Đây cũng là lý do mà tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP Quân Đội”.. - Phạm vi yếu tố nghiê
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN DANH DỰ CỦA TÁC GIẢ VỀ TÍNH TRUNG THỰC, HỢP
PHÁP CỦA NGHIÊN CỨU
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Nội dung luận văn
có tham khảo và sử dụng các tài liệu, bài viết, thông tin đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và trang web theo Danh mục Tài liệu tham khảo của Luận văn Các số liệu và thông tin sử dụng trong luận văn đều có nguồn gốc, trung thực và được phép công
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Kim Hương Trang, người đã tận tình chỉ bảo,
định hướng, hướng dẫn tôi trong thời gian qua, nhờ vậy tôi mới có thể hoàn thành bài
luận văn này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô của trường Đại học Ngoại thương
đã truyền đạt những kiến thức vô cùng bổ ích trong suốt hai năm học cao học tại
trường để tôi hoàn thành bài luận văn của mình
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng
nghiệp và trường Đại học Ngoại thương đã tạo điều kiện cho tôi học và hoàn thành
chương trình cao học
PHAN ĐÌNH TRUNG
Đại học Ngoại thương- ftu
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN DANH DỰ CỦA TÁC GIẢ VỀ TÍNH TRUNG THỰC, HỢP PHÁP CỦA NGHIÊN CỨU
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 5
1.1 Tổng quan hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại 5
1.1.1.Khái niệm tín dụng khách hàng cá nhân 5
1.1.2 Phân loại tín dụng tại ngân hàng thương mại 7
1.1.3 Đặc điểm của tín dụng khách hàng cá nhân 11
1.1.4 Quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại 13
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay của khách hàng cá nhân 16
1.2.1 Khái niệm khả năng trả nợ vay 16
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay của khách hàng cá nhân 17
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 23
2.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài 23
2.1.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam 26
2.2 Xây dựng các giả thuyết nghiên cứu 29
2.3 Chọn mẫu nghiên cứu 30
2.4 Mô tả biến nghiên cứu 31
2.5 Mô hình nghiên cứu 35
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG TRẢ NỢ CỦA KHCN TẠI NGÂN HÀNG TCMP QUÂN ĐỘI 37
Đại học Ngoại thương- ftu
Trang 63.1 Tổng quan về ngân hàng TMCP Quân Đội 37
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 37
3.1.2 Chiến lược giai đoạn 2017 - 2021 40
3.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh 42
3.1.4 Thực trạng hoạt động cho vay và rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP Quân Đội 43
3.2 Phân tích kết quả nghiên cứu 47
3.2.1 Thống kê mô tả dữ liệu 47
3.2.2 Phân tích tương quan giữa các biến 49
3.2.3 Kết quả hồi quy và kiểm định khuyết tật các mô hình 53
3.3 Lựa chọn mô hình và phân tích kết quả hồi quy 60
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG NHẬN DIỆN KHẢ NĂNG TRẢ NỢ CỦA KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG TMCP QUÂN ĐỘI 63
4.1 Thuận lợi và thách thức đối với hoạt động tín dụng của KHCN tại MB 63
4.1.1 Thuận lợi 63
4.1.2 Thách thức 64
4.2 Xây dựng chiến lược quản trị rủi ro tín dụng của KHCN tại MB 65
4.2.1 Đối với thị trường mục tiêu 65
4.2.2 Đối với quản lý rủi ro sản phẩm mới, hoạt động trong thị trường mới 67
4.2.3 Đối với quản trị lãi suất tín dụng 68
4.2.4 Tăng cường quản lý đối với tài sản đảm bảo 69
4.3 Giải pháp tăng cường nhận diện khả năng trả nợ vay của KHCN tại MB 70
4.3.1 Đối với các nhóm tác động cùng chiều 70
4.3.2 Đối với các nhóm tác động ngược chiều 72
