Luật giáo dục 2005 đã xác định: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp cho học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nh
Trang 1TIỂU LUẬN
BÀN LUẬN VỀ VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO
HỌC SINH TRUNG HỌC HIỆN NAY
HỌC PHẦN: PSYC1400 – TÂM LÝ HỌC GIÁO DỤC
Họ và tên: Lê Thị Thảo Nhi
Mã số sinh viên: 46.01.101.104 Lớp học phần: PSYC1400
Giảng viên hướng dẫn: NCS.ThS Mai Mỹ Hạnh
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 21 tháng 09 năm 2021
Trang 21.1 Cơ sở lý luận
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
3 Đối tượng nghiên cứu
4 Phạm vi nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
6 Kết cấu của đề tài
NỘI DUNG
1 Đạo đức
1.1 Quan niệm về đạo đức
1.1.1 Khái niệm đạo đức
1.1.2 Vai trò của đạo đức trong đời sống xã hội
1.2 Giáo dục đạo đức cho học sinh
1.2.1 Giáo dục đạo đức là gì?
1.2.2 Vị trí giáo dục đạo đức
1.2.3 Mục tiêu giáo dục đạo đức
1.2.4 Chức năng giáo dục đạo đức
2 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi thiếu niên và một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh trung học
2.1 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi thiếu niên
2.2 Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh trung học
2.2.1 Giáo dục đạo đức cho học sinh phải lấy việc phát huy ưu điểm là chính, trên cơ sở đó mà khắc phục khuyết điểm
2.2.2 Tôn trọng nhân cách học sinh, đồng thời đề ra yêu cầu ngày càng cao đối với học sinh
2.2.3 Phối hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh trung học và đặc điểm hoàn cảnh cá nhân học sinh
2.2.4 Người thầy cần phải có nhân cách mẫu mực
2.2.5 Giáo dục theo nguyên tắc tập thể
2.2.6 Giáo dục bằng cách thuyết phục và phát huy mạnh mẽ tính tự giác của học sinh
KẾT LUẬN
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Một trong những tư tưởng đổi mới GD & ĐT hiện nay là tăng cường giáo dục đạo
đức cho học sinh, được thể hiện trong nghị quyết của Đảng, Luật giáo dục và các văn bản của Bộ Giáo dục và Đào tạo Luật giáo dục 2005 đã xác định: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp cho học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân”…(Điều 23-Luật giáo dục)
“Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện có đạo đức tri thức, sức khỏe thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách phẩm chất và năng lực công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Điều 2 Luật Giáo dục của nước CHXHCN Việt Nam 2005) Coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu, Đảng ta đòi hỏi phải: tăng cường giáo dục công dân, giáo dục lòng yêu nước, chủ nghĩa Mác-Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh, giáo dục đạo đức và nhân văn, lịch sử dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc, ý chí vươn lên vì tương lai của bản thân và tiền đồ của đất nước Từ
đó cho thấy, giáo dục đạo đức là một trong những điểm chủ yếu, cốt lõi xuyên suốt và giữ vị trí chủ đạo trong toàn bộ quá trình giáo dục nhân cách, đào tạo con người trong nhà trường ở nước ta, đặc biệt là trong nhà trường phổ thông, đối với học sinh ở lứa tuổi thiếu niên
Trong những năm qua, đất nước ta chuyển mình trong công cuộc đổi mới sâu sắc
