Không ít đảng cộng sản của các nước và thế lựccánh tả khác ở Tây Âu trong chiến tranh chống phát xít đã kiên trì lãnh đạo nhândân trong nước kháng chiến nên đã giành được sự ủng hộ của q
Trang 1TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
NHẬP MÔN LỊCH SỬ QUỐC TẾ
Giảng viên hướng dẫn: TS PHAN VĂN CẢ
Sinh viên thực hiện: Thái Vũ Hoà
Trang 21.Phân tích những nguyên nhân hình thành chiến tranh lạnh trên khía cạnh: vấn đềlợi ích và vấn đề quyền lực?
Hạn cuối nộp bài: 20h ngày 31 tháng 12/2021
Link nộp bài: https://forms.gle/NFFGZ7TroReAMSK78
Bài làm:
Trang 3Câu 1: Phân tích những nguyên nhân hình thành chiến tranh lạnh trên khía cạnh:
vấn đề lợi ích và vấn đề quyền lực?
Chiến tranh lạnh là sự đối đầu và đọ sức căng thẳng giữa hai khối chính trị, quân
sự lớn Đông - Tây, do Liên Xô và Mỹ cầm đầu từng bên, được hình thành từ saukhi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai Hai bên không chạm tránh với nhau bằngbinh đao, đạn dược trên chiến trường Chiến tranh lạnh bắt đầu từ sau khi kết thúcđại chiến thế giới thứ hai không lâu và nó kéo dài trong khoảng hơn 40 năm Hìnhthức của cuộc đấu tranh này vừa là hòa bình, vừa là phi hòa bình Hai siêu cườnglúc nào là Mỹ và Liên Xô với những quan hệ căng thẳng đã là hạt nhân chính củacuộc chiến
Tại Mỹ đã xuất hiện ít nhất ba trường phái khi nghiên cứu về nguồn gốc của chiếntranh lạnh: phái chính thống (orthodox), phái xét lại (revisionism), phái hậu xét lại(postrevisionism), và còn nhiều tác phẩm khác Theo em, ba yếu tố nguyên nhânchính là yếu tố quốc tế, yếu tố quốc gia và yếu tố cá nhân
Yếu tố quốc tế:
Yếu tố quốc tế là một yếu tố vô cùng quan trọng bởi vì hành vi đối ngoại củamột quốc gia và quan hệ của nó với quốc gia khác đều chịu sự chi phối của môitrường bên ngoài Môi trường quốc tế sau chiến tranh thế giới thứ hai đã tạo điềukiện cho những đối kháng Xô-Mỹ và chiến tranh lạnh Đông - Tây xảy ra
Môi trường quốc tế sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc có nhiều đặcđiểm lớn :
Phát xít không còn.
Chính trị hòa bình đã thay cho nền chính trị thời chiến với sự đầu hàng của banước phát xít Đức, Ý, Nhật Bản đã tuyên bố kết thúc chiến tranh thế giới thứ Sựnghiệp chung chống các nước phát xít Đức và Ý đã gắn kết để duy trì đồng minhtrong thời chiến của một số nước lớn Dù không chung chế độ, không cùng lợi ích
Trang 4quốc gia, nhưng họ đã liên kết với nhau và hợp tác vô cùng chặt chẽ chống lại kẻthù chung là phát xít.Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc mối liên kết ấy cũng mất
đi
Tóm lại, về khách quan thì hòa bình sau chiến tranh thế giới đã tạo điều kiện choxung đột đối khác giữa các nước lớn với nhau, tạo nên nguy cơ một cuộc đối đầusắp tới
Tương quan lực lượng quốc tế đã có sự thay đổi:
Tương quan lực lượng không cân bằng giữa các quốc gia sau khi chiến tranh thếgiới thứ hai kết thúc đã có sự thay đổi cơ bản Các nước phát xít hùng mạnh trướckia trong chiến tranh là Đức, Ý, Nhật đã bị đánh bại hoàn toàn và suy yếu Anh vàPháp tuy là nước thắng trận nhưng đã cũng bị chiến tranh tàn phá hết sức nặng nề,trên thực tế đã bị tụt xuống các nước “hạng hai” Sau chiến tranh chỉ có Mỹ và Liên