4.3.3 Hoàn thiện mô hình, nâng cao khả năng dự báo 76
4.3.4 Hoàn thiện bổ sung các chính sách tín dụng 77
KẾT LUẬN 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
Đại học Ngoại thương- ftu
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
Bảng 2.1: Các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu 34
Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu kinh doanh của MB trong giai đoạn 2016 đến 2019 42
Bảng 3.2: Phân loại dư nợ theo thời gian cho vay 43
Bảng 3.3: Cơ cấu nhóm nợ tại Ngân hàng TMCP Quân Đội giai đoạn 2016 -2019 44 Bảng 3.4: Dư nợ theo đặc điểm khách hàng tại Ngân hàng TMCP Quân Đội giai đoạn 2016-2019 46
Bảng 3.5: Thống kê mô tả biến độc lập và các biến phụ thuộc được nghiên cứu 48
Bảng 3.6: Ma trận tương quan giữa các biến độc lập trong mô hình 51
Bảng 3.7: Kết quả hồi quy 4 mô hình 53
Bảng 3.8: Kết quả kiểm định khuyết tật đa cộng tuyến 7 biến độc lập 56
Biểu đồ 3.1: Tương quan các nhóm nợ tại MB giai đoạn 2016 – 2019 45
Biểu đồ 3.2: Thống kê dữ liệu theo khả năng trả nợ của khách hàng 47
Hình 3.1: MB và các công ty thành viên 39
Hình 3.2: Phân phối phần dư trong mô hình B 58
Sơ đồ 3.1: Chiến lược phát triển của MB giai đoạn 2017-2021 41
Đại học Ngoại thương- ftu
Trang 8Đại học Ngoại thương- ftu
Trang 9TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
Để thực hiện đề tài:“ Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của
khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Quân Đội”, tác giả quyết định thực hiện phân tích các yếu tố có tác động trực tiếp đến khả năng trả nợ vay của khách hàng dựa trên quy trình thẩm định của ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) Quân Đội (MB) Tác giả đã sử dụng kết hợp phương pháp định tính và định lượng (Mixed Methods Approaches), trong đó phương pháp chủ đạo là định lượng Trước hết, tác giả tổng hợp các yếu tố có thể ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay của khách hàng, tiếp đó là thực hiện hồi quy logit để xem xét mô hình nào có kết quả phù hợp nhất Sau đó, tác giả khai thác sâu vào mô hình bằng cách thực hiện chẩn đoán mô hình trên Kết quả của các kiểm định Pearson Chi2, Hosmer – Lemesshow Chi2 và khả năng dự báo đều cho thấy mô hình được lựa chọn là phù hợp với dữ liệu mẫu
Mô hình được thực hiện ban đầu là mô hình hồi quy gồm 13 biến: Giới tính, tình trạng hôn nhân, số người phụ thuộc, học vấn, số năm kinh nghiệm, thời gian vay, giá trị vay, lãi suất, lịch sử điểm xếp hạng tín dụng, tài sản tích lũy, tỷ lệ vay/tài sản đảm bảo, thu nhập thuần, mục đích vay sẽ là các biến độc lập Sau khi tiến hành so sánh các mô hình với nhau và kết hợp các kiểm định, tác giả lựa chọn mô hình với các biến như sau: Tình trạng hôn nhân, thời gian vay, giá trị vay, lãi suất, tài sản tích lũy, tỷ lệ vay/tài sản đảm bảo, thu nhập thuần Đây là mô hình phù hợp nhất đối với mục tiêu nghiên cứu của tác giả Kết hợp với thực tế, mô hình hồi quy đã chứng minh được các yếu tố trên đều có tác động nhất định đến khả năng trả nợ của khách hàng
cá nhân, đồng thời mô hình cũng có thể dự báo khả năng trả nợ của khách hàng cá nhân chính xác đến 93.02%
Sau khi thực hiện phân tích kết quả nghiên cứu, tác giả đã đề xuất một số giải pháp như cải thiện quy trình thẩm định khách hàng dựa trên các yếu tố tác động đến khả năng trả nợ hay hoàn thiện các chính sách tín dụng nhằm giúp ngân hàng TMCP Quân Đội tăng triển khai công tác quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả hơn
Đại học Ngoại thương- ftu