và toàn diện: từ một nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinhtế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước Chuyển từ chính sách “đóng cửa” sang chính sách “mở cửa” làm bạn với các nước trong cộng đồng thế giới Với công cuộc đổi mới, chúng ta có nhiều thành tựu to lớn rất đáng tự hào về phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa - giáo dục Tuy nhiên, mặt trái của cơ chế mới cũng ảnh hưởng tiêu cực đến sự nghiệp giáo dục, trong đó sự suy thoái về đạo đức
và những giá trị nhân văn là vấn đề toàn xã hội quan tâm
Đánh giá thực trạng giáo dục, đào tạo: Nghị quyết TW 2 khóa 8 nhấn mạnh: Đặc biệt đáng lo ngại là một bộ phận học sinh, sinh viên có tình trạng suy thoái về đạo đức,
mờ nhạt về lý tưởng, theo lối sống thực dụng, thiếu hoài bão lập thân, lập nghiệp vì tương lai của bản thân và đất nước Trong nhà trường nói chung và trường THPT nói riêng, số học sinh vi phạm đạo đức có chiều hướng gia tăng, tình trạng học sinh kết thành băng nhóm đánh nhau, vi phạm pháp luật có nhiều dấu hiệu ngày càng phức tạp
cả về tính chất, mức độ lẫn sự nghiêm trọng của các vụ án Ngoài việc vi phạm pháp
Trang 4luật hình sự, tình trạng học sinh vi phạm pháp luật hành chính, có những hành vi lệch chuẩn về đạo đức, lối sống như vi phạm Luật Giao thông, rượu chè, cờ bạc, nghiệm game, matuý bên cạnh đó còn lười lao động và học tập, không dám đấu tranh với biểu hiện sai trái, sống thờ ơ vô cảm, thiếu kỹ năng sống cũng là vấn đề đáng báo động, gây lo lắng cho gia đình và xã hội Một số cán bộ quản lý, giáo viên chưa thật sự
là tấm gương sáng cho học sinh, chỉ lo chú trọng đến việc dạy tri thức khoa học, xem nhẹ môn GDCD, thờ ơ không chú ý đến việc giáo dục tình cảm đạo đức cho học sinh Theo kết quả khảo sát của Viện nghiên cứu và phát triển giáo dục Việt Nam, thì tỉ lệ học sinh đi muộn ở cấp Tiểu học là 20%, ở cấp THCS là 21% và ở cấp THPT là 58%;
tỉ lệ quay cóp ở cấp Tiểu học là 8%, THCS là 55% và THPT là 60%; tỉ lệ học sinh nói dối cha mẹ ở cấp Tiểu học là 22%, THCS là 50% và THPT là 64%; tỉ lệ học sinh không chấp hành An toàn giao thông ở cấp Tiểu học là 4%, THCS là 35% và THPT là 70% Những con số này cho thấy càng lớn thì ý thức đạo đức của học sinh càng đi xuống
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn trên, để góp phần vào công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trong giai đoạn hiện nay, và qua thực tiễn, nhận thấy việc nắm rõ thực trạng và đề ra biện pháp về công tác giáo dục đạo đức cho học sinh THPT là một nhiệm vụ hết sức quan trọng của toàn ngành giáo dục và của toàn xã hội Đó là lý do tại sao em chọn đề tài: “ Bàn luận về hoạt động trải nghiệm và hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp được đưa vào chương trình giáo dục trung học "
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đánh giá được thực trạng của công tác giáo dục đạo đức học sinh ở Trường THPT thông qua đó đề ra biện pháp giáo dục đạo đức học sinh một cách có hiệu quả giúp cho các em trở thành những công dân tốt cho xã hội
3 Đối tượng nghiên cứu
Việc giáo dục đạo đức cho học sinh ở phổ thông hiện nay: thực trạng và đưa ra một
số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường THPT trong giai đoạn hiện nay
4 Phạm vi nghiên cứu
