuộc đấu tranh chống các vụ ăn cắp và chống những hành vi trốn tránh sự giám sát, sự kiểm

kê, kiểm soát của Nhà nước” Chính sự kiểm soát ấy sẽ có tác dụng “hướng CNTB vào con đường chủnghĩa tư bản nhà nước”.5

Thứ năm, V I.Lênin còn cho rằng việc kết hợp giữa CNXH và CNTB dưới hình thức kinh tế chủnghĩa tư bản nhà nước còn góp phần khôi phục và phát triển giai cấp công nhân Nga hiện đang trongtình trạng mất tính giai cấp, “mất gốc” nghiêm trọng Chính khủng hoảng kinh tế do chính sách cộngsản thời chiến trực tiếp gây ra đã làm cho đội ngũ công nhân vốn chỉ là thiểu số trong một đất nước đaphần tiểu nông đi tới thực trạng này.V.I.Lênin nói rằng: “ Nếu không nhận rằng tình trạng giai cấp vôsản mất gốc là một khuyết điểm thì thật là lố bịch, ngu xuẩn và phi lý”.6 Bằng việc thực hiện chủnghĩa tư bản nhà nước sẽ có khả năng xây dựng được nền công nghiệp cơ khí Giai cấp công nhân, với

tư cách con đẻ của CNTB và nền sản xuất công nghiệp cơ khí sẽ có điều kiện phát triển mạnh Sốlượng công nhân sẽ tăng lên, và đặc biết chất lượng của đội ngũ: trình độ tổ chức, ý thức kỷ luật ngàycàng nâng cao Có như thế họ mới xứng đáng là người lãnh đạo đất nước

Rõ ràng, trong điều kiện nước Nga và quốc tế lúc bấy giờ, việc thực hiện quá trình kết hợp giữaCNXH với CNTB dưới hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước trong NEP vừa là đòi hỏi tất yếu lại vừa

là một điều hoàn toàn “có lợi”, là “không đáng sợ mà đáng mong đợi” đối với công cuộc xây dựngCNXH ở Nga thời kỳ này Vì chủ nghĩa tư bản nhà nước đối với nước Nga lúc bấy giờ là “cần thiết”,

“đáng mong đợi”, “là một bước tiến”, cho nên nhà nước Xô viết và những người Bônsêvich buộc phảithi hành chính sách này nếu không muốn đưa chính sách của mình tới chỗ “tự sát” Điều đó có nghĩa

là, việc kết hợp các mặt đối lập giữa CNTB và Nhà nước vô sản là một tất yếu khách quan, là một đòihỏi khách quan nhằm thúc đẩy xã hội Xô viết lên CNXH nhanh chóng Xuất phát từ những yêu cầu tấtyếu của việc kết hợp giữa CNXH và CNTB như vậy, NEP đã chính thức được V.I.Lênin đưa ra vàotháng 8/1921, tại Đại hội lần thứ X, Đảng Cộng sản (b) Nga

2.2 Những nội dung cơ bản của việc kết hợp các mặt đối lập trong NEP

Như trên đã đề cập, việc kết hợp các mặt đối lập trong NEP được biểu hiện tập trung chủ yếu ở chế độkinh tế chủ nghĩa tư bản nhà nước và chính sách thuế lương thực

Đối với việc thực thi chế độ kinh tế chủ nghĩa tư bản nhà nước: Như ở trên, trong phần phân tích tínhtất yếu của việc thực thi chế độ chủ nghĩa tư bản nhà nước đã cho thấy, khi V.I.Lênin ra sức luậnchứng cho việc thực hiện hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước, thực chất ông đã chủ trương kết hợpcác mặt đối lập giữa CNXH và CNTB để giải quyết mâu thuẫn cấp bách của đất nước lúc bấy giờ.Trước sự khủng hoảng kinh tế - xã hội nặng nề, hậu quả của việc kéo dài chính sách cộng sản thờichiến mà xét ở góc độ tư duy là biểu hiện của tư duy máy móc, siêu hình, tuyệt đối hóa sự đối lập giữaCNXH và CNTB, V.I.Lênin hiểu rằng cần phải thực hiện việc kết hợp giữa CNXH và CNTB để đấtnước thoát khỏi khủng hoảng và đi lên CNXH Người nhận thức rằng, nếu như trước kia, trong giaiđoạn nội chiến, việc bất hợp tác với CNTB, thực thi chính sách cộng sản thời chiến là điều “vạn bấtđắc dĩ”, không thể tránh khỏi (V.I.Lênin nói chính sách đó chủ yếu do điều kiện quân sự tạo nên); thìgiờ đây, trong điều kiện hòa bình, với nhiệm vụ trọng tâm là phát triển kinh tế, việc hợp tác vớiCNTB, việc kết hợp giữa CNXH và CNTB dưới hình thức kinh tế chủ nghĩa tư bản nhà nước là điều

Trang 17

“cần thiết”, “đáng mong đợi”, là “một sự cứu nguy” …Ở đây, tư tưởng của V.I.Lênin rằng: ưu điểmcủa ngày hôm qua có thể trở thành khuyết điểm của ngày hôm nay đã được chính Người vận dụng khithay chính sách cộng sản thời chiến bằng NEP.

Khi chủ trương giải quyết những vấn đề bức xúc của nước Nga lúc bấy giờ bằng phương thức kết hợpcác mặt đối lập (CNXH và CNTB), V.I.Lênin hiểu rằng, giờ đây đất nước có đủ điều kiện để tiếnhành việc kết hợp đó Đất nước đã thoát khỏi chiến tranh, hòa bình được lập lại Mặc dù, trong quan

hệ giữa nhà nước Xô viết với chủ nghĩa tư bản quốc tế, bản chất của cả hai bên đều không thay đổi,các nước tư bản cũng không phải là đã chịu từ bỏ ý đồ tiêu diệt nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiêntrên thế giới; song tương quan lực lượng đã thay đổi, đảm bảo cho nhà nước Xô viết được tôn trọngtrong quan hệ quốc tế Vả lại, giờ đây không chỉ nhà nước Xô viết cần có sự giúp đỡ của các nhà tưbản mà bản thân các nước tư bản, các nhà tư bản cũng mong có sự hợp tác với nhà nước Xô viết Nhànước Xô viết thì cần tới cơ sở vật chất kỹ thuật tiên tiến, kinh nghiệm tổ chức, quản lý… của nhà tưbản Nhà tư bản lại mong kiếm tìm lợi nhuận to lớn trong quan hệ với nước Nga Xô viết Nói tóm lại,

cả hai phía CNXH và CNTB, với tư cách hai mặt đối lập đều nhận thấy ở phía bên kia thứ mình đangthiếu hoặc đang cần Nói cách khác, giữa hai mặt đối lập này đã xuất hiện điểm chung cho phép kếthợp với nhau Việc kết hợp giữa CNXH và CNTB giờ đây hoàn toàn đã trở thành một khả năng tấtyếu, nghĩa là có thể và cần phải thực hiện để giải quyết mâu thuẫn cấp bách của nước Nga Xô viết lúcbấy giờ, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng để tiến lên CNXH

Đương nhiên, khi đưa ra chủ trương kết hợp CNXH và CNTB tư bản dưới hình thức chủ nghĩa tư bảnnhà nước, V.I.Lênin hiểu rằng thực ra đây chỉ là một bước lùi, một sự thỏa hiệp CNTB nhằm đem lạilợi ích cho chủ nghĩa xã hội Người cũng hiểu rằng, dù chủ nghĩa tư bản nhà nước là “đáng mongđợi”, là “có lợi” song đây là một vấn đề hết sức mới mẻ: “ngày đến C.Mác cũng không viết một lờinào về vấn đề đó và Người đã mất đi mà không để lại một lời nào rõ rệt, một chỉ dẫn nào chắc chắn vềvấn đề ấy cả” Vì thế việc hợp tác với CNTB, việc kết hợp giữa CNXH và CNTB dưới hình thức chủnghĩa tư bản nhà nước chính là con dao hai lưỡi Bởi vì, bản chất của CNTB không hề thay đổi, ngay

cả khi hợp tác với nhà nước Xô Viết, với CNXH để có được lợi nhuận, CNTB luôn muốn tiêu diệtCNXH Do vậy, vì lợi ích của CNXH, cần phải kết hợp, cần phải thỏa hiệp, lùi về chủ nghĩa tư bảnnhà nước song cần phải có những nguyên tắc nhất định, ở một giới hạn nhất định Làm sao việc thựchiện hình thức kinh tế này, việc kết hợp này không thể dẫn đến việc đe dọa sự tồn tại của chính quyền

Xô Viết Đó là vấn đề có tính nguyên tắc khi bắt tay với CNTB Đối với V.I.Lênin, việc kết hợp giữaCNXH và CNTB, những nhượng bộ, thỏa hiệp CNTB, những hy sinh tạm thời của nhà nước Xô Viết

và CNXH về cơ bản phải đem lại lợi ích chiến lược, lâu dài cho chính quyền Xô Viết Chính vì vậy,một mặt, V.I.Lênin khẳng định việc kết hợp giữa CNXH và CNTB dưới hình thức chủ nghĩa tư bảnnhà nước là một giải pháp đáng mong đợi, có lợi và “duy nhất” để nước Nga có thể tiến lên CNXH;rằng “những nhiệm vụ chủ nghĩa xã hội sẽ chóng được giải quyết hơn nếu chủ nghĩa tư bản nhà nước

là chế độ kinh tế chiếm địa vị thống trị ở nước Nga”; song mặt khác, Người lại không hề quên cái giớihạn, cái chừng mực mà chủ nghĩa tư bản nhà nước không được vượt qua mà việc kết hợp này cần phảiquán triệt Biện chứng của sự phát triển xã hội Xô Viết thời NEP của V.I.Lênin chính là ở chỗ đó

Để có thể giữ cho sự phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước ở trong giới hạn của nhà nước Xô Viết vàCNXH, để sự kết hợp giữa CNXH và CNTB có thể đem lại lợi ích nhiều nhất cho công cuộc xâydựng CNXH, theo V.I.Lênin, nhà nước Xô Viết phải có nhiệm vụ đặc biệt Đó là phải tiến hành kiểm

kê, kiểm soát hoạt động của chủ nghĩa tư bản nhà nước nhằm điều tiết hoạt động đó có lợi choCNXH V.I.Lênin cho rằng, cùng với việc thực hiện các mặt đối lập (CNXH và CNTB) dưới hìnhthức chủ nghĩa tư bản nhà nước, chỉ có việc tổ chức chu đáo công tác kiểm kê, kiểm soát, kỷ luật laođộng nghiêm ngặt mới có thể “dẫn chúng ta tới CNXH” Không có điều đó thì không thể có CNXH.V.I.Lênin coi công tác kiểm kê và kiểm soát của toàn dân đối với sản xuất và phân phối sản phẩm là

“một cái trạm trung gian” mà nước Nga buộc phải qua để có thể đi tới CNXH

Trang 18

Có thể nói, thái độ của V.I.Lênin về vấn đề kết hợp giữa CNXH và CNTB dưới hình thức chủ nghĩa

tư bản nhà nước là hết sức rõ ràng Người không chỉ nhìn thấy vai trò cực kỳ quan trọng của việc kếthợp này đối với quá trình tiến lên CNXH ở một đất nước còn lạc hậu như nước Nga, mà Người cònnhìn thấy cả những mặt trái của nó, nhìn thấy những nguy cơ mà việc sử dụng chế độ chủ nghĩa tưbản nhà nước có thể gây ra cho một nhà nước vô sản Chính vì thế mà một mặt, V.I.Lênin kiên quyếtbảo vệ quan điểm kết hợp các mặt đối lập, kết hợp giữa CNXH và CNTB trong hoạt động kinh tế,dưới hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước ở nước Nga, nhất là kể từ khi “cuộc thử nghiệm” quá độtrực tiếp lên CNXH ở Nga đã tỏ ra thất bại vào đầu năm 1921; mặt khác, V.I.Lênin cũng tỏ ra hết sứctỉnh táo, thận trọng khi giải quyết sự kết hợp này V.I.Lênin hiểu rõ hơn ai hết, bản chất CNTB dù ởbất cứ hình thức nào cũng không hề thay đổi Sẽ chẳng có một nhà nước tư bản chủ nghĩa nào mongmuốn chính quyền vô sản, CNXH vững mạnh Khi nói về tô nhượng, một hình thức của chủ nghĩa tưbản nhà nước, Người cho rằng “bất cứ một người nhận tô nhượng nào cũng vẫn là nhà tư bản và nó sẽ

cố gắng phá hoại chính quyền Xô Viết” Do đó người cộng sản nào mà lại có ảo tưởng về lòng tốt củanhà tư bản khi ký các hợp đồng làm ăn với họ thì đáng phải “bỏ người đó vào nhà thương điên”.Phương pháp luận của V.I.Lênin trong việc giải quyết vấn đề chủ nghĩa tư bản nhà nước với tư cách là

sự kết hợp giữa CNXH với CNTB ở đây là, xuất phát từ vị trí, vai trò của sự thống nhất các mặt đốilập trong mâu thuẫn Bản thân sự thống nhất các mặt đối lập, cũng như sự đấu tranh của chúng là mộthiện tượng khách quan, thể hiện quan hệ ràng buộc, quy định lẫn nhau giữa các mặt đối lập Nhưng sựthống nhất và đấu tranh này tự nó chưa phải là giải quyết mâu thuẫn, mà đó mới chỉ là cơ sở của việcgiải quyết mâu thuẫn Trong mối quan hệ thống nhất này, các mặt đối lập sẽ nảy sinh ra cuộc đấutranh để cuối cùng dẫn tới sự chuyển hóa giữa chúng làm cho mâu thuẫn được giải quyết

