Hình thái này xuất hiện trong thực tế khi một hàng hóa nào đó được trao đổi với nhiều hàng hóa khác nhau theo một cách thông thường, phổ biến.. Như vậy, tiền, về bản chất là một loại hàn
Trang 1Đầu tiên là hình thái giản đơn, ngẫu nhiên của giá trị Hình thái này xuất hiện khi
xã hội nguyên thủy bắt đầu tan rã, sản xuất chưa phát triển, việc trao đổi hàng hóa ban đầu chỉ mang tính đơn lẻ, ngẫu nhiên, người ta trao đổi trực tiếp hàng hóa có giá trị sử dụng này để đổi lấy hàng hóa có giá trị sử dụng khác, tỷ lệ trao đổi được hình thành ngẫu nhiên
Khi quan hệ trao đổi trở thành quá trình đều đặn, thường xuyên, thúc đẩy sản xuất hàng hóa ra đời và phát triển thì hình thái thứ hai là hình thái đầy đủ hay mở rộng của hàng hóa ra đời Hình thái này xuất hiện trong thực tế khi một hàng hóa nào đó được trao đổi với nhiều hàng hóa khác nhau theo một cách thông thường, phổ biến
Ở đây giá trị của hàng hóa được biểu hiện ở nhiều hàng hoá khác nhau đóng vai trò làm vật ngang giá Đồng thời tỷ lệ trao đổi không còn mang tính chất ngẫu nhiên nữa mà dần dần do lao động quy định Tuy nhiên, ở hình thái này giá trị của hàng hóa được biểu hiện còn chưa hoàn tất, thống nhất và vẫn trao đổi trực tiếp: hàng -hàng
Do đó, khi sản xuất và trao đổi hàng hóa phát triển hơn, đòi hỏi phải có vật ngang giá chung, hình thái thứ ba xuất hiện: Hình thái chung chung của giá trị Ở hình thái này, giá trị của mọi hàng hóa được biểu hiện ở thành vật ngang giá chung, sau
đó mới mang đổi lấy hàng hóa cần dùng Vật ngang giá chung trở thành môi giới Tuy nhiên, ở hình thái này, bất kỳ hàng hàng hóa nào cũng có thể trở thành vật ngang giá chung, miễn là nó được tách ra làm vật ngang giá chung
Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa phát triển hơn nữa, đặc biệt là khi mở rộng giữa các vùng đòi hỏi phải có một vật ngang giá chung thống nhất thì hình thái thứ tư ra đời: hình thái tiền Giá trị của tất cả các hàng hóa ở đây đều được thể hiện ở một hàng hóa đóng vai trò tiền tệ Lúc đầu có nhiều hàng hóa đóng vai trò tiền tệ nhưng dần dần được chuyển sang các kim loại quý như đồng, bạc và vàng
Như vậy, tiền, về bản chất là một loại hàng hóa đặc biệt, là kết quả của quá trình phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa, tiền xuất hiện là yếu tố ngang giá chung cho thế giới hàng hóa Tiền là hình thái biểu hiện giá trị của hàng hóa Tiền phản ánh lao động xã hội và mối quan hệ giữa những người sản xuất và trao đổi hàng hóa
Trang 23 Tiền có 5 chức năng:
Thước đo giá trị:
Tiền là thước đo giá trị, tức là nó dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của các hàng hoá khác Khi đó, giá trị của hàng hoá được biểu hiện bằng một lượng tiền nhất định gọi là giá cả hàng hoá Giá cả hàng hoá là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá Giá cả hàng hoá có thể lên xuống xung quanh giá trị nhưng tổng số giá cả luôn bằng giá trị
Phương tiện lưu thông:
Tiền làm môi giới trong trao đổi hàng hoá, tức là tiền đóng vai trò là một phương tiện lưu thông Khi ấy, trao đổi hàng hoá vận động theo công thức H – T – H’ Đây
là công thức lưu thông hàng hoá giản đơn Với chức năng này, tiền xuất hiện dưới các hình thức vàng thoi, bạc nén, tiền đúc và cuối cùng là tiền giấy Tiền giấy là ký hiệu giá trị do nhà nước phát hành buộc XH công nhận Tiền giấy không có giá trị thực (không kể đến giá trị của vật liệu giấy dùng làm tiền) Khi thực hiện chức năng này, tiền giúp quá trình mua bán diễn ra dễ dàng hơn nhưng nó cũng làm việc mua bán tách rời nhau cả về không gian lẫn thời gian nên nó bao hàm khả năng khủng hoảng
Phương tiện cất trữ:
Tiền đôi khi được rút khỏi lưu thông và cất giữ lại để khi cần thì đem ra mua hàng Chỉ có tiền vàng, tiền bạc, các của cải bằng vàng có giá trị thực mới thực hiện được chức năng lưu trữ Ngoài ra, tiền làm phương tiện cất trữ còn có tác dụng đặc biệt
là dự trữ tiền cho lưu thông
Phương tiện thanh toán:
Trong trường hợp tiền được dùng để trả nợ, trả tiền mua chịu hàng hóa… thì tiền làm phương tiện thanh toán Thực hiện chức năng thanh toán, có nhiều hình thức tiền khác nhau được chấp nhận Chức năng phương tiện thanh toán của tiền gắn liền với chế độ tín dụng thương mại, tức là mua bán thông qua chế độ tín dụng Ngày nay việc thanh toán không dùng tiền mặt phát triển mạnh mẽ Người ta có thể
sử dụng tiền ghi sổ, hoặc tiền trong tài khoản ngân hàng, tiền điện tử, bitcoin…
Trang 3 Tiền tệ thế giới:
Khi trao đổi hàng hóa mở rộng ra ngoài biên giới quốc gia, tiền làm chức năng tiền
tệ thế giới Lúc này, tiền được dùng làm phương tiện mua bán, thanh toán quốc tế giữa các nước với nhau Để thực hiện chức năng này, tiền phải có đủ giá trị, phải là tiền vàng hoặc những đồng tiền được công nhận là phương tiện thanh toán quốc tế
4 Phân biệt tiền với tư bản:
Sự khác nhau của tiền và tư bản trong lưu thông hàng hóa thể hiện: tiền với tư cách
là tiền trong lưu thông hàng hóa giản đơn vận động theo công thức H-T-H; hoặc: tiền với tính cách là tư bản vận động theo công thức T-H-T’
Điểm giống nhau của tiền và tư bản là, đều cấu thành bởi hai nhân tố hàng và tiền,
đều chứa đựng hai hành vi đối lập nhau là mua và bán, đều biểu hiện quan hệ kinh
tế giữa người mua và người bán
Điểm khác nhau thể hiện ở:
Thứ nhất, lưu thông hàng hóa giản đơn bắt đầu bằng hành vi bán (H-T) và kết thúc bằng hành vi mua (T-H) Điểm xuất phát và kết thúc của quá trình đều là hàng hóa, tiền chỉ đóng vai trò trung gian Ngược lại, lưu thông của tiền với tư cách là tư bản bắt đầu bằng hành vi mua (T-H) và kết thúc bằng hành vi bán (H-T’), tiền vừa là điểm xuất phát vừa là điểm kết thúc của quá trình, còn hàng hóa đóng vai trò trung gian
Thứ hai, mục đích của lưu thông hàng hóa giản đơn là giá trị sử dụng nên các hàng hóa trao đổi với nhau phải có giá trị sử dụng khác nhau Còn mục đích của lưu thông tư bản là giá trị và giá trị lớn hơn nên số tiền thu về phải lớn hơn số tiền ứng ra Vậy với tính cách là tư bản, công thức vận động tiền là T-H-T’, trong đó: T’=T+t, t là số tiền trội hơn so với số tiền ứng ra, số tiền trội hơn đó gọi là giá trị thặng dư (m) T-H-T’ (T’=T+m) đây là công thức chung của tư bản (vì mỗi tư bản cho dù là mang hình thái cụ thể nào cũng đều là mang lại giá trị thặng dư) Thứ ba, trong lưu thông hàng hóa giản đơn, lưu thông chỉ là phương tiện để đạt mục đích tiêu dùng nằm ngoài lưu thông, nên sự vận động của nó có giới hạn
Nó sẽ chấm dứt ở giai đoạn thứ hai, khi T chuyển thành H Còn mục đích của lưu thông tư bản là sự lớn lên không ngừng của giá trị, là giá trị thặng dư, nên sự vận động của nó không có giới hạn
Như vậy, tiền và tư bản là khác nhau cơ bản ở chỗ: tiền chỉ quan hệ giữa người mua người bán trong việc trao đổi hàng hóa theo quy luật giá trị (ngang giá), quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh; tư bản là tiền sinh ra tiền chỉ quan hệ bóc lột lao động làm thuê phần giá trị sức lao động dôi ra ngoài giá trị lao động xã hội cần
Trang 4thiết, chỉ quan hệ người với người trong quá trình sản xuất, sức lao động trở thành hàng hóa, quan hệ giai cấp, đấu tranh giai cấp, đấu tranh chính trị…
Câu 2: Phân biệt giá trị hàng hóa và giá cả hàng hóa Phân tích nội dung (yêu cầu) và tác dụng của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hóa Thực tiễn nhận thức và vận dụng quy luật giá trị trong sản xuất kinh doanh và quản lý kinh tế ở nước ta như thế nào?