Học sinh cấp trung học phổ thông
5 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các phương pháp thống kê; phương pháp quan sát; phương pháp lôgíc và lịch sử; phương pháp phân tích và tổng hợp
6 Kết cấu của đề tài
Phần mở đầu, nội dung, kết luận
Trang 5NỘI DUNG
1 Đạo đức 1.1 Quan niệm về đạo đức 1.1.1 Khái niệm đạo đức
Theo chủ nghĩa Mác thì đạo đức là cái có thật trong ý thức xã hội, trong đời sống tinh thần của con người nghĩa là về lý luận nó là bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội Đạo đức tồn tại trong mọi ý thức, hoạt động giao lưu, trong toàn bộ hoạt động sống của con người
Góc độ xã hội: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt được phản ánh dưới dạng những nguyên tắc, yêu cầu, chuẩn mực điều chỉnh (hoặc chi phối) hành vi của con người trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên với xã hội, giữa con người với nhau và với chính bản thân mình
Góc độ cá nhân: Đạo đức chính là những phẩm chất, nhân cách của con người, phản ánh ý thức, tình cảm, ý chí, hành vi, thói quen và cách ứng xử của họ trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội, giữa bản thân họ với người khác
và với chính bản thân mình
Tóm lại, đạo đức được định nghĩa như sau: đạo đức là một hình thái ý thức xã hội,
là tập hợp những nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh cách đánh giá và cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi sức mạnh của truyền thống và sức mạnh của
dư luận xã hội
1.1.2 Vai trò của đạo đức trong đời sống xã hội
Đạo đức có vai trò rất lớn trong đời sống xã hội, trong đời sống của con người, đạo đức là vấn đề thường xuyên được đặt ra và giải quyết nhằm đảm bảo cho cá nhân
và cộng đồng tồn tại phát triển Sống trong xã hội, người ta ai cũng phải suy nghĩ về những vấn đề đạo đức để tìm ra những con đường, cách thức và phương tiện hoạt động nhằm kết hợp lợi ích của mình và cộng đồng, từ đó bảo đảm cho sự tồn tại, phát triển của chính mình và cộng đồng Trong sự vận động phát triển của xã hội loài người suy cho cùng nhân tố kinh tế là cái chủ yếu quyết định Tuy nhiên, nếu tuyệt đối hóa cái
“chủ yếu” này thành cái “duy nhất” thì sẽ dẫn tư duy và hành động đến những lầm lạc đáng tiếc Sự tiến bộ của xã hội, sự phát triển của xã hội không thể thiếu vai trò của đạo đức Và khi xã hội loài người có giai cấp, có áp bức, có bất công, chiến đấu cho cái thiện đẩy lùi cái ác đã trở thành ước mơ, khát vọng, đã trở thành chất men, thành động lực kích thích, cổ vũ nhân loại vượt lên Đạo đức đã trở thành mục tiêu đồng thời cũng là động lực để phát triển xã hội
Trang 6Vai trò của đạo đức còn được biểu hiện thông qua các chức năng cơ bản của đạo đức: Chức năng điều chỉnh hành vi, chức năng giáo dục, chức năng nhận thức như đã trình bày ở phần trên
Ngày nay để xây dựng xã hội mới, chúng ta đang cần có những con người mới Những con người phát triển toàn diện cả đức và tài Tuy nhiên, cần chú ý trong quan
hệ giữa đức và tài hôm nay, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn lưu ý, nhắc nhở chúng ta phải coi trọng cả tài và đức nhưng phải lấy đức là gốc Bởi lẽ tài năng chỉ có thể phát triển lâu bền trên nền của đức và tài năng chỉ có thể hướng thiện trên gốc của đức