Xô trở thành hai nước hùng mạnh nhất trên thế giới và không một nước nào có thể
so sánh được
Trước chiến tranh các nước tồn tại với so sánh lực lượng ngang bằng nhau, sosánh lực lượng quốc tế với đặc trưng “đa cực hóa” Nhưng sau chiến tranh, so sánhlực lượng quốc tế đã có thay đổi mang tính căn bản, đặc trưng cơ bản của nó là “haicực hóa”, nghĩa là cán cân quyển lực mới chỉ còn lại hai nước Mỹ - Xô”
Riêng nước Mỹ, trong chiến tranh thế giới thứ hai, nước Mỹ chưa hề bị chiếntranh phá hoại, sức mạnh quân sự, thực lực kinh tế và ảnh hưởng chính trị của Mỹ
đã được tăng lên nhanh chóng trong thời kỳ chiến tranh và sau chiến tranh trở thànhmột nước mạnh nhất thế giới Mỹ trở thành một nước khổng lồ về quân sự và sứcmạnh quân sự thuộc loại hàng đầu thế giới Trước chiến tranh, tổng số quân vũtrang của Mỹ chỉ khoảng 335.000 người, dự đoán ngân sách quốc phòng không quá
1 tỷ USD Nhưng đến năm 1945, đêm trước khi kết thúc chiến tranh châu Âu, tổng
số quân của Mỹ đã có hơn 12 triệu, dự toán ngân sách quốc phòng vượt quá 80 tỷUSD
Trang 5Về Liên Xô, kinh tế của Liên Xô còn tụt hậu hơn so với Mỹ, sức mạnh quân sựcũng không lớn mạnh như Mỹ Hơn nữa là thời kỳ đầu sau chiến tranh thế giới thứhai Liên Xô còn chưa có trong tay vũ khí hạt nhân Điều quan trọng hơn thế đó làLiên Xô đã bị thiệt hại nặng nề trong chiến tranh, và sau chiến tranh phải bắt đầuxây dựng lại nền móng từ đống gạch vụn đổ nát Nhưng Liên Xô còn có những ưuthế riêng của mình và vẫn là một cường quốc trên thề giới chỉ đứng sau Mỹ Ngoài
ra, sự cống hiến kiệt xuất của Liên Xô trong cuộc chiến tranh chống phát xít đãgiành được uy tín rất cao của nhân dân toàn thế giới Tóm lại, thời kỳ đầu sau chiếntranh, Liên Xô đã trở thành một trung tâm sức mạnh khác trên thế giới
Chiến tranh thế giới thứ hai đã làm thay đổi cơ bản quan hệ giữa hai nước Làhai cường quốc mạnh nhất trên thế giới, Xô - Mỹ trực tiếp đối đầu trên phạm vi thếgiới Đó là kết quả của so sánh lực lượng quốc tế “hai cực hóa” Tình trạng này đãtạo điều kiện cho xung đột đối kháng của Liên Xô và Mỹ và đã chuyển từ đồngminh sang chiến tranh lạnh Từ góc độ lịch sử trong hệ thống quốc tế “hai cực hóa”thì hai cường quốc sống hoà thuận với nhau là hết sức khó khăn, sẽ xảy ra mâuthuẫn giữa hai bên, bên nào cũng muốn mình làm bá chủ Từ đó dẫn đến sự đối đầulẫn nhau ngày càng gay gắt Có thể nói rằng không có “hai cực hóa” sau chiếntranh thì không thể có thuộc chiến tranh lạnh giữa Xô – Mỹ hay Đông – Tây
Hệ thống quốc tế sau chiến tranh có nhiều thay đổi Tình hình chính trị củanhiều quốc gia không ổn định Không ít đảng cộng sản của các nước và thế lựccánh tả khác ở Tây Âu trong chiến tranh chống phát xít đã kiên trì lãnh đạo nhândân trong nước kháng chiến nên đã giành được sự ủng hộ của quần chúng, ảnhhưởng của của nó sau chiến tranh không ngừng lớn mạnh và còn có khả năng giànhđược chính quyền, còn các thế lực bảo thủ do Anh, Mỹ ủng hộ lại hết sức thù địchvới lực lượng cánh tả đã ra sức khống chế chính quyển ở đó
Tóm lại, môi trường quốc tế sau chiến tranh, đặc biệt là cục diễn so sánh lựclượng quốc tế “hai cực hóa” đã tạo điều kiện cho xung đột và đối kháng Xô - Mỹ,