a) Phân biệt giá trị hàng hóa và giá cả hàng hóa:
trong hàng hóa, nó biểu hiện quan hệ của những người sản xuất và người trao đổi hàng hóa
hàng hóa
đó là số tiền phải trả cho một hàng hoá, một dịch vụ, hay một tài sản nào đó
thì giá cả phản ánh và phù hợp với giá trị của hàng hoá đó,
làm ra nó
Giá trị hàng hóa:
Là một thuộc tính của hàng hoá, đó chính là lao động xã hội của người sản xuất kết tinh trong hàng hóa
Trang 5 Giá trị của hàng hóa là giá trị lượng lao động tiêu hao để sản xuất ra hàng hoá đó và tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết
Giá trị của hàng hoá là giá trị - Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian lao động xã hội trung bình để sản xuất ra hàng hoá Thời gian lao động
xã hội cần thiết có thể thay đổi
Có ba nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới lượng giá trị của hàng hoá: năng suất lao động, cường độ lao động và mức độ phức tạp của lao động
Giá cả hàng hóa:
Giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị trao đổi của hàng hóa Về nghĩa rộng
đó là số tiền phải trả cho một hàng hóa, một dịch vụ, hay một tài sản nào đó
GCHH nói chung là đại lượng thay đổi xoay quanh GT
Khi cung và cầu của 1 hay 1 loại hàng hóa về cơ bản ăn khớp với nhau thì giá cả phản ánh và phù hợp với GT của HH đó
GC sẽ cao hơn GT nếu số lượng cung thấp hơn cầu
GC sẽ thấp hơn GT nếu số lượng cung cao hơn cầu
GC của 1 mặt hàng phụ thuộc vào
GT của bản thân hàng hóa đó - tức là số thời gian và công sức lao động làm ra nó
GT của đồng tiền
Quan hệ cung và cầu về hàng hóa
b) Quy luật giá trị:
- Khái niệm: Là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và trao đổi hàng hóa, ở đâu
có sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó có sự tồn tại và phát huy tác dụng của quy luật giá trị
- Nội dung:
QLGT là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất hàng hóa vì nó quy định bản chất của sản xuất hàng hóa, là cơ sở của tất cả các quy luật khác của sản xuất hàng hóa Nội dung của quy luật giá trị là:
Sản xuất và trao đổi hàng hóa dựa trên cơ sở giá trị của nó, tức là dựa trên hao phí lao động xã hội cần thiết
Trong sản xuất, tác động của quy luật giá trị buộc người sản xuất phải làm sao cho mức hao phí lao động cá biệt của mình phù hợp với mức hao phí lao
Trang 6động xã hội cần thiết có như vậy họ mới có thể tồn tại được; còn trong trao đổi, hay lưu thông, phải thực hiện theo nguyên tắc ngang giá: Hai hàng hóa được trao đổi với nhau khi cùng kết tinh một lượng lao động như nhau hoặc trao đổi, mua bán hàng hoá phải thực hiện với giá cả bằng giá trị
Cơ chế tác động của quy luật giá trị thể hiện cả trong trường hợp giá cả bằng giá trị lẫn trường hợp giá cả lên xuống xung quanh giá trị ở đây, giá trị như cái trục của giá cả
- Tác động của quy luật giá trị:
động của giá cả, người sản xuất sẽ biết được tình hình cung - cầu về hàng hóa đó và quyết định phương án sản xuất Nếu giá cả hàng hóa bằng hoặc lớn han giá trị thì việc sản xuất nên được tiếp tục, mở rộng
giá thành sản phẩm: Trên thị trường, hàng hóa được trao đổi theo giá trị xã hội Trong lưu thông, để bán được nhiều hàng hóa, trước hết, người sản xuất cần tìm cách làm cho giá trị cá biệt hàng hóa của mình nhỏ hơn hoặc bằng giá trị xã hội, sau đó, cần tăng chất lượng phục vụ, quảng cáo, tổ chức tốt khâu bán hàng, làm cho quá trình lưu thông được hiệu quả cao nhất, nhanh chóng, thuận tiện với chi phí thấp nhất
nhiên: Trong quá trình cạnh tranh, những người sản xuất nhạy bén với thị trường, sản xuất với hao phí cá biệt thấp hơn mức hao phí chung của xã hội