1.2 Giáo dục đạo đức cho học sinh 1.2.1 Giáo dục đạo đức là gì?
Ngày nay giáo dục đạo đức cho học sinh là giáo dục lòng trung thành đối với Đảng, hiếu với Dân, yêu quê hương đất nước, có lòng vị tha, nhân ái, cần cù liêm khiết
và chính trực Đó là đạo đức Xã hội Chủ Nghĩa là đạo đức của cá nhân, tập thể và chủ nghĩa nhân đạo mang tính chân thực tích cực, khác với đạo đức vị kỷ, cá nhân Giáo dục đạo đức học sinh gắn chặt với giáo dục tư tưởng- chính trị, giáo dục truyền thống
và giáo dục bản sắc văn hóa dân tộc, giáo dục pháp luật nhà nước XHCN, cung cấp cho học sinh những phương thức ứng xử đúng trước vấn đề của xã hội … giúp cho các em có khả năng tự kiểm soát được hành vi của bản thân một cách tự giác, có khả năng chống lại những biểu hiện lệch lạc về lối sống
1.2.2 Vị trí giáo dục đạo đức
Giáo dục đạo đức là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến học sinh nhằm giúp cho nhân cách mỗi học sinh được phát triển đúng đắn, giúp học sinh có những hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ của cá nhân với xã hội, của cá nhân với lao động, của cá nhân với mọi người xung quanh và của cá nhân với chính mình
Trong tất cả các mặt giáo dục, đạo đức giữ một vị trí hết sức quan trọng Giáo dục đạo đức còn có ý nghĩa lâu dài, được thực hiện thường xuyên và trong mọi tình huống chứ không phải chỉ được thực hiện khi có tình hình phức tạp hoặc có những đòi hỏi cấp bách
Trong nhà trường, giáo dục đạo đức là mặt giáo dục phải được đặc biệt coi trọng, nếu công tác này được coi trọng thì chất lượng giáo dục toàn diện sẽ được nâng lên vì đạo đức có mối quan hệ mật thiết với các mặt giáo dục khác Để thực hiện những yêu cầu về nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh trong trường thì:
- Vai trò của tập thể sư phạm giữ một vị trí quan trọng có tính quyết định, trong đó vai trò của Hiệu trưởng, người quản lý chỉ đạo tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục của nhà trường là quan trọng nhất
Trang 7- Vai trò của cấu trúc và nội dung chương trình môn giáo dục công dân cũng góp phần không nhỏ đối với công tác này
1.2.3 Mục tiêu giáo dục đạo đức
Chuyển hóa những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội thành những phẩm chất đạo đức, nhân cách cho học sinh, hình thành ở học sinh thái độ đúng đắn trong giao tiếp, ý thức tự giác thực hiện các chuẩn mực của xã hội, thói quen chấp hành các quy định của pháp luật
1.2.4 Chức năng giáo dục đạo đức
Làm cho học sinh thấm nhuần sâu sắc thế giới quan Mác-Lênin, tư tưởng đạo đức
Hồ Chí Minh, chủ trương, chính sách của Đảng, sống và làm việc theo pháp luật, sống
có kỷ cương, nề nếp, có văn hóa trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội và giữa con người với nhau
2 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi thiếu niên và một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh trung học
2.1 Đặc điểm tâm lý lứa tuổi thiếu niên
Tuổi thiếu niên về tên gọi và giới hạn độ tuổi vẫn chưa được xác lập một cách rõ ràng, chuẩn xác Trong đời sống xã hội, ta có thể gặp rất nhiều cụm từ mang tính tích cực hoặc tiêu cực để gọi tên lứa tuổi này như: tuổi dậy thì, tuổi mới lớn, tuổi hồng, tuổi ngọc, tuổi hoa niên, tuổi khủng hoảng, tuổi khó bảo, tuổi bất trị, tuổi lì lợm, Những tên gọi đa dạng đã nói lên tính chất phức tạp của lứa tuổi này