từ đồng minh thời tranh lao vào cuộc đối đầu chiến tranh lạnh
Trang 6Yếu tố quốc gia:
Sự đối lập về ý thức hệ:
Trên một phương diện nào đó thì môi trường quốc tế sẽ ảnh hưởng rất lớn đối vớicông tác đối ngoại của mỗi nước Nhưng môi trường quốc tế không phải là nhân tốduy nhất ảnh hưởng đến hành vi đối ngoại của một nước Từ đó cho thấy rằng, môitrường quốc tế trong thời kỳ đầu sau chiến tranh thế giới thứ hai tạo điều kiện choxung đột và đối kháng giữa hai cường quốc và biến chiến tranh lạnh thành khảnăng Hai nước vẫn có thể lựa chọn thái độ hợp tác, cùng giải quyết những vấn đềbất cập sau chiến tranh Nhưng thực sự, hai nước Liên Xô và Mỹ lại không lựachọn phương thức hòa bình hợp tác, mà từng bước mâu thuẫn dẫn tới chiến tranhlạnh Đó là sự đối lập căn bản về ý thức hệ, sự khác biệt cơ bản về lợi ích quốc giacủa hai nước
Liên Xô và Mỹ, một nước xã hội chủ nghĩa lớn nhất, một nước tư bản chủ nghĩalớn nhất Chịu vào sự chi phối của tín ngưỡng ý thức hệ, hai nước đã dựa vào tiếntriển của Chiến tranh thế giới thứ hai và cục diện sau chiến tranh để ra sức mở rộngphạm vy ảnh hưởng tín ngưỡng ý thức hệ của bản thân Ngay trong chiến tranh, từ
1944, Liên Xô đã bắt đầu phản công với quy mô lớn, thu lại được những lãnh thổ
đã bị mất trong thời kỳ đầu chiến tranh, và tiến mạnh ra biên giới Trong quá trìnhphát triển ra bên ngoài của Hồng quân Liên Xô đã giúp đỡ các đảng cộng sản ởnhững nơi đó thành lập chính quyền, ủng hộ lực lượng tiến bộ Giống như Stalinnói với đoàn đại biểu của Đảng Cộng sản Nam Tư vào tháng 4-1945: “Chiến tranhlần này và trước kia là khác nhau: bất luận ai chiếm lĩnh đất đai thì đều áp đặt chế
độ của mình ở đó Không thể khác được”(1) Nhân tố ý thức hệ trong chính sách đối ngoại của Rooservelt được phản ánh rõnét trong chính sách đối với Đông Âu Bề ngoài, Rooservelt chủ trương thực hiện
tự quyết dân tộc ở Đông Âu, để nhân dân ở đó lựa chọn chính phủ của mình.Nhưng trên thực tế, mục đích của chính sách đó là biến khu vực này thành “phi chủnghĩa cộng sản hóa” Làm suy yếu ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội Đối với mục
Trang 7tiêu ý thức hệ trong chính sách đối ngoại của Mỹ, trợ lý thân cận của Rooservelt làHopkin đã nói hết sức rõ ràng: “Cố gắng lợi dụng sức mạnh ngoại giao của chúng
ta, thúc đẩy và khích lệ xây dựng chính quyền dân chủ trên toàn thế giới Chúng takhông nên ngần ngại tỏ rõ lập trường của mình đối với thế giới, tức là yêu cầu nhândân trên thế giới đều phải được hưởng quyền thành lập một chính phủ đích thực dodân bầu Chúng ta tin tưởng, chính thể dân chủ có sức sống của chúng ta là tốt nhấttrên thế giới”(2)
Khác biệt về lợi ích quốc gia:
Hình thái ý thức mà Xô - Mỹ tôn thờ căn bản là đối lập nhau, lợi ích quốc gia của
họ cũng khác nhau về cơ bản Lợi ích quốc gia của Liên Xô sau chiến tranh là đảmbảo an ninh, đặc biệt là an ninh biên giới phía Tây Còn với Mỹ thì lợi ích quốc giacủa Mỹ sau chiến tranh thế giới thứ hai chắc chắn là an ninh chính trị và quân sự.Bao gồm tránh sự bùng nổ một cuộc chiến tranh thế giới mới nguy hại đến sự sinhtồn của nước Mỹ, đảm bảo cho thế giới phương Tây không bị uy hiếp về chính trịquân sự từ phương Đông Mặt khác, trong lợi ích quốc gia của Mỹ còn có tính tiếncông và bành trướng, nghĩa là mở rộng ảnh hưởng và thế lực của nó trên toàn thếgiới Chính vì thế lợi ích quốc gia của hai cường quốc Xô và Mỹ khác nhau, chínhsách mà hai bên áp dụng để thực hiện lợi ích quốc gia cũng triệt tiêu lẫn nhau Liên
