1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN CUỐI kỳ đề tài QUAN điểm TRONG LỊCH sử về LOGIC học

19 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan Điểm Trong Lịch Sử Về Logic Học
Tác giả Trương Trọng Hòa, Nguyễn Thị Lê Vi, Lê Thị Thanh Thảo, Phan Thị Mỹ Duyên, Đoàn Thị Thùy Dương
Người hướng dẫn PGS.TS. Đoàn Đức Hiếu
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Tp. HCM
Chuyên ngành Nhập Môn Logic Học
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 390,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Tiểu luận đi sâu nghiên cứu về quan điểm trong lịch sử về logic học Phạm vi nghiên cứu: Tiểu luận tập trung nghiên cứu về

Trang 1

MÔN HỌC: NHẬP MÔN LOGIC HỌC

TIỂU LUẬN CUỐI KỲ

ĐỀ TÀI: QUAN ĐIỂM TRONG LỊCH SỬ VỀ LOGIC HỌC

GVHD: PGS.TS ĐOÀN ĐỨC HIẾU

1 Trương Trọng Hòa 21124174

2 Nguyễn Thị Lê Vi 21124295

3 Lê Thị Thanh Thảo 21124259

4 Phan Thị Mỹ Duyên 21124441

5 Đoàn Thị Thùy Dương 21124157 Lớp thứ 2 – Tiết 7_8

Trang 2

NHẬN XÉT

Trang 3

M c l c ụ ụ

Phần 1: Mở đầu 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ của tiểu luận 1

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 1

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 1

5 Kết cấu tiểu luận 2

Phần 2: NỘI DUNG 3

1 Logic học là gì? 3

2 Đối tượng logic học 4

3 Lịch sử của logic học 5

a) Logic học truyền thống (Logique traditionnelle) 5

b) Logic học ứng dụng (Logique appliquée) 7

c) Logic học kí hiệu (Logic toán học – Logique matheùmatique) 7

d) Logic học biện chứng (Logique dialectique) 10

Lưu ý: 11

*Mối quan hệ giữa logic hình thức và logic biện chứng 11

4 Liên hệ thực tiễn 13

Phần 3: Kết luận 15

Tài liệu Tham Khảo 16

Trang 4

Phần 1: Mở đầu

1 Lí do chọn đề tài.

Trong quá trình tồn tại của mình, con người chúng ta luôn có khát vọng về việc hiểu biết về tự nhiên và xã hội Do vậy, nhận thức về hiện thực khách quan là nhu cầu tất yếu của mỗi con người Nhưng phải làm thế nào để con người có thể nhận thức đúng đắn hiện thực khách quan, tìm ra chân lý và hoạt động có hiệu quả tốt

Nhận thức đúng là điều kiện cần giúp con người hành động đúng, đạt được hiệu quả mong muốn và ngược lại, nhận thức sai, không nắm bắt được bản chất và quy luật của hiện thực khách quan thì con người sẽ hành động phiêu lưu, mạo hiểm, dễ dẫn đến sự thất bại

Nhận thức đúng đắn, tu duy chính xác, lập luận chặt chẽ, mạch lạc, có sức thuyết phục… là những nội dung quan trọng mà khoa học logic mang lại cho con người

Vậy Logic học là gì? Ai là người đưa ra khái niệm đầu tiên về logic? Để làm

rõ hơn thì bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu về “Quan điểm trong lịch sử về logic học”

2 Mục đích và nhiệm vụ của tiểu luận

Mục đích: Tìm hiểu và góp phần làm sáng tỏ nội dung nội dung cơ bản về quan điểm trong lịch sử về logic học

Nhiệm vụ: Trình bày một cách có hệ thống, đưa ra đầy đủ những nội dung

cơ bản về quan điểm trong lịch sử về logic học

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Tiểu luận đi sâu nghiên cứu về quan điểm trong lịch

sử về logic học Phạm vi nghiên cứu: Tiểu luận tập trung nghiên cứu về đối tượng logic học cũng như lược sử hình thành và phát triển của logic học

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận: Tiểu luận được nghiên cứu dựa trên việc phát triển các quan điểm trong lịch sử về logic học

Trang 5

Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình thực hiện đề tài, tiểu luận chủ yếu

sử dụng các phương pháp bao gồm: phương pháp tổng hợp và phương pháp phân tích

5 Kết cấu tiểu luận

Tiểu luận có kết cấu gồm 3 phần chính:

 Phần 1: Mở Đầu

 Phần 2: Nội Dung

 Phần 3: Kết luận

Trang 6

Phần 2: NỘI DUNG

1 Logic học là gì?

Thuật ngữ “Logic” được phiên âm từ tiếng nước ngoài (Logic : Tiếng Anh ; Logique : Tiếng Pháp) thuật ngữ này có nguồn gốc từ tiếng Hi lạp là Logos, có nghĩa là lời nói, tư tưởng, lý tính, qui luật v.v…

Ngày nay, người ta thường sử dụng thuật ngữ “Logic” với những nghĩa sau : Tính qui luật trong sự vận động và phát triển của thế giới khách quan Đây chính là Logic của sự vật, Logic khách quan

Tính qui luật trong tư tưởng, trong lập luận Đây chính là Logic của tư duy, Logic chủ quan

Khoa học nghiên cứu về tư duy tiếp cận chân lý Đây chính là Logic học Trước thế giới vô vàn sự vật hiện tượng, con người nhận thấy có những sự vật hiện tượng khác nhau và có những sự vật hiện tượng giống nhau Có lớp sự vật hiện tượng giống nhau về một số đặc điểm nào đấy – chúng cùng có một số thuộc tính – mà những sự vật hiện tượng khác không có Qua kinh nghiệm được lặp đi lặp lại nhiều lần con người khái quát những kinh nghiệm đó, và trong đầu hình thành nên khái niệm về mỗi một hay lớp sự vật hiện tượng đó Như vậy, khái niệm

về đối tượng nào đó là hiểu biết tương đối toàn diện và hệ thống về bản chất của đối tượng ấy, được hình thành thông qua quá trình hoạt động thực tiễn

Mỗi đối tượng có vô số các thuộc tính Thuộc tính của đối tượng là cái vốn

có của đối tượng Tất cả các thuộc tính, các quan hệ, đặc điểm, trạng thái đặc trưng cho đối tượng giúp ta dùng để so sánh nó với các đối tượng khác để rồi nhận thức được nó và tách nó ra khỏi tập hợp các đối tượng khác Các thuộc tính, quan hệ, đặc trưng đó tạo thành các dấu hiệu về đối tượng trong tư duy Ví dụ các vật thể sống được nhận biết thông qua các dấu hiệu như sinh trưởng, trao đổi chất, cảm ứng, kích thích…

Mỗi dấu hiệu khác biệt về đối tượng có một ý nghĩa quan trọng khác nhau đối với nhận thức và khoa học khác nhau Cho nên, tuỳ theo những vấn đề khoa học khác nhau mà các dấu hiệu khác biệt được phản ánh trong khái niệm tương ứng sẽ nổi lên hàng đầu và có ý nghĩa quan trọng đối với khoa học đó

Trang 7

Ví dụ: Nước có rất nhiều thuộc tính, nhưng dấu hiệu “Sôi ở 100oC”; “Chất đàn hồi” có ý nghĩa quan trọng đối với khoa học vật lý Dấu hiệu “hợp chất mà các phân tử được tạo bởi hai nguyên tử Hyđrô và một nguyên tử Ôxy”, “không hoà tan chất béo” lại có ý nghĩa đối với hoá học Trong công tác cứu hoả thì dấu hiệu

“không duy trì sự cháy” mới là quan trọng hơn các dấu hiệu nói trên

Logic hình thức định nghĩa khái niệm như sau: Khái niệm là một hình thức (đơn vị) tồn tại cơ bản của tư duy, là tập hợp những dấu hiệu cơ bản, khác biệt phản ánh đối tượng tồn tại ở một phẩm chất xác định

Thuật ngữ dấu hiệu ở đây chỉ kết quả của sự phản ánh thuộc tính của sự vật Dấu hiệu là ánh phản còn thuộc tính là đối tượng phản ánh

Thuật ngữ dấu hiệu cơ bản là chỉ những ánh phản ghi nhận những thuộc tính có tính bản chất của đối tượng Thuật ngữ khác biệt là chỉ thuộc tính có tính bản chất nhất

Bản thân các khái niệm khoa học cùng các dấu hiệu trong khái niệm về đối tượng cũng được hoàn thiện dần cùng sự phát triển của khoa học và thực tiễn Chẳng hạn khái niệm “Nguyên tử”: Nếu đầu thế kỷ 19 người ta mới chỉ biết là

“thành phần nhỏ bé nhất không thể phân chia được” thì đến đầu thế kỷ 20 người ta lại biết rằng “nguyên tử bao gồm hạt điện tích dương – Prôton và hạt điện tích âm – Êlectron”, đến nay ta lại biết trong Prôton lại gồm các Nơtron và các hạt không tích điện khác

2 Đối tượng logic học

Thuật ngữ logic trong tiếng Việt có cùng nghĩa với logic trong tiếng Pháp, logic trong tiếng Anh, 1логика trong tiếng Nga và Logik trong tiếng Đức, và cả hai đều có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp và có nghĩa là lời nói và suy nghĩ Tư tưởng, lý trí, quy luật, sự thật, sự tồn tại Theo quan điểm truyền thống: Logic học là khoa học nghiên cứu các quy luật và các hình thức tư duy đúng đắn (khái niệm, phán đoán, suy luận ) Các quy luật của tư duy trong nghiên cứu logic là những quy luật tồn tại trong ý thức và tư duy của con người Tư duy logic là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất để phản ánh bản chất và mối quan hệ của các sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan Trong quá trình phát triển, đối tượng của logic học cũng dần thay đổi “Khái niệm, định nghĩa và sự phân chia khái niệm” được coi là những vấn đề của triết học, phương pháp luận khoa học và các khoa học cụ thể, vì vậy logic học được coi là một “khoa học về lý luận” (cả suy diễn và

Trang 8

quy nạp) Rồi logic quy nạp hiện đại trở thành logic xác suất, nên đối tượng của logic học chỉ còn là “suy luận diễn dịch”

3 Lịch sử của logic học

Ở phương Đông, bắt nguồn từ Ấn Độ, ngay từ thời Cổ đại, trước Tây lịch khoảng năm ngàn năm, tức trước rất xa logic học của Aristote, đã xuất hiện Nhân minh luận là một môn học về phương pháp suy luận quy

Ở phương Tây, cũng từ thời Cổ đại, Héraclite (khoảng chừng 520 - nạp 460

tr CN), Trường phái Élé (Ecole éléate) (cuối TK VI – đầu TK V tr.CN), Démocrite

cạnh của logic Tác phẩm “Bàn về logic học" (hay Canon – tác phẩm này đã bị thất truyền từ lâu) của Democrite là tác phẩm logic đầu tiên trong lịch sử logic học Tuy nhiên, đến Aristote thì logic học mới được nghiên cứu có hệ thống, tư duy mới lần đầu tiên trở thành đối tượng nghiên cứu của một khoa học chuyên ngành Từ cuối thế kỷ thứ XIX, từng có một nhà nghiên cứu về toán học đã nghiên cứu về những vấn đề có liên quan trực tiếp tới toán học, về nghiên cứu các luận chứng, các khái niệm về phương thức, các chứng minh về logic trong các công trình lớn của thời kỳ

đó của một số nhà toán học nổi tiếng như (J.Venn người Anh ) Logic học còn được gọi là logic học truyền thống do một nhà khoa học khai sáng và logic được gắn liền với những ký hiệu Có thể bạn chưa biết logic học hình thức là chỉ nghiên cứu những vấn đề hình thức mang tính tư duy trừu tượng về các khái niệm và các phán đoán trong đời sống hàng ngày của con người tất cả, các vấn đề liên quan đến xã hội Phần lịch sử sau đây trình bày quá trình hình thành và phát triển của logic học phương Tây

a) Logic học truyền thống (Logique traditionnelle)

Logic học có lịch sử lâu dài và phong phú gắn liền với lịch sử phát triển xã hội nói chung Sự xuất hiện của logic học như là lý thuyết về tư duy đã có sau thực tiến con người suy nghĩ hàng nghìn năm Cùng với sự phát triển của lao động sản xuất con người đã hoàn thiện và phát triển dần các khả năng suy nghĩ, rồi biến tư duy cùng các hình thức và quy luật của nó thành khách thể nghiên cứu Những vấn

đề logic đã lẻ tẻ xuất hiện trong suy tư người cổ đại từ hơn 2,5 nghìn năm trước đây đầu tiên ở Ân Độ và Trung Quốc Sau đó chúng được vạch thảo đầy đủ hơn ở

Hy lạp và La mã Có hai nguyên nhân cơ bản làm xuất hiện lôgíc học Thứ nhất, sự

ra đời và phát triển ban đầu của các khoa học, trước hết là của toán học Sinh ra trong đấu tranh với thần thoại và tôn giáo, khoa học dựa cơ sở trên tư duy duy lý

Trang 9

đòi hỏi phải có suy luận và chứng minh Do vậy, logic học đã này sinh như là ý đồ vạch ra và luận chứng những đòi hỏi mà tư duy khoa học phải tuân thủ để thu được kết quả tương thích với hiện thực Hai là sự phát triển của thuật hùng biện trong điều kiện dân chủ Hy lạp cổ đại Người sáng lập logic học - “cha đẻ của logic học"

nhiều công trình về lôgíc học có tên gọi chung là “Bộ công cụ", trong đó chủ yếu

– những khái niệm chung nhất và khá gần với phân loại từ trước của Đêmôcrit về phán đoán Ông đã phát biểu ba quy luật cơ bản của tư duy, trừ luật lý do đầy đủ

cả những phần mục, trào lưu, các kiểu của logic học hiện đại như xác suất, biểu tượng, biện chứng Giai đoạn phát triển mới của logic học hình thức gắn bó hữu cơ với việc xây dựng logic quy nạp diễn ra từ thế kỷ XVII đi liền với tên tuổi của nhà triết học và tự nhiên học kiệt xuất người Anh Ph Bêcơn (1561-1626) Ông là người khởi xướng lôgic quy nạp “ Logic học đang có, là vô dụng trong việc đem lại tri thức mới Vì thế Bê cơn đã viết “Bộ công cụ Mới" như là thứ đối nghịch với “Bộ

xác định sự phụ thuộc nhân quả giữa các hiện tượng Đó chính là công lao to lớn của Bêcơn

Logic quy nạp về sau này được nhà triết học người Anh Đz Mill (1806-1873) hệ thống hoá và phát triển thêm trong tác phẩm hai tập “Hệ thống logic học tam đoạn luận và quy nạp" Nó đã ảnh hưởng căn bản đến sự phát triển tiếp theo của nhận thức, thúc đẩy khoa học vươn tới tầm cao mới

Những nhu cầu của khoa học không chỉ về phương pháp quy nạp, mà còn về phương pháp diễn dịch vào thế kỷ XVII đã được nhà triết học người Pháp R Đêcác (1596-1650) nhận diện đầy đủ hơn cả Trong tác phẩm “Luận về phương pháp ", dựa trên những dữ liệu toán học, ông đã nhấn mạnh ý nghĩa của diễn dịch như là phương pháp nhận thức khoa học cơ bản nhất

Những người theo Đêcác ở tu viện Por-Roiale là A Arnô và P Nhikơn đã viết cuốn sách “Logic học, hay nghệ thuật tư duy" Nó đã nổi tiếng dưới tên gọi

"Logic học Por-Roiale" và trong thời gian rất dài được dùng như là sách giáo khoa logic học Các tác giả ở đây đã vượt xa ranh giới của logic học truyền thống và chú

ý nhiều đến phương pháp luận nhận thức khoa học, đến logic của phát minh Việc tạo ra “những logic học mở rộng" kiểu ấy đã trở thành điểm đặc thù ở thế kỷ XIX

Trang 10

b) Logic học ứng dụng (Logique appliquée)

Trong thời Phục hưng, trước sự phát triển của khoa học thực nghiệm, tại Anh, F.Bacon (1561 – 1626) đã xuất bản tác phẩm Novum Organum (Công cụ mới) để phê phán phương pháp suy diễn và logic học hình thức của Aristotle, và đề cao phương pháp suy luận quy nạp cũng như logic học ứng dụng dùng trong khoa học thực nghiệm Ông đưa ra ba bảng (có mặt /vắng mặt / trình độ) để tìm mối liên hệ nhân quả giữa các sự kiện Sau đó, R Descartes (1596 – 1650) đã phát triển tư tưởng của Bacon với tác phẩm Discours de la méthode (Phương pháp luận)

Về sau, nhà logic học Anh J Stuart Mill (1806 – 1873) đã hoàn thiện phương pháp của F Bacon, đưa ra bốn phương pháp quy nạp dựa trên cơ sở mối liên hệ nhân quả: phương pháp tương hợp (méthode de concordance), phương pháp sai biệt (méthode de différence), phương pháp đồng biến (méthode des variations concomitantes) và phương pháp trừ dư (méthode des résidus)

Logic ứng dụng (logique appliquée) chỉ có tên là logic khoa học (logique scientirque) là nhằm đến một mục đích khác

Tư duy của con người luôn luôn hướng về một đối tượng ở bên ngoài Ví dụ: đối tượng của toán học là hình và số, đối tượng của vật lý học là các hiện tượng tự nhiên, đối tượng của sử học là những sự kiện đã qua Muốn đạt được những đối tượng đó, tư quy của ta nói chung phải tuân theo những nguyên tắc nào, quy luật nào, phương pháp nào: Đó là đối tượng nghiên cứu của logic ứng dụng

Chính logic ứng dụng sẽ chỉ cho ta biết, với đối tượng nào thì phải dùng phương pháp nào để có thể đạt được chân lý Mỗi loại đối tượng có một phương pháp nghiên cứu thích hợp đối với nó Toán học, sinh vật học, hóa học đều có phương pháp nghiên cứu riêng mà các nhà logic ứng dụng phải xác định rõ

Logic ứng dụng gồm có hai phần: phương pháp luận và khoa học luận

c) Logic học kí hiệu (Logic toán học – Logique matheùmatique)

Nhà bác học Đức G W leibnitz (1646-1716) là người đầu tiên đề xướng việc áp dụng những phương pháp hình thức của toán học (kí hiệu, công thức) vào lĩnh vực logic học (ông cũng là người đã có những tư tưởng quan trọng đầu tiên về logic xác suất) Ý tưởng này đến giữa thế kỉ XIX đã được hiện thực hóa bởi nhà toán học Ireland G Boole (1815-1864), với các công trình: “Toán giải tích logic”

Trang 11

(The Mathematical Analysis of Logic, 1847), “Tìm hiểu những quy luật của tư tưởng đặt nền tảng cho lý thuyết toán học về logic và xác suất” (An Investigation

of the Laws of Thought on which are founded the Mathematical Theories of Logic and Probability, 1854) Tiếp đó, là công trình của nhà toán học Anh De Morgan:

“Logic học hình thức” (Formal Logic, 1926) Trong các công trình này, logic toán học được trình bày như một bộ phận của đại số: đại số logic (đại số Boole) Đây là giai đoạn mới trong sự phát triển của logic hình thức Logic toán học, về đối tượng,

là logic học, còn về đối tượng, là toán học Từ cuối thế kỉ XIX, một hướng nghiên cứu khác của logic toán học có liên quan đến những nhu cầu của toán học cho việc luận chứng cho những khái niệm và những phương thức chứng minh của nó đã được phát triển trong những công trình của J Venn (người Anh, 1834-1923), G Frege (người Đức, 1848-1925), của B Russell (người Anh, 1872-1970) cùng A N Whitehead (đồng tác giả bộ sách “Principia Mathematica”) Logic toán học có ảnh hưởng rất lớn đến toán học hiện đại Lí thuyết angorit, lí thuyết hàm đệ quy đã được phát triển từ logic toán học Đã có rất nhiều khuynh hướng, bộ phận khác nhau trong logic toán học: logic kiến thiết, logic quan hệ, logic tổ hợp, logic mệnh

đề, logic vị từ…Trong kĩ thuật điện, kĩ thuật tính toán, điều khiển học, sinh lí học thần kinh, ngôn ngữ học… đều có áp dụng logic toán học

Logic toán học bắt đầu với việc nghiên cứu các mệnh đề Một mệnh đề là một tuyên bố mà không có bất kỳ sự mơ hồ nào, bạn có thể nói nó có đúng hay không Sau đây là các ví dụ về mệnh đề:

 2+4=6

 Năm 1930 có một trận động đất ở Châu Âu

Đầu tiên là một tuyên bố đúng và thứ hai là một tuyên bố sai Thứ ba, mặc

dù người đọc nó có thể không biết nó là sự thật hay ngay lập tức, là một tuyên bố

có thể được kiểm tra và xác định xem nó có thực sự xảy ra hay không

Sau đây là các ví dụ về các biểu thức không phải là mệnh đề:

 Cô ấy tóc vàng

 2x = 6

 Hãy chơi!

Ngày đăng: 24/12/2023, 10:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w