Về thể chất, dấu hiệu cơ bản để nhận biết một trẻ em đã bước sang tuổi thiếu niên
là hiện tượng dậy thì Về độ tuổi, đa số thiếu niên ở trong độ tuổi 11,12 tuổi đến 14,15 tuổi Ở Việt Nam, lứa tuổi này gần trùng với thời điểm trẻ học ở bậc trung học cơ sở,
vì vậy tuổi thiếu niên còn được gọi là tuổi học sinh trung học cơ sở Tuy nhiên, trên thực tế nhiều trẻ bắt đầu dậy thì vào đầu cấp học, nhưng cũng có trẻ dậy thì sớm hơn hoặc muộn hơn
Về thời điểm kết thúc tuổi thiếu niên, các chỉ số thường gắn liền với sự trưởng thành về mặt cơ thể và sinh dục, còn về phương diện xã hội thì không rõ ràng Ở các nước phát triển, trẻ em dậy thì và có tính tự lập sớm nên thời điểm bắt đầu và chấm dứt tuổi thiếu niên thường sớm hơn so với trẻ em ở nước ta
Sự phát triển về mặt tâm sinh lý: sự phát triển về mặt sinh lý ở thiếu niên có đặc điểm
là tốc độ phát triển cơ thể rất nhanh, mạnh, nhưng không đồng đều về mọi mặt, đồng thời xuất hiện hiện tượng dậy thì đánh dấu sự trưởng thành về hệ sinh dục Ở lứa tuổi thiếu niên diễn ra sự cải tổ rất mạnh mẽ và sâu sắc về cơ thể, về sinh lý, đây là giai đoạn bứt phá lần thứ hai trong cuộc đời, sau giai đoạn sơ sinh Là giai đoạn các em đang phát triển mạnh về thể chất, tinh thần và tình cảm Nhận thức của các em cũng trưởng thành hơn nhưng chưa đủ lớn để nhận thức tốt mọi vấn đề diễn ra trong cuộc
Trang 8sống Do đó các em dễ bị kích động, lôi kéo nếu không được định hướng, dẫn dắt kịp thời Bên cạnh đó các em còn có nhu cầu giao tiếp rất lớn đặc biệt là sự giao tiếp với bạn bè, từ đó hình thành lên các nhóm bạn cùng sở thích Nếu không được giáo dục dễ
bị sai lệch
Điều kiện sống và hoạt động: bước sang tuổi thiếu niên, điều kiện sống và hoạt động của các em có sự thay đổi cơ bản so với tuổi nhi đồng Vị trí của các em trong gia đình, nhà trường và xã hội được nâng cao Từ vị trí là “trẻ con” chuyển dần sang vị trí mới “vừa trẻ con, vừa người lớn” Đặc biệt trong lứa tuổi này tâm lý của các em rất nhạy cảm, sự thay đổi hay những tác động từ gia đình và xã hội rất dễ ảnh hưởng và hình thành xu hướng hành động của các em
Tóm lại, sự phát triển nhảy vọt về thể chất, sự thay đổi điều kiện sống và hoạt động (học tập, giao tiếp…), sự chín muồi về tâm lý ở giai đoạn chuyển tiếp là những điều kiện giúp cho tâm lý của lứa tuổi thiếu niên hình thành và phát triển nhảy vọt về chất, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong tiến trình phát triển tâm lý cá nhân
2.2 Một số biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh trung học
2.2.1 Giáo dục đạo đức cho học sinh phải lấy việc phát huy ưu điểm là chính, trên cơ sở đó mà khắc phục khuyết điểm
Đặc điểm tâm lý của học sinh trung học là thích được khen, thích được thầy, bạn
bè, cha mẹ biết đến những mặt tốt, những ưu điểm, những thành tích của mình Nếu giáo dục đạo đức quá nhấn mạnh về khuyết điểm của học sinh, luôn nêu cái xấu, những cái chưa tốt trong đạo đức của các em thì sẽ đễ đẩy các em vào tình trạng tiêu cực, chán nản, thiếu tự tin, thiếu sức vươn lên Đừng bao giờ để bụng những lỗi lầm của học sinh, đừng vội nhìn thấy hiện tượng mà đánh giá học sinh của mình chưa tốt
mà hãy cố phát hiện những ưu điểm ẩn sâu trong mỗi em – đó là một trong những yếu
