Chương 1. Cơ sở lí luận về thị trường chứng khoán Chương 2. Thực trạng về số lượng và chất lượng của hàng hóa tại trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh. Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng và số lượng cho hàng hoá tại Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Ngày 20/7/2000, trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ ChíMinh chính thức khai trương hoạt động- thị trường chứng khoán Việt Nam ra đờimang lại những sự thay đổi lớn lao trong nền kinh tế Việt Nam Sau hơn 6 năm hoạtđộng và phát triển, thị trường chứng khoán đã chứng tỏ là kênh huy động và đầu tưvốn không thể thiếu, mang lại những thành tựu to lớn, gặt hái nhiều thành công, cónhiều dấu ấn, đặc biệt là sự phát triển vượt bậc của thị trường chứng khoán trongnăm 2006 đã góp phần nâng cao vị thế của thị trường chứng khoán Việt nam trêntrường quốc tế Thị trường chứng khoán nước ta ngày càng được đánh giá cao, thuhút được sự tham gia đông đảo của các nhà đầu tư trong nước và các nhà đầu tưnước ngoài, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước Trong đó phải
kể đến sự đóng góp lớn lao của một bộ phận then chốt, luôn dẫn đầu đó là Trungtâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh Trung tâm giao dịch chứngkhoán thành phố Hồ Chí Minh đang từng bước phát triển, hoàn thiện góp phần vàoquá trình phát triển chung của thị trường chứng khoán Để trung tâm giao dịchchứng khoán thành phố Hồ Chí Minh hoạt động thường xuyên, liên tục và ngàycàng phát triển đáp ứng nhu cầu của thị trường thì một vấn đề cần phải chú ý là làmthế nào để nâng cao số lượng và chất lượng hàng hoá trên trung tâm Xuất phát từthực tế và nghiên cứu về thị trường chứng khoán trong các năm qua, em xin mạnh
dạn chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng và số lượng hàng hoá trên trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh” để viết tiểu luận
môn học thị trường chứng khoán Tiểu luận có kết cấu được chia làm ba chươngbao gồm:
Chương 1 Cơ sở lí luận về thị trường chứng khoán
Chương 2 Thực trạng về số lượng và chất lượng của hàng hóa tại trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.
Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng và số lượng cho hàng hoá tại Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.
Đây là một đề tài rộng, yêu cầu sự phân tích cao, nắm bắt tình hình chắcchắn, do đó trong quá trình làm tiểu luận còn có nhiều vấn đề còn thiếu sót Em rấtmong nhận được sự chỉ bảo, chỉnh sửa của các thầy cô trong bộ môn Thị trườngchứng khoán
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô! Đồng thời, em chân thành cảm ơn tiến sĩ Hoàng Văn Quỳnh - trưởng bộ môn đã hướng dẫn em hoàn thành tiểu luận
này
Hà nội, ngày 27 tháng 02 năm 2007
Sinh viên
Phạm Thị Ngọc Hà
Trang 2Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1.1 Sự ra đời thị trường chứng khoán trên Thế giới.
1.1.1 Sự hình thành của thị trường chứng khoán.
Cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu và tích luỹ trong xã hộikhông ngừng tăng lên và ngày càng trở nên phong phú, đa dạng hơn Thị trường tàichính ra đời đáp ứng các nhu cầu tài chính của xã hội, giúp cho cung và cầu vốn gặpnhau.Thị trường tài chính là nơi các chủ thể tiến hành trao đổi mua bán quyền sửdụng nguồn tài chính thông qua những phương thức giao dịch và công cụ nhất định,
là tổng hoà các mối quan hệ cung và cầu về vốn
Căn cứ vào thời gian luân chuyển vốn, thị trường tài chính được chiathành hai loại: thị trường tiền tệ và thị trường vốn
Thị trường tiền tệ là thị trường vốn ngắn hạn, nơi diễn ra các hoạtđộng của cung và cầu vốn trong ngắn hạn Thị trường tiền tệ là thị trường tài chínhgián tiếp, có sự không đồng nhất về thời gian của nhu cầu vay vốn và khả năng cóthể cung cấp vốn; hạn mức cho vay có hạn; người cho vay không được tự kiểm tra,giám sát khoản vốn của mình; tính thanh khoản của các công cụ của thị trường nàycòn thấp lại thêm chi phí sử dụng vốn huy động từ ngân hàng thương mại Bên cạnh
đó cùng với sự phát triển kinh tế, nhu cầu về vốn dài hạn cho đầu tư phát triển ngàycàng cao Trước khó khăn, hạn chế của hoạt động trung gian tài chính thì để giảiquyết khó khăn cần có một thể chế thị trường mới đó là thị trường vốn
Thị trường vốn là nơi diễn ra các hoạt động của cung và cầu về vốndài hạn Thị trường này cung cấp tài chính cho các khoản đầu tư dài hạn của Chínhphủ, của các doanh nghiệp và hộ gia đình Thị trường vốn có thị trường vay nợ dàihạn và thị trường chứng khoán
Để huy động vốn dài hạn lớn, Chính phủ và một số doanh nghiệp cònthực hiện huy động thông qua việc phát hành các chứng khoán Khi một bộ phậncác chứng khoán có giá nhất định đã được phát hành thì tất yếu sẽ làm nảy sinh nhucầu về mua bán, trao đổi các chứng khoán đó Vì vậy thị trường chúng khoán đã rađời với tư cách là một thị trường vốn
1.1.2 Khái niệm thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán là nơi các chứng khoán được phát hành vàtrao đổi, thông qua đó một bộ phận vốn được huy động và luân chuyển trong nềnkinh tế
Thị trường chứng khoán đầu tiên trên thế giới ra đời vào năm 1780
Từ năm 1790, chính phủ liên bang Mỹ đã phát hành trái phiếu Chính phủ lên tới 80triệu USD để tài trợ cho các dự án của Nhà nước Đến năm 1792, thị trường chứng
Trang 3khoán New York đi vào hoạt động Thị trường chứng khoán Trung Quốc ra đời vàonăm 1990….