Khi đưa ra chủ trương thực hiện việc kết hợp giữa CNXH và CNTB dưới hình thức chủ nghĩa tư bảnnhà nước, V.I.Lênin hiểu rằng điều đó không có nghĩa là xóa nhòa sự khác biệt tới mức đối lập giữaCNTB và CNXH Người nhận thức được rằng sự kết hợp này sở dĩ có thể thực hiện được vì giữa nhà

tư bản và nhà nước vô sản đều có điểm chung là mong muốn có lợi trong sự kết hợp này Nhà tư bảnthì được lợi nhuận, còn nhà nước vô sản và CNXH thì được lợi trong cuộc đấu tranh chống tính tựphát tiểu tư sản, cũng như xây dựng được cơ sở vật chất kỹ thuật của chế độ mới Tuy nhiên, việc đạtđược lợi ích như thế nào còn tùy thuộc vào quá trình kết hợp, tùy vào tương quan lực lượng, cũng như

sự khôn ngoan của mỗi bên Về phía nhà nước vô sản, V.I.Lênin chỉ rõ ràng, quá trình kết hợp phảilàm sao đem hiệu quả lớn nhất, có lợi nhiều nhất cho công cuộc xây dựng CNXH Muốn vậy, trongquá trình kết hợp, phải tính toán thật cẩn thận, lường hết mọi khả năng có thể xảy ra Không được kếthợp một cách tùy tiện, chủ quan, vô nguyên tắc Người cảnh báo rằng: “có thể kết hợp các khái niệmđối lập ấy lại với nhau thành một điệu nhạc chói tai, mà cũng có thể kết hợp chúng lại thành một điệunhạc chói tai, mà cũng có thể kết hợp chúng lại thành một điệu nhạc êm tai” Và như trên đã nêu, theoV.I.Lênin, để việc kết hợp trở thành điệu nhạc êm tai, đòi hỏi nhà nước Xô Viết phải phát huy tínhtích cực trong công tác kiểm kê, kiểm soát của mình

Tư tưởng nhất quán song cũng rất thận trọng của V.I.Lênin trong vấn đề kết hợp giữa CNXH vàCNTB trong hoạt động kinh tế được thể hiện rất rõ khi Người bàn về vấn đề tô nhượng – một nộidung, một hình thức của chủ nghĩa tư bản nhà nước Theo V.I.Lênin, việc kết hợp giữa nhà nước XôViết với CNTB dưới một hình thức CNTB

Nhà nước tô nhượng là hoàn toàn có khả năng thực hiện và cũng rất cần thiết đối với nước Nga SongV.I.Lênin chỉ rõ: đây không phải là hòa bình mà thực chất là một cuộc chiến tranh Đó là cuộc đấutranh giai cấp giữa tư sản và vô sản dưới một hình thức khác, trong điều kiện và ở một lĩnh vực mới

Do đó, về phương pháp luận ở đây là: tuyệt đối không thể thay thế đấu tranh giai cấp bằng hòa bìnhgiai cấp Đó là điều mà nhà nước vô sản cần phải luôn ghi nhớ khi tiến hành hợp tác làm ăn vớiCNTB dưới hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước nói chung, tô nhượng nói riêng

Trang 19

Ở đây, khi thực hiện kết hợp với CNTB, có nghĩa là nhà nước Xô Viết và CNXH đã chấp nhận mộtcuộc đấu tranh mới, dưới một hình thức mới với CNTB Đó là một sự “mạo hiểm” cần thiết tới mứcchấp nhận cả sự “cống nạp”, sự thiệt thòi về phía nhà nước Xô Viết và CNXH Vì vậy, cần phải giữvững những nguyên tắc cơ bản trong quá trình kết hợp, trong đó đặc biệt phải đảm bảo nguyên tắc về

sự vững chắc của chế độ xã hội chủ nghĩa Kết hợp với CNTB là để CNXH chiến thắng CNTB chứkhông phải ngược lại Với tinh thần như vậy, chúng ta mới hiểu quan điểm của V.I.Lênin về chủnghĩa tư bản nhà nước nói chung, tô nhượng nói riêng rằng: chủ nghĩa tư bản nhà nước ở đây khác vớichủ nghĩa tư bản nhà nước trong chế độ tư bản chủ nghĩa; rằng đây là: “thứ chủ nghĩa tư bản nhà nướcđược giai cấp công nhân tự giác cho phép tồn tại và hạn chế" Đó là sự hạn chế trong khuôn khổ của

sự kiểm kê, kiểm soát chặt chẽ của nhà nước Xô viết

Trong NEP, tư tưởng kết hợp các mặt đối lập trong việc giải quyết mâu thuẫn của V.I.Lênin cũng cònđược thể hiện trong vấn đề thuế lương thực

Đối với chính sách thuế lương thực: Bằng việc cho người dân được phép tự do buôn bán, trao đổi sảnphẩm trên thị trường sau khi đã nộp thuế cho nhà nước, trên thực tế, nhà nước Xô viết đã thực hiện sựkết hợp giữa công tác kế hoạch hóa của nhà nước với sự điều tiết của thị trường Giờ đây khi chuyển

từ chính sách trưng thu lương thực thừa sang chính sách thuế lương thực, V.I.Lênin và ĐảngBônsêvich đã nhận thức được yêu cầu khách quan của sự tồn tại một nền kinh tế nhiều thành phần vậnđộng theo cơ chế thị trường với việc tuân thủ quy luật cung - cầu, quy luật giá trị Từ đó V.I.Lênin vàĐảng Bônsêvich tiến hành xây dựng nền kinh tế mới theo tinh thần kết hợp giữa việc cho phép tự dobuôn bán, trao đổi trong một nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường với sự điều tiết có kế hoạchcủa nhà nước Xô viết

Ở đây qua kinh nghiệm xương máu của chính sách cộng sản thời chiến với việc tách rời giữa hai mặt

kế hoạch và thị trường, giữa công tác kế hoạch hoá của nhà nước Xô viết và sự điều tiết của thịtrường, V.I.Lênin hiểu rằng, quá trình xây dựng CNXH ở nước Nga không thể diễn ra đơn giản vớinhững sắc lệnh hành chính, với việc tuyệt đối hóa yếu tố kế hoạch của nhà nước Giờ đây cần phảivừa biết chấp nhận sự tồn tại một nền kinh tế thị trường trong CNXH, lại vừa phải tiến hành công tác

kế hoạch hóa của nhà nước Xô viết một cách hiệu quả Điều đó sẽ giúp cho nền kinh tế của nước Ngathoát khỏi sự xơ cứng, trì trệ Song Người cũng hiểu sâu sắc rằng, việc kết hợp này sẽ rất khó khăn.Bởi lẽ, giữa hai mặt này vừa có sự thống nhất lại vừa có sự đấu tranh với nhau Biểu hiện ở chỗ, mộtmặt, với sự chấp nhận kinh tế thị trường, chấp nhận sự tự do buôn bán, trao đổi sẽ làm cho công tác kếhoạch hoá của nhà nước Xô viết gặp nhiều khó khăn, đồng thời dẫn tới khả năng phục hồi CNTB, ảnhhưởng tiêu cực tới CNXH và công cuộc xây dựng CNXH Mặt khác, cũng không thể phủ nhận khảnăng điều tiết nền kinh tế của cơ chế thị trường Do vậy, V.I.Lênin cũng đòi hỏi việc kết hợp giữa haimặt này phải trên cơ sở thực hiện tốt sự kiểm kê, kiểm soát của nhà nước Xô viết Có như vậy mớivừa đảm bảo sự thúc đẩy kinh tế đất nước, lại vừa đồng thời ngăn chặn được nguy cơ phục hồi CNTB,đảm bảo lợi ích của CNXH và con đường xã hội chủ nghĩa V.I.Lênin đòi hỏi nhà nước Xô viết phảithực hiện tốt công tác kiểm kê, kiểm soát các hoạt động kinh doanh, buôn bán, sao cho những hoạtđộng kinh tế này vẫn nằm trong giới hạn, khuôn khổ và quỹ đạo của CNXH Nói cách khác, tư tưởngkết hợp các mặt đối lập của V.I.Lênin ở đây là sự kết hợp có nguyên tắc, có điều kiện chứ không phải

vô nguyên tắc có điều kiện chứ không phải vô điều kiện Có như vậy mới có thể gọi sự kết hợp này làkết hợp biện chứng

Nói tóm lại, có thể khẳng định rằng trong quá trình lãnh đạo đất nước trên con đường tiến lên CNXH,V.I.Lênin đã thể hiện khả năng tư duy biện chứng, linh hoạt, luôn chú trọng tới việc khai thác tất cảnhững mặt, những yếu tố nào có lợi cho cách mạng, cho công cuộc xây dựng CNXH Đặc biệt ở đây,V.I.Lênin đã thể hiện sự cố gắng cao độ, một tư duy biện chứng hiếm thấy và một bản lĩnh chính trịvững vàng, thể hiện ở chủ trương kết hợp các mặt đối lập CNXH và CNTB, giữa công tác kế hoạchhoá của nhà nước xã hội chủ nghĩa với cơ chế thị trường nhằm giải quyết những mâu thuẫn nóng bỏngcủa nước Nga Xô viết lúc bây giờ Bằng chứng của việc thực hiện kết hợp biện chứng, có nguyên tắc,

Trang 20

nghiêm túc, khoa học – V.I.Lênin và Đảng Bônsêvích đã đưa nước Nga Xô viết ra khỏi tình trạngkhủng hoảng trầm trọng, phục hồi nền kinh tế, đáp ứng được nhu cầu vật chất của nhân dân Từ đóđảm bảo cho việc thực hiện xây dựng CNXH, đảm bảo một nền tảng kinh tế vững chắc cho chế độ xãhội chủ nghĩa Mặc dù giờ đây Liên Xô không còn tồn tại nữa do nhiều nguyên nhân, song tư tưởngbiện chứng của V.I.Lênin về sự kết hợp các mặt đối lập biểu hiện trong NEP, vẫn là một nét độc đáo

và còn nguyên giá trị trong kho tàng lý luận vô giá của chủ nghĩa Mác-Lênin Đồng thời đó cũng làmột bài học lớn cho các quốc gia trên con đường tiến lên CNXH của mình Bởi vì, trên thực tế, NEP

có giá trị phổ biến chứ không phải chỉ có giá trị đặc thù ở nước Nga Tư tưởng kết hợp các mặt đối lậptrong NEP chính là sự cụ thể hóa tư tưởng kết hợp các mặt đối lập của chủ nghĩa Mác vào điều kiện

cụ thể của nước Nga Xô viết những năm 20, thế kỷ XX

2.3 Ý nghĩa thời đại và thời sự của việc kết hợp các mặt đối lập trong NEP 2.3.1 Tư tưởng kết hợp các mặt đối lập trong NEP là một giải pháp chiến lược đối với công cuộc xây dựng CNXH ở một nước lạc hậu, tiểu nông

Ở trên chúng ta đã thấy giá trị to lớn của NEP, với tư tưởng biện chứng sâu sắc về sự kết hợp các mặtđối lập có nguyên tắc, đối với việc đưa nước Nga Xô viết những năm đầu của thời kỳ xây dựngCNXH ra khỏi khủng hoảng và phát triển Tuy nhiên, ý nghĩa to lớn của NEP không chỉ dừng lại ở

đó, trong phạm vi một nước Nga đang trong bước đường tìm tòi đi lên CNXH và chủ nghĩa cộng sản

Nó cũng không chỉ dừng lại ở giới hạn là một giải pháp mang tính thực tiễn thuần túy nhằm giải quyếtnhiệm vụ chính trị thực tiễn cấp bách Trái lại việc thi hành NEP với chiều sâu lý luận-triết học là tưtưởng kết hợp biện chứng, kết hợp có nguyên tắc các mặt đối lập không là một giải pháp thực tiễn có

ý nghĩa chiến lược của quá trình tiến lên CNXH, ở tất cả các nước còn ở trình độ thấp như nước Nga,

mà còn có ý nghĩa lý luận triết học to lớn

Việc thực hiện kết hợp các mặt đối lập trong NEP chính là sự vận dụng sáng tạo lý luận về mâu thuẫn,

về sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập vào thực tiễn cách mạng, trong điều kiện Đảngcộng sản cầm quyền Quán triệt tinh thần của phép biện chứng mác xít, V.I.Lênin hiểu rằng để thúcđẩy xã hội phát triển thì phải tìm ra được mâu thuẫn khách quan của nó và giải quyết tốt mâu thuẫnkhách quan đó Đồng thời, ông cũng nhận thức được rằng để có thể tìm ra được những mâu thuẫnkhách quan của xã hội thì phải xem kỹ lưỡng, nắm cho chắc chắn trạng thái tồn tại hiện có của xã hội