sẽ trở nên giàu có Những người hạn chế về vốn, trình độ công nghệ lạc hậu, thì giá trị cá biệt sẽ cao hơn giá trị xã hội, dễ thua lỗ, phá sản,
- Tác dụng: Loại bỏ cái lạc hậu, lỗi thời; kích thích sự tiến bộ, làm lực lượng sản
xuất phát triển mạnh mẽ; lựa chọn, đảm bảo sự bình đẳng đối với người sản xuất Tác động diễn ra trên thị trường, có ảnh hưởng tích cực lẫn tiêu cực
c) Thực tiễn:
Thứ nhất: Đối với việc hạch toán kinh tế của các doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường ở nước ta, mỗi doanh nghiệp là người sản xuất hàng hóa cạnh tranh gay gắt với nhau, để đứng vững được trên thị trường, chiến thắng đối thủ cạnh tranh thì họ phải tính đến hiệu quả sản xuất kinh doanh thông qua các hình thức giá trị, giá cả, lợi nhuận, chi phí… Để có lợi nhuận, các doanh nghiệp
Trang 7phải tìm cách thấp chi phí sản xuất bằng cách hợp lý hóa sản xuất, tiết kiệm chi phí vật chất, tăng năng suất lao động… Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải nắm vững và vận dụng tốt quy luật giá trị trong hoạch toán kinh tế Thời gian qua
ta thấy có rất nhiều doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, điều đó cho thấy các doanh nghiệp đã vận dụng khá tốt quy luật giá trị vào hoạch toán kinh tế
Đối với các doanh nghiệp Nhà nước, để tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh, Nhà nước ta đã quyết định cổ phần hóa phần lớn các doanh nghiệp Nhà nước, và Nhà nước chỉ giữ lại một số ngành có tính chất an ninh quốc gia Các doanh nghiệp rồi
sẽ dần chuyển thành các công ty cổ phần với nhiều chủ sở hữu và mỗi cổ đông sẽ
vì lợi ích của mình để đầu tư vào sản xuất, hoạch toán kinh tế sao cho lợi nhuận càng nhiều càng tốt
Thứ hai: Đối với việc hình thành giá cả sản xuất
Tuy nhiên, trên tực tế giá cả hàng hóa chịu tác động của nhiều yếu tố như cung – cầu, cạnh tranh, sức mua đồng tiền, giá các mặt hàng liên quan…
– Vận dụng quy luật giá trị vào lĩnh vực lưu thông hàng hóa
Trong lĩnh vực lưu thông, quy luật giá trị yêu cầu trao đổi phải theo nguyên tắc ngang giá, tức giá cả bằng giá trị Dưới tác động quy luật giá trị, hàng hóa trong nền kinh tế sẽ được đưa từ nơi có giá cả thấp đến nơi có giá cả cao, từ nơi cung nhiều đến nơi cầu nhiều Thông qua sự biến động về giá cả trên thị trường, luồng hàng hóa sẽ lưu thông từ đó tạo sự cân đối về nguồn hàng giữa các vùng miền Đối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam, thông qua hệ thống giá cả quy luật giá trị có ảnh hưởng nhất định đến việc lưu thông của một hàng hóa nào đó Giá mua cao sẽ khơi thêm nguồn hàng, giá bán hạ sẽ thúc đẩy mạnh việc tiêu thụ và ngược lại Do đó mà Nhà nước ta đã vận dụng vào việc định giá cả sát giá trị, xoay quanh giá trị để kích thích cải tiến kỹ thuật, tăng cường quản lý Không những thế Nhà nước ta còn chủ động tách giá cả khỏi giá trị với từng loại hàng hóa trong từng thời kỳ nhất định, lợi dụng sự chênh lệch giữa giá cả
và giá trị để điều tiết một phần sản xuất và lưu thông, điều chỉnh cung cầu và phân phối Giá cả được coi là một công cụ kinh tế quan trọng để kế hoạch hóa sự tiêu dùng của xã hội
Câu 3: Trình bày quá trình sản xuất giá trị thặng dư trong doanh nghiệp tư bản? Tại sao nói sản xuất ngày càng nhiều giá trị thặng dư cho nhà tư bản bằng cách không ngừng mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật là quy luật kinh tế
Trang 8cơ bản và tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản? Ý nghĩa của việc nghiên cứu lý luận này?