1.1.3 Đặc điểm của thị trường chứng khoán
Thị trường chứng khoán được đặc trưng bởi hình thức tài chính trựctiếp, người cần vốn và người có khả năng cung ứng vốn đến trực tiếp tham gia vàothị trường, giữa họ không có trung gian tài chính
Thị trường chứng khoán là thị trường gần với thị trường cạnh tranhhoàn hảo Mọi người đều được tự do, bình đẳng tham gia vào thị trường Không có
sự áp dặt giá cả trên thị trưòng mà giá cả ở đây được xác định dựa trên quan hệcung cầu về hàng hoá trên thị trường và phản ánh các thông tin có liên quan đếnchứng khoán Đây là một thị trường có nhiều người mua, nhiều người bán, là thịtrường tương đối đồng nhất
Thị trường chứng khoán về cơ bản là một thị trường liên tục Sau khicác chứng khoán được phát hành trên thị trường sơ cấp thì có thể được mua bánnhiều lần trên thị trường thứ cấp Thị trường chứng khoán đảm bảo cho các nhà đầu
tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ nắm giữ thành tiền bất cứ lúc nào mà họmuốn., cho phép khách hàng có thể mua bán chứng khoán bất cứ lúc nào khi họ cần
1.1.4 Chức năng của thị trường chứng khoán.
Chức năng huy động vốn cho nền kinh tế Đây là một khả năng hếtsức cơ bản của thị trường chứng khoán.Thị trường chứng khoán hoạt động tạo ramột cơ chế chuyển các nguồn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, cung cấp phương tiệnhuy động số vốn nhàn rỗi trong dân cư cho các doanh nghiệp sử dụng vào nhiềumục đích khác nhau trong nền kinh tế như đầu tư phát triển sản xuất, thay thế trangthiết bị máy móc hiện đại… Qua thị trường sơ cấp của thị trường chứng khoán,những doanh nghiệp nào cần vốn thông qua phát hành chứng khoán mà được cácnhà đầu tư mua thì sẽ huy động một số lượng vốn lớn trong dài hạn mà thời gianhuy động vốn ngắn Mặt khác thông qua thị trường chứng khoán, chính phủ và cácchính quyền địa phương huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng vàđầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ cho các nhu cầu chung của xã hội
Chức năng cung cấp khả năng thanh khoản cho các chứng khoán.Công cụ của thị trường chứng khoán là các chứng khoán Thị trường chứng khoán
là nơi các chứng khoán được mua bán và trao đổi, nên thông qua thị trường chứngkhoán các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán mà họ nắm giữ thành tiềnhoặc các chứng khoán khác mà họ muốn với chi phí thấp nhất Bộ phận của thịtrường chứng khoán cho phép việc mua bán các chứng khoán diễn ra bất cứ lúc nào
là thị trường thứ cấp Khả năng thanh khoản hay khả năng chuyển đổi thành tiền củachứng khoán là một trong những yếu tố quyết định tính hấp dẫn của chứng khoán
Trang 4đối với nhà đầu tư và đảm bảo cho thị trường chứng khoán hoạt động một cáchnăng động và hiệu quả.
Chức năng đánh giá giá trị của doanh nghiệp và tình hình của nềnkinh tế Trong nền kinh tế hiện đại, thì hình thức công ty cổ phần đang phát triển.Đối với các doanh nghiệp khi có nhu cầu cần vốn thì một trong các cách có hiệu quả
là huy động qua thị trường chứng khoán Đồng thời thị trường chứng khoán là mộttrong những kênh tạo vốn cho Chính phủ để điều hành, phát triển nền kinh tế phục
vụ cho những mục tiêu xã hội và thông qua thị trường chứng khoán cũng chỉ báođược tình hình kinh tế trong tương lai.Thị trường chứng khoán là nơi đánh giá giátrị của doanh nghiệp và tình hình của nền kinh tế một cách tổng hợp và chính xácthông qua chỉ số giá chứng khoán trên thị trường
Chức năng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô.Thị trường chứng khoán là thị trường nơi cung và cầu dài hạn gặp nhau Trên thịtrường chứng khoán giá cả của các chứng khoán phản ánh sự phát triển của cácdoanh nghiệp nói riêng và của các ngành kinh tế nói chung Khi giá chứng khoántăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng và ngược lại khi giáchứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế Thị trườngchứng khoán được coi là một phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quantrọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô Thông qua thị trườngchứng khoán, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồnthu bù đắp thâm hụt ngân sách và điều chỉnh cung, cầu tiền trong nền kinh tế, quản
lý lạm phát Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số biện pháp tác độngvào thị trường chứng khoán nhằm định hướng đầu tư, đảm bảo cho sự phát triển cânđối của nền kinh tế
1.1.5 Công cụ của thị trường chứng khoán.
Trên thị trường chứng khoán, công cụ là các loại chứng khoán khácnhau Theo điều 6 của luật chứng khoán Việt Nam đã được Quốc hội khoá XI thôngqua tháng 6 năm 2006 và chính thức áp dụng từ ngày 01/01/2007, chứng khoán làbằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sảnhoặc phần vốn của tổ chức phát hành Chứng khoán được thể hiện dưới hình thứcchứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây:
a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;
b) Quyền mua bán cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyềnchọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán
Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp củangười sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành
Trang 5Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp phápcủa người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành.