đó, với tất cả những biểu hiện phong phú, phức tạp của nó Có thể khẳng định rằng, sự xuất hiện mộtmâu thuẫn khách quan của sự vật xã hội có cơ sở từ chính biện chứng của xã hội đó Theo V.I.Lênin,biện chứng của một xã hội trước hết biểu hiện ở chỗ xã hội đó không ra đời từ hư vô mà là sản phẩm

kế tiếp của xã hội trước Do đó trong sự tồn tại của xã hội này, đương nhiên không tránh khỏi nhữngdấu ấn của xã hội trước kia Chính sự tồn tại đan xen giữa những biểu hiện mới với những dấu ấn quákhứ vẫn còn tồn tại trong xã hội đã tạo nên mâu thuẫn biện chứng trong sự vận động, phát triển xã hộinày Đồng thời, chính sự tồn tại đan xen như thế giữa cái cũ và cái mới là cơ sở nảy sinh sự tươngđồng, điểm chung nào đó giữa chúng Đó chính là cơ sở khách quan của việc kết hợp các mặt đối lập Đánh giá về xã hội Nga đương thời, vận dụng tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăng ghen, V.I.Lênin khẳngđịnh nước Nga đang bước vào giai đoạn quá độ tiến lên CNXH Điều đó cũng có nghĩa rằng nướcNga hiện đang tồn tại mâu thuẫn: giữa một bên là những “mảnh" của xã hội cũ - CNTB với một bên lànhững “mảnh" của xã hội mới - xã hội chủ nghĩa Đây chính là hai mặt đối lập tiêu biểu nhất trongmâu thuẫn của xã hội quá độ Do đó, quá trình vận động, phát triển và giải quyết mâu thuẫn của thời

kỳ quá độ tiến lên CNXH chính là quá trình đấu tranh "ai thắng ai" giữa tư sản và vô sản, giữa CNTB

và CNXH, giữa một bên là cái đã bị đánh bại song chưa bị tiêu diệt hẳn và bên kia là cái đã phát sinh,

đã ra đời song còn rất non yếu V.I.Lênin khẳng định rõ ràng: Về lý luận không thể nghi ngờ gì đượcrằng giữa CNTB và chủ nghĩa cộng sản, có một thời kỳ quá độ nhất định Thời kỳ một ấy không thểkhông bao gồm những đặc điểm hoặc đặc trưng của cả hai kết cấu kinh tế - xã hội ấy Thời kỳ quá độ

Trang 21

ấy sự không thể nào lại không phải là thời kỳ đấu tranh giữa CNTB đang giãy chết và chủ nghĩa cộngsản đang phát sinh, hay nói một cách khác, giữa CNTB đã bị đánh bại nhưng chưa bị tiêu diệt hẳn vàchủ nghĩa cộng sản đã phát sinh nhưng vẫn còn rất non yếu

Đương nhiên, đặc trưng này của thời kỳ quá độ lên CNXH không phải là cái riêng có của nước Nga

mà là hiện tượng phổ biến mang tính tất yếu khách quan của tất cả nước tiến lên CNXH Điều đó hoàntoàn phù hợp với tư tưởng của C.Mác trong tác phẩm "Phê phán cương lĩnh Gôtha" Người khẳng địnhrằng: Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ

xã hội nọ sang xã hội kia Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước củathời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản

Trong quá trình thực hiện cải biến cách mạng, đấu tranh chống CNTB ở giai đoạn quá độ này,V.I.Lênin đã không hề máy móc, siêu hình đối lập một cách hoàn toàn giữa hai mặt đối lập tư bản chủnghĩa và xã hội chủ nghĩa Giải quyết mâu thuẫn cơ bản của thời kỳ quá độ lên CNXH, đặc biệt làđược thức tỉnh bởi kinh nghiệm đau đớn của chính sách cộng sản thời chiến, V.I.Lênin đã hiểu rõ sựcần thiết phải biết kế thừa những ưu điểm của CNTB, thông qua CNTB, học hỏi các nhà tư bản, làmcho công cuộc xây dựng CNXH được nhanh chóng hơn Điều đó cũng có nghĩa là phải thực hiện kếthợp giữa CNXH và CNTB Đương nhiên, đó phải là một sự kết hợp biện chứng, có nguyên tắc, có ýthức định hưởng rõ ràng Nghĩa là thực hiện việc kết hợp nhằm giải quyết mâu thuẫn sao cho mặt xãhội chủ nghĩa có thể chiến thắng mặt tư bản chủ nghĩa Bởi vì, do bản chất khác nhau, cho dù có kếthợp với nhau thì không vì thế hai mặt đối lập sẽ hòa tan vào nhau, không bài trừ, phủ định lẫn nhau

Để hạn chế sự tác động có hại cho CNXH từ phía CNTB, việc kết hợp phải dựa trên cơ sở đảm bảolợi ích của CNXH Hiểu rõ điều đó, V.I.Lênin đã mạnh dạn chỉ đạo sự kết hợp này không phải mộtlần, đặc biệt là vào thời kỳ khủng hoảng kinh tế xã hội trầm trọng sau nội chiến Mặc dầu, ngay tronghàng ngũ những người đảng viên cộng sản, những đồng chí của V.I.Lênin, không phải ai cũng hiểuđược tinh thần biện chứng, sự táo bạo cách mạng của V.I.Lênin Chính V.I.Lênin cũng đã khẳng định:

Dù sao chúng ta cũng đã học được ít nhiều chủ nghĩa Mác, đã học được rằng làm thế nào và khi nào

có thể và cần phải kết hợp các mặt đối lập, và chủ yếu là trong thời gian ba năm rưỡi của cuộc cáchmạng của chúng ta, trong thực tiễn chúng ta đã nhiều lần kết hợp các mặt đối lập

Từ chỗ chỉ biết đối lập một cách máy móc, siêu hình giữa CNTB và CNXH, giữa thị trường và kếhoạch đến chỗ kết hợp chúng lại, khai thác những điểm chung của chúng nhằm đem lại lợi ích chocông cuộc xây dựng CNXH Thực tế của những năm thực hiện NEP, với việc nước Nga thoát ra khỏicơn khủng hoảng, chính quyền Xô Viết được cung co bước đầu hình thành cơ sở vật chất kỹ thuậtcủa CNXH, đã chứng tỏ tính đúng đắn của việc kết hợp có nguyên tắc các mặt đối lập trong NEP.Điều đáng lưu ý của quá trình kết hợp các mặt đối lập thế hiện trong NEP là chỗ, sự thống nhất củacác mặt đối lập đã được V.I.Lênin khai thác triệt để trên nguyên tắc tôn trọng cuộc đấu tranh tất yếugiữa chúng Với quá trình kết hợp này, mâu thuẫn giữa các mặt đối lập cũng như quá trình đấu tranhgiữa chúng, không những không bị "thủ tiêu" một cách chủ quan, mà trái lại, còn tạo ra một địa bànmới cho cuộc đấu tranh diễn ra, với mục đích làm cho CNXH chiến thắng CNTB, cũng như đối vớitất cả các biểu hiện tự phát tiểu tư sản khác nghĩa to lớn của sự kết hợp biện chứng các mặt đối lậptrong NEP không chỉ dừng ở giới hạn chỉ là một giải pháp có tính cấp bách, nhằm khắc phục hậu quảtiêu cực gây ra từ chính sách cộng sản thời chiến, qua đó thể hiện sự vận dụng sáng tạo của V.I.Lênin

lý luận về mâu thuẫn trong thực tiễn cách mạng Điều quan trọng hơn ở đây, chính là chỗ bằng việcđưa ra tư tưởng kết hợp các mặt đối lập, giữa nhà nước vô sản với CNTB nhằm thúc đẩy quá trình xâydựng CNXH, con đường đi lên CNXH V.I.Lênin đã cho thấy một quan niệm mới về CNXH và về từmột nước tiểu nông Đó là con đường quá độ gián tiếp thông qua việc thực hiện kết hợp biến chứnggiữa CNXH với CNTB về mặt kinh tế dưới hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước

Quán triệt tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về một thời kỳ quá độ phức tạp, với những "cơn đau

đẻ kéo dài" từ CNTB lên CNXH, ngay từ đầu, từ năm 1917, V.I.Lênin cũng đã ý thức rất rõ rằng "tấtyếu phải có một thời kỳ quá độ lâu dài và phức tạp "từ xã hội tư bản chủ nghĩa lên xã hội cộng sản

Trang 22

chủ nghĩa, mà xã hội đó càng ít phát triển thì thời kỳ quá độ này càng dài Rằng đây là một "cuộc đấutranh vô cùng khó khăn" đòi hỏi "hàng nghìn lần thử" và còn tiếp tục "khi chúng ta đã thực hiện đượccái lần thử thứ một nghìn lẻ một" Tuy vậy, cũng như C.Mác, Ph.Ångghen trước kia, lúc đầuV.I.Lênin cũng chưa thể hình dung cụ thể hết những khó khăn phức tạp của quá trình tiến lên CNXHcũng như ngay cå bản thân xã hội chủ nghĩa CNXH còn được V.I.Lênin hình dung như một xã hộitrong đó không tồn tại sản xuất hàng hoá, không có trao đổi, buôn bán sản phẩm hàng hóa

Khi nội chiến nổ ra, trong điều kiện khốc liệt của thời chiến, những tư tưởng ấu trĩ, đơn giản vềCNXH ở trên đã có điều kiện phát triển và được hiện thực hóa trong thực tế Tư tưởng về việc kết hợpvới chính CNTB để xây dựng cơ sở vật chất của CNXH, sử dụng hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nướclàm nac thang di toi CNXH không có điều kiện tiến hành trong thực tế Chính sách cộng sản thờichiến, với tư cách một giải pháp tình thế do thực tế đòi hỏi đã có điều kiện ra đời Khi nội chiến kếtthúc, sau những thành quá nhất thời, những giá trị tích cực nhất định, chính sách cộng sản thời chiến

đã phơi bày tính hạn chế căn bản của nó về sự tách rời một siêu hình giữa CNXH và CNTB, đối vớiquá trình xây CNXH Do đó, NEP với tư cách một giải pháp chiến lược, một phương thức thực tiênxây dựng CNXH với tinh thần biện chứng sâu sắc kết hợp các mặt đối lập, đã có điều kiện ra đời

Ở đây, chúng ta có thể hình dung sự phát triển tư tưởng của V.I.Lênin về sự quá độ lên CNXH ở Nganhư sau: thời gian ban đầu, ngay sau Cách mạng tháng Mười, tư tưởng về chủ nghĩa tư bản nhà nướckiểu mới như một “nấc thang”, “phòng chờ” của CNXH đã xuất hiện trong đầu V.I.Lênin bên cạnhnhững quan niệm giản đơn về một CNXH “thuần khiết”, phi thị trường tự do, không có tự do trao đổi,buôn bán V.I.Lênin cũng đã xác định rằng thời kỳ quá độ này là rất phức tạp, khó khăn có thể phảithử nhiều lần, thậm chí ”hàng nghìn lần” Sự bất hợp tác của CNTB đối với thái độ mong muốn pháttriển hòa bình của Nhà nước Xô viết non trẻ, muốn tiêu diệt nhanh chóng Nhà nước này đã không chophép V.I.Lênin có thể “thử” loại hình chủ nghĩa tư bản nhà nước Nội chiến nổ ra, Nhà nước vô sảnbắt buộc phải thi hành chính sách cộng sản thời chiến với những tính chất, xét cho cùng, là phi cộngsản của nó Bản thân khái niệm cộng sản thời chiến đã nói lên tính chất đặc biệt, bắt buộc của chínhsách này Nội chiến kết thúc, mặt trái của chính sách cộng sản thời chiến với hậu quả tiêu cực do nógây ra đối với nền kinh tế - xã hội Xô viết đã làm thức tỉnh tư tưởng của V.I.Lênin về con đường pháttriển xã hội chủ nghĩa có sự tham gia của chủ nghĩa tư bản nhà nước trước kia, cũng như giúpV.I.Lênin thuyết phục các đồng chí của ông về vấn đề này, chí ít cũng là đưa vấn đề này từ chỗ chỉ làquan niệm, tư tưởng, tới chỗ hiện thực hóa thành một chính sách thực tiễn, một nội dung quan trọngcủa NEP Trong NEP, V.I.Lênin cho thấy thực ra nó không mới mà lại có nhiều cái cũ, những quanniệm đã có từ trước kia, đặc biệt là quan niệm về chủ nghĩa tư bản nhà nước Trong NEP, bên cạnh

“cái cũ” là chủ nghĩa tư bản nhà nước còn xuất hiện những điểm mới mà do ảnh hưởng của quan niệm

ấu trĩ tả khuynh hướng trước kia chưa cho phép tồn tại Đó chính là tư tưởng về sự tự do trao đổi,buôn bán, về việc sử dụng mối quan hệ hàng -tiền trong nền kinh tế quá độ này Tư tưởng về chủnghĩa tư bản nhà nước với tư cách sự kết hợp hai mặt đối lập chủ nghĩa tư bản và Nhà nước vô sản tạothành “nấc thang cuối cùng”, là “phòng chờ” của CNXH, cùng với những tư tưởng về nền kinh tế thịtrường với sự tự do trao đổi, tự do buôn bán đã hình thành nên một đường lôi mới mang tầm cỡ chiếnlược của tiến trình quá độ lên CNXH ở một nước lạc hậu, tiểu nông như nước Nga Đó chính là đườnglôi quá độ gián tiếp lên CNXH, là cách đánh theo kiểu “bao vây” mặc dù gian khổ hơn hơn song làtuyệt đối cần thiết, là “duy nhất” và “chắc chắn nhất”, “hiệu quả nhất”, đối với nước Nga, cũng nhưđối với bất kỳ một nước lạc hậu nào, như nước Nga lúc bây giờ

Có đặt NEP trong sự phát triển hệ thống quan điểm của V-I.Lênin về thời kỳ quá độ lên CNXH nhưvậy, có đặt cả NEP, cả chính sách cộng sản thời chiến vào bối cảnh lịch sử của nó mới tránh chochúng ta thấy sự đánh giá phiến diện về chúng, mới cho thấy sự hình thành trong quá trình biệnchứng, phức tạp, một cương lĩnh xây dựng XHCN đặc biệt mang tính quá độ gián tiếp, với tinh thầnbiện chứng các mặt đối lập ẩn chứa bên trong