Xô muốn thiết lập và bảo vệ một phạm vi thế lực của mình, còn Mỹ để chống lại sự
uy hiếp của chủ nghĩa cộng sản và lãnh đạo thế giới và đánh đổ Liên Xô
Tóm lại, nếu như nói môi trường quốc tế sau chiến tranh thế giới thứ hai đã tạođiều kiện cho sự đối kháng giữa hai nước, thậm chí là hai tập đoàn quốc gia lớnhoặc hai khối do họ đứng đầu, thì sự đối lập ý thức hệ và sự khác biệt về lợi íchquốc gia cũng khiến cho hai nước Xô - Mỹ không thể tránh khỏi đối kháng trongmôi trường quốc tế sau chiến tranh, dẫn đến sự xuất hiện của chiến tranh lạnh
Yếu tố cá nhân:
Hai yếu tố dẫn đến chiến tranh lạnh là môi trường quốc tế và động cơ hành vicủa quốc gia Nhưng ngoài ra còn, nguyên nhân phân tích từ vai trò và hành vi để
Trang 8của lãnh đạo hoặc người đưa ra những quyết sách của hai nước Quyết sách chínhsách đối ngoại của mỗi nước là do cá nhân quyết định và phương thức xử lý ngoạigiao của lãnh đạo hai bên đã mở rộng hoặc làm sâu sắc thêm xung đột giữa hainước, đẩy nhanh quá trình tiến tới chiến tranh lạnh.
Sau thế chiến thứ hai, vai trò của các cá nhân lãnh đạo như Stalin, Churchill,Rooserverlt, Truman đến tình trạng đối đầu là rất lớn
Nhận thức của lãnh đạo hai nước đối với đối phương có phần không phù hợp vàmang tính chủ quan, từ đó dẫn đến sự không tin tưởng và hoài nghi lẫn nhau Bêncạnh đó còn là phương thức xử lý ngoại giao, tư tưởng chống cộng cố hữu củaTruman, Churchill và nhiều nhân vật khác Tuy nhiên, cũng không thể nói chiếntranh lạnh chỉ là sản phẩm của sự không tin tưởng và nghi ngờ lẫn nhau, nhữngnhân tố tâm lý cũng làm tăng thêm xung đột của hai nước
Nhận thức sai lầm của nhà lãnh đạo hai bên Thời kỳ đầu của chiến tranh, khi Liên Xô ra sức mở rộng chế độ của mình, động
cơ hành vi cơ bản của Liên Xô là bảo vệ an ninh quốc gia Nhưng tập đoàn thốngtrị của Mỹ lại không đánh giá như vậy đối với hành vi quốc tế của Liên Xô và chorằng Liên Xô muốn mở rộng ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản ra toàn thế giới,hoặc là khuếch trương tầm ảnh hưởng của Liên Xô Truman được coi là “một taymới” trong ngoại giao Chính vì thế mà trong chính sách đối ngoại, Truman hoàntoàn tin tưởng vào sự chỉ đạo của cố vấn Giới cầm quyển của Mỹ coi đảng cộngsản của các nước là tay sai của Mátxcơva Không ít những nhân vật có tầm cỡ trongchính phủ Mỹ cho rằng Liên Xô có kế hoạch tấn công quân sự Tây Âu, nguy cơcủa cuộc Chiến tranh thế giới thứ ba ngay trước mắt(3)
Nhận thức của các nhà lãnh đạo của Liên Xô đối với hành vi của Mỹ cũng cóphần chủ quan và xa rời thực tế Stanlin hết sức sợ hãi sự xâm lược của Mỹ, năm
1945, ông ta cũng lo ngoại quân đội Mỹ vượt qua giới tuyên quân sự nước Đức, lolắng Mỹ đưa quân đội đến Tiệp Khắc và khôi phục chính phủ giai cấp tư bản và
Trang 9cũng lo ngoại một thảm họa mới tang tính diệt chủng do Tây Đức trỗi dậy dưới sựgiúp đỡ của Mỹ(4).