Chứng chỉ quỹ là loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu của nhàđầu tư đối với một phần vốn góp của quỹ đại chúng
Quyền mua cổ phần là loại chứng khoán do công ty cổ phần phát hànhkèm theo đợt phát hành cổ phiếu bổ sung nhằm đảm bảo cho cổ đông hiện hữuquyền mua cổ phiếu mới theo những điều kiện đã được xác định
Chứng quyền là loại chứng khoán được phát hành cùng với việc pháthành trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi, cho phép người sở hữu chứng khoán đượcquyền mua một số cổ phiếu phổ thông nhất định theo mức giá đã được xác địnhtrước trong thời kỳ nhất định
Quyền chọn mua, quyền chọn bán là quyền được ghi trong hợp đồngcho phép người mua chọn lựa quyền mua hoặc quyền bán một số lượng chứngkhoán được xác định trước trong khoảng thời gian nhất định với mức giá được xácđịnh trước
Hợp đồng tương lai là cam kết mua hoặc bán các loại chứng khoán,nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán nhất định với một lượng và mức giánhất định vào ngày xác định trước trong tương lai
1.2 Sự ra đời và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam.
Xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán là mục tiêu đã đượcĐảng và Chính phủ Việt Nam định hướng từ những năm đầu thập kỷ 90 (thế kỷ 20)nhằm xác lập một kênh huy động vốn mới cho đầu tư phát triển Việc nghiên cứu,xây dựng đề án thành lập thị trường chứng khoán đã được nhiều cơ quan Nhà nước,các Viện nghiên cứu phối hợp đề xuất với Chính phủ
Tháng 9/1994, Chính phủ quyết định thành lập Ban soạn thảo Pháplệnh về chứng khoán và thị trường chứng khoán Trên cơ sở Đề án của Ban soạnthảo kết hợp với đề án của Ngân hàng Nhà nước và ý kiến của các Bộ, ngành liênquan ngày 29/6/1995, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 361/QĐ-TTgthành lập Ban Chuẩn bị tổ chức thị trường chứng khoán giúp Thủ tướng Chính phủchỉ đạo chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc xây dựng thị trường chứng khoán
ở Việt Nam Đây là bước đi có ý nghĩa rất quan trọng nhằm thúc đẩy quá trình hìnhthành thị trường chứng khoán, làm tiền đề cho sự ra đời cơ quan quản lý Nhà nướcvới chức năng hoàn chỉnh và đầy đủ hơn
Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước được thành lập ngày 28/11/1996 theoNghị định số 75/CP của Chính phủ, là cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chứcnăng tổ chức và quản lý Nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán Việcthành lập cơ quan quản lý thị trường chứng khoán trước khi thị trường ra đời làbước đi phù hợp với chủ trương xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán ở
Trang 6Việt Nam, có ý nghĩa quyết định cho sự ra đời của thị trường chứng khoán sau đóhơn 3 năm Cho đến khi Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minhchính thức đi vào hoạt động ngày 20/07/2000 thì thị trường chứng khoán Việt Nam
ra đời
Hơn 6 năm thành lập, thị trường chứng khoán Việt Nam dã chứng tỏ
là kênh huy động vốn không thể thiếu, bên cạnh lĩnh vực Ngân hàng
1.3 Sự ra đời và phát triển của Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.
1.3.1 Lịch sử ra đời của Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.
Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh được thànhlập theo quyết định số 127/1998/QĐ- TTg ngày 11/07/1998 của Thủ tường Chínhphủ và chính thức đi vào hoạt động thực hiện phiên giao dịch đầu tiên ngày20/07/2000 đã đánh dấu một sự kiện quan trọng trong đời sống kinh tế- xã hội củađất nước Sự ra đời của Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
có ý nghĩa rất lớn trong việc tạo ra một kênh huy động và luân chuyển vốn mớiphục vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là sản phẩm của nềnkinh tế chuyển đổi cơ cấu kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hộicủa Đảng và Nhà nước ta Là dơn vị sự nghiệp có thu, có tư cách pháp nhân, có trụ
sở, có con dấu và tài sản riêng, kinh phí hoạt động do Nhà nước cấp Trung tâmgiao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh được Nhà nước giao cho một sốchức năng, nhiệm vụ và quyền hạn quản lý điều hành hệ thống giao dịch chứngkhoán; quản lý điều hành hệ thống giao dịch, thực hiện hoạt động quản lý niêm yết,công bố thông tin, giám sát giao dịch và một số hoạt động khác như đấu giá cổ phần
và đấu thầu trái phiếu Để thực hiện tốt các chức năng, Trung tâm giao dịch chứngkhoán thành phố Hồ Chí Minh có cơ cấu tổ chức khá chặt chẽ, bao gồm: Giám đốc
và các phó giám đốc, có 8 phòng, ban (Phòng Quản lý niêm yết, Phòng Quản lýthành viên, Phòng Giám sát giao dịch, Phòng công nghệ tin học, Phòng Thông tinthị trường, Phòng hành chính Tổng hợp, Phòng Tài chính Kế toán và Ban Quản lý
Trang 7giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh đã có rất nhiều loại chứng khoánkhác nhau, phong phú về chủng loại, phần lớn ổn định về chất lượng bao gồm cổphiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ và các chứng khoán khác.