Trang 23

Ở đây, chúng tôi nhất trí với cách đặt vấn đề của giáo sư Đào Xuân Sâm trong việc đánh giá NEP.Theo giáo sư, muốn đánh giá đúng NEP thì cần phải đặt nó trong chỉnh thể học thuyết về thời kỳ quá

độ vào tổng thể kế hoạch xây dựng CNXH Ồ Nga Trong đó, mặc dù tư tưởng về chủ nghĩa tư bảnnhà nước, về việc sử dụng quan hệ hàng hóa - tiền tệ đã có nhưng “còn là một ý niệm mơ hồ”, nênchưa thể thực hiện Trái lại, trong kế hoạch xây dựng CNXH ngay những năm đầu cách mạng khi đãgiành được chính quyền, cơ bản vẫn là kế hoạch quá độ trực tiếp lên CNXH Đến khi nội chiến nổ rathì kế hoạch này có điều kiện phát triển một cách cực đoan, đặc biệt trong bối cảnh, về chủ quan, quanđiểm tả khuynh, phản ánh lối tư duy máy móc siêu hình về quan hệ giữa CNTB và CNXH, muốn thủtiêu ngay quan hệ hàng - tiền đang tôn tại phổ biến trong Đảng Bônsêvích Để rồi sau nội chiến,đường lối quá độ trực tiếp được thay bằng đường lối quá độ gián tiếp Những vấn đề về việc kết hợpgiữa CNXH với CNTB, sử dụng chính CNTB để xây dựng CNXH được nêu ra trước kia, vào năm

1918, nay trở thành những nội dung quan trọng cua NEP, của đường lối quá độ gián tiếp lên CNXH

Có nhìn nhận NEP, đặt NEP trong sự phát triển tư tưởng xây dựng CNXH của V.I.Lênin như vậy mớithấy hết tính bước ngoặt vĩ đại, cũng như tính kế thừa, liên tục, tính chiến lược “nghiêm túc và lâudài” của NEP, do NEP tạo ra cho tiến trình quá độ lên CNXH

Do đó, ở đây chúng tôi cũng hoàn toàn nhất trí với quan điểm của các tác giả chương trình KX.01 khicác tác giả này đã khẳng định rằng: "NEP là bản thiết kế mô hình lý luận xây dựng CNXH phù hợpvới trình độ thực tiễn của sự phát triển kinh tế - xã hội của nước Nga hồi đó, phù hợp với đặc điểm,trình độ của các nước lạc hậu, chậm phát triển, nằm trong loại hình "phát triển rút ngắn", "quá độ giántiếp" tới CNXH" Tương tự như vậy, những quan điểm cho rằng, NEP chính là một sự “chuyển hướngchiến lược”, một “chiến lược xây dựng CNXH”, hay là “một hệ thống quan niệm mới về CNXH, vềcương lĩnh xây dựng CNXH ở một nước tiểu nông lạc hậu như nước Nga theo chúng tôi, là hoàn toàn

có cơ sở

Đề ra vấn đề kết hợp các mặt đối lập trong NEP với tư cách một giải pháp chiến lược nhằm giải quyếtmâu thuẫn trong quá trình xây dựng CNXH, V.I.Lênin đã cho thấy tầm quan trọng của vấn đề nàykhông chỉ đối với sự phát triển ở nước Nga mà còn đối với tất cả các nước trong điều kiện nền kinh tế

cơ bản còn ở trình độ tiểu nông Trong nhiều bài viết của mình, V.I.Lênin đã khẳng định về ý nghĩaquốc tế của NEP, và qua đó khẳng định giá trị của tư tưởng kết hợp các mặt đối lập đối với công cuộcxây dựng CNXH Ông cho rằng việc thực hiện những nội dung của NEP ở nước Nga Xô viết thì sớmmuộn cũng được các nước khác với xuất phát điểm tương tự vận dụng, noi theo Bởi theo V.I.Lêninchính là con đường tất yếu, đúng đắn dành cho các nước tiểu nông, tiền CNTB tiến lên CNXH Ngườicòn chỉ rõ: “Nay chúng ta đang tạm thời hoàn thành một cách đơn độc vẻ như thuần túy Nga, songthực ra đó là nhiệm vụ sẽ được đề ra cho tất cả những người xã hội chủ nghĩa” và “khi chúng ta ápdụng chính sách kinh tế mới là chúng ta đang giúp đỡ vạch ra những hình thức liên minh công nôngcho xã hội mới đó” Từ kinh nghiệm quý báu rút ra qua thực tế những năm thực hiện chính sách cộngsản thời chiến, V.I.Lênin đã đi tới nhận định về con đường tiến lên CNXH không chỉ đối với nướcNga mà đối với tất cả các nước có hoàn cảnh tương tự Người cho rằng, bước quá độ từ CNTB lênCNXH, ở một nước bất kỳ có thể có những hình thức khác nhau, tùy thuộc vào việc ở nước đó quan

hệ đại tư bản hay nền kinh tế nhỏ chiếm ưu thế Trong trường hợp những quan hệ đại tư bản chiếm ưuthế ở nước đó thì sẽ cho phép thực hiện bước quá độ trực tiếp, chuyển trực tiếp lên CNXH (tức khôngphải qua những khâu trung gian) Còn trường hợp ngược lại, khi mà nền kinh tế nước đó chủ yếu vẫn

là tư hữu nhỏ thì không thể thực hiện quá độ trực tiếp được mà phải tiến hành quá độ gián tiếp mới cóthể tiến lên CNXH được Thực tế của cuộc thí nghiệm xây dựng trực tiếp CNXH không thành côngvừa qua đã cho thấy, trong tình trạng đa số dân cư còn là tiểu nông thì tốt nhất phải thực hiện bướcquá độ gián tiếp với “ một loạt những biện pháp quá độ đặc biệt” Việc NEP ra đời thay thế chính sáchcộng sản thời chiến ở Nga chính nhằm thực hiện bước quá độ gián tiếp đó Trong đó, có thể thấy “những biện pháp quá độ đặc biệt” mà V.I.Lênin nói đến chính là việc kết hợp giữa CNXH với CNTBtrong hoạt động kinh tế, việc sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước cũng như việc chấp nhận tự do buônbán, chấp nhận sự tồn tại quan hệ hàng hóa-tiền tệ trong nền kinh tế đất nước

Trang 24

Tư tưởng trên của V.I.Lênin là hoàn toàn phù hợp với lý luận mác xít về thời kỳ quá độ Theo đó, thời

kỳ quá độ được coi là thời kỳ tồn tại cả những mảng, những yếu tố của xã hội cũ CNTB, lẫn nhữngmảng, những yếu tố của xã hội mới xã hội chủ nghĩa Những yếu tố này tồn tại đan xen với nhau, vừathống nhất,vừa đấu tranh với nhau trong suốt thời kỳ quá độ Tính chất cũng như xu hướng vận độngcủa cuộc đấu tranh giữa chúng tùy thuộc vào tương quan lực lượng của chúng, đồng thời cũng tùythuộc vào thái độ, phương pháp xử lý của chủ thể, của nhân tố chủ quan Đương nhiên, thời kỳ đầu cái

cũ còn tồn tại thậm chí là rất mạnh, cái mới vẫn còn non yếu Do đó, cuộc đấu tranh giữa chúng sẽ rấtphức tạp và quyết liệt Tuy nhiên, phép biện chứng cho thấy rằng, cái mới đại diện cho sự phát triển

sẽ dần lớn mạnh và chiến thắng cái cũ Chính vì có sự tồn tại đan xen, vừa thống nhất, vừa đấu tranhvới nhau giữa các mặt đối lập- cũ và mới- cái cũ mặc dù sẽ bị xóa bỏ song tạm thời vẫn tồn tại, thậmchí là còn thể hiện sức mạnh lẫn cả những giá trị tích cực nhất định của nó, cho nên đòi hỏi chủ thểhoạt động phải biết tạm thời chấp nhận cái cũ, thực hiện việc kết hợp các mặt đối lập một cách biệnchứng nhằm giải quyết mâu thuẫn, khai thác được mặt tích cực của cái cũ, từ đó có thể cải biến xãhội, tiến lên CNXH,chủ nghĩa cộng sản Đối với những nước chưa qua CNTB, mới ở tình trạng xã hộitiền tư bản,quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa thì việc thực hiện kết hợp biện chứngcác mặt đối lập xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa càng là một yêu cầu khách quan Bởi lẽ, trong xãhội hội quá độ cụ thể này, cái cũ thay vì biểu hiện ở sự tồn tại những yếu tố tư bản chủ nghĩa thì lại là

sự tồn tại những yếu tố tiền tư bản chủ nghĩa, một trình độ thấp hơn cả trình độ tư bản chủ nghĩa Để

có thể thực hiện được cuộc cải biến cách mạng từ xã hội tiền tư bản lên CNXH, thì không thể khôngthực hiện sự kết hợp giữa CNXH và CNTB, qua đó khai thác được mặt tích cực của CNTB để có thểxóa bỏ nhanh chóng những biểu hiện của xã hội lạc hậu,tiểu nông

Qua bài học phản diện là chính sách cộng sản thời chiến và bài học chính diện NEP, V.I.Lênin đã cụthể hóa và phát triển tư tưởng về sự “ phát triển rút ngắn” của C.Mác Ph.Ăngghen V.I.Lenin chorằng, đối với các nước lạc hậu, tiểu nông, hoàn toàn có khả năng phát triển rút ngắn tiến thẳng lênCNXH bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa Tuy nhiên, để có thể làm được điều đó, các nước này phảithực hiện bước “ quá độ gián tiếp”, phải tìm ra những “ khâu trung gian” để thông qua đó đi lênCNXH Qua NEP, V.I.Lênin cũng nêu ra phương pháp tìm tòi, phát hiện những khâu trung gian, quá

độ bằng sự kết hợp giữa nhà nước xã hội chủ nghĩa với CNTB Theo V.I.Lenin, việc kết hợp giữaCNXH và CNTB ở một nước lạc hậu, tiểu nông có mấy điều lợi cơ bản sau:

1 Việc kết hợp giữa Nhà nước xã hội chủ nghĩa và CNTB sẽ góp phần tích cực vào việc thúc đẩy nềnsản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu tiến lên nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Trong điều kiện nước ta

là một nước nông nghiệp lạc hậu, nền sản xuất nhỏ với trình độ thủ công nửa cơ khí là phổ biến, đểlên CNXH bắt buộc phải xây dựng nền sản xuất lớn, công nghiệp hiện đại Bên cạnh việc hợp tác vớicác nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô (khi Liên Xô và Đông Âu xã hội chủ nghĩa còn tồn tại)thì việc hợp tác làm ăn với CNTB, với các nước tư bản chủ nghĩa phát triển là cần thiết để thúc đẩynhanh công cuộc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật tiên tiến của CNXH Điều đó sẽ là cần thiết hơntrong điều kiện Liên Xô không còn tồn tại

2 Việc kết hợp giữa CNXH và CNTB có thể khắc phục và dần dần xóa bỏ “ kẻ thù nguy hiểm nhấtcủa CNXH” là tính tự phát tiểu tư sản, một đặc điểm nổi bật ở một xã hội tiểu nông Với tinh thần đó,việc hợp tác với CNTB sẽ đem lại cho CNXH khả năng phát triển nền sản xuất lớn cơ khí hiện đại, cókhả năng cải tạo nền nông nghiệp lạc hậu Đồng thời, qua sự kết hợp với CNTB trong lĩnh vực kinh

tế, chúng ta cũng học hỏi được kinh nghiệm làm ăn lớn, kinh nghiệm tổ chức, quản lý có tính khoahọc cao của các nhà tư bản Điều đó hoàn toàn có lợi cho việc chống lại các thế lực tự phát triển tiểu

tư sản, biểu hiện trong sản xuất lẫn trong đời sống sinh hoạt ở xã hội tiểu nông, góp phần thúc đẩy quátrình chuyển biến từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa nói riêng, thúc đẩy quá trình “pháttriển rút ngắn”, “ quá độ gián tiếp” lên CNXH nói chung

Trang 25

3 Việc kết hợp giữa CNXH và CNTB có thể hạn chế được những mặt tiêu cực gắn liền với một xã hội lạc hậu, tiểu nông Đó là các bệnh đầu cơ và bệnh quan liêu, giấy tờ Đây là những căn bệnh bắt nguồn từ sự tồn tại nền sản xuất nhỏ, lạc hậu, ở sự hạn chế về mặt nhận thức của người tư hữu nhỏ Tính năng động của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa sẽ là một tác nhân tích cực cho việc hạn chế, xóa bỏ bệnh quan liêu, giấy tờ.