tố góp phần vào thành công trong việc giáo dục những học sinh cá biệt Có thể chính các em cũng không biết mình có những ưu điểm đó mà người thầy phải giúp học sinh của mình nhận ra, khích lệ các em phát triển Điều này sẽ giúp các em phát huy được điểm mạnh của mình, góp phần vào xây dựng tập thể vững mạnh mà còn hình thành ở các em phẩm chất tự tin, kiên định trước tập thể, khẳng định được khả năng của mình Với học sinh cá biệt, thường là các em học rất yếu vì hổng kiến thức, vì ham chơi hơn ham học, vì bị bạn bè xấu lôi kéo,…Trước khó khăn đó, phải chịu khó, kiên trì nhắc nhở, dỗ dành các em, phân tích chí tình chí lí, đưa ra mọi tình huống nếu các em không theo kịp bạn bè Thậm chí đôi lúc phải “khích” các em, chạm vào lòng tự trọng vốn có của tuổi mới lớn để các em thay đổi hành vi, thái độ theo chiều hướng tích cực Vậy đòi hỏi người thầy phải hết sức trân trọng những mặt tốt, những thành tích của học
Trang 9sinh dù chỉ là những thành tích nhỏ, dùng những gương tốt của học sinh trong trường
và những tấm gương người tốt việc tốt khác để giáo dục các em
2.2.2 Tôn trọng nhân cách học sinh, đồng thời đề ra yêu cầu ngày càng cao đối với học sinh
Muốn xây dựng nhân cách cho học sinh người thầy cần phải tôn trọng nhân cách các em Tôn trọng học sinh, thể hiện lòng tin đối với học sinh là một yếu tố tinh thần
có sức mạnh động viên học sinh không ngừng vươn lên rèn luyện hành vi đạo đức Khi các em mắc phải sai lầm không nên la mắng, nhục mạ trước mọi người đặc biệt trước tập thể lớp làm như thế các em sẽ bị tổn thương, tự ti, mặc cảm và làm cho khoảng cách giữa thầy và trò ngày một xa hơn và hiệu quả giáo dục sẽ không cao Trong thực
tế đã xảy ra những câu chuyện rất đau lòng xuất phát từ thầy không tôn trọng nhân cách của học sinh Do đó mỗi thầy cô giáo phải lấy đó làm bài học kinh nghiệm để đừng bao giờ phải xảy ra những điều đáng tiếc như thế, vì ở lứa tuổi các em rất dễ bị tổn thương nếu người thầy không khéo léo trong cư xử, trong lời nói Khi học sinh tiến
bộ về đạo đức cần kịp thời có yêu cầu cao hơn để thúc đẩy các em vươn lên cao hơn nữa Trong công tác giáo dục đòi hỏi người giáo viên phải yêu thương học sinh nhưng phải nghiêm với chúng, nếu chỉ thương mà không nghiêm học sinh sẽ nhờn và ngược lại thì các em sẽ sinh ra sợ sệt, rụt rè, không dám bộc lộ tâm tư tình cảm, do đó người thầy không thể uốn nắn tư tưởng, xây dựng tình cảm đúng đắn cho học sinh được
2.2.3 Phối hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh trung học và đặc điểm hoàn cảnh cá nhân học sinh
Ngày nay, với quan điểm dạy học hướng vào người học, thì việc phải hiểu đối tượng mà người thầy đang tác động vào học sinh, là điều vô cùng cần thiết, không chỉ cho công việc dạy học, mà cho cả công tác giáo dục Trong một vài năm gần đây, do tác động của nhiều yếu tố, vấn đề quan hệ thầy- trò không được tuân thủ Công tác giáo dục đạo đức cần phải chú ý đến đặc điểm tâm sinh lý của học sinh THPT là quá