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng và số lượng của trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Để Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh đạtđược các mục tiêu chiến lược luôn là Trung tâm trọng yếu của thị trường chứngkhoán Việt Nam thì đẩy mạnh sự gia tăng của chứng khoán giao dịch trên Trungtâm cả về chất lượng và số lượng là điều rất quan trọng Nghiên cứu về vấn đề này,cần chú ý đến các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng và số lượng của hàng hoá
Trước hết là sự phát triển của nền kinh tế và thị trường tài chính Nếumột nền kinh tế tăng trưởng vững chắc, thị trường tài chính ổn định sẽ cung cấpcho thị trường chứng khoán những hàng hoá có chất lượng cao, số lượng nhiều vàchủ thể tham gia lớn Nếu một nền kinh tế suy thoái, thị trường tài chính bất ổn, haykém năng động thì hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết gặp nhiều khó khăn,
do đó thị trường sẽ kém sôi động Số luợng hàng hoá trên thị trường sẽ ít đi và kémchất lượng Khi đó thị trường hoạt động sẽ kém hiệu quả và bất ổn làm ảnh hưởngtới trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Thứ hai là các doanh nghiệp niêm yết Chứng khoán chỉ đáng tin cậykhi các tổ chức phát hành ra chúng là các doanh nghiệp làm ăn đứng đắn, có uy tín,
có thành tích kinh doanh tốt, hiệu quả kinh tế phát triển cao, có triển vọng phát triểnvới quy mô lớn, có hệ thống quản lý và quản trị tiên tiến, tiềm năng cạnh tranhmạnh và phải công khai, minh bạch, đảm bảo quyền lợi công bằng cho cổ đôngcũng như quyền lợi của các bên liên quan tới doanh nghiệp Số lượng của chứngkhoán sẽ tăng khi các doanh nghiệp cổ phần hoá đăng ký niêm yết tăng lên TuyNhà nước đã có nhiều chính sách khuyến khích doanh nghiệp niêm yết như miễngiảm thuế thu nhập doanh nghiệp, miễn phí phát hành, niêm yết… nhưng phần lớncác công ty đã cổ phần hoá vẫn đang đứng ngoài thị trường chứng khoán có tổ chức,không muốn phát hành chứng khoán ra công chúng
Thứ ba, một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, ổn định; cácchính sách hợp lý sẽ lôi kéo sự tham gia vào thị trường chứng khoán của nhiềudoanh nghiệp Từ đó góp phần nâng cao số lượng của các chứng khoán trên trungtâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh Hệ thống pháp luật đầy đủ,đồng bộ, khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao, cạnhtranh lành mạnh, được đảm bảo về pháp lý, tạo điều kiện mở rộng quy mô sản xuất,cải tiến kỹ thuật Do đó giúp cho chất lượng của các chứng khoán được đảm bảo vànâng cao, tăng khả năng phát hành chứng khoán cho thị trường
Trang 8Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ SỐ LƯỢNG VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA HÀNG HOÁ TẠI TRUNG TÂM GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
THÀNH PHÓ HỒ CHÍ MINH
2.1 Thực trạng về hoạt động của trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh từ ngày thành lập (20/7/2000) đến nay.
2.1.1 Giai đoạn từ ngày khai trương 20/07/2000 đến cuối tháng 06/2001.
Ngày 20/07/2000, Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố HồChí Minh chính thức khai trương hoạt động chỉ với hai cổ phiếu là REE và SAM
và một số trái phiếu Chính phủ Đến cuối giai đoạn này trên trung tâm giao dịchchứng khoán thành phố Hồ Chí Minh chỉ có 11 chứng khoán (trong đó cổ phiếu là 5loại và trái phiếu là 6 loại) Với lạc quan về nền kinh tế Việt Nam, triển vọng pháttriển nền kinh tế của các nước và cũng là tính tò mò, sự mới lạ của thị trường chứngkhoán Việt Nam… các nhà đầu tư rất hăng hái tham gia thị trường, với số lượng là
từ 3000 tài khoản vào cuối năm 2000 đã tăng lên mức khoảng 7000 tài khoản giaodịch chứng khoán Từ đó tạo ra một áp lực cung rất lớn Cầu vượt cung hàng chụclần, giá cổ phiếu tăng liên tục và kịch trần qua các phiên giao dịch Chỉ số VN-Index từ 100 điểm ngày giao dịch đầu tiên, sau khoảng 11 tháng cho đến ngày25/06/2001 đạt đỉnh điểm là 571.04 điểm Cổ phiếu tăng giá liên tục kịch trần quacác phiên giao dịch, làm cho nhà đầu tư ngộ nhận đây là môi trường đầu tư siêu lợinhuận, nên đã đổ xô vào mua cổ phiếu bằng mọi giá, bất chấp đó là loại cổ phiếu gì
và công ty hoạt động như thế nào, dẫn đến tạo ra cơn sốt giá cổ phiếu trên thị trườngchứng khoán Việt Nam Nhiều loại cổ phiếu tăng giá trên 10 lần trong khi tình hìnhhoạt động của công ty vẫn bình thường, thậm chí có xu hướng đi xuống Mặc dù,việc tăng giá cổ phiếu đối với thị trường mới đưa vào vận hành là điều thường thấy,tuy nhiên do khả năng đưa hàng hoá cổ phiếu bổ sung cho thị trường rất kém, cộngvới trình độ dân trí về chứng khoán thấp, tâm lý đầu tư vào chứng khoán thấp, tâm
lý đầu tư vào chứng khoán bằng mọi giá nên đã không đáp ứng được nhu cầu đầu tưcủa công chúng, tình trạng đó đã tạo nên một giá ảo qua lớn gây khó khăn cho cácnhà quản lý thị trường Để tạo điều kiện cho nhà đầu tư sử dụng hiệu quả nhiều mứcgiá lựa chọn, tránh lựa chọn mua duy nhất kịch trần (+2%) UBCKNN đã điều chỉnhbiên độ giao dịch cổ phiếu là +2% và -2% từ ngày đi vào phiên giao dịch lên +7%
và -7% vào ngày 13/06/2001 Đồng thời hạn chế khối lượng đặt lệnh mua cho 1 loại
cổ phiếu với số lượng tối đa là 2000 cổ phiếu từ ngày 22/06/2001; sau đó tăng lên5000/cổ phiếu/lệnh/ phiên từ ngày 20/7/2001, đưa ra thông tri về thời hạn nắm giữ
Trang 9cổ phiếu đưa thêm hàng hoá vào niêm yết… Tuy nhiên việc mở rộng biện độ lớntrong khi lượng hàng hoá đưa vào thị trường chứng khoán không đáp ứng được nhucầu của nhà đầu tư, nên giá chứng khoán tăng càng mạnh (mỗi phiên +7%), làm chothị trường càng mất cân đối cung cầu lớn.