2.3.2 Tư tưởng kết hợp các mặt đối lập trong NEP là yêu cầu khách quan đối với công cuộc xây dựngCNXH ở Việt Nam hiện nay Việt Nam bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ tư bản chủnghĩa từ một xuất phát điểm thấp kém, với những điều kiện, hoàn cảnh đất nước gần tương tự nhưnước Nga Xô viết thời V.I.Lenin, đương nhiên không thể không giải quyết những vấn đề màV.I.Lênin đã nêu ra trong NEP, trong đó có vấn đề kết hợp biện chứng các mặt đối lập Công cuộcxây dựng CNXH ở nước ta sẽ không thể nhanh chóng đi tới đích nếu không biết vận dụng tư tưởngkết hợp biện chứng các mặt đối lập của V.I.Lênin được biểu hiện trong NEP Điều đó càng trở nênmột yêu cầu khách quan trong điều kiện quốc tế có những thay đổi to lớn hiện nay Khi mà chủ nghĩa

đế quốc luôn tìm cách xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa bằng chiến lược “ diễn biến hòa bình” Cũngxuất phát từ sự tương đồng cơ bản giữa nước ta khi bước vào công cuộc xây dựng CNXH với nướcNga Xô viết thời V.I.Lenin, việc kết hợp các mặt đối lập, giữa CNXH với CNTB theo tinh thần củaV.I.Lênin là hoàn toàn có thể thực hiện được Đương nhiên, là sẽ giản đơn khi quan niệm việc kếthừa, vận dụng tư tưởng kết hợp các mặt đối lập trong NEP theo kiểu áp dụng nguyên xi vào thực tiễnnước ta hiện nay Bởi vì, dù có những nét chung tương đồng, song công cuộc xây dựng CNXH ở nước

ta hiện nay không hoàn toàn giống như thời kỳ nước Nga thi hành NEP Vấn đề là vận dụng tư tưởngkết hợp các mặt đối lập trong NEP của V.I.Lênin như thế nào để vừa giữ được tinh thần xuyên suốtcủa vấn đề kết hợp này lại vừa phù hợp với điều kiện hoàn cảnh đất nước hiện nay Theo tôi, qua sựphân tích tư tưởng kết hợp các mặt đối lập của V.I.Lenin ở trên có thể rút ra mất điểm đáng lưu ý sau:Thứ nhất, cần biết vận dụng tư tưởng kết hợp các mặt đối lập trong việc tìm ra những hình thức trunggian, quá độ để xây dựng CNXH Như ở trên đã phân tích, trong NEP, V.I.Lênin đã đặc biệt nhấnmạnh tới sự cần thiết của việc tìm ra mắt xích trung gian, những khâu trung gian, quá độ để có thể đưanước Nga đại đa số là tiểu nông tiến lên XHCN Bài học của chính sách cộng sản thời chiến đã choV.I Lenin thấy rõ rằng không thể thực hiện bước quá độ trực tiếp lên XHCN đối với nước Nga được.Rằng, xây dựng XHCN theo kiểu “tấn công trực diện”, “xung phong”, “xích vệ” trong tình trạng lạchậu hiện tại của Nga là một điều không tưởng, là “dại dột” và “tự sát” Giờ đây cần phải thay đổiphương pháp một cách cơ bản, thay vì tấn công trực diện là “bao vây”, thận trọng, thay vì “xungphong” thì lại thực hiện bước “lùi một cách thận trọng, thay vì quá độ trực tiếp là quá độ gián tiếp”.Giờ đây, những mắt khâu trung gian, “những nấc thang” cần thiết của quá trình tiến lên XHCN đượcV.I Lenin đặt ra như một yêu cầu cấp thiết V.I Lênin đã chỉ rõ ràng:

Ở một nước trong đó những người sản xuất – tiểu nông chiếm tuyệt đại đa số dân cư, chỉ có thể thựchiện cách mạng xã hội chủ nghĩa bằng một loạt những biện pháp quá độ đặc biệt, hoàn toàn không cầnthiết ở những nước tư bản phát triển trong đó công nhân làm thuê trong công nghiệp và nông nghiệpchiếm đại đa số dân cư

Thậm chí, V.I Lenin còn vạch ra cụ thể biện pháp quá độ đặc biệt đó là: “Trong một nước tiểu nông,trước hết các đồng chí phải bắc những chiếc cầu nhỏ vững chắc, đi xuyên qua chủ nghĩa tư bản nhànước tiến lên CNXH”

Chính việc thực hiện kết hợp giữa CNXH và CNTB đã cho phép V.I Lênin tìm ra được những hìnhthức quá độ như vậy Nhờ vận dụng phép biện chứng về mâu thuẫn, V.I Lênin đã có thể đi tới một tưtưởng có vẻ ngược đời nhưng thực chất lại rất biến chứng, đó là: dựa vào CNTB để xây dựng CNXH.V.I Lenin nói rằng, điều đó “có vẻ như một điển hình kinh tế, cách xa chủ nghĩa cộng sản chẳng khácnào đất với trời” Những thực tế sinh động đã chứng tỏ “chính đó lại là một trong những mối mâu

Trang 26

thuẫn sẽ dẫn chúng ta từ nền kinh tế tiểu nông tiến lên CNXH, thông qua chủ nghĩa tư bản nhà nước”.Nếu không làm như thế, không theo con đường này, thì trong điều kiện các nước phương Tây vẫnnằm trong chế độ tư bản chủ nghĩa thì một nước Nga lạc hậu, tiểu nông không thể tiến lên chủ nghĩacộng sản được Ở đây V.I Lênin đã nhận thức được tính liên tục, sự tiếp nối tất yếu giữa cái cũ – tứcCNTB và cái mới – tức CNXH Hậu quả tất yếu của sự vận động liên tục này là sự hình thành CNXHkhông tránh khỏi những “dấu ấn” cả tích cực, cả tiêu cực của cái cũ – CNTB Nói cách khác, quá trìnhvận động, thay thế giữa cái cũ – tư bản chủ nghĩa và cái mới – xã hội chủ nghĩa, không thể diễn ratheo kiểu cái mới xã hội chủ nghĩa gạt bỏ hoàn toàn cái cũ gtw bản chủ nghĩa Trái lại, quá trình nàytất yếu phải diễn ra với sự xuất hiện của nhân tố thứ ba với tư cách là cái kết hợp, cầu nối trung giangiữa cái cũ và cái mới này Một trong những biểu hiện rõ nét nhân tố thứ ba này chính là hình thứcchủ nghĩa tư bản nhà nước Từ đó V.I Lênin đã đi tới kết luận biện chứng rằng: cần phải đối mặt vớicái cũ, đối mặt với cái CNTB, khai thác điểm tích cực, có lợi đối với CNXH, từ CNTB Điều đó cónghĩa là, phải kết hợp một cách biện chứng, có nguyên tắc giữa CNXH và CNTB dưới hình thức chủnghĩa tư bản nhà nước nhằm để có thể chiến thắng kẻ thù “nguy hiểm nhất” của CNXH, tức là tính tựphát tiểu tư sản Chính nhờ tiến hành chủ nghĩa tư bản nhà nước, nền kinh tế lạc hậu đa số tiểu nông ởnước Nga mới có thể được cải thiện, để từ đó phát triển lên trình độ cao – cơ khí hóa, điện khí hóa.Như vậy rõ ràng chủ nghĩa tư bản nhà nước vừa tồn tại với tư cách là sản phẩm trực tiếp của sự kếthợp giữa CNXH và CNTB trong hoạt động kinh tế, đồng thời vừa là hình thức trung gian quá độ củaquá trình từ nền kinh tế tiểu nông lạc hậu với quan hệ tiền tư bản lên CNXH Nhờ vào hình thức trunggian này cho phép thực hiện được bước chuyển biến xã hội từ xã hội tiền tư bản lên CNXH.

Thứ hai, cùng với việc xác định những hình thức trung gian, quá độ, tư tưởng kết hợp các mặt đối lậpcũng cần được vận dụng trong quá trình xây dựng một nền kinh tế, vận hành theo cơ chế thị trường có

sự định hướng xã hội chủ nghĩa Trước kia, chính vì việc đem đối lập trừu tượng giữa xã hội cũ và xãhội mới, giữa CNTB và CNXH, giữa tư hữu và công hữu, thị trường và kế hoạch, chính sách cộng sảnthời chiến tiến hành ở nước Nga thời gian nội chiến đã thực hiện việc xóa bỏ thị trường, cấm tự dotrao đổi, buôn bán, phủ nhận một nền kinh tế đa thành phần với sự tồn tại thành phần kinh tế tư nhân.Khi NEP ra đời, với tinh thần kết hợp các mặt đối lập, vấn đề một nền kinh tế quá độ với sự tồn tạicủa nhiều thành phần kinh tế, trong đó có cả thành phần kinh tế tư nhân, hoạt động theo cơ chế thịtrường có sự định hướng xã hội chủ nghĩa đã được coi trọng Để nền kinh tế quá độ nhiều thành phầnvận động theo quỹ đạo của CNXH, V.I Lenin yêu cầu nhà nước vô sản cần tiến hành sự kiểm tra,kiểm soát chặt chẽ sự phát triển của nền kinh tế này, sao cho hạn chế được mặt trái của nó và đem lạilợi ích cao nhất cho CNXH

Việc chấp nhận các hình thức kinh tế quá độ, chấp nhận và xây dựng một nền kinh tế hàng hóa đathành phần kinh tế ( ngày nay gọi là kinh tế thị trường) mang tính định hướng xã hội chủ nghĩa chophép một đất nước với một nền sản xuất về cơ bản còn ở trình độ thấp kém, tiểu nông như Việt Nam

có thể “phát triển rút ngắn”, “quá độ gián tiếp” lên CNXH, “ không qua chế độ tự bản chủ nghĩa”,

“phù hợp với quy luật khách quan” không tránh khỏi quá trình chuyển hóa vĩ đại và lâu dài từ xã hội

tư bản và tiền tư bản chủ nghĩa lên CNXH

Thứ ba, thực hiện kết hợp các mặt đối lập theo tinh thần NEP của V.I Lenin, cần phải thể hiện đượctính nguyên tắc của sự kết hợp đó Có thể nói, đây chính là cơ sở để cho quá trình kết hợp các mặt đốilập đạt được thành công theo mong muốn Chính việc thực hiện kết hợp có nguyên tắc sẽ tránh được

sự kết hợp này thành một điệu nhạc chối tai mà trái lại, trở nên điệu nhạc êm tai như V.I Lenin từngnói Vậy cơ sở, nền tảng nào để việc kết hợp này không biến thành “điệu nhạc chối tai” mà trái lại trởthành “điệu nhạc êm tai”? Trước hết, cần nhận thấy rằng việc kết hợp các mặt đối lập này phải đượcquán triệt theo hướng xã hội chủ nghĩa, nghĩa là phải làm sao cho CNXH dần dần được xác lập thaythế cho xã hội cũ Nếu không như thế thì việc kết hợp giữa hai mặt đối lập: CNXH và CNTB khôngchỉ là một công việc vô nghĩa mà còn thực sự có hại cho công cuộc xây dựng CNXH

Trang 27

Trong quá trình phân tích, tìm hiểu quá trình kết hợp các mặt đối lập giữa CNXH và CNTB dưới cáchình thức kinh tế cụ thể của chủ nghĩa tư bản nhà nước như tô nhượng, CNTB hợp tác xã… chúng tathấy V.I Lenin luôn đặt vấn đề về nguyên tắc định hướng xã hội chủ nghĩa như đòi hỏi bắt buộc V.I.Lenin luôn cảnh cáo rằng đây không phải là một “hòa bình” mà là một cuộc “chiến tranh”, một cuộcchiến tranh ở một hình thức khác Bởi vì, dù tồn tại trong hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước, songmặt tư bản chủ nghĩa cũng như mặt xã hội chủ nghĩa hoàn toàn không hề thay đổi bản chất của mình.

Sự đối lập bản chất của hai mặt đối lập này sẽ dẫn tới sự đấu tranh, bài trừ, phủ định giữa chúng vớinhau CNTB thì không bao giờ muốn đem lại lợi ích cho CNXH Do đó, việc kết hợp vô nguyên tắc,không thực hiện định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ gây tác hại cho CNXH Vì thế, V.I Lenin đòi hỏiviệc áp dụng các hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước, đặc biệt là tô nhượng, phải “có chừng mực” và

“thận trọng” Ông cho rằng, do yêu cầu thúc đẩy lực lượng sản xuất, đòi hỏi CNXH “một vài hysinh”, “thiệt thòi” và cả sự “mạo hiểm” nhất định khi thực hiện chủ nghĩa tư bản nhà nước Songchính vì đây là sự mạo hiểm cho nên khi thực hiện sự kết hợp phải hết sức thận trọng Làm sao để cóthể, qua sự kết hợp giữa CNXH và CNTB có thể tạo ra những hình thức cụ thể cho phép khai thácđược tốt nhất các mặt tích cực của CNTB, hướng cuộc đấu tranh giữa CNXH và CNTB đi theo hướng

có lợi cho xã hội chủ nghĩa, đem lại hiệu quả tốt nhất cho công cuộc xây dựng CNXH

Để việc kết hợp các mặt đối lập đảm bảo nguyên tắc định hướng xã hội chủ nghĩa, theo tinh thần củaV.I.Lênin phải đảm bảo một số vấn đề sau:

1 Phải có được một nhà nước xã hội chủ nghĩa vững mạnh có khả năng tiến hành việc kiểm kê, kiểmsoát một cách có hiệu quả V.I.Lênin khẳng định rằng, bằng việc thực hiện sự kiểm kê và kiểm soáttoàn dân đối với hoạt động sản xuất và phân phối sản phẩm sẽ cho phép nước Nga tiểu nông tiến lênđược CNXH Việc thực hiện chủ nghĩa tư bản nhà nước không phải là không có giới hạn, không phải

là không có điều kiện Giới hạn, khuôn khổ đó là giới hạn, khuôn khổ của CNXH, của nhà nướcchuyên chính vô sản Theo V.I.Lênin, cần phải “hạn chế, ngăn chặn, kiểm soát bắt tại trận những tội

ác, nghiêm khắc trừng trị bất cứ CNTB nào ra khỏi khuôn khổ của chủ nghĩa tư bản nhà nước”