Sự hoài nghi và không tin tưởng của các nhà lãnh đạo Liên Xô đối với Mỹ chủyếu là vì sau chiến tranh trong so sánh lực lượng quốc tế Liên Xô tương đối yếu,nhà lãnh đạo Liên Xô nhìn vấn đề từ khung của ý thức hệ, cộng thêm thái độ hùng
hổ của Mỹ Đến năm 1946, nhận thức của lãnh đạo hai nước Xô - Mỹ đối với đốiphương đã hình thành suy nghĩ, đều coi bên kia là kẻ thù chủ yếu của mình
Mặt khác, phương thức xử lý ngoại giao hoặc phong cách ngoại giao và chiếnlược của những người lãnh đạo Xô – Mỹ trên một góc độ nhất định đã làm tăngthêm quan hệ căng thẳng giữa hai nước
Phương thức xử lý ngoại giao:
Kể từ khi Trumna lên kế nhiệm tổng thống khi Rooservelt qua đời, thì ông đã ápdụng những phương thức làm ngoại giao khác hẳn với Rooservelt như ít làm ngoạigiao cá nhân hơn, ít tìm hiểu và hiểu biết về Liên Xô hơn Với một cách xử lý nóngnảy và không muốn thoả hiệp nên sau khi nhậm chức không lâu thì lần đầu tiên gặp
gỡ lãnh đạp Liên Xô đã xảy ra cãi vã Hơn thế nữa, Truman còn có thái độ khôngthân thiện với Liên Xô khi ngoại trưởng Liên Xô - Môlôxốp ghé qua Oasinh tơn đểgặp Truman Truman luôn thể hiện khuynh hướng cứng rắng khác hẳn với thái độhữu hảo của Rooservelt với Liên Xô, Truman đã nói: “Tôi không sợ người Nga, tôisẵn sàng có thái độ kiên định”(5)
Phương thức ngoại giao của lãnh đạo Liên Xô thời kỳ đầu chiến tranh lạnh cũngcứng rắn Ví dụ như trong vấn đề Đông Âu, đặc biệt trong các vấn đề như: tổ chứcchính phủ lâm thời Ba Lan, nước Đức bồi thường, Quỹ Tiền tệ Thế giới và Ngânhàng Thế giới…, Liên Xô chưa linh hoạt, thiếu tinh thần thỏa hiệp Đối với hành vithù địch mà Mỹ áp dụng đối với Liên Xô sau chiến tranh, Liên Xô đối đầu gay gắt,lấy máu trả máu Sự thù địch lẫn nhau giữa Xô - Mỹ ngày càng ác liệt Đến bây giờnhìn lại, lấy máu trả máu lại không phải là biện pháp tốt nhất để giải quyết vấn đề,
nó sẽ làm quan hệ căng thẳng hơn nhiều
Trang 10Tóm lại, nhận thức và phương thức xử lý ngoại giao của lãnh đạo hai nước Xô
-Mỹ càng làm tăng thêm xung đột đối với hai bên Nhưng thực tế yếu tố các nhânkhông mang tính quyết định đến nguồn gốc của chiến tranh lạnh, nó chỉ đẩy nhanhquá trình xảy ra
Chiến tranh lạnh là sản phẩm hợp thành của nhiều yếu tố, có môi trường quốc
tế, động cơ hành vi của mỗi quốc gia và cả cá nhân lãnh đạo Trên thực tế, ba cái
đó có quan hệ nội tại, không thể xem xét riêng biệt từng cái Mỗi yếu tố đều chiphối liên quan đến những yếu tố khác Chiến tranh lạnh Đông - Tây không chỉ làsản phẩm của nhiều yếu tố tạo thành mà là một sản phẩm của một giai đoạn lịch sửđặc biệt, trong một tương lại không xa lại bùng nổ một cuộc chiến tranh lạnh mới làmột điều không thể Bên cạnh đó ta còn có thể thấy vai trò của cá nhân là điều quantrọng không thể phủ nhận trong khởi nguồn của chiến tranh lạnh Do đó giữa nhữngngười lãnh đạo của mỗi quốc gia phải thông hiểu tư tưởng của nhau, thúc đẩy pháttriển quan hệ song phương, tăng cường đối thoại để thúc đẩy hòa bình và ổn địnhtrên toàn thế giới
Trang 11Câu 2: Vai trò của các chủ thể phi quốc gia trong quan hệ quốc tế thời kỳ chiến