Qua hơn 80 phiên giao dịch chúng ta có thể thấy rõ khó khăn màTrung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh vấp phải đó là sự thiếuhụt hàng hoá một cách trầm trọng Điều đó được minh chứng bởi số công ty nêmyết cổ phiếu (5 công ty) và 3 loại trái phiếu của Chính phủ và một loại trái phiếu củangân hàng đầu tư và phát triển Các loại hàng hoá khác như trái phiếu công, chứngchỉ quỹ đầu tư, các công cụ phái sinh… hoàn toàn chưa có mặt trên thị trường
Chủng loại hàng hoá đã ít, lại thêm sự mất hút của hàng hoá (hàng hoámất hút 19 phiên giao dịch liên tiếp như chứng khoán TMS) lại càng làm cho thịtrường trở nên khan hiếm Nhìn chung sự có mặt thường xuyên của 4 loại cổ phiếu
đã làm giảm đi sự ảm đạm của thị trường Trái phiếu Chính phủ bao gồm 3 loại đãphát hành với khối lượng lớn thời đầu kỳ Tuy nhiên, trên thực tế việc thực hiệnkhông có người mua cũng như không có người bán trái phiếu, chỉ có trái phiếu củaNgân hàng đầu tư và phát triển là được giao dịch thường xuyên hơn Thời gian này,mức cầu chứng khoán thường cao hơn mức cung dẫn đến giá trị của chứng khoánthường cách xa rất nhiều so với giá trị thực, nó làm ảnh hưởng tới tâm lý của cácnhà đầu tư
Tính đến hết tháng 2 năm 2001 thì tổng giao dịch trên Trung tâm giaodịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh đạt con số rất khiêm tốn, khoảng 100 tỷVNĐ, chỉ bằng 1/4 ngày giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán Jakarta (Indonexia)
và là một khối lượng không đáng kể so với một phiên giao dịch tại Sở chứng khoánLondon (Anh) hay Sở giao dịch chứng khoán NewYork (Mỹ) Điều này có thể lýgiải được là do hàng hoá trên Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ ChíMinh vừa ít về chủng loại vừa ít về số lượng hàng hoá Chính nguyên nhân trên đãgây ra hiện tượng cầu trên thị trường luôn luôn căng thẳng gấp nhiều lần cung Tìnhtrạng mất cân đối cung- cầu một cách nghiêm trọng kéo dài trong nhiều phiên giaodịch đã gây không ít hoài nghi về sự thành công của thị trường chứng khoán ViệtNam và điển hình là Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh Sựmất cân đối cung cầu một cách liên tục qua nhiều phiên giao dịch được minh chứngqua giá của hàng hoá: REE, SAM, HAP, TMS… tăng lên liên tục từ phiên giao dịchngày 06/9/2000 đến phiên giao dịch ngày 09/2/2001, có cổ phiếu lên đến gần100.000đồng / cổ phiếu
Trang 102.1.2 Giai đoạn từ tháng 07/2001 đến tháng 10/2003.
Từ đầu tháng 7/2001 đến đầu tháng 10/2001 là giai đoạn giá chứngkhoán giảm liên tục, lúc đó trên thị trường xảy ra tình trạng giảm cầu chứng khoán,giá cả chứng khoán giảm mạnh Để tránh biến động lớn cho thị trường trong tìnhhình có sự khác biệt giữa khối lượng và các lệnh đặt mua với mức giá cao trong khi
có quá ít lệnh bán, nên đang từ việc áp dụng biên độ giao dịch cổ phiếu +7% và -7%
Uỷ ban chứng khoán Nhà nước đã hạ thấp biên độ xuống +3% và -3% kể từ ngày9/10/2001, huỷ bỏ những hạn chế đặt lệnh mua bán chứng khoán Kết quả là giáchứng khoán liên tục giảm, sau 3 tháng chỉ số VN-Index giảm xuống ở mức khoảngtrên 200 điểm (ngày 8/10/2001 chỉ số VN-Index là 217.1), trên 80% nhà đầu tư bịthua lỗ nặng Đây là giai đoạn lòng tin của các nhà đầu tư bị suy giảm
Từ tháng 10/2001 đến tháng 10/2003 cung hàng hoá chứng khoán tiếptục tăng lên cho tới 19 cổ phiếu của 19 công ty niêm yết và 34 loại trái phiếu Trongkhi đó các cơ quan quản lý lại tiếp tục bơm thêm hàng hóa vào thị trường làm giáthị trường lại tăng thêm mức độ trầm lắng Chỉ số VN-Index xoay quanh 190 điểm,giá các cổ phiếu giao động nhỏ, thậm chí có nhiều loại cổ phiếu không giao dịch,đại đa số các trái phiếu không giao dịch Đặc biệt là ngày 20/9/2002 đến10/02/2003, lòng tin của công chúng liên tục giảm sút rõ rệt do cả về phía công tác
tổ chức vận hành thị trường lẫn hàng hoá trên thị trường tập trung có những vấn đề
từ phía công ty (kế hoạch dề ra quá cao nên không đạt được mục tiêu đề ra nhưcông ty Bibica, hay việc gian lận về hoàn thuế giá trị gia tăng từ công ty Canfocodẫn đến giá cổ phiếu CAN bị đình chỉ giao dịch) Chỉ số giá chứng khoán VN-Indextụt xuống mức dưới 170 điểm và mức thấp kỷ lục là 130.9 điểm (tại phiên giao dịch
562 ngày 24/10/2003)
Theo đánh giá của Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố HồChí Minh năm 2002, chỉ số VN-Index vẫn giảm sút và chỉ xoay quanh mức 200điểm, cách xa mức 300 điểm cuối tháng 11/2001 và cho đến cuối tháng 3/2003 chỉ