2 Việc kết hợp giữa CNXH với CNTB ở đây, mặc dù cần phải thực hiện một cách kiên quyết, không

do dự trong điều kiện đất nước còn lạc hậu, tiểu nông; song lại phải tiến hành một cách thận trọng, cóchừng mực Cần phải nhận thức rằng, phương thức kết hợp này không phải không có mặt trái Tự bảnthân nó là con dao hai lưỡi Không thể thực hiện việc kết hợp này trong mọi trường hợp, với bất kỳđiều kiện hoàn cảnh nào Liên quan tới việc thực hiện hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước, bên cạnhviệc đẩy mạnh công tác kiểm kê, kiểm soát, cần phải xác định, tính toán kỹ lưỡng giới hạn (cả vềkhông gian và thời gian) cho phép hình thức này được hoạt động Điều này, như trên đã phân tích, tùythuộc vào tương quan lực lượng, vào khả năng kiểm soát, điều tiết của nhà nước xã hội chủ nghĩa, vàođiều kiện hoàn cảnh khách quan (trong nước và quốc tế) Người còn nói cụ thể hơn: tô nhượngkhông đáng sợ chừng nào mà chúng ta vẫn nắm trong tay tất cả các xí nghiệp quốc doanh và chừngnào chúng ta cần thiết một cách chính xác và nghiêm túc xem chúng ta có thể tiến hành tô nhượngnhững gì, với điều kiện như thế nào và mức độ ra sao Người nói thêm: "Dĩ nhiên, nếu chính tuyến XôViết đem tô nhượng phần lớn tài sản của mình thì như vậy là hoàn toàn khờ dại Như vậy không phải

là tô nhượng nữa mà là quay trở lại CNTB" Chỉ với việc thực hiện sự kết hợp các mặt đối lập cónguyên tắc như vậy mới tố thể làm cho công cuộc xây dựng CNXH của đất nước đi đúng hướng màkhông rơi vào sự bế tắc, thậm chí sụp đổ như quá trình cải tổ ở Liên Xô trước đây

Như vậy, có thể khẳng định rằng, “kết hợp các mặt đối lập” là vấn đề liên quan mật thiết tới lý thuyết

về mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn của phép biện chứng Đây là vấn đề thuộc về phạm trù nhân tốchủ quan, biểu hiện hoạt động của chủ thể trong việc vận dụng lý thuyết mâu thuẫn để cải quyếtnhững nhiệm vụ thực tiễn nảy sinh

Trong tư tưởng biện chứng mác xít, “kết hợp các mặt đối lập" thường xuyên được đặt ra như một yêucầu khách quan đối với chủ thể cách mạng, trong những điều kiện nhất định, chủ động tiến hành nhằmđem lại lợi ích cho cách mạng Đặc biệt, với việc đề ra NEP, V.I Lênin đã cho thấy một mẫu mực,

Trang 28

điển hình của việc thực hiện quá trình kết hợp các mặt đối lập để giải quyết những vấn đề nóng bỏngcủa nước Nga Xô viết sau thời kỳ nội chiến Chính bằng việc thực hiện kết hợp các mặt đối lập: giữamặt xã hội chủ nghĩa và mặt CNTB, giữa chính sách kế hoạch hoá của nhà nước và kinh tế thị trường,NEP của V.I Lênin đã góp phần quan trọng trong việc khôi phục nền kinh tế nước Nga Xô viết đang

bị khủng hoảng nặng nề, đồng thời thúc đẩy công cuộc xây dựng CNXH của đất nước đi lênTrong tư tưởng biện chứng mác xít, đặc biệt là ở NEP, “kết hợp các mặt đối lập” được xem xét khôngphải như là biểu hiện của hoạt động thuần túy chủ quan của chủ thể, mà trái lại, là biểu hiện hoạt động

tự giác của chủ thể trên cơ sở nhận thức bản chất khách quan của mâu thuẫn, của sự thống nhất và đấutranh giữa các mặt đối lập trong đời sống xã hội Do đó, việc kết hợp các mặt đối lập ở đây hoàn toànkhông phải là hành động tuỳ tiện, vô nguyên tắc của chủ thể Trái lại, hoạt động này phải bắt nguồn từ

sự thống nhất vốn có giữa những mặt đối lập cụ thể xuất hiện trong đời sống xã hội, ở sự tương đồng,những điểm chung nhất định giữa chúng với nhau Đồng thời, sự kết hợp này phải đảm bảo cho cuộcđấu tranh giữa các mặt đối lập vẫn được thực hiện, chứ đây không phải là hành động xóa bỏ mâuthuẫn khách quan, xóa bỏ nguyên tắc “đấu tranh giữa các mặt đối lập” trong quá trình giải quyết mâuthuẫn

Mặt khác, tư tưởng biện chứng mácxít cũng cho thấy, với tính cách là hoạt động tự giác của chủ thể,

in dấu ấn của chủ thể, “kết hợp các mặt đối lập" phải thể hiện tính định hướng rõ ràng Cụ thể là việckết hợp này phải đem lại lợi ích thiết thực cho cách mạng Có như vậy, việc kết hợp các mặt đối lậpmới trở nên có ý nghĩa Kết hợp có nguyên tắc, có mục đích, có định hướng như vậy mới có thể gọi làkết hợp biện chứng Chính với biểu hiện kết hợp một cách biện chứng, có nguyên tắc, có định hướng

xã hội chủ nghĩa giữa các mặt đối lập (xã hội chủ nghĩa và CNTB, kế hoạch và thị trường), trong điềukiện nước Nga lạc hậu, tiểu nông đi lên CNXH, NEP của V.I Lênin mới trở nên một kinh nghiệm vôcùng quý báu cho công cuộc xây dựng CNXH ở nước ta.”

Có thể thấy trong cuộc sống quanh ta, vẫn có những kết hợp các mặt đối lập đang diễn ra hằng ngày, tiêu biểu nhất là “cung-cầu” trong kinh tế Tôi vẫn thường uống trà sữa, dù biết đó là một thức uống không bổ ích cho sức khỏe, nhưng nếu không có những người muốn uống như tôi thì sẽ không có người bán, có cung thì có cầu, mặc dù đó là hai mặt trái ngược nhau trong kinh doanh nhưng luôn gắn liền là thống nhất với nhau Có thể hiểu rõ hơn về kết hợp các mặt đối lập trong cách vận dụng lý luận này vào thời kì đổi mới ở Việt Nam từ kinh nghiệm trong chính sách kinh tế mới của Lênin, các yêu cầu cơ bản và giải pháp định hướng của việc kết hợp các mặt đối lập hiện này ở Việt Nam.

CHƯƠNG 2: VẬN DỤNG SỰ KẾT HỢP CÁC MẶT ĐỐI LẬP CỦA TRIẾT HỌC MÁCXÍT VÀO THỰC TIỄN ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM TỪ KINH NGHIỆM TRONG CHÍNH SÁCH KINH TẾ MỚI (NEP) CỦA LÊNIN.

1 Kết hợp các mặt đối lập trong xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Như chúng ta đã biết, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước được Đảng ta để ra và lãnh đạo từ năm

1986 Mục tiêu của công cuộc đổi mới là phải nhanh chóng đưa đất nước thoát khỏi trì trệ, khủnghoảng kinh tế-xã hội, đồng thời đẩy mạnh quá trình đi lên CNXH ở nước ta Muốn vậy, một trongnhững nhiệm vụ đặt ra là phải xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa

Trong thời kỳ trước đổi mới, do chịu ảnh hưởng của lối tư duy máy móc, tách rời một cách cứng nhắcgiữa các mặt xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, đồng thời coi kinh tế thị trường là nhân tố thuộcCNTB, hoàn toàn xa lạ với CNXH, chúng ta đã không có thái độ đúng với nền kinh tế này Thực tế làchúng ta đã không chấp nhận sự tồn tại của kinh tế thị trường trong quá trình đi lên CNXH ở nước ta

Có thể thấy sai lầm chủ quan trong thời kỳ trước đổi mới ở đây là:

Trang 29

Thứ nhất , tuyệt đối hóa sự đối lập giữa tư hữu và công hữu, giữa kinh tế tư nhân và kinh tế xã hội chủnghĩa Không nhận thấy vai trò to lớn của kinh tế tư nhân trong suốt thời kỳ quá độ lâu dài lên CNXH

ở nước ta Do đó không kết hợp được sức mạnh của kinh tế tư nhân và kinh tế xã hội chủ nghĩa nhằmtạo ra sức mạnh tổng hợp thúc đẩy sự phát triển của kinh tế đất nước Quan trọng hơn, phương pháp

tư duy siêu hình này không cho phép tìm ra những khâu trung gian, quá độ đảm bảo cho quá trìnhphát triển rút ngắn, quá độ gián tiếp lên CNXH ở nước ta, theo tinh thần biện chứng của V.I.Lênin.Thứ hai, tách rời giữa kế hoạch và thị trường Quan niệm rằng một nền kinh tế có tính kế hoạch nghĩa

là phải không có yếu tố thị trường ( ở đây hiểu thị trường là thị trường tự do ) và ngược lại, nền kinh

tế đã mang yếu tố thị trường, chịu tác động của thị trường thì không còn tính kế hoạch Đồng thời ,xuất phát từ quan niệm về nền kinh tế xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế có kế hoạch Do đó, để xâydựng kinh tế xã hội chủ nghĩa, nhất thiết phải xây dựng và củng cố cơ chế tập trung kế hoạch hóa, tìmcách khắc phục, xóa bỏ ảnh hưởng của thị trường, đặc biệt là thị trường tự do Việc duy trì và mở rộngphạm vi tác động của cơ chế tập trung kế hoạch hóa cao độ trong cả nước là một trong những nét đặctrưng chủ yếu của mô hình kinh tế cũ của nước ta Chính điều đó đã gây ảnh hưởng tiêu cực, góp phầnlàm cho đời sống kinh tế -xã hội của đất nước thời kỳ này rơi vào tình trạng trì trệ, khủng hoảngnghiêm trọng Tuy nhiên, sẽ thật không công bằng và cũng không khách quan nếu phủ nhận hoàn toàn

mô hình xây dựng CNXH trong những năm này Nếu không có chế độ kinh tế tập trung, bao cấp bao

độ, không có sự quan tâm của nhà nước về mọi mặt đối với đời sống nhân dân miền Bắc trong thời kỳkháng chiến chống Mỹ cứu nước thì chắc chắn cũng không thể tập trung, huy động được một lựclượng sức người, sức của lớn lao, phục vụ cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.Chính sự quan tâm của nhà nước đã thể hiện rõ giá trị ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa , tạo cơ sởniềm tin để toàn thể nhân dân ta yên tâm, hăng hái tham gia vào cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc.Điều đó không chỉ chứng tỏ giá trị lịch sử không nhỏ của mô hình kinh tế cũ Sai lầm chủ quan củachúng ta ở đây không phải là thực hiện mô hình kinh tế dựa trên chế độ tập trung kế hoạch hóa, trongđiều kiện hoàn cảnh đất nước có chiến tranh Những yêu cầu của việc tập trung sức người, sức của đểgiải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc cho thấy sự tồn tại cơ chế tập trung, bao cấp là cần thiết.Sai lầm ở đây là từ chỗ chưa nhận thức đúng mức vai trò của các thành phần kinh tế phi xã hội chủnghĩa, của quy luật cung-cầu l, cũng như tính có giới hạn của chế độ quản lý tập trung bao cấp cao độ,được xây dựng trên nền tảng một lực lượng sản xuất thấp kém, trong điều kiện chiến tranh, dẫn tớihành động duy trì quá lâu sự tồn tại của nó sau này Trong nhận thức chủ quan, chúng ta đã coi nhữngvấn đề của nền kinh tế thị trường như thị trường hàng hóa, kinh tế nhiều thành phần là hoàn toàn xa

lạ, đối lập với CNXH, cần phải cải tạo, xóa bỏ Giờ đây, bước vào công cuộc đổi mới, chúng ta ngàycàng ý thức được sự cần thiết phải xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.Chúng ta hiểu rằng nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trì trệ kinh tế- xã hội đất nước những nămtrước đổi mới chính là bắt nguồn từ những sai lầm chủ quan trong hoạch định chủ trương lớn cũngnhư trong chỉ đạo thực tiễn Sai lầm đó biểu hiện tư tưởng nóng vội,chủ quan, duy ý chí trong quátrình xây dựng CNXH, ở việc phủ nhận kinh tế thị trường với sự có mặt của các thành phần kinh tếphi xã hội chủ nghĩa Chúng ta cũng hiểu rằng trong việc cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng quan

hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Trong điều kiện lực lượng sảnxuất của đất nước còn ở trình độ thủ công, nửa cơ khí là phổ biến, chúng ta lại tiến hành xây dựngquan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa một cách ồ ạt, nhanh chóng xóa bỏ các thành phần kinh tế phi xãhội chủ nghĩa (với quan niệm cho rằng quan hệ sản xuất tiên tiến ra đời sẽ có tác dụng thúc đẩy, mởđường cho lực lượng sản xuất phát triển)

Chúng ta đã nhận thức được rằng, chính những sai lầm chủ quan, duy ý chí đó đã góp phần chủ yếuvào việc đưa đất nước đến khủng hoảng kinh tế- xã hội trầm trọng trong những năm 80 của thế kỉ XX.Hậu quả của những sai lầm chủ quan đó chính là sự đình đốn sản xuất, là đời sống nhân dân bị giảmsút nghiêm trọng Tình hình đã khó khăn lại trở nên khó khăn, phức tạp hơn trong điều kiện xuất hiệnnhững sai lầm thực tiễn mắc phải trong quá trình nỗ lực đưa đất nước thoát khỏi trì trệ, khủng hoảng,cũng như trong điều kiện sự bao vây, cấm vận của các thế lực thù địch phương Tây