tranh lạnh
Quan hệ quốc tế (QHQT) chi phối và định đoạt bởi quốc gia Nhưng thời hiện đại,
sự chi phối và định đoạt dần bị phá vỡ vì sự nổi lên các chủ thể mới bên cạnh quốcgia là chủ thể phi quốc gia (Nonstate Actor) Chủ thể phi quốc gia đã tác độngmạnh mẽ lên quốc gia và dẫn đến những thay đổi đáng kể trong QHQT Sự pháttriển của chủ thể phi quốc gia còn được nhiều người kỳ vọng sẽ mang lại nhữngthay đổi to lớn hơn cho tương lai thế giới
“ Quốc gia là một thức thể pháp lý quốc tế và phải có các đặc tính như : một dân cưthường xuyên, một lãnh thổ xác định và một chính phủ có khả năng duy trì sự kiểmsoát hiệu quả trên lãnh thổ của nó và tiến hành quan hệ quốc tế với quốc gia khác.”Theo hòa ước Westphalia năm 1648- hòa ước và luận văn đầu tiên nêu rõ chủ thểchính trong quan hệ quốc tế là quốc gia Hòa ước Westphalia đã đặt nền móng chonhững nguyên tắc ứng xử trong quan hệ quốc tế sau này và là những nguyên lý cơbản của định nghĩa chủ quyền với các quốc gia độc lập Ngoài việc xác định biêngiới lãnh thổ rõ ràng cho nhiều quốc gia liên quan (cũng giống như các quốc giamới được thành lập sau này), hòa ước Westphalia đã thay đổi mối quan hệ giữa cácthần dân và những người cai trị Lúc đầu, người dân thường có xu hướng tuân theo
cả các quyền lực chính trị và tôn giáo Sau hòa ước Westphalia, các công dân củamột quốc gia có chủ quyền trên nguyên tắc trước hết phải tuân theo luật lệ củachính quyền đang cai quản quốc gia đó, dù cho chính quyền đó là tôn giáo hay làthế tục
Với sự ra đời của quốc gia, các mối quan hệ giữa các nước được thiết lập, sự hợptác trong phát triển kinh tế, chính trị văn hóa xã hội…diễn ra mạnh mẽ giữu cácnước, các công ty và các tổ chức ; đồng thời thế giới ngày càng phát triển đã dẫn tớiquá trình toàn cầu hóa ngày càng mạnh mẽ đã dẫn tới sự xuất hiện của các chủ thểmới như các tổ chức liên chính phủ ( Intergovernment Organization-IGO), tổ chứcquốc tế phi chính phủ (Intergovernment Nongovernmental Organization-INGO)
Trang 12Tính đến năm 1909 có 37 IGO và 176 INGO và đến năm 2006 đã có gần 2,870 tổchức NGO có quy chế tham khảo ý kiến với Hội đồng Kinh tế-Xã hội-ECOSOCcủa LHQ (năm 1946 chỉ có 41 tổ chức được Hội đồng cho hưởng qui chế; năm
1993 có 978; năm 1997 có 1,356) Hiện nay, số lượng các IGO đã lên tới hàng trăm
và các INGO đã lên tới hàng nghìn thậm chí hàng chục nghìn Theo Liên hợp quốc
số lượng các INGO tăng mạnh mẽ sau chiến tranh Lạnh và các INGO đang làmviệc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, phạm vi hoạt động của chúng diễn rakhắp thế giới và ảnh hưởng ngày càng trở nên sâu sắc
Tổ chức quốc tế phi chính phủ đã có sự phát triển khá nhanh chóng cả về số lượnglẫn chất lượng Cùng với đó, vai trò của INGO trong QHQT cũng tăng lên, đem lạicho nó khả năng của một chủ thể QHQT- chủ thể phi quốc gia Trên góc độ tổngquát, nhìn chung các tổ chức phi chình phủ INGO có vai trò to lớn với các quốcgia, đặc biệt là các nước đang phát triển