độ, phức tạp và nhiều mâu thuẩn để từ đó hình thức, biện pháp thích hợp Cần phải chú ý đến cá tính, giới tính của các em Đối với từng em, học sinh nữ, học sinh nam cần có những phương pháp giáo dục thích hợp, không nên đối xử sư phạm đồng loạt với mọi học sinh Muốn vậy người thầy phải sâu sát học sinh, nắm chắc từng em, hiểu rõ cá tính để có những biện pháp giáo dục phù hợp Những đặc điểm tâm sinh lý đặc trưng ở lứa tuổi học sinh trung học cho thấy, lứa tuổi này, đúng như nhận định của nhiều nhà nghiên cứu trước đây, là lứa tuổi khó dạy, đặc biệt với học sinh nam Nhưng cũng như các khuyến cáo đã đưa ra, các em sẽ phát triển bình thường hay không trong tương lai phụ thuộc vào chính sự quan tâm và cách giáo dục của người lớn Vấn đề chỉ thực sự được giải quyết kết hợp từ nhiều phía: nhà trường, gia đình, xã hội Với tư cách là nơi giáo dục (theo nghĩa rộng) chính thống cho các em- nhà trường, mà cụ thể là các thầy
Trang 10cô giáo cần biết về sự phát triển của học sinh, vận dụng chúng trong giao tiếp, trong giải quyết các vấn đề liên quan đến các sản phẩm giáo dục của mình Có như vậy, quan hệ thầy – trò mới trở thành nền tảng vững chắc, để từ có những phương pháp giáo dục phù hợp Bên cạnh đó thì để công tác giáo dục đạo đức đạt kết quả cao thì người thầy phải quan tâm đến hoàn cảnh của mỗi em và từ đó sẽ kết hợp các lực lượng giáo dục khác trong nhà trường tạo điều kiện để các em có thể yên tâm mà học tập và rèn luyện tốt
2.2.4 Người thầy cần phải có nhân cách mẫu mực
Kết quả công tác giáo dục đạo đức học sinh trong trường trung học phụ thuộc rất lớn vào nhân cách của thầy cô giáo Lời dạy của thầy cô dù hay đến đâu, phương pháp
sư phạm dù khéo léo đến đâu cũng không thay thế được những ảnh hưởng trực tiếp của nhân cách người thầy với học sinh Lúc sinh thời Bác Hồ đã có lời dạy chúng ta về rèn luyện đạo đức cách mạng, đạo đức công dân: … Giáo viên phải chú ý cả tài, cả đức, tài là văn hóa chuyên môn, đức là chính trị Muốn cho học sinh có đức thì giáo viên phải có đức…Cho nên thầy giáo, cô giáo phải gương mẫu, nhất là đối với trẻ con
Và C.Mác cũng đã có quan niệm: “Bản thân nhà giáo dục cũng cần phải được giáo dục”
Trong mọi giai đoạn lịch sử, người thầy bao giờ cũng được xã hội tôn vinh và kính trọng Nghề giáo được coi là một trong những nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Nhiệm vụ thầy giáo rất vẻ vang, vì nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục…Không có giáo dục thì nói gì đến kinh
tế, văn hóa” Bác xem việc dạy học là một nghề đào luyện những thế hệ con người xây dựng xã hội Tuy sự cống hiến của thầy giáo là rất thầm lặng nhưng nếu trở thành một người thầy giáo tốt là điều vô cùng hữu ích và rất mực vẻ vang Vì thế, Người dạy: Người thầy giáo tốt là người vẻ vang nhất Dù tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh Ngoài ra, Lãnh tụ Hồ Chí Minh còn chỉ rõ, người làm thầy giáo phải luôn là tấm gương không ngừng học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức để làm tấm gương sáng cho học trò noi theo, để đáp ứng yêu cầu của thời đại mới trên mọi phương diện
2.2.5 Giáo dục theo nguyên tắc tập thể
Nguyên tắc này thể hiện ở cả 3 nội dung: Dìu dắt học sinh trong tập thể để giáo dục; giáo dục bằng sức mạnh tập thể; giáo dục học sinh tinh thần vì tập thể Trong một tập thể lớp, tập thể chi đoàn có tổ chức tốt, có sự đoàn kết nhất trí thì sức mạnh của dư luận tích cực sẽ góp phần rất lớn vào việc giáo dục đạo đức cho học sinh Những phẩm chất tốt đẹp như tinh thần tập thể, tính tổ chức kỷ luật, tình đồng chí và tình bạn, tinh thần hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau, tính khiêm tốn học hỏi mọi người bao giờ cũng do