Trang 30

Ở đây, chúng tôi nhất trí với đánh giá cho rằng cuộc khủng hoảng kinh tế -xã hội ở nước ta nhữngnăm cuối thập kỷ 70 và đầu thập kỷ 80, nhìn ở góc độ tính chất, chính là khủng hoảng về mô hìnhphát triển, là sự khủng hoảng ở một nước chậm phát triển trên con đường phát triển của nó Biểu hiện

ở sự nhận thức vừa máy móc, vừa giản đơn về CNXH; đồng thời cũng biểu hiện ở việc áp dụng máymóc mô hình CNXH kiểu cũ mang tính chất giáo điều của Liên Xô trước kia

Tuy nhiên theo chúng tôi, đây còn là biểu hiện của sự yếu kém về khả năng kết hợp các mặt đối lậptrong quá trình xây dựng CNXH ở nước ta Từ chỗ tuyệt đối hóa cuộc đấu tranh của các mặt đối lập,không thấy sự thống nhất ( dù là tương đối ) giữa chúng; dẫn tới việc trong thực tiễn khi phải đối mặtvới những mâu thuẫn khách quan, giữa CNTB và CNXH, tư hữu và công hữu, thị trường và kế hoạch,lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội, thay vì biết kết hợp những mặt này lại, xử lý một cách mềm dẻo, biệnchứng quan hệ của chúng theo hướng có lợi cho CNXH thì chúng ta lại thực hiện việc xóa bỏ một mặt

để nhằm cho mặt kia tồn tại Kết quả là những mặt bị xóa bỏ không hoàn toàn bị xóa bỏ trên thực tế(mà cũng không thể xóa bỏ được) mà mặt được nâng đỡ cũng không thể phát huy được hết vai trò của

nó Chính sự yếu kém như vậy đã không đã không cho phép chúng ta nhận thức sự cần thiết phải xâydựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; từ đó có thể khai thông được các nhân

tố động lực của sự phát triển lực lượng sản xuất, khai thác và tận dụng được hết mọi tiềm năng vốn cótrong xã hội nhằm thúc đẩy công cuộc đi lên CNXH của đất nước được nhanh chóng Trái lại, lại làmcho công cuộc xây dựng CNXH- một chế độ xã hội tốt đẹp, ưu việt hơn mọi chế độ trước kia, biểuhiện ở những giá trị nhân đạo cao cả của nó, rơi vào tình trạng trì trệ, khủng hoảng nghiêm trọng.Điều đáng lưu ý ở đây là, bài học kinh nghiệm vô giá của V.I.LêNin về kết hợp biện chứng các mặtđối lập thể hiện trong NEP đã không được chúng ta nhanh chóng nhận thức và tận dụng Những vấn

đề mà V.I.Lênin đặt ra đối với công cuộc xây dựng CNXH ở một nước lạc hậu, tiểu nông, tiền tư bảnnhư dung CNTB làm trợ thủ đắc lực cho CNXH, sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước như hình thứctrung gian quá độ, “phòng chờ” của CNXH đã không được chúng ta quán triệt Trái lại, thay vì sửdụng, khai thác CNTB để làm lợi cho CNXH thì chúng ta lại xóa bỏ kinh tế tư bản tư nhân bất hợp tácvới CNTB Điều đó chứng tỏ, chúng ta chưa nhận thức sâu sắc, đầy đủ lời cảnh báo của V.I.LÊNin vềmột thời kỳ quá độ lâu dài lên CNXH với sự cần thiết phải bắc “những nhịp câu nhỏ” để có thể lênCNXH từ một xã hội lạc hậu, tiểu nông.Đúng như nhận định của GS.Nguyễn Đức Bình trong cuộchội thảo khoa học Việt Nam - Trung Quốc về CNXH tại Hà Nội (11/2000):

Do trình độ hạn chế, chưa vượt qua được những giáo điều trong tư duy lý luận về CNXH, chúng tôi

đã phạm sai lầm sao chép, dập khuôn mô hình kinh tế và cơ chế kinh tế của các nước xã hội chủ nghĩa

đi trước (sai lầm này nếu nhìn nhận một cách khách quan là khó tránh khỏi) Tư duy về CNXH chưavượt khỏi mô hình Xô viết, nhưng lại xem nhẹ kinh nghiệm Xô viết những năm 20, nhất là bài học từChính sách kinh tế mới của V.I.Lênin, thực chất là bài học về quá độ gián tiếp lên CNXH - một tấtyếu không tránh khỏi đối với các nước nông nghiệp, sản xuất nhỏ đi lên

Chính thực tế cấp bách của sự khủng hoảng nghiêm trọng những năm 80 thế kỷ XX, xuất phát từ nhậnthức không đúng CNXH và con đường, biện pháp tiến lên CNXH đã buộc chúng ta phải đổi mới, đổimới tư duy, đổi mới nhận thức về CNXH và đổi mới cả phương pháp xây dựng CNXH Giờ đây cần

có một sự đổi mới bắt đầu từ khâu nhận thức lý luận về CNXH, xem xét lại mô hình CNXH hiện thựctồn tại bấy lâu trên cơ sở quay trở về những tư tưởng cơ bản nhất của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin về chủ nghĩa và chủ nghĩa cộng sản Từ đó đi tới chỗ đánh giá lại phương thức thực hiện lýtưởng xã hội chủ nghĩa, có tính tớ những thay đổi và những đòi hỏi khách quan của thời đại trên thếgiới và trong nước Trong đó, cần có sự quay trở về với NEP, học tập kinh nghiệm NEP, nhất là tưtưởng của V.I.Lênin về kết hợp các mặt đối lập giữa CNXH và CNTB kế hoạch với thị trường Cónhư vậy mới khắc phục được lối tư duy siêu hình, tuyệt đối hóa các mặt đối lập, tách rời giữa CNXH

và CNTB vốn đã gây hậu quả nghiêm trọng về kinh tế - xã hội cho đất nước Có kết hợp giữa CNTBvới CNXH, giữa công tác kế hoạch của nhà nước với sự điều tiết của cơ chế thị trường mới có thể đề

Trang 31

ra những chủ trương, chính sách, giải pháp thực tiễn đúng đắn và có hệ thống nhằm đưa đất nướcthoát khỏi khủng hoảng.

Quán triệt phương pháp luận duy vật lịch sử, trong quá trình đổi mới toàn diện, Đảng ta xác định đổimới lĩnh vực kinh tế là vấn đề trọng tâm Trong quá trình đổi mới kinh tế, lý luận của V.I.Lênin vềviệc kết hợp các mặt đối lập để tìm ra những khâu trung gian, những bước quá độ đã được Đảng tanghiêm túc xem xét, vận dụng Điều đó không chỉ thể hiện thái độ trung thành một cách biện chứngcủa Đảng đối với những di sản lý luận của các nhà kinh điển Mác-Lênin, đặc biệt là V.I.Lênin; màcũng quan trọng không kém, việc Đảng ta chú trọng đến tư tưởng của V.I.Lênin biểu hiện trong NEPcòn vì giữa NEP và đổi mới ở Việt Nam có những điểm giống nhau cơ bản Nếu NEP ra đời trong bốicảnh khắc phục hậu quả của việc kéo dài chính sách cộng sản thời chiến và khôi phục đất nước saunội chiến, thì đổi mới kinh tế ở Việt Nam cũng ra đời một phần do nhu cầu giải quyết hậu quả củaviệc kéo dài chế độ kinh tế thuần nhất về sở hữu, tập trung kế hoạch hóa cao độ Nếu NEP củaV.I.Lênin ra đời gắn liền với quá trình phát triển nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH từmột xã hội tiểu nông, thì đổi mới ở Việt Nam cũng gắn liền với quá trình đó Do đó, dù cho có khoảngcách về mặt lịch sử, về địa lý, song kinh nghiệm của NEP, tư tưởng biện chứng của V.I.Lênin trongNEP vẫn có sức hấp dẫn đặc biệt đối với công cuộc đổi mới kinh tế ở nước ta Mặt khác, ta thấy, khi

đề xuất khả năng kết hợp giữa CNXH với CNTB tạo nên chủ nghĩa tư bản nhà nước, V.I.Lênin luônnhấn mạnh tới vai trò của nhân tố chủ quan, tức là nhà nước Xô viết đối với quá trình kết hợp này.Theo V.I.Lênin, để đảm bảo việc kết hợp dưới hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước đem lại lợi íchcho CNXH thì phải có một nhà nước vô sản vững mạnh, có khả năng kiểm kê, kiểm soát mọi hoạtđộng của chủ nghĩa tư bản nhà nước lân chủ nghĩa tư bản tư nhân Quá trình đổi mới ở nước ta hoàntoàn có thể đảm bảo điều kiện đó Trên thực tế, cách mạng nước ta luôn chứng tỏ chúng ta có mộtĐảng lãnh đạo đầy bản lĩnh, sáng tạo, trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin, có một nhà nước chuyênchính vô sản vững mạnh, được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự giám sát trực tiếp của nhân dân.Việc trong đổi mới, chúng ta thực hiện kết hợp các mặt đối lập để giải quyết những mâu thuẫn của đấtnước hoàn toàn có khả năng đảm bảo lợi ích của CNXH, của nhân dân lao động nước ta Xuất phát từnhận thức như vậy, trong quá trình đổi mới kinh tế, xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa, Đảng ta đã ngày càng chứng tỏ sự quay trở về với tư tưởng biện chứng của V.I.Lênin biểu hiện

ở việc kết hợp giữa kinh tế xã hội chủ nghĩa và kinh tế phi xã hội chủ nghĩa, giữa thị trường và kếhoạch

1.1.Kết hợp giữa kinh tế XHCN và kinh tế phi XHCN nhằm xây dựng nền kinh tế quá độ với một chế

độ sở hữu đa dạng gồm nhiều thành phần kinh tế trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta

Có thể nói, một trong những vấn đề thể hiện rõ nét nhất trong sự đổi mới kinh tế ở nước ta chính làvấn đề xây dựng một nền kinh tế đa dạng về hình thức sở hữu, đa thành phần kinh tế tồn tại trong suốtthời kỳ quá độ lên CNXH Đây là một chủ trương lớn của Đảng thể hiện một sự chuyển đổi to lớn củaĐảng thể hiện một sự chuyển đổi to lớn và sâu sắc của Đảng ta về lĩnh vực kinh tế của đất nước trêncon đường tiến thẳng lên CNXH bỏ qua chế độ CNTB Có thể nhận thấy tính xuyên suốt của chủtrương chiến lược này của Đảng qua các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII và Đại hội

IX vừa qua

Theo tinh thần biện chứng của V.I.Lênin trong quá trình đổi mới kinh tế, Đảng ta nhận thức đượcrằng, con đường đi lên CNXH ở nước ta không thể không duy trì cả hình thức sở hữu tư nhân lẫn hìnhthức sở hữu nhà nước về tư liệu sản xuất

Sở hữu tư nhân trong đó có cả sở hữu tư bản chủ nghĩa, trong điều kiện lực lượng sản xuất của đấtnước còn ở trình độ thấp kém, vẫn tồn tại như một tất yếu khách quan và vẫn đóng vai trò tích cựckhông nhỏ đối với sự phát triển kinh tế đất nước Chính việc thực hiện một mô hình kinh tế dựa trênchế độ sở hữu đa dạng với nhiều thành phần kinh tế tham gia, kể cả những thành phần kinh tế đối lậpnhau như kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước (KTNN), không những không làm cho nền kinh tế củađất nước bị rối loạn mà trái lại có thể thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển năng động hơn

Trang 32

Mặt khác, trong bối cảnh thế giới có những biến đổi sâu sắc, đặc biệt kể từ khi Liên Xô bị sụp đổ,CNTB hiện đại đã chứng tỏ những giá trị tích cực nhất định của nó về khoa học kỹ thuật, kinh tế Đảng ta ngày càng nhận thức về xu thế tất yếu mở cửa, hợp tác kinh tế với nước ngoài, kể cả với cácnước tư bản chủ nghĩa Chúng ta hiểu rằng, cần phải biết sử dụng chính CNTB để đẩy mạnh quá trìnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Điều đó càng cần thiết trong xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóanền kinh tế như hiện nay.