a) Quá trình sản xuất thặng dư trong doanh nghiệp tư bản:
Để làm rõ nguồn gốc và bản chất của giá trị thặng dư, em lựa chọn doanh nghiệp Công ty cổ phần sữa Việt Nam (Vinamilk)
Khi đó, sản xuất giá trị thặng dư được thực hiện dưới hình thái sản xuất cụ thể là sản xuất sữa và trong quá trình sản xuất này, nhà tư bản thuần túy chỉ đóng vai trò
là chủ sở hữu và chỉ có người công nhân là người lao động trực tiếp
Để sản xuất ra 1 hộp sữa chua Vinamilk 100ml cần 100ml sữa tươi tiệt trùng Giả sử, để tiến hành sản xuất sữa chua, nhà tư bản phải ứng ra số tiền như sau:
- 20.000đ để mua 100ml sữa tươi từ trang trại,
- 4.000đ hao mòn máy móc để lên men sữa thành sữa chua,
- 2.000đ chi phí bao bì và đóng hộp,
- 200.000đ mua hàng hoá sức lao động để sử dụng trong 1 ngày làm việc 8 giờ và điều này được người công nhân thỏa thuận chấp nhận
Như vậy, doanh nghiệp ứng ra tổng là 226.000đ
Trong quá trình sản xuất sữa chua, bằng lao động cụ thể, người công nhân lên men
và biến sữa tươi thành sữa chua Giá trị của sữa tươi và hao mòn máy móc được chuyển vào giá trị của hộp sữa chua Bằng lao động trừu tượng, người công nhân tạo ra giá trị mới, giả định, trong 4 giờ lao động công nhân đã chuyển toàn bộ 100ml sữa tươi thành sữa chua Giá trị sữa chua gồm:
Giá trị 100ml sữa tươi chuyển vào: 20.000đ Hao mòn máy móc: 4.000đ
Bao bì, đóng hộp: 2.000đ Giá trị mới bằng giá trị sức lao động: 200.000đ
Tổng cộng: 226.000đ
Nhà tư bản ứng ra 226.000đ, giả định sữa chua được bán hết, thu về 226.000đ Nếu quá trình lao động dừng lại tại điểm này thì không có giá trị thặng dư, tiền ứng ra chưa trở thành tư bản
Để có giá trị thặng dư, thời gian lao động phải vượt quá điểm bù lại giá trị sức lao động Khi đó công nhân phải tiếp tục làm việc trong 4 giờ nữa Trong 4 giờ này, doanh nghiệp chỉ phải bỏ thêm 20.000đ để mua 100ml sữa tươi, 2.000đ phí bao bì
và 4.000đ hao mòn máy móc
Quá trình lao động 4 giờ sau diễn ra như quá trình đầu Số sữa chua được tạo ra trong 4 giờ lao động sau cũng có giá trị 226.000đ Con số này bao gồm:
Trang 9Giá trị của sữa tươi chuyển vào: 20.000đ Hao mòn máy móc: 4.000đ
Giá bao bì: 2.000đ Giá trị mới tạo thêm: 200.000đ
Tổng cộng: 226.000đ
Sau khi sữa chua được bán hết, giá trị thu về sau 8h lao động của công nhân là: 226.000đ x 2 = 452.000đ
Tổng cộng, doanh nghiệp Vinamilk ứng ra 40.000đ + 8.000đ + 4.000đ + 200.000đ
= 252.000đ, trong khi đó số sữa chua sản xuất ra có giá trị 452.000đ
Do đó, doanh nghiệp Vinamilk thu được lượng giá trị thặng dư là: 452.000đ -252.000đ = 200.000đ
b) Tại sao nói sản xuất ngày càng nhiều giá trị thặng dư cho nhà tư bản bằng cách không ngừng mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật là quy luật kinh tế cơ bản và tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản?