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại là một trong những mảng kinh doanh chính đem lại lợi nhuận khủng Trong đó, các quy định, quy trình về chính sách cho vay đều ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định cho vay đối với khách hàng của ngân hàng Nó được sử dụng như một công cụ giúp ngân hàng thẩm định đầy đủ, ra thông báo phê duyệt khoản vay hoặc quản trị tín dụng một cách hiệu quả
Trong thời điểm hiện nay, tăng trưởng tín dụng là một trong những hình thức không chỉ giúp ngân hàng gia tăng lợi nhuận mà còn giúp ngân hàng phát triển về quy mô Nhưng điều đó cũng đồng nghĩa với việc đo lường và nhận diện rủi ro tín dụng sẽ vô cùng quan trọng Trong công tác quản trị rủi ro tín dụng, các ngân hàng thương mại (NHTM) có thể điều chỉnh các chính sách tín dụng phù hợp theo từng thời kỳ và cho từng đối tượng khách hàng cụ thể Điều này sẽ giúp các NHTM hạn chế việc xảy ra các rủi ro và tối thiểu tổn thất do rủi ro tín dụng gây ra Hiện tại, trên thế giới và Việt Nam có khá nhiều nghiên cứu liên quan đến quản trị rủi ro tín dụng hoặc các yếu tố ảnh hưởng đến tín dụng, tuy nhiên để ước đoán được rủi ro tín dụng
và ứng dụng thực tiễn một cách chính xác nhất thì các NHTM vẫn còn gặp không ít khó khăn
Theo tiêu chuẩn Basel II, rủi ro tín dụng được tính toán theo 3 phương pháp là: (1) Phương pháp chuẩn hóa (SA – Standardized Approach): Sử dụng kết quả xếp hạng của các tổ chức đánh giá tín dụng độc lập bên ngoài để xác định hệ số rủi ro cho các nhóm tài sản khác nhau; (2) Phương pháp xếp hạng nội bộ – cơ bản (FIRB: Internal Rating based - Foundation): Sử dụng dữ liệu nội bộ để xây dựng mô hình xác suất vỡ nợ (PD model) và các tham số LGD (tỷ lệ tổn thất), EAD (giá trị chịu rủi ro tại thời điểm vỡ nợ) do ngân hàng Nhà nước cung cấp để tính toán vốn; (3) Phương pháp xếp hạng nội bộ – nâng cao (FIRB: Internal Rating based - Advanced): Ngân hàng tự xây dựng các mô hình PD, LGD, EAD để tính vốn cho rủi ro tín dụng Trong
đó, sử dụng dữ liệu nội bộ để xây dựng mô hình xác suất vỡ nợ (hoặc trả nợ) là yếu
tố rất quan trọng để các NHTM ước lượng và tiếp cận các yếu tố khác trong mô hình quản trị rủi ro tín dụng phức tạp hơn Thêm vào đó, đối với thị trường tài chính và
Đại học Ngoại thương- ftu
Trang 11các ngân hàng tại Việt Nam, điều cần thiết lúc này là phải đo lường khả năng trả nợ của danh mục tín dụng Nếu có thể đo lường tốt khả năng trả nợ, các ngân hàng tại Việt Nam sẽ biết được mức độ rủi ro của từng khách hàng Như vậy, ban lãnh đạo và người điều hành NHTM có thể có các căn cứ để thi hành các chính sách tín dụng phù hợp với từng đối tượng khách hàng trong từng thời kỳ
Việc phân tích, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng trả nợ sẽ giúp cho các ngân hàng thương mại nhận diện được các yếu tố có khả năng hình thành rủi ro tín dụng Mặt khác, trong thời gian gần đây, tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng
ngày một ổn định Đây cũng là lý do mà tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Phân
tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP Quân Đội”
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Khả năng trả nợ của khách hàng cá nhân vay vốn tại Ngân hàng TMCP Quân Đội
- Phạm vi nghiên cứu: Các khách hàng cá nhân vay vốn tại ngân hàng TMCP Quân Đội giai đoạn 2015-2020
- Phạm vi yếu tố nghiên cứu: Các yếu tố tác động đến khoản vay của khách hàng cá nhân (KHCN) tại ngân hàng TMCP Quân Đội bao gồm: Giới tính, tình trạng hôn nhân, số người phụ thuộc, học vấn, số năm kinh nghiệm, thời gian vay, giá trị vay, lãi suất, lịch sử điểm xếp hạng tín dụng, tài sản tích lũy, tỷ lệ vay/tài sản đảm bảo, thu nhập thuần, mục đích vay