Chính vì vậy, trong quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng ta đã biết quay trở về với những tư tưởng,phương pháp giải quyết mâu thuẫn mang tính biện chứng của V.I.Lênin, vận dụng sáng tạo vào việcxây dựng chính sách kinh tế đổi mới ở nước ta Phương hướng đổi mới cơ bản của Đảng ta về vấn đềquan hệ sản xuất ở đây là phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần dựa trên chế độ sở hữu đadạng, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.Trong nền kinh tế nhiều thành phần này, mỗi thành phần kinh tế đều có một vị trí trong nền kinh tếthống nhất và có vai trò nhất định trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế đất nước, thúc đẩy lựclượng sản xuất phát triển

Phương hướng kinh tế cơ bản trên thực sự đánh dấu một bước chuyển to lớn, có tính bước ngoặt trong

tư duy kinh tế của Đảng Phương hướng này ra đời gắn liền với sự phát triển về mặt nhận thức củaĐảng trong quá trình nhận thức lại về xã hội và con người đi lên CNXH của nước ta Trong quá trìnhđánh giá lại con đường đi lên CNXH của đất nước, nhằm tìm ra phương thức, cách đi thích hợp vớiđiều kiện đất nước và hoàn cảnh quốc tế có nhiều thay đổi, Đảng ta nhận thức được rằng nếu vẫn duytrì một nền kinh tế thuần nhất về mặt sở hữu sẽ không thể khai thác được hết mọi tiềm năng, thế mạnh

về kinh tế - xã hội để thúc đẩy nền kinh tế phát triển năng động ,thậm chí còn kìm hãm sự phát triểnkinh tế đất nước Bởi lẽ, chế độ sở hữu như vậy hoàn toàn không phù hợp với lực lượng sản xuất cònthấp kém của đất nước Trong điều kiện lực lượng sản xuất còn ở trình độ thủ công và nửa cơ khí phổbiến, thì việc thực hiện chế độ sở hữu đa dạng về hình thức với sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế làmột đòi hỏi tất yếu khách quan Có như vậy mới khai thác được tiềm năng to lớn trong các thành phầnkinh tế để có thể thúc đẩy lực lượng sản xuất

Cố nhiên, khi khẳng định về một nền kinh tế đa thành phần ở nước ta kết hợp giữa kinh tế xã hội chủnghĩa và kinh tế phi xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thống nhất, khẳng định về sự tồn tại bên nhau,thậm chí có sự xâm nhập nhau giữa các thành phần kinh tế, điều đó hoàn toàn không có nghĩa là coimọi thành phần kinh tế có vị trí và vai trò như nhau trong nền kinh tế quốc dân Mặc dù coi mỗi thànhphần kinh tế trong nền kinh tế đa thành phần ở nước ta đều có vị trí, vai trò tích cực nhất định, songĐảng ta khẳng định KTNN phải giữ vai trò chủ đạo, đồng thời KTNN kết hợp với kinh tế tập thể phảitrở thành nền tảng của nền kinh tê đất nước Đây chính là nhân tố thể hiện tính định hướng xã hội chủnghĩa của nền kinh tế thời kì quá độ ở nước ta Nếu như KTNN không đảm bảo được vai trò chủ đạocủa mình trong nền kinh tế quá độ, nhiều thành phần này thì sẽ ảnh hưởng không những tới tính chấtcủa nền kinh tế quá độ lên CNXH mà còn tạo ra khả năng đi chệch hướng, không thực hiện được mụctiêu đề ra là đi lên CNXH Bởi vì nền tảng kinh tế của CNXH, sức mạnh kinh tế của CNXH chính làKTNN kết hợp với kinh tế tập thể Do đó việc duy trì vai trò chủ đạo của KTNN trong nền kinh tếnhiều thành phần hiện nay ở thời kỳ quá độ hiện nay không chỉ đảm bảo khả năng đi đúng hướng màcòn củng cố sức mạnh kinh tế của chế độ mới – xã hội chủ nghĩa Sự tồn tại KTNN với vai trò chủđạo của nó sẽ là điểm phân biệt cơ bản giữa nền kinh tế CNXH với nền kinh tế CNTB Bởi vì, trongnền kinh tế tư bản chủ nghĩa cũng tồn tại nhiều hình thức sở hữu song sở hữu tư nhân tư bản chiếmđịa vị chủ đạo Chính vì vậy mà với vai trò điều tiết của nhà nước, không thể không có những ưu tiênđối với sự phát triển của KTNN Phải tạo được cơ sở cần thiết để KTNN có điều kiện phát triển vànhanh chóng phát huy vai trò chủ đạo của mình Ở đây cần nhận thức được rằng, trong khi khắc phụcthái độ sai lầm, phiến diện đối với kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế cá thể biểu hiện bằng chính sách đổimới, chấp nhận và khuyến khích các thành phần kinh tế này phát triển thì điều cần thiết là phải tránh

Trang 33

rơi vào thái độ cực đoan phía ngược lại: buông lỏng, xem nhẹ vai trò của KTNN Không thể quanniệm đơn giản rằng đã là nền kinh tế đa thành phần thì các thành phần kinh tế đều có vai trò, vị trí nhưnhau và được đối xử như nhau Cũng không thể quan niệm rằng vì lực lượng sản xuất của nước ta còn

ở trình độ thấp kém, thủ công, nửa cơ khí là phổ biến thì chưa nên củng cố và phát triển KTNN Hiểunhư vậy là quá đơn giản và thô thiển về quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triểncủa lực lượng sản xuất Làm như vậy sẽ không còn vai trò của nhân tố chủ quan, không có cái gọi làđịnh hướng của xã hội chủ nghĩa nữa Bởi vì duy trì một nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó có cảthành phần KTNN và kinh tế tư nhân, nếu không có sự định hướng nào thì tự bản thân nó đã bao hàmkhả năng phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa Do đó muốn thực hiện định hướng xã hội chủ nghĩathì không thể không có những biện pháp tích cực, chủ động đối với thành phần KTNN, cũng như chủđộng hướng bộ phận sản xuất nhỏ cá thể vào con đường làm ăn tập thể một cách phù hợp nhất Tuyệtđối hóa sự đối lập giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư nhân, phủ nhận sự tồn tại của kinh tế tư nhânbên cạnh KTNN, cũng như kết hợp một cách vô nguyên tắc hai thành phần kinh tế này trong đườnglối phát triển kinh tế đất nước, buông lỏng, thả nổi hoạt động của chúng đều biểu hiện sai lầm, hoặc tảkhuynh, hoặc hữu khuynh Thái độ cực đoan như vậy không phản ánh đúng tư tưởng biện chứng củaV.I.Lênin trong việc kết hợp các mặt đối lập xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa

Kế thừa tư tưởng biện chứng của V.I.Lênin, trong quá trình đổi mới kinh tế, Đảng ta một mặt khẳngđịnh vai trò chủ đạo của KTNN, song mặt khác cũng khẳng định vai trò của các thành phần kinh tếkhác, trong đó có cả thành phần kinh tế tư bản nhà nước Đảng chủ trương phát triển kinh tế tư bảnnhà nước nhất là hình thức liên doanh, liên kết giữa KTNN với tư bản trong và ngoài nước, vì lợi íchcủa cả hai bên Điều này có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc thúc đẩy phát triển nền kinh tế đấtnước ở trình độ lạc hậu về nhiều mặt Việc thực hiện phát triển kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiềuhình thức, đặc biệt là liên doanh, liên kết kinh tế giữa nhà nước với tư bản nước ngoài sẽ cho phépđộng viên, khai thác được khả năng to lớn về vốn, công nghệ tiên tiến và trình độ quản lý khoa học,hiệu quả kinh tế cao của các nhà tư bản nước ngoài, vì lợi ích chiến lược, lâu dài của CNXH

Có thể nói, chủ trương kết hợp giữa tư hữu và công hữu, giữa kinh tê nhà nước và kinh tế tư nhântrong một nền kinh tế đa dạng về hình thức sở hữu, với nhiều thành phần kinh tế, trong đó KTNNđóng vai trò chủ đạo thực sự là một chủ trương đúng đắn mang tính chiến lược đối với sự phát triểnnước ta Chủ trương này vừa biết tính tới những thay đổi to lớn về kinh tế, chính trị trên thế giới vừaphù hợp với thực trạng kinh tế - xã hội trong nước Với chủ trương này, đảm bảo không những khaithác được tốt tiềm năng, sức mạnh kinh tế trong cũng như ngoài nước, ở mọi thành phần kinh tế bất

kể là tư nhân hay nhà nước, mà nó còn đảm bảo được định hướng xã hội chủ nghĩa với tư cách là vấn

đề nguyên tắc của công cuộc đổi mới Như vậy, quan điểm của V.I.LÊnin về sự kết hợp biện chứnggiữa hai mặt đối lập xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa trong hoạt động kinh tế vì lợi ích củaCNXH, của đất nước ngày càng được khẳng định trong tư duy lý luận của Đảng ta Điều đó đượcphản ánh trong các kỳ Đại Hội của Đảng Nếu như Đại hội VI khi nêu ra vấn đề xây dựng nền kinh tếnhiều thành phần, trong đó kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, thì đến Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ thứ VII (6/1991), trước những vấn đề thực tiễn phức tạp nảy sinh trong quá trình thực hiệnchính sách nhiều thành phần kinh tế của Đại hội VI nêu ra cũng như sự khủng hoảng này càng sâusắc của CNXH hiện thực, bên cạnh việc khẳng định lại chủ trương về nền kinh tế nhiều thành phần,Đảng ta cũng nêu ra yêu cầu giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa như một bài học kinh nghiệm vềđổi mới và cũng là vấn đề có tính nguyên tắc của quá trình đổi mới

Đặc biệt tại Hội nghị đại biểu toàn quốc II giữa nhiệm kỳ của Đảng khóa VII , Đảng ta đã nhấn mạnhtới vấn đề cần thiết phải chú ý nghiên cứu những tư tưởng của VI Lê nin trong NEP của Người , nhất

là vấn đề về chủ nghĩa tư bản nhà nước ( CNTBNN ) và những hình thức quá độ, trung gian Điều đóchứng tỏ quyết tâm trở về với tư tưởng của VI Lênin, với những bài học kinh nghiệm quý giá có ýnghĩa phương pháp luận giải quyết mâu thuẫn mà V.I.Lênin thể hiện trong NEP , đặc biệt là sự sáng

Trang 34

tạo thiên tài của Người trong việc kết hợp các mặt đối lập xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa trongkinh tế dưới hình thức CNTBNN kiểu mới.

Với tinh thần vận dụng NEP , Đại hội VIII ( 6/1996 ), khi khẳng định về một nền kinh tế nhiều thànhphần , hoạt động theo quỹ đạo của CNXH , lần đầu tiên đã đưa thành phần kinh tế tư bản nhà nướclên, chỉ xếp sau kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, trước cả kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư nhân Mới đây nhất , trong khi khẳng định đường lối nhất quán về việc xây dựng nền kinh tế đa dạng hóa vềhình động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đại hội lần thứ IX của Đảng còn bổsung thêm thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài bên cạnh các thành phần kinh tế khác Điều

đó cho thấy sự phát triển về tư duy lý luận của Đảng ta về con đường đi lên CNXH cũng như về giảipháp thực hiện để đi tới mục tiêu này

Ở đây, trong điều kiện thế và lực ngày càng lớn mạnh của nước ta, cộng với xu thế quốc tế hóa nềnkinh tế thế giới cho phép Đảng ta phát triển tư tưởng biện chứng của V.I.Lênin, chủ động mở rộnghợp tác kinh tế để thực hiện quá trình chuyển giao công nghệ , đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước Đảng ta đã chủ động hợp tác kinh tế với các nước, kể cả các nước tư bản chủnghĩa, bên cạnh việc trong nước cho phép và khuyến khích tư bản tư nhân phát triển, mở rộng và pháttriển kinh tế tư bản nhà nước Đây là bằng chứng cho thấy sự mềm dẻo , linh hoạt trong tư duy kinh tếcủa Đảng ta

1.2 Kết hợp giữa thị trường và kế hoạch trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

Trong đổi mới kinh tế, gắn liền với việc xây dựng một nền kinh tế đa dạng hóa về sở hữu, đa thànhphần kinh tế là vấn đề xây dựng cơ chế thị trường có sự định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là hai mặtcủa nền kinh tế thị trường : việc tổn tại một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần tất yếu làm nảysinh yêu cầu về sự điều tiết của cơ chế thị trường Đồng thời cơ chế thị trường ra đời sẽ phát huy tácdụng của nó tới hoạt động của các thành phần kinh tế Trong quá trình đổi mới, đi lên CNXH ở nước

ta, nhằm để khai thác mọi tiềm năng, trong cũng như ngoài nước để thúc đẩy sự phát triển lực lượngsản xuất của đất nước, chúng ta đã thực hiện đường lối phát triển nhất quán và lâu dài nền kinh tế với

sự đa dạng hóa sở hữu, đa thành phần kinh tế Cùng với tinh thần ấy, chúng ta đã chủ động tham giahội nhập với nền kinh tế thế giới, mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với các nước, không phân biệt chế

độ chính trị miễn lại lợi ích cho đất nước, thúc đẩy nhanh quá trình phát triển rút ngắn lên CNXH củamình

Để thực hiện tốt nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần thì lại đòi hỏi phải có một cơ chế kinh tế thíchhợp và được biểu hiện bằng một cơ chế quản lý cụ thể Cơ chế kinh tế phù hợp với một nền kinh tếhàng hóa nhiều thành phần tất yếu phải là cơ chế thị trường Bởi lẽ chỉ có cơ chế thị trường mới đảmbảo cho nền kinh tế này vận động trong quỹ đạo của sự tuân thủ quy luật giá trị, quy luật cung - cầu.Nếu không có thị trường, không tuân theo cơ chế thị trường thì nên kinh tế hàng hóa sẽ không thểphát triển được Quan hệ giữa các thành phần kinh tế trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần sẽkhông tránh khỏi bị bóp méo, mất đi tính khách quan của nó Bởi lẽ mối quan hệ giữa các thành phầnkinh tế này không tuân theo các quy luật vốn có của nền kinh tế thị trường như quy luật giá trị, quyluật cung - cầu Có thể khẳng định cơ chế thị trường là cơ chế kinh tế khách quan của nền kinh tếhàng hóa nhiều thành phần của nền sản xuất và trao đổi hàng hóa

Với tư cách một cơ chế kinh tế khách quan tồn tại tất yếu trong nền kinh tế nhiều thành phần, cơ chếthị trường thể hiện những giá trị tích cực của nó Nhờ cơ chế thị trường, với sự tác động của quy luậtcung - cầu , quy luật giá trị, các sản phẩm hàng hóa luôn được lưu thông từ nơi sản xuất they thị trungtại người tiêu dùng Qua thị trường, sản xuất có điều kiện phát triển Người sản xuất luôn sản xuấtnhững sản phẩm có thể đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng Còn người tiêu dùng thì lại có

Ngày đăng: 24/12/2023, 11:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm