1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUAN điểm về QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH của PHỦ ĐỊNH và vận DỤNG QUY LUẬT này vào QUÁ TRÌNH TIẾN hóa của LOÀI NGƯỜI

20 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quan Điểm Về Quy Luật Phủ Định Của Phủ Định Và Vận Dụng Quy Luật Này Vào Quá Trình Tiến Hóa Của Loài Người
Tác giả Nguyễn Thị Kim Ánh, Nguyễn Thị Bích Thảo, Nguyễn Thị Thanh Thủy, Lê Hà Hoàng Yến, Trần Nữ Ý
Người hướng dẫn ThS. Trần Ngọc Chung
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật TPHCM
Chuyên ngành Triết Học Mác-Lênin
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2020
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 546,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với phép biện chứng duy vật về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, xã hội loài người và của tư duy, các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật đã

Trang 1

TIỂU LUẬN MÔN HỌC: TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN

QUAN ĐIỂM VỀ QUY LUẬT PHỦ ĐỊNH CỦA PHỦ ĐỊNH

VÀ VẬN DỤNG QUY LUẬT NÀY VÀO QUÁ TRÌNH

TIẾN HÓA CỦA LOÀI NGƯỜI

GVHD: Ths Trần Ngọc Chung

Mã LHP: LLCT130105_19 (Sáng Thứ ba, Tiết 1-5) Nhóm Hoa Hướng Dương MSSV

Nguyễn Thị Bích Thảo 19126099 Nguyễn Thị Thanh Thủy 19116219

Trang 2

NỘI DUNG 3

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN 3

1.1 Khái niệm phủ định và phủ định biện chứng 3

1.1.1 Khái niệm phủ định: 3

1.1.2 Khái niệm phủ định biện chứng: 3

1.1.3 Hai đặc điểm cơ bản của phủ định biện chứng: 4

1.2 Phủ định của phủ định 4

1.3 Ý nghĩa phương pháp luận 7

CHƯƠNG 2 LIÊN HỆ THỰC TIỄN VỚI QUÁ TRÌNH TIẾN HÓA CỦA LOÀI NGƯỜI 8

2.1 Quá trình tiến hóa theo quan điểm khoa học hiện đại 8

2.2 Vận dụng quy luật phủ định của phủ định vào quá trình tiến hóa của loài người 12 KẾT LUẬN 18

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Thế giới xung quanh chúng ta có vô vàn sự vật, hiện tượng phong phú đa dạng Quá trình vận động, phát triển của chúng lại là một quá trình quanh co, đầy phức tạp

Vì thế, con người có thể lý giải, tìm hiểu cũng như làm chủ được thế giới này thì cần phải có các "phương tiện" hỗ trợ Trong đó, Triết học là một hệ thống những tri thức, lý luận chung nhất của con người về thế giới, về vị trí và vai trò của con người trong thế giới ấy Với phép biện chứng duy vật về những quy luật phổ biến của sự vận động và

sự phát triển của tự nhiên, xã hội loài người và của tư duy, các quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật đã khái quát cách thức, nguyên nhân và khuynh hướng của sự vận động, phát triển Các quy luật này đã định hướng việc nghiên cứu các quy luật đặc thù, mối liên hệ giữa chúng tạo ra cơ sở khách quan cho mối liên hệ triết học duy vật biện chứng với khoa học chuyên ngành Để có thể hỗ trợ lý giải được các vấn đề trong

tự nhiên - xã hội, nhóm tác giả chúng tôi đã quyết định tìm hiểu, nghiên cứu đề tài

“Quan điểm quy luật phủ định của phủ định và vận dụng quy luật này vào quá trình tiến hóa của loài người”

2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài:

- Nắm được phần lý luận cơ bản bao gồm khái niệm phủ định và phủ định biện chứng, quy luật phủ định của phủ định và ý nghĩa phương pháp luận của nó

- Làm rõ vấn đề quá trình tiến hóa của loài người, qua đó đánh giá mặt tích cực và tiêu cực trong quá trình tiến hóa của loài người qua nhiều thiên niên kỉ Vận dụng quy luật phủ định của phủ định vào quá trình tiến hóa của loài người

Từ đó, rút ra được thành quả của sự vận dụng vào quá trình trên

Trang 4

NỘI DUNG

1.1 Khái niệm phủ định và phủ định biện chứng.

1.1.1 Khái niệm phủ định:

Là sự thay thế sự vật này bằng sự vật khác trong quá trình vận động, phát triển

Sự vật, hiện tượng sinh ra, tồn tại, phát triển rồi mất đi, được thay thế bằng sự vật, hiện tượng khác Khái niệm phủ định dùng để chỉ sự thay thế sự vật này bằng sự vật khả năng theo nghĩa đó, không phải bất cứ sự phủ định nào cũng dẫn tới sự phát triển

1.1.2 Khái niệm phủ định biện chứng:

Phủ định biện chứng là những sự phủ định tạo ra điều kiện, tiền đề cho quá trình phát triển của sinh vật Phủ định biện chứng làm cho sự vật, hiện tượng mới ra đời thay thế sự vật, hiện tượng cũ và là yếu tố liên hệ giữa sự vật hiện tượng cũ với sự vật, hiện tượng mới Phủ định biện chứng là tự phủ định, tự phát triển của sự vật, hiện tượng; là mắt xích trong sợi dây chuyền dẫn đến sự ra đời của sự vật, hiện tượng mới, tiến bộ hơn so với sự vật, hiện tượng cũ

Các giai đoạn phát triển của con người

Trang 5

1.1.3 Hai đặc điểm cơ bản của phủ định biện chứng:

 Tính khách quan: Nguyên nhân của sự phủ định nằm trong chính bản thân sự vật, hiện tượng Bởi vì nó chính là kết quả của quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn tất yếu, bên trong bản thân sự vật

 Tính kế thừa: Cái mới ra đời dựa trên cơ sở những hạt nhân hợp lí, tích cực, loại

bỏ cái lỗi thời, tiêu cực của cái cũ, để phát triển thành cái mới, tạo nên sự liên tục của quá trình phát triển

1.2 Phủ định của phủ định.

Là khuynh hướng vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng thông qua những lần phủ định biện chứng, tạo thành hình thức mang tính chu kỳ "phủ định của phủ định"

Trong sự vận động vĩnh viễn của thế giới vật chất, phủ định biện chứng là một quá trình vô tận, tạo nên khuynh hướng phát triển của sự vật, hiện tượng từ trình độ thấp đến trình độ cao hơn, diễn ra có tính chất chu kỳ theo hình thức "xoáy ốc"

Khuynh hướng phát triển theo đường xoáy ốc thể hiện tính chất biện chứng của

sự phát triển, đó là tính kế thừa, tính lặp lại và tính tiến lên Mỗi vòng mới của đường xoáy ốc cũng như lặp lại, nhưng với một trình độ cao hơn Sự tiếp nối của các vòng trong đường xoáy ốc phản ánh quá trình phát triển vô tận từ thấp đến cao của sự vật, hiện tượng trong thế giới Trong quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng phủ định biện chứng đã đóng vai trò là những "vòng khâu" của quá trình đó

Theo tính chất chu kỳ theo hình thức “xoáy ốc” này thì mỗi chu kỳ phát triển của

sự vật, hiện tượng thường trải qua hai lần phủ định cơ bản với hình thái tồn tại chủ yếu của nó, trong đó hình thái cuối mỗi chu kỳ lặp lại những đặc trưng cơ bản của hình thái ban đầu của chu kỳ đó nhưng trên cơ sở cao hơn về trình độ, phát triển nhờ kế thừa được những nhân tố tích cực và loại bỏ được những nhân tố tiêu cực qua hai lần phủ định biện chứng

Trong chuỗi phủ định tạo nên quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng, mỗi lần phủ định biện chứng đều tạo ra những điều kiện, tiền đề cho sự phát triển tiếp theo của

Trang 6

nó Trải qua nhiều lần phủ định, tức "phủ định của phủ định" sẽ tất yếu dẫn tới kết quả

là sự vận động theo chiều hướng đi lên của sự vật, hiện tượng

Tóm lại, nội dung cơ bản của quy luật phủ định của phủ định trong phép biện chứng duy vật phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa cái phủ định và cái khẳng định trong quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng Phủ định biện chứng là điều kiện cho

sự phát triển, cái mới ra đời là kết quả của sự kế thừa những nội dung tích cực từ trong

sự vật, hiện tượng cũ, phát huy nó trong sự vật, hiện tượng mới và tạo nên tính chu kỳ của sự phát triển

Ví dụ: Hạt thóc -Cây lúa- Nhiều hạt thóc

Hạt thóc nảy mầm phát triển lớn lên cho ra cây lúa (đây là phủ định lần 1) Cây lúa phát triển lớn lên cho ra nhiều hạt thóc chin (phủ định lần 2) Như vậy ở đây thể hiện tính chu kì của sự phát triển Từ một điểm xuất phát (hạt thóc ban đầu) trải qua 2 lần phủ định sự vật dường như lặp lại điểm xuất phát (hạt thóc ,hạt thóc) nhưng trên cơ sở mới cao hơn (số lượng hạt thóc nhiều hơn)

Sự phát triển biện chứng thông qua những lần phủ định biện chứng như trên là sự thống nhất hữu cơ giữa lọc bỏ, bảo tồn và bổ sung thêm những nhân tố tích cực mới

Do vậy, thông qua những lần phủ định biện chứng của bản thân, sự vật sẽ ngày càng phát triển

Quy luật phủ định của phủ định biểu hiện sự phát triển của sự vật là do mâu thuẫn trong bản thân sự vật quyết định Mỗi lần phủ định là kết quả đấu tranh và chuyển hoá giữa các mặt đối lập trong bản thân sự vật- giữa mặt khẳng định và mặt phủ định Sự

Trang 7

phủ định lần thứ nhất diễn ra làm cho sự vật cũ chuyển thành cái đối lập với mình Sự phủ định lần thứ hai được thực hiện dẫn tới sự vật mới ra đời Sự vật này đối lập với cái đựợc sinh ra ở lần phủ định thứ nhất Nó được bổ sung nhiều nhân tố mới Như vậy, sau hai lần phủ định sự vật dường như quay trở lại cái cũ, nhưng trên cơ sở mới cao hơn là đặc điểm quan trọng nhất của sự phát triển biện chứng thông qua phủ định của phủ định

Phủ định của phủ định làm xuất hiện sự vật mới là kết quả của sự tổng hợp tất cả nhân tố tích cực đã có và đã phát triển trong cái khẳng định ban đầu và trong những làn phủ định tiếp theo Do vậy, sự vật mới với tư cách là kết quả của phủ định của phủ định

có nội dung hoàn thiện hơn, phong phú hơn, có cái khẳng định ban đầu và kết quả của

sự phủ định lần thứ nhất

Kết quả của sự phủ định của phủ định là điểm kết thúc của một chu kỳ phát triển

và cũng là điểm khởi đầu cho kỳ phát triển tiếp theo Sự vật lại tiếp tục biện chứng chính mình để phát triển Cứ như vậy sự vật mới ngày càng mới hơn

Khi nghiên cứu quy luật phủ định của phủ định chúng ta không nên hiểu một cách máy móc là tất cả các sự vật và hiện tượng trong thế giới vật chất đều thông qua 2 lần phủ định thì hoàn thành một chu kì phát triển Có sự vật phải trải qua 2 lần phủ định thì hoàn thành một chu kì phát triển nói lên khuynh hướng tiến lên của nó cũng có sự vật phải trải qua 4 đến 5 lần hoặc nhiều hơn

Ví dụ: Vòng đời của giống tằm phải trải qua 4 lần phủ định

Trang 8

1.3 Ý nghĩa phương pháp luận.

Quy luật phủ định của phủ định làm sáng tỏ chiều hướng vận động, phát triển của

sự vật, hiện tượng; có ý nghĩa phương pháp luận trong nhận thức và hoạt động thực tiễn Cụ thể, quy luật này có ba ý nghĩa phương pháp luận sau:

Thứ nhất, muốn nhận thức, giải quyết được sự vật, hiện tượng thì điều đầu tiên là chúng ta cần nhận thức đúng được xu hướng vận động của sự vật, hiện tượng Quy luật này giúp nhận thức đúng về xu hướng của sự phát triển Phát triển có sự quanh co, phức tạp, nhiều giai đoạn, nhiều quá trình

Thứ hai, quy luật này giúp nhận thức đầy đủ hơn về sự vật, hiện tượng mới, ra đời phù hợp với quy luật phát triển, biểu hiện giai đoạn cao về chất trong sự phát triển Cụ thể, sự phát triển để tạo ra cái mới có hai khả năng Khả năng thứ nhất là phó mặt cho

tự nhiên, tức là xảy ra trong lĩnh vực tự nhiên, cái mới hoàn toàn vận động theo quy luật khách quan Khả năng thứ hai là trong xã hội, cái mới ra đời gắn liền với hoạt động thực tiễn của con người, của xã hội loài người Muốn cái mới ra đời một cách thuận lợi, nhanh chóng và phát huy được đầy đủ các điểm mạnh, điểm tích cực thì chúng ta phải tạo điều kiện thích hợp để cái mới xuất hiện, cũng như quý trọng, tin tưởng vào sự phát triển của cái mới

Thứ ba, khi giải quyết mối quan hệ giữa cái cũ và cái mới thì chúng ta cần biết rằng cái mới ra đời dựa trên cái cũ, nhưng khi đối diện với cái cũ, cần lưu ý một số vấn đề Điểm thứ nhất là không được phủ định sạch trơn quá khứ, tức là không đi đến quan điểm triệt để, cho rằng cái cũ đều là những cái kém, cái lạc hậu, cái không tiến

bộ Điểm thứ hai là khi đối diện với cái cũ, nhiều khi chúng ta lại có thái độ bảo thủ, bám giữ, tôn thờ cái cũ, không dám thay đổi cái cũ, làm cản trở sự phát triển, điều này

là không đúng Vì thế khi đối diện với cái cũ, đòi hỏi phải có tinh thần nhận thức và hoạt động trên quan điểm biện chứng, tức là phải có sự chọn lọc, giữ lại những giá trị phù hợp, tích cực để làm hạt nhân cho cái mới, đồng thời loại bỏ những gì không phù hợp để thay đổi cho hoàn thiện hơn

Trang 9

CHƯƠNG 2 LIÊN HỆ THỰC TIỄN VỚI QUÁ TRÌNH TIẾN

HÓA CỦA LOÀI NGƯỜI

2.1 Quá trình tiến hóa theo quan điểm khoa học hiện đại

Con người xuất hiện từ bao giờ? Câu hỏi đó không phải đến nay mới được đặt ra,

nó luôn luôn hiện hữu trong suốt chiều dài lịch sử của loài người Sự quan tâm của con người tới nguồn gốc “xuất thân” của mình được thể hiện qua rất nhiều truyền thuyết, truyện cổ tích, thần thoại về sự sáng tạo thế giới mà ở bất cứ dân tộc nào cũng có Thời

cổ đại, một số học giả lại cho rằng thoạt đầu con người có hình dáng nửa người nửa động vật Điều đó được lí giải thông qua tượng nhân sư ở Ai Cập Thời trung đại, giáo điều, giáo lí của các tôn giáo, dưới nhiều hình thức khác nhau, sự giải thích khác nhau, nhưng đều ngụ ý rằng con người do Thượng đế sinh ra

Tuy nhiên, đến giữa thế kỉ XVIII, vấn đề về vị trí của con người trong thế giới tự nhiên mới được đặt ra trên nền tảng khoa học thực sự khi Cac Linnây xếp con người vào cùng hệ thống với thế giới động vật Sau đó, công trình của Đacuyn được công bố năm 1871, nguồn gốc động vật của loài người đã được nhiều ngành, nhiều nhà khoa học tìm kiếm, chứng minh bằng những bằng chứng khoa học, trong đó nổi bật nhất là việc phát hiện những di cốt hóa thạch của loài vượn cổ và người vượn trung gian, cho phép khôi phục lại các mắt xích của quá trình chuyển biến từ vượn thành người Lấy công trình nghiên cứu của Đacuyn làm cơ sở, các nhà khoa học đã nhận thấy tiến hóa

là một thực tế khoa học khi có rất nhiều bằng chứng về tiến hóa đã được khám phá và hình thành nên sơ đồ tiến hóa sau:

Bộ động vật linh trưởng – Người vượn – Người khéo léo – Người đứng thẳng – Người cận đại – Người hiện đại

Chúng ta có thể điểm qua một vài đặc điểm của từng giai đoạn trong sơ đồ tiến hóa như sau:

Bộ động vật linh trưởng (The primates)

Linh trưởng là một bộ thuộc giới động vật, ngành động vật có dây sống, phân ngành động vật có xương sống, lớp Thú Theo dấu vết hóa thạch, tổ tiên của linh trưởng có thể đã tồn tại và thời kì Creta muộn cách đây khoảng 65 triệu năm Đặc

Trang 10

trưng quan trọng của bộ động vật linh trưởng là sống trên cây và phụ thuộc vào các điều kiện của môi trường sống Tay chân của chúng phát triển để nắm, chộp, thay cho móng vuốt, di chuyển bằng hai chi trước, giảm bớt chức năng ngửi, nhưng lại tập trung vào thị giác và thính giác và hoàn chỉnh xúc giác Sự thay đổi các cơ quan giác quan này đã làm cho não bộ của chúng có kích thước lớn, nhờ đó chúng có thể luôn quan sát

và săn sóc con cái

Hầu hết các Primate đều ăn thực vật và họ người đầu tiên có lẽ cũng vậy Nhưng cũng có bằng chứng hóa thạch cho rằng ít nhất ở Kỷ Pliocene đã có một số loài người chuyển qua ăn tạp

Người vượn (Australopithecus)

Ở giai đoạn đầu quá trình hình thành loài người, loài vượn cổ sống khoảng 6 triệu năm trước đây Vào khoảng 3-4 triệu năm, người vượn tối cổ tiến hóa từ người vượn

cổ Đặc điểm của người vượn là đi bằng hai chân nhưng còn khom, thể tích hộp sọ lớn,có thể tích não khoảng 450-750 cm3 Sống trên cạn cùng với tư thế thẳng đứng và

đi bằng 2 chân cũng như những thay đổi do lối sống trên cây đã dẫn đến sự thay đổi vượt bậc trong tiến hóa Việc di chuyển bằng 2 chân, giúp giải phóng 2 chi trước khỏi chức năng di chuyển và dùng chúng vào việc khác Bằng hình thức hái lượm, người vượn sử dụng thực vật làm nguồn thức ăn chủ yếu, tác động rất ít vào môi trường Bộ xương của họ được tìm thấy ở Đông Phi , Gia-va (Indonexia), Bắc Kinh (Trung Quốc), Thanh Hóa (Việt Nam) Sự xuất hiện của người tối cổ – từ vượn cổ thành người vượn

cổ – đánh đấu sự tiến triển nhảy vọt từ vượn thành người và là tiền đề cho người tinh khôn hiện tại

Người khéo léo (Homo habilis)

Người khéo léo hay còn được gọi là người tối cổ, là một loại thuộc chi Homo, đã từng sinh sống trong khoảng thời gian trước đây từ 2,2 triệu năm cho tới ít nhất 1,6 triệu năm trước Người khéo léo được cho là loài đầu tiên thuộc chi Người xuất hiện

Cơ thể người khéo léo nhỏ nhắn, cao khoảng 1m30, nặng 30-50kg, kích thước sọ não đạt 600-850cm3, Lông thưa thớt, phân biệt nam nữ rõ ràng Thức ăn là quả, hạt, động vật nhỏ,…Tay được dùng để cầm nắm, biết chế tạo công cụ và sử dụng công cụ được

Trang 11

chế tạo Nhờ đặc điểm này mà chúng di chuyển nhanh chóng trong môi trường sống và tìm được nhiều mồi hơn Công cụ được sử dụng hiện vẫn còn nhiều tranh cãi

Trong quá trình tiến hóa, để thích nghi với điều kiện khí hậu nhiệt đới, cơ thể loài người dần dần hình thành các tuyến bài tiết để thoát hơi nước ở da (còn gọi là đổ mồ hôi) Ngoài ra, nhóm người này còn sống dưới các bóng cây to, thu lượm trái, hạt và rễ,

củ làm phần thức ăn quan trọng Ở thời kỳ này, hình thái kinh tế chủ yếu của con người

là săn bắt - hái lượm Săn bắt các động vật nhỏ như côn trùng, giun, ốc sên, kỳ nhông

và đôi khi ăn cả trứng chim Sống thành đàn, khoảng vài chục cá thể hay nhiều hơn, nhưng chưa phải là đời sống xã hội Biết sử dụng gai nhọn của cây, chế tác một số công

cụ từ xương, răng, sừng, từ đá Thường núp dưới những cành cây rậm lá để nghỉ ngơi

và quan sát đồng cỏ hay những vũng nước kế cận Các âm thanh và mùi được ghi nhận chính xác Họ ghi nhận các tập tính của các loài vật khác, nhận biết các mùa và tri thức của họ được tích lũy dần Nhờ quan sát tốt, họ có thể săn bắt tốt, nên thức ăn có nhiều thịt hơn – góp phần đáng kể cho hoạt động tăng cường trí não Trong cuộc sống dần dần xuất hiện sự phân công lao động sơ khai như cá thể nam đi xa săn bắt, cá thể nữ ở nhà sinh và nuôi con Mối quan hệ phức tạp dần dần đòi hỏi sự phát triển ngôn ngữ giao tiếp Bắt đầu thích nghi với sự trồng trọt Gia tăng khả năng tác động vào môi trường

Người đứng thẳng (Homo Erectus)

Giống với người khéo léo, người đứng thẳng cũng thích đi xa và phân tán rộng khắp nơi trên thế giới, cụ thể là ở các khu vực như châu Phi, châu Âu, Úc, Mỹ, Điểm nổi bật hơn ở người đứng thẳng, nơi định cư sẽ là những nơi có khí hậu ôn hòa Họ sống thành từng nhóm khoảng 30 cá thể Với cách sống này dẫn đến việc sẽ có nguồn gen và hệ sinh thái phong phú nhưng các bệnh truyền nhiễm vì thế mà dễ lan truyền hơn, nên người đứng thẳng có tuổi thọ trung bình chỉ nằm trong khoảng 20 – 25 năm Đặc điểm hình thể của người đứng thẳng là:

- So với chúng ta ngày nay thì người đứng thẳng sẽ có não nhỏ hơn và hàm lớn hơn, nhưng về cơ bản thì vẫn giống chúng ta;

- Người đứng thẳng không có móng vuốt cũng như là răng nanh;

Ngày đăng: 24/12/2023, 10:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w