số này giảm xuống còn 180 điểm Trước tình hình đó Trung tâm đã chính thức tăng
số phiên giao dịch trong tuần từ 3 đến 5 phiên kể từ ngày 1/03/2002 nhằm kích cầu
và ngăn chặn xu hướng giảm sút của chỉ số giá chứng khoán , tuy nhiên cách làmnày cũng làm cho chỉ số VN-Index chững lại và tăng không nhiều
Từ tháng 6 đến hết tháng 10 năm 2002, xu hướng giảm cả về chứngkhoán cả về khối lượng giao dịch từng phiên lại bắt đầu quay trở lại Trong thờigian này, việc tổ chức niêm yết công bố thông tin không chính xác về tình hình hoạtđộng kinh doanh của mình đã khiến lòng tin của nhà đầu tư đối với thị trường bị
Trang 11lung lay Chỉ số VN-Index từ 210 điểm vào thời điểm tháng 5/2002 đã giảm liên tục
và đạt mức thấp nhất là 174.62 vào phiên giao dịch ngày 07/11/2002 Đây khôngchỉ là mức thấp nhất của chỉ số VN-Index trong năm 2002 mà còn là mức thấp nhất
kể từ đầu năm 2001 Đúng trong thời gian này, cổ phiếu của công ty đồ hộp HạLong bị ngưng giao dịch do những gian lận trong việc khai báo hoàn thuế giá trị giatăng càng làm xói mòn lòng tin của nhà đầu tư
Tuy hoạt động trong thời gian qua không sôi động nhưng nguyênnhân chính hoàn toàn không phải do hoạt động kinh doanh kém của các tổ chứcniêm yết Doanh thu 9 tháng đầu năm 2002 đều đạt mức tăng trưởng cao hơn cùng
kỳ năm 2001 từ 5 đến 20% Thị giá cổ phiếu giảm trong thời gian dài và đã xuốngmức thấp nhất là 130.9 điểm Nhưng điều đáng nói ở đây là giá cổ phiếu giảm trongkhi tình hình sản xuất kinh doanh của các công ty niêm yết vẫn còn dẫu hiệu tốt.Năm 2002, hầu hết các công ty đều có doanh thu và lợi nhuận tăng so với năm 2001
và đều hoàn thành kế hoạch năm 2002
Về các giao dịch trái phiếu thì trong giai đoạn từ tháng 7/2000 đếntháng 12/2002, trừ một số ít các nhà đầu tư có tổ chức, phần lớn các nhà đầu tưchưa quan tâm đến các loại trái phiếu niêm yết Chỉ tính trong năm 2002, khốilượng trái phiếu giao dịch bình quân mỗi phiên là 2.595 trái phiếu, tương ứng vớigiá trị 252.655.500 VNĐ kể cả giao dịch thoả thuận, trong đó các con số này đối với
cổ phiếu là 151.339 cổ phiếu, tương ứng với 4.064.956.156 VNĐ Nguyên nhân củahiện tượng này có thể là do khả năng hưởng chênh lệch giá khi mua bán trái phiếukhông cao như cổ phiếu, lãi suất ngân hàng tại thời điểm này là khá hấp dẫn
Giai đoạn từ tháng 1/2003, tình hình giao dịch chứng khoán trên thịtrường cũng không có gì là sáng lên, thị trường cổ phiếu gần như đóng băng Cácnhà đầu tư đã chuyển hướng sang kinh doanh trái phiếu Giá một loại cổ phiếu đãxuống dưới mệnh giá, các giải pháp mang tính kỹ thuật của Uỷ ban chứng khoánNhà nước và Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh dường nhưbất lực trước sự tuột dốc của thị trường
Về chỉ số VN-Index, nếu so sánh giá đóng cửa phiên giao dich đầutiên của năm 2003 thì chỉ số trung bình giá chứng khoán không thay đổi bao nhiêu.Mức chênh lệch giữa hai giai đoạn này chỉ là -16.47 điểm, tương ứng với 9.87%.Tuy nhiên trong suốt cả năm 2003, mức biến động của chỉ số này được thiết lập vàongày 24/10/2003 tại mức điểm 130.9 điểm, chênh lệch so với mức cao nhất kể trên
là -52.51 điểm, tương ứng với -40.18%
Trang 12Như vậy, trong suốt thời gian từ đầu năm đến tháng 10/2003, chỉ sốVN-Index liên tục biến động theo xu hướng giảm sút rõ rệt, chỉ gián đoạn trong thờigian rất ngắn, không đủ để thay đổi xu hướng biến động Ngược lại với tình hìnhtrên thì trong hai tháng, từ đầu tháng 11 đến cuối tháng 12, xu hướng biến động củachỉ số này đã đảo ngược lại, với mức độ tăng lên nhanh chóng.
Tình hình giao dịch khớp lệnh trong năm 2003 cũng biến động cùngchiều với xu hướng tăng giảm cầu chỉ số VN-Index Theo các số liệu thống kê, khốilượng giao dịch khớp lệnh bình quân phiên cổ phiểu tổng khoảng thời gian từ đầunăm 2003 đến cuối tháng 10/2003 chỉ đạt 77.201 cổ phiếu, trong khi khối lượnggiao dịch trong hai tháng cuối năm đạt mức bình quân 168.196 cổ phiếu, tức là caohơn khối lượng bình quân của giai đoạn trước 2.18 lần Trong số 22 cổ phiếu niêmyết cho đến ngày 31/12/2003, cổ phiếu REE vẫn tiếp tục là cổ phiếu có tỷ trọng giaodịch cao nhất trên thị trường với khối lượng giao dịch bình quân đạt 34.678 cổphiếu Trong khi đó khối lượng bình quân thấp nhất toàn thị trường thuộc về cổphiếu TS4 với mức giao dịch trung bình đạt 432 cổ phiếu, tức là thấp hơn khốilượng bình quân giao dịch của cổ phiếu REE đến 80 lần
Khối lượng giao dịch khớp lệnh của cổ phiếu cao nhất trong nămđược thực hiện vào ngày 17/11/2003 với 506.350 cổ phiếu.Trong phiên giao dịchnày, chỉ riêng cổ phiếu REE đã được giao dịch với khối lượng 237.710 cổ phiếu,chiếm tỷ trọng 46,35% khối lượng giao dịch toàn thị trường của phiên đấy Ngượclại, phiên giao dịch có khối lượng giao dịch thấp nhất trong năm được thực hiện vàongày 24/7/2003 với 23.210 cổ phiếu được giao dịch.Giao dịch thoả thuận, nếu nhưkhối lượng giao dịch thoả thuận năm 2002 đạt trên 6.000.000 cổ phiếu thì trongnăm 2003 đã giảm xuống còn xấp xỉ 4,5 triệu Tương ứng với tỷ lệ giảm 25,89 %.Khối lượng giao dịch thoả thuận cao nhất năm được thực hiện vào ngày 18/11/2003với trên 241.000 cổ phiếu được giao dịch Toàn bộ khối lượng này thuộc về giaodịch cổ phiếu LAF, cũng là giao dịch bán ra của nhà đầu tư nước ngoài
Trong số 22 cổ phiếu niêm yết, khối lượng giao dịch thoả thuận caonhất thuộc về cổ phiếu GMD với trên 775.000 cổ phiếu được giao dịch Ngược lại,
có 4 cổ phiếu không hề giao dịch thoả thuận là BTC, DPC, HAS và PMS
Trong tình hình thị trường diễn biến không thuận lợi vào những đầutháng 5, sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài là yếu tố quan trọng, có thể tác độngtích cực đến hoạt động giao dịch Tổng cộng khối lượng giao dịch khớp lệnh vàthoả thuận là trên 3.000.000 cổ phiếu, tăng hơn 500.000 cổ phiếu so với năm trước,trong đó bao gồm cả giao dịch 200.000 trái phiếu Chính phủ, là giao dịch trái phiếu
Trang 13đầu tiên của nhà đầu tư nước ngoài vào thời điểm đó kể từ khi thị trường đượcthành lập Sự kiện quan trọng nhất trong năm đánh dấu sự khuyến khích nhà đầu tưnước ngoài tham gia vào giao dịch là việc Chính phủ cho phép nâng tỷ lệ nắm giữ
cổ phiếu của nhà đầu tư nước ngoài từ 20% lên 30% Trong năm 2003, 4 cổ phiếuđược nhà nước ngoài mua nhiều nhất đó là: GMD, BT6, AGF, SAM Đây cũng là
cổ phiếu của các tổ chức niêm yết có hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh đượcgiới đầu tư đánh giá là cao nhất trên thị trường trong năm 2003
2.1.3 Giai đoạn từ cuối tháng 10/2003 đến tháng 7/2004.
Trong giai đoạn này thị trường chứng khoán đã có những chuyểnbiến hết sức tích cực Chỉ số VN-Index ở mức thấp nhất là 130,9 điểm ( phiên thứ562-ngày 24/10/2003) đã tăng lên 159,98 điểm (phiên 672 ngày 21/1/2003) và từ đóthị trường đã có nhiều dấu hiệu phục hồi Có những cổ phiếu trong khoảng thời gian
từ tháng 10/2003 đến nay đã tăng giá100% như REE, BBC, VTC, còn lại đều tăngkhoảng từ 30 đến 40%
Điều này xuất phát từ hai nguyên nhân chính: thứ nhất là do tình hìnhsản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp niêm yết ngày càng tốt, thứ hai là dotrong thời gian qua Đảng Cộng Sản Việt Nam đã có nhiều biện pháp tích cực đểbình ổn và tạo điều kiện cho thị trường chứng khoán phát triển Hội nghị lần thứ IXBCH TW Đảng Cộng Sản Việt Nam xác định cần phải “hoàn thiện và mở rộngnhanh hoạt động của thị trường chứng khoán để sớm trở thành một kênh dẫn vốn cóhiệu quả cho đầu tư phát triển Khuyến khích, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp,nhất là các doanh nghiệp lớn của nhà nước hoạt động có hiệu quả chuyển thànhcông ty cổ phần, phát hành cổ phiếu, trái phiếu tham gia thị trường chứng khoán ”.Bên cạnh đó, sự tham gia mạnh mẽ của nhà đầu tư nước ngoài khi có sự nới lỏng tỷ
lệ nắm giữ của nhà đầu tư nước ngoài từ 20% lên 30% đã làm cho thị trường sôiđộng hơn Theo các chuyên gia chứng khoán, so với thời điểm 31/10/2003, thịtrường cổ phiếu đã tăng khoảng 57% Tuy nhiên, có sự phân hoá về mức tăng củacác nhóm cổ phiếu
2.1.4 Giai đoạn từ tháng 7/2004 cho đến cuối tháng 12/2005.
Đây là giai đoạn tích cực và phát triển của thị trường chứng khoánViệt Nam, là giai đoạn mà Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ ChíMinh đã hoạt động khá sôi động và có hiệu quả
Vào ngày 21/3/2005, Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố HồChí Minh đã chào mừng phiên giao dịch thứ 1000 trên thị trường chứng khoán ViệtNam Những lúc này đây dư luận đã quan tâm nhiều hơn đến thị trường chứng
Trang 14khoán, đến các nhà phát hành Cho đến lúc này thị trường sơ cấp mới được đặt đúngchỗ: thị trường sơ cấp là gốc, là nền tảng tạo ra hàng, tạo ra những người nắm cổphiếu và có nhu cầu trao đổi với nhau để thị trường thứ cấp hoạt động.
Nếu như những phiên giao dịch đầu tiên Trung tâm giao dịch mới chỉ
có khoảng một vài nghìn người Việt Nam biết đến thì đến nay có hàng triệu ngườiViệt Nam quan tâm đến thị trường chứng khoán Nổi trội nhất vẫn là sự trưởngthành của các nhà đầu tư tâm lý bầy đàn hầu như không còn xuất hiện, cách đầu tưđược chuyển từ cảm tính sang lý tính theo những căn cứ là sự phát triển của doanhnghiệp và toàn nền kinh tế
Bước vào phiên giao dịch thứ 1000, chỉ sổ VN- Index bằng với phiênđầu năm 2005 Thú vị hơn là VN- Indexx tăng đến 5,1% chỉ trong 4 phiên giao dịchđầu tuần qua và đạt đến điểm tương đương mức đỉnh của chu kì giảm giá từ tháng
6 /2004 đến nay Giá trị giao dịch trung bình của thị trường từ phiên 1000 đến phiên
1004 đột nhiên tăng vọt lên 12,8 tỷ đồng/phiên, gấp 4 lần so với mức bình quân3,13 tỷ đồng/phiên của 48 phiên đầu năm 2005 và mức bình quân 998 phiên giaodịch là 3.78 tỷ đồng/phiên với nhiều nhà đầu tư, cơ hội dường như đã chín muồitrong mắt họ khi khối lượng giao dich tăng lên đột ngột và giá cổ phiếu tăng saumột thời gian dài ổn đình Nhà đầu tư đến thị trường đông hơn và tiền đổ vào các tàikhoản cá nhân đã nhiều hơn Diễn đàn website vietstock.com.vn cho rằng “ congấu” VN-Index đã vươn vai thức dậy sau thời gian dài ngủ đông
Bảng quy mô giao dịch chứng khoán từ 01/01/2005 đến 01/01/2006:
Loại giao dịch Khớp lệnh Thoả thuận Tổng cộng
Giá trị giao dịch 44.780.683.913 4.454.847.118 49.235.531.031,30Khối lượng giao dịch 617.341.230 22.771.284 673.112.514,00
2.1.5 Giai đoạn từ đầu năm 2006 đến nay.
Năm 2006, thị trường chứng khoán Việt Nam tăng trưởng nhanh trênthế giới; chỉ số VN-Index đạt kỷ lục trong hơn 6 năm qua Bên cạnh đó, luật chứngkhoán đã tạo ra một cuộc đua mới, và chứng khoán trở thành kênh đầu tư hấp dẫnnhất Với sự kiện Việt Nam gia nhập WTO khiến thị trường chứng khoán tăngnóng; việc cắt giảm ưu đãi thuế các doanh nghiệp đua nhau lên sàn; tổng giá trị thịtrường cổ phiếu chiếm trên 25% GDP cả nước Chỉ số VN-Index của thị trườngchứng khoán Việt Nam đạt gần 600 điểm vào đầu tháng 4 là chỉ số tăng trưởngnhanh thứ hai trên thế giới chỉ sau Zimbabwe; nhưng đến cuối năm 2006 chỉ số VN-Index tiếp tục tăng 30%, đạt 751,77 điểm, tăng 144,8% so với cuối năm 2005 Năm
2006, Việt Nam chính thức ghi dấu là thị trường chứng khoán tăng trưởng nhanhnhất thế giới
Trang 15Ngày 11/12 trong tổng 64 cổ phiếu với 2 chứng chỉ quỹ đang niêm yếttại sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, có tất cả 37 chứng khoántăng giá, 19 chứng khoán giảm giá nhẹ, 10 mã còn lại không thay đổi Trong đó có
25 cổ phiếu tăng kịch trần gồm: GMD, KDC, REE, SAM, VSH … Đây cũng là cổphiếu có khối lượng giao dịch lớn đạt giá trị trên 10 tỷ đồng Chính các cổ phiếunày góp phần sự tăng trưởng của thị trường cũng như của VN-Index.Ngày 20-12 -2006, VN-Index đạt 809,86 điểm khiến tất cả các nhà đầu tư trong vàngoài nước phải thừa nhận tỷ suất lợi nhuận cực cao của thị trường chứng khoánViệt Nam Đây là chỉ số VN-Index đạt mức cao nhất kể từ khi thị trường chứngkhoán chính thức hoạt động 28-7-2000 Điều này cũng khiến hàng loạt quỹ đầu tưnước ngoài đã và đang gấp rút tìm kiếm cơ hội đầu tư tại thị trường mới nổi nhưngrất hấp dẫn
Năm 2006 cổ phiếu ngân hàng thành công rực rỡ Ngân hàng Á Châuvới phương án phát hành trái phiếu chuyển đổi thành công đến mức khiến giới đầu
tư và hàng loạt ngân hàng khác cũng phát hành trái phiếu như Ngân hàng Sài Gòn,Ngân hàng Quân đội…giá các cổ phiếu và trái phiếu chuyển đổi của những ngânhàng này liên tục tăng mạnh Năm 2006 ghi nhận cổ phiếu đầu tiên ngành ngânhàng lên niêm yết là Sacombank, cổ phiếu có quy mô vốn cao nhất trên Trung tâmgiao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Theo Công văn số 10997/CV-BTC của Bộ Tài chính ngày 8-9-2006,các doanh nghiệp lên niêm yết và đăng ký giao dịch trên thị trường chứng khoánsau ngày 31-12-2006 không được hưởng ưu đãi miễn giảm 50% thuế thu nhậpdoanh nghiệp trong 2 năm liên tiếp kể từ ngày lên sàn như trước đây, tạo ra cuộcđua thứ hai trên thị trường chứng khoán là đua lên sàn Chỉ trong tháng 12 có đến
51 chứng khoán mới niêm yết tại Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố HồChí Minh
Tổng giá trị vốn hóa thị trường của cổ phiếu toàn thị trường chứngkhoán Việt Nam đạt 240.000 tỷ đồng, tương đương 15 tỷ USD, chiếm 25% GDP cảnước Trong đó, giá trị thị trường cổ phiếu niêm yết tại Trung tâm giao dịch chứngkhoán thành phố Hồ Chí Minh đạt 148.000 tỷ đồng, tương đuơng 9 tỷ USD, chiếm15,36 GDP
Nhìn lại những "nét son" trên thị trường chứng khoán Việt Nam năm
2006, nhiều nhà đầu tư đang tin tưởng vào triển vọng tốt đẹp trong năm 2007 Đầu
tư vào chứng khoán sẽ tiếp tục là một trong những kênh đầu tư hấp dẫn nhất trongnăm 2007
Phiên giao dịch ngày 19-1, giá cổ phiếu tăng kỷ lục, đẩy chỉ số Index lần đầu tiên vượt qua ngưỡng 1.000 điểm, đóng cửa ở mức 1.023,05 điểm,