Vai trò của các INGO, tổ chức xã hội dân sự được nâng cao trong cộng đồng cácnước tài trợ và trên trường quốc tế, được coi là những tác nhân thúc đẩy sự pháttriển bền vững, khắc phục nghèo khổ và tham gia xây dựng chính sách, bảo đảmdân chủ nhân quyền, xây dựng quan hệ thương mại bình đẳng giữa các nước đangphát triển Nhiều Hội nghị của các INGO mang tính quốc tế, khu vực đã được tổchức song song với các Hội nghị của Liên hiệp quốc và Hội nghị khu vực hoặc liênkhu vực, các diễn đàn quốc tế quan trọng về những vấn đề toàn cầu hoá, những vấn
đề xã hội và thương mại đều có sự tham vấn của các INGO Đặc biệt, trong quátrình xây dựng chính sách, các tổ chức quốc tế, thiết chế tài chính quốc tế, Chínhphủ các nước phát triển và một số nước đang phát triển đã hình thành cơ chế thamvấn, lấy ý kiến đóng góp của các INGO Anh, Bỉ, Canada, Đức, Hà Lan, Na Uy,Ôxtrâylia, Pháp, Thuỵ Điển và Thuỵ Sĩ và một số tổ chức quốc tế như UNDP, EU,
WB, ADB, UNFPA tăng cường chuyển tài trợ song phương qua các TCPCP nướcmình hoặc qua các INGO nói chung hoạt động trong lĩnh vực họ quan tâm Chính
Trang 13phủ các nước phát triển tăng cường thông qua các INGO để triển khai các dự ánviện trợ và thực hiện chính sách đối ngoại của mình.
Sự hiện diện của các tổ chức INGO diễn ra trong nhiều lĩnh vực khác nhau củaQHQT như kinh tế, khoa học, kĩ thuật, văn hóa , xã hội… do đó INGO đã thâmnhập vào nhiều quốc gia cải thiện xã hội thông qua thúc đẩy, giáo dục, thu hút sựchú ý xung quanh những vấn đề lớn của xã hội và giám sát hoạt động của chínhquyền và doanh nghiệp tư nhân
INGO cũng là người tiên phong mở đường cho sự phát triển của các nước đangphát triển, với mục đích là thúc đẩy hợp tác nhằm thực hiện mục tiêu phát triểntrong lĩnh vực nào đó Mục đích của các INGO thường phù hợp với ý nguyện củaquốc gia và công chúng nên tính hướng đích trong hoạt động của chúng là rõ ràng
và mạnh mẽ Điển hình là trường hợp của Ủy ban cứu trợ nạn đói ( OxfordCommittee for Famine Relief) hay còn gọi là Oxfam Oxfam, với mục tiêu ban đầu
là cứu trợ tình trạng thiếu lương thực, hoạt động của Oxfam đã dần mở rộng ranước ngoài với mục đích xóa đoi giảm nghèo trên thế giới Oxfam cộng tác với WB
và IMF trong cắt giảm nợ cho các nước nghèo và giúp đỡ các nước đang phát triểnkhông chỉ với tư cách chuyên gia mà còn tham gia hoạch định chính sách
Với sự hoạt động mạnh mẽ của các tổ chức phi chính phủ ở nhiều quốc gia trêntoàn cầu đã dẫn đến sự ra đời của các Công ty xuyên quốc gia và đa quốc gia Công
ty Đa quốc gia là công ty có sự quốc tê hóa nguồn vốn, tức là chủ đầu tư thuộc cácquốc tịch khác nhau còn Công ty Xuyên quốc gia là công ty có sự quốc tế hóa hoạtđộng kinh doanh nhưng chủ đầu tư thường thuộc một quốc tịch Và các công tyXuyên quốc gia( TNC) là những tổ chức kinh doanh có quyền sở hữu hoạt đanhhoạt động kinh doanh diễn ra trên địa bàn nhiều quốc gia Công ty Xuyên quốc gia(TNC) ra đời trong thời kỳ phát triển của chủ nghĩa tư bản (CNTB) Trong thời kỳđầu cạnh tranh tự do (CNTB) Trong thời kỳ đầu cạnh tranh tự do triển sản xuất đã