Mỗi phương thức sản xuất bao giờ cũng tồn tại một quy luật kinh tế phản ánh mặt bản chất nhất phương thức sản xuất đó, quy luật kinh tế đó được gọi là quy luật kinh tế cơ bản
Sản xuất giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản, thực chất của quy luật này là sản xuất nhiều và ngày càng nhiều giá trị thặng dư bằng cách tăng cường bóc lột công nhân làm thuê
Như C.Mác đã chỉ rõ, sản xuất giá trị thặng dư là quy luật tuyệt đối của chủ nghĩa
tư bản Giá trị thặng dư phản ánh đầy đủ nhất bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản, phản ánh mối quan hệ giai cấp tư sản bóc lột giai cấp công nhân làm thuê Quy luật giá trị thặng dư vạch rõ mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa và phương tiện để đạt mục đích đó:
- Mục đích của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là giá trị thặng dư càng nhiều càng tốt
- Phương tiện và thủ đoạn để có nhiều giá trị thặng dư là tăng cường các phương tiện kỹ thuật và quản lý (thể hiện ở hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư )
So với các phương thức bóc lột của các xã hội trước chủ nghĩa tư bản thì phương thức bóc lột giá trị thặng dư có điểm khác biệt:
- Khát vọng bóc lột là không có giới hạn
Trang 10- Phương pháp bóc lột rất tinh vi hiện đại, dựa trên cơ sở sự phụ thuộc về kinh tế
và biểu hiện ra bên ngoài dưới hình thức một quan hệ mua bán sòng phẳng giữa nhà tư bản và công nhân làm thuê
- Tác động của quy luật giá trị thặng dư: Sản xuất nhiều giá trị thặng dư là mục đích, là động lực thúc đẩy nền sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển và bị thay thế bởi một phương thức sản xuất tiến bộ hơn
Câu 4: Phân biệt tư bản bất biến và tư bản khả biến Máy móc hiện đại, dây chuyền tự động hóa và người máy (robot) trong nhiều cơ sở kinh tế hiện nay
có tạo ra giá trị thặng dư không? Vì sao?
- Tư bản bất biến: bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái tư liệu sản xuất mà giá trị được lao động cụ thể của công nhân làm thuê bảo tồn và chuyển nguyên vẹn vào giá trị sản phẩm, tức là giá trị không biến đổi trong quá trình sản xuất được C.Mác gọi là tư bản bất biến (ký hiệu là c)
- Tư bản khả biến: bộ phận tư bản tồn tại dưới hình thái sức lao động không tái hiện ra, nhưng thông qua lao động trừu tượng của công nhân mà tăng lên, tức biến đổi về số lượng trong quá trình sản xuất, được C.Mác gọi là tư bản khả biến (ký hiệu là v)
- Việc phân chia tư bản ứng trước thành tư bản bất biến (c) và tư bản khả biến (v)
là dựa vào vai trò của từng bộ phận tư bản trong quá trình sản xuất ra giá trị thặng
dư Trong quá trình sản xuất, tư bản bất biến chỉ là điều kiện không thể thiếu được
để sản xuất ra để sinh ra giá trị thặng dư còn tư bản khả biến mới là nguồn gốc tạo
ra giá trị thặng dư Tư bản khả biến có vai trò quyết định trong quá trình đó vì nó chính là bộ phận tư bản lớn lên
- Máy móc dù hiện đại, dù được tự động hóa thì vai trò của nó, C.Mác so sánh, giống như vai trò của chiếc bình thủy tinh trong thí nghiệm phản ứng hóa học Máy móc, nguyên nhiên vật liệu là điều kiện để cho quá trình làm tăng giá trị được diễn
ra Không có máy móc, không có quá trình tổ chức kinh doanh thì đương nhiên không có quá trình sản xuất giá trị thặng dư
- Ngày nay máy móc được tự động hóa như người máy, thì người máy cũng chỉ có vai trò là máy móc, chừng nào việc sử dụng sức lao động còn có lợi hơn cho người mua hàng hóa sức lao động so với sử dụng người máy, thì chừng đó nhà tư bản còn
sử dụng sức lao động sống của người bán sức lao động làm thuê Việc phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến vạch rõ nguồn gốc của giá trị thặng dư
là do lao động làm thuê của công nhân tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không Giai