BÀI TIỂU LUẬN HỌC PHẦN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỀ TÀI: ĐẤU TRANH QUÂN SỰ VÀ ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP VÀ CAN THIỆP MỸ SVTH: Võ Ngọc Bảo Hân MSSV: 215
Trang 1BÀI TIỂU LUẬN HỌC PHẦN: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
ĐỀ TÀI: ĐẤU TRANH QUÂN SỰ VÀ ĐẤU TRANH NGOẠI GIAO TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG
PHÁP VÀ CAN THIỆP MỸ
SVTH: Võ Ngọc Bảo Hân
MSSV: 21519950016
GVHD: ThS Lê Thị Thanh Bình
Tp Hồ Chí Minh - Ngày 21 tháng 11 năm 2022
Trang 2quân sự và sự kết hợp giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao rằng:
“Phải trông ở thực lực Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng Chiêng có to thì tiếng mới lớn” Bởi vậy, vận dụng vào thực tiễn đất nước ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954), chúng ta phải đương đầu với một thế lực lớn mạnh hơn ta rất nhiều nên Đảng và Chính phủ ta chủ trương tiến hành một cuộc kháng chiến có
sự kết hợp giữa đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao
Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc, Lý Thường Kiệt là người đầu tiên đưa ra vấn đề kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao Quan điểm chỉ đạo chiến tranh đó đã vượt ra ngoài khuôn khổ của cuộc đấu tranh vũ trang thuần túy, được thể hiện rõ nét khi quân ta đang đại thắng, để giảm bớt tổn thất cho hai bên, Ông chủ động thương lượng với quân Tống trên thế thắng, buộc chúng phải rút quân (năm 1077), trả lại toàn bộ đất đai cho Đại Việt
Đến thời đại Hồ Chí Minh, nghệ thuật “đánh” và “đàm” đã phát triển, mở rộng lên tầm quốc gia, dân tộc và quốc tế Trong kháng chiến chống Pháp, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, quân Pháp bị thất bại, Chính phủ Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và Đông Dương Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nghệ thuật “đánh” và “đàm” được phát triển lên đỉnh cao, trở thành hoạt động song hành - “vừa đánh, vừa đàm”;
“đánh” tạo thế cho “đàm”, “đàm” khích lệ để tiếp tục “đánh” Nghệ thuật đó được tiến hành một cách chủ động trong suốt cuộc chiến tranh và kết hợp rất chặt chẽ, nhịp nhàng, khôn khéo, đồng thời cũng vô cùng quyết liệt; tạo sức mạnh tổng hợp to lớn đánh bại đội quân “lắm súng nhiều tiền” Mỹ cùng đồng minh của chúng trên chiến trường và tại bàn đàm phán
“Vừa đánh, vừa đàm” là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của Đảng ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Đó là nghệ thuật kết hợp giữa đấu tranh quân sự với đấu tranh ngoại giao, tạo sức mạnh tổng hợp để chiến thắng kẻ thù xâm lược trên cả chiến trường và tại bàn đàm phán
Trang 3NỘI DUNG
1 Sự kết hợp đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao trong cuộc kháng chiến
chống Pháp và can thiệp Mỹ 1.1 Bối cảnh lịch sử
1.1.1 Tình hình nước ta sau cách mạng tháng Tám năm 1945
Một số khó khăn
Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 đến 1954 đứng trước muôn vàn khó khăn Sau
CM tháng Tám tình hình VN chính là – ngàn cân treo sợi tóc Tại miền Bắc 20 vạn quân Tưởng kéo vào Tại miền Nam hơn 1 vạn quân Anh kéo vào, quân Pháp quay trở lại nước ta Trong nước phản động ngóc đầu dậy cấu kết với Pháp Trong khi đó chính quyền của ta còn non trẻ, lực lượng vũ trang yếu Nền kinh tế còn lạc hậu, thiên tai liên tiếp diễn ra, lạng phát liên tiếp Hơn 90% dân số mù chữ, ngân hàng Đông Dương trống rỗng
Thuận lợi cơ bản
Chính quyền đã thuộc về tay nhân dân Cách mạng nước ta có sự lãnh đạo của Đảng cùng lãnh tụ Hồ Chí Minh với kinh nghiệm dày dạn CNXH trên thế giới lớn mạnh, phong trào giải phóng dâng cao và phát triển Nhân dân phấn khởi và
có niềm tin vào cách mạng có ý chí sục sôi chiến đấu
1.1.2 Bước đầu xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng
Chính trị – quân sự
Ngày 6/1/1946, cả nước cả nước tiến hành Tổng tuyển cử bầu Quốc hội (Quốc hội khóa 1) Ngày 2/3/1946, Quốc hội họp phiên đầu tiên Ngày 9/11/1946, thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Ở các địa phương thuộc Bắc bộ và Trung bộ tiến hành bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp Tháng 5/1946, Quân đội quốc gia Việt Nam ra đời Lực lượng vũ trang được củng cố, phát triển
Kinh tế – tài chính
Để giải quyết nạn đói Đảng đã đề ra biện pháp trước mắt như quyên góp, điều hòa thóc gạo, nghiêm trị những kẻ đầu cơ Cùng các biện pháp lâu dài như “tăng
Trang 4gia sản xuất”, “tấc đất tấc vàng”, giảm thuế đất 20%, giảm tô 25%, tạm cấp ruộng đất bỏ hoang cho nhân dân thiếu ruộng Chính nhờ những biện pháp trên mà nạn đói được đẩy lùi
Để giải quyết những khó khăn về tài chính Đảng ta đã đề ra các biện pháp trước mắt như kêu gọi nhân dân quyên góp xây dựng “quỹ độc lập”, phát động “tuần lễ vàng” Nhà nước cũng tiến hành các biện pháp lâu dài như phát hành tiền Việt Nam
Văn hóa – giáo dục
Để giải quyết nạn dốt Ngày 8/9/1945, Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh lập Nha Bình dân học vụ, kêu gọi nhân dân cả nước tham gia phong trào xóa nạn mù chữ Cuối
1946, cả nước có 76 ngàn lớp học, xóa mù chữ cho 2,5 triệu người
1.1.3 Cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền cách mạng
Kháng chiến chống thực dân Pháp trở lại xâm lược ở Nam Bộ
Đêm 22 rạng 23/9/1945, Pháp mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam lần thứ hai bằng việc đánh úp trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ Quân dân Sài Gòn – Chợ lớn cùng nhân dân Nam Bộ nhất tề nổi dậy chống Pháp Nhân dân cả nước quyên góp ủng
hộ đồng bào Nam Bộ kháng chiến Những đoàn quân “Nam tiến” vào Nam chiến đấu
Đấu tranh với quân Trung Hoa Dân quốc và bọn phản động cách mạng ở Miền
B ắc
Thực dân Pháp trở lại xâm lược ở miền Nam, quân Trung Hoa Dân quốc ở miền Bắc uy hiếp Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh Trước tình hình đó CT HCM chủ trương hoàn hoãn tạm thời với quân Tưởng để đánh Pháp
Tháng 2 năm 1946 Pháp ký với THDQ hiệp ước Hoa – Pháp buộc nhân dân ra đứng trước 2 sự lựa chọn Đó là: Hoặc cầm súng chiến đấu không cho chúng đổ
bộ lên miền Bắc, hoặc hòa hoãn nhân nhượng Pháp, để tránh đối phó cùng lúc với nhiều kẻ thù Và chúng ta đã chọn phương án Hòa để tiến Chiều 6/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam DCCH ký với G.Xanhtơni bản Hiệp định sơ bộ Với việc kí Hiệp định sơ bộ, Pháp phải thừa nhận Việt Nam là một quốc gia tự do
Trang 51.1.4 Kháng chiến chống thực dân Pháp từ năm 1946 đến 1954
Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 đến 1954 qua cuộc kháng chiến chống Pháp
từ năm 1946 đến 1950
Kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ do Pháp bội ước và tiến công nước ta Cuộc kháng chiến tại các đô thị và việc chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài với thực dân Pháp Chiến thắng Việt Bắc Thu – Đông năm 1947 và việc đẩy mạnh kháng chiến chống toàn dân, toàn diện Hoàn cảnh lịch sử mới và chiến dịch biên giới Thu – Đông năm 1950
Bước phát triển mới của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp từ năm 1951 đến 1953
Thực dân Pháp đẩy mạnh chiến tranh xâm lược Đông Dương Đại hội Đại biểu lần thứ 2 của Đảng diễn ra vào tháng 2 năm 1951 Hậu phương kháng chiến phát triển mọi mặt Những chiến dịch tiến công giữ vững quyền chủ động trên chiến trường
Bao gồm các chiến dịch: Các chiến dịch ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ từ 1950 đến 1951; Chiến dịch Hòa Bình Đông – Xuân từ 1951 đến 1952 Chiến dịch Tây Bắc Thu – Đông năm 1952; Chiến dịch Thượng Lào Xuân – Hè năm 1953
Cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp kết thúc từ năm 1953 đến 1954
Âm mưu mới của Pháp – Mĩ ở Đông Dương với kế hoạch Nava Cuộc tiến công chiến lược Đông – Xuân từ năm 1953 đến 1954 với các chiến dịch: Cuộc tiến công chiến lược Đông – Xuân 1953 đến 1954; Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954 Đây cũng được coi là chiến dịch nổi bật nhất trong Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 đến 1954
Hiệp định Giơnevơ năm 1954 về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp năm 1945 đến 1954 Lịch sử Việt Nam giai đoạn 1945 đến 1954 cũng kết thúc tại đây để chuẩn bị cho thời kỳ 1954 – 1975
1.2 Kết hợp đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao trong kháng chiến
Qua 8 năm kể từ ngày nổ súng xâm lược lại nước ta đến mùa hè năm 1953, thực dân Pháp đã tiêu phí 2130 tỷ France và mất 30 vạn binh lính, sĩ quan, các kế hoạch chiến tranh từ D’Argenlieu, Leclerec đến Revers và De Lattre de Tassigni
đều thay nhau phá sản Nhân dân Pháp ngày càng chống đối gay gắt “cuộc chiến
Trang 6tranh b ẩn thỉu” ở Đông Dương Chính giới Pháp ngày càng lục đục, mâu thuẫn
do hậu quả của cuộc chiến tranh hao người tốn của mang lại
Trong khi đó nhân dân ta ngày càng giành được nhiều thắng lợi trên tất cả các mặt trận: quân sự, chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, xã hội và đang tiến lên
để giành thắng lợi hoàn toàn Thế và lực của Việt Nam đã có đủ khả năng để kết thúc chiến tranh khi có điều kiện thuận lợi
Càng kéo dài chiến tranh, thực dân Pháp càng tổn thất nặng nề Chiến tranh trở thành một gánh nặng về kinh tế và tâm lý đối với nước Pháp Pháp phải xin viện trợ Mỹ và do đó ngày càng lệ thuộc vào Mỹ
Chính phủ Lanien nghĩ đến một giải pháp chính trị thông qua thương lượng Trong khi đó, chính sách của Mỹ là lái phía Pháp tránh xa khỏi bàn hội nghị trong khi chưa giành được những thắng lợi quan trọng trên chiến trường Ý đồ thương lượng trên thế mạnh đã dẫn tới việc cả hai chính phủ Pháp, Mỹ đồng tình với kế hoạch Navarre Ngày 19/5/1953, Navarre đến Sài Gòn và ngày hôm sau ra
Hà Nội Đến cuối tháng 6/1953 thì Navarre hoàn thành việc xây dựng kế hoạch của mình Hơn một tháng ở Đông Dương nắm bắt tình hình, Navarre đã có được
“m ột bản tổng kết ảm đạm” rằng so với đối phương, lực lượng quân đội Pháp
đang ở thế bất lợi, 9 phần 10 lực lượng bị giam chân vào nhiệm vụ chiếm đóng, khối chủ lực tác chiến không đủ sức đương đầu với khối chủ lực của Việt Minh
Trong Đông Xuân 1953 – 1954 kế hoạch Navarre hoàn toàn bị đảo lộn do những cuộc tiến công chủ động và kiên quyết của chủ lực ta trên những hướng chiến lược quan trọng mà quân Pháp không thể bỏ
Trong biển lửa của cuộc chiến tranh nhân dân Việt Nam, khắp nơi quân đội Pháp lâm vào tình trạng phân tán chiếm đóng “bất động”, tinh thần sa sút, phải thực hiện một sự bố trí hoàn toàn phòng ngự và cần phải tăng viện ngay Nhưng khả năng tăng viện lúc đó của Pháp rất hạn chế Ngày 7/5/1954, quân Pháp đã mất Điện Biên Phủ - quả đấm tấn công Nhiều tướng Pháp cho rằng Pháp không thể thắng, Việt Minh không thể thua
Thất bại ở Điện Biên Phủ làm sụp đổ ý chí thực dân và làm tiêu tan hy vọng giành thắng lợi bằng quân sự để kết thúc cuộc chiến tranh của thực dân Pháp Sau khi chính phủ Lanien sụp đổ, chính phủ Mendet France lên thay (tháng 6/1954) chủ trương giải quyết cuộc chiến tranh bằng thương lượng Mendet France hứa với Quốc hội và nhân dân Pháp sẽ lập lại hòa bình ở Đông Dương trong vòng một tháng Thế là ý chí xâm lược của thực dân Pháp đã bị đánh bại Thái độ của giới cầm quyền Pháp buộc phải thay đổi, họ phải tới đàm phán để kết thúc chiến tranh
Trang 7Cơ sở của đấu tranh ngoại giao là thắng lợi quân sự Chúng ta sẽ không thể giành được thắng lợi trên bàn đàm phán nếu không có thắng lợi trên chiến trường Cuối năm 1946, khi khả năng hòa hoãn không còn nữa, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí
Minh phát động cuộc kháng chiến toàn quốc với niềm tin “Địch chiếm trời, địch
chiếm đất, nhưng chúng không sao chiếm được lòng nòng nàn yêu nước của nhân dân ta” Cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam từng bước thắng lợi, nhất là từ Thu Đông 1950 Thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân
1953 – 1954 mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ đã tạo lợi thế cho Việt Nam trên bàn đàm phán
Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính phủ ta trước sau như một là
nỗ lực vãn hồi hòa bình Ngày 26/11/1953, trong bài trả lời điện phỏng vấn báo Expressen, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ nguyên nhân và tình hình cuộc chiến tranh ở Việt Nam, tuyên bố lập trường của chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa
là sẵn sàng đàm phán với chính phủ Pháp để kết thúc chiến tranh trên cơ sở
Ngày 26/4/1954, Hội nghị Genève bắt đầu họp về vấn đề Triều Tiên, nhưng không đi đến một giải pháp nào Thời gian hội nghị bàn về vấn đề Triều Tiên là lúc quân đội viễn chinh Pháp ở Điện Biên Phủ đang nguy kịch, sau khi các cứ điểm Him Lam, Độc Lập bị tiêu diệt, quân Pháp ở Bản Kéo buộc phải đầu hàng Sáng ngày 8/5/1954, Thủ tướng Pháp Lanien công bố trước Quốc hội sự thất thủ của quân đội Pháp ở Điện Biên Phủ Buổi chiều cùng ngày, Tổng thống Mỹ Aixenhao họp Hội đồng An ninh quốc gia để thông báo kết cục bi thảm này Ngày 8/5/1954, vấn đề chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương được đưa ra thảo luận Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa do Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn bước vào Hội nghị với tư thế người chiến thắng
Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là một bên chủ yếu của chiến tranh, đã được mời đến dự Hội nghị Genève để bàn về chính công việc của mình, chứ không phải là tham gia một cách chủ động trong cuộc đàm phán song phương với đối thủ như tình hình năm 1946 Trong tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Genève nêu rõ: Pháp cùng các nước lớn khác công nhận các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, điều mà 9 năm trước, tại hiệp định Sơ Bộ (ngày 6/3/1946), Pháp không chịu công nhận Cuộc đàm phán lần này không chỉ tiến hành giữa hai đối thủ trực tiếp là Việt Nam và Pháp như năm 1946 mà có sự tham gia của các nước lớn Trong điều kiện lịch sử cụ thể lúc bấy giờ, theo xu hướng giải quyết các cuộc xung đột trên thế giới bằng thương lượng, đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa
Trang 8chấp nhận kí Hiệp định Genève Ngày 20/7/1954, các nước tham dự Hội nghị đã
ra tuyên bố cuối cùng và kí các văn bản hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam, Lào, Campuchia, tạo nên khung pháp lí của Hiệp định Genève về Đông Dương
Cho đến nay, vẫn còn có những đánh giá khác nhau về kết quả Hội nghị Genève, nhưng đối với dân tộc Việt Nam, thì đây chỉ là kết thúc một chặng trên con đường đấu tranh lâu dài và gian khổ để đi tới độc lập, tự do Cùng với chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Genève đã kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp lâu dài và gian khổ của dân tộc Việt Nam Giải phóng hoàn toàn miền Bắc Việt Nam – Điện Biên Phủ - Hồ Chí Minh trở thành biểu tượng và niềm tin chiến thắng của các dân tộc đang đấu tranh cho độc lập, tự do
Như vậy, chúng ta thấy rằng năm 1946 qua nhiều lần thương lượng, đàm phán, thực dân Pháp vẫn ngoan cố không chịu thừa nhận các quyền dân tộc cơ bản của nước Việt Nam là độc lập dân tộc và thống nhất đất nước Khi kí bản hiệp định
Sơ Bộ ngày 6/3/1946, Pháp mới chỉ công nhận tính thống nhất của Việt Nam là
“một quốc gia tự do” nhưng không công nhận là độc lập và họ quyết tâm xâm lược nước ta bằng một cuộc chiến tranh đẫm máu Vì vậy, trái với mong muốn hòa bình của ta, thực dân Pháp đã biến hiệp định Sơ Bộ thành hiệp định đổ bộ đưa quân ra miền Bắc Việt Nam để gây chiến
Tuy nhiên, cùng với thắng lợi to lớn tại Điện Biên Phủ, tại Hội nghị Genève – một hội nghị quốc tế với sự tham gia của các nước lớn đã thừa nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ - các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam, Lào, Campuchia Tạo cơ sở pháp lí cho Việt Nam tiếp tục đấu tranh trong hai thập kỉ tiếp theo để giành độc lập, thống nhất hoàn toàn
Những thắng lợi đạt được trên đây là kết quả của sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Chính phủ ta qua việc kết hợp nhuần nhuyễn đấu tranh quân sự và đấu tranh ngoại giao để có thể giành được thắng lợi trọn vẹn nhất
1.3 Ý nghĩa và bài học kinh nghiệm
1.3.1 Bản lĩnh trên bàn đàm phán
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đất nước ta lại bước vào cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập dân tộc và Chính quyền Cách mạng non trẻ Với tinh thần "quyết
tử cho Tổ quốc quyết sinh" và ý chí cách mạng mạnh mẽ, quân và dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, mà đỉnh cao là chiến dịch Ðiện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" Thắng lợi quan trọng trên chiến trường, và sự phát triển của phong trào công nhân thế giới đã mở ra cục diện thuận lợi cho Cách mạng nước ta Ngày 8-5-1954, chỉ một ngày sau chiến thắng Ðiện Biên
Trang 9Phủ, Hội nghị Giơ-ne-vơ về Ðông Dương đã khai mạc Trải qua 75 ngày đêm đàm phán với 31 phiên họp cùng nhiều cuộc tiếp xúc song phương và đa phương, Hiệp định Giơ-ne-vơ về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam đã được ký kết
1.3.2 Những bài học kinh nghiệm quý báu
65 năm trôi qua, tình hình quốc tế và khu vực có nhiều thay đổi, nhưng Hội nghị Giơ-ne-vơ vẫn để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho chúng ta trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay và mai sau Trong đó, năm bài học tiêu biểu gồm:
Một là, đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết, coi đây là mục tiêu và nguyên tắc cao nhất trong đối ngoại Tình hình quốc tế càng phức tạp, các nước lớn càng chi phối quan hệ quốc tế, ta lại càng cần nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, đồng thời "dĩ bất biến, ứng vạn biến", kiên định trong nguyên tắc, linh hoạt, mềm dẻo trong sách lược
Hai là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại Trong đó, tăng cường tiềm lực, nâng cao sức mạnh nội sinh của đất nước đi đôi với linh hoạt, chủ động tạo thế trong đối ngoại để bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc
Ba là, hiệp đồng trên các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao, qua đó tạo sức mạnh tổng hợp để đi đến thắng lợi cuối cùng Các mặt trận này được xác định là những mặt trận quan trọng, có tác động qua lại, không tách rời nhau
Bốn là, nghệ thuật biết thắng từng bước để đi đến chiến thắng hoàn toàn trong bối cảnh chênh lệch tương quan lực lượng Từ những lợi thế nhỏ, từng phần tạo nên thực lực mới, vị thế mới vì mục tiêu cao nhất là bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc
Năm là, kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh ngoại giao với đấu tranh dư luận, tranh thủ sự ủng hộ của nhân dân thế giới, các lực lượng yêu chuộng hòa bình và công
lý trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
2 Kinh nghiệm đối với ngoại giao Việt Nam hiện nay 2.1 Bối cảnh lịch sử hiện nay
Bảy mươi lăm năm qua, ngoại giao Việt Nam đã đồng hành cùng dân tộc, phụng
sự Đảng, Nhà nước và nhân dân, lấy mục tiêu cao nhất là lợi ích quốc gia - dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam, kế thừa truyền thống ngoại giao Việt Nam, phát huy tinh thần đổi mới sáng tạo và nhạy bén, sát cánh cùng dân tộc vượt qua thách thức của từng giai đoạn lịch sử để khẳng định vai trò trọng yếu, mang tính chiến lược đối với cách mạng và sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng ngày nay
Trang 10Thế giới đang chuẩn bị bước sang thập niên thứ ba của thế kỷ XXI với những chuyển biến sâu sắc, mau lẹ và khó lường Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là nguyện vọng của các dân tộc trên thế giới, song đang gặp nhiều thách thức, nhất
là tình trạng kinh tế thế giới suy thoái, cạnh tranh chiến lược nước lớn, các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống như dịch bệnh, môi trường, biến đổi khí hậu, an ninh nguồn nước gia tăng Dưới tác động của đại dịch COVID-19, những biến động trong cục diện quốc tế bị đẩy nhanh hơn, tác động trực tiếp, nhiều chiều tới môi trường an ninh và phát triển của Việt Nam, đem lại thời cơ và thách thức mới đan xen
Đất nước ta sau gần 35 năm đổi mới, với thế và lực, sức mạnh tổng hợp và uy tín quốc tế ngày càng được nâng cao, đang vững bước trên con đường đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng Ngành ngoại giao đứng trước những trọng trách to lớn
là cần tiếp tục phát huy vai trò tiên phong trong việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực cho phát triển, nâng cao vị thế quốc
tế của đất nước Theo đó, chúng ta cần xây dựng nền ngoại giao hiện đại cả về lực lượng và phương thức hoạt động, trên cơ sở kế thừa truyền thống ngoại giao Việt Nam và tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh Đồng thời, ngành ngoại giao sẽ chủ động, tích cực thúc đẩy tinh thần đổi mới sáng tạo, chủ động thích ứng trước những chuyển biến nhanh của tình hình để thực hiện sứ mệnh to lớn của mình trong giai đoạn mới
Phát huy truyền thống vẻ vang của các thế hệ đi trước và những bài học kinh nghiệm quý báu đã được đúc kết trong thực tiễn và tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, tiếp tục tinh thần ngoại giao đồng hành cùng đất nước, một lòng phụng sự
Tổ quốc, phục vụ nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, ngoại giao Việt Nam sẽ vững bước tiến lên, viết tiếp những trang sử vàng của nền ngoại giao hiện đại, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
2.2 Vận dụng bài học kinh nghiệm vào những vấn đề tiếp cận
35 năm qua, dưới ánh sáng soi đường của tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại và đoàn kết quốc tế, ngoại giao Việt Nam đã phát huy sức mạnh tổng hợp của đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà nước, ngoại giao nhân dân, ngoại giao văn hóa, ngoại giao kinh tế, ngoại giao quốc phòng… làm tốt vai trò tiên phong trong giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia dân tộc, bảo vệ Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa, chủ động tích cực đẩy mạnh hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng; huy động nguồn lực to lớn từ bên ngoài phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên thế giới