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu, thiết kế và xây dựng mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP Quân Đội nhằm phân tích,
đo lường sự ảnh hưởng của các yếu tố lên khả năng trả nợ của khách hàng cá nhân,
từ đó làm cơ sở đề xuất các giải pháp xây dựng Chính sách, quy trình thẩm định khách hàng phù hợp cho ngân hàng TMCP Quân Đội
Để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài, luận văn cần giải quyết những nhiệm vụ sau đây:
- Xác định các yếu tố chính ảnh hưởng tới khả năng trả nợ của khách hàng cá nhân
Đại học Ngoại thương- ftu
Trang 12tại ngân hàng TMCP Quân Đội
- Phân tích, đánh giá tình hình hoạt động tín dụng tại ngân hàng TMCP Quân Đội
- Phân tích và đánh giá sự tác động của các yếu tố trên đến khả năng trả nợ của khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP Quân Đội
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hỗ trợ cho MB thực hiện tăng cường nhận diện khả năng trả nợ của cá nhân tại ngân hàng TMCP Quân Đội
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài sử dụng chủ yếu là phương pháp phân tích định lượng nhằm phân tích, đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố trong cho vay đến khả năng trả nợ đối với KHCN Ngoài ra, tác giả còn áp dụng thêm phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực tiễn để phân tích một số yếu tố khác tác động đến khả năng trả nợ của KHCN
Phương pháp phân tích định lượng được tiến hành với phân tích thống kê mô tả
và phân tích tương quan để xem xét đặc điểm về giá trị trung bình, giá trị lớn nhất và giá trị nhỏ nhất của các biến cũng như mối quan hệ tương quan giữa các biến trong
mô hình nghiên cứu Sau đó, tác giả sử dụng phương pháp phân tích hồi quy để ước lượng sự ảnh hưởng của các yếu tố trong cho vay đến khả năng trả nợ đối với KHCN tại ngân hàng TMCP Quân Đội
5 Đóng góp của luận văn
Giới thiệu về ngân hàng TCMP Quân Đội trong giai đoạn 2015-2019, đồng thời phân tích định tính về hoạt động tín dụng MB trong giai đoạn trên
Xây dựng mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của KHCN đang vay vốn tại ngân hàng TCMP Quân Đội và trên cơ sở nghiên cứu đó, tác giả sẽ đánh giá, phân tích tổng quan các yếu tố có ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng
cá nhân tại MB
Tìm ra các yếu tố có tác động chủ yếu đến khả năng trả nợ của khách hàng cá nhân vay vốn tại ngân hàng TCMP Quân Đội, từ đó có những đề xuất hoặc đưa ra các giải pháp phù hợp để tăng cường nhận diện khả năng trả nợ vay của khách hàng
cá nhân cũng như nâng cao chất lượng trong quá trình thẩm định tín dụng khách hàng,
Đại học Ngoại thương- ftu
Trang 13đáp ứng yêu cầu thực tế về phát triển triển tín dụng tại ngân hàng TCMP Quân Đội
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Tóm tắt kết quả nghiên cứu Luận văn, Mở đầu, Kết luận, Mục lục, Danh mục chữ viết tắt và Danh mục Tài liệu tham khảo, nội dung chính của Luận văn được thể hiện trong 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về tín dụng tại các ngân hàng thương mại
Chương 2: Tổng quan tình hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Phân tích kết quả nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả
nợ của KHCN tại ngân hàng TMCP Quân Đội
Chương 4: Giải pháp tăng cường nhận diện khả năng trả nợ của khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP Quân Đội
Đại học Ngoại thương- ftu
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
1.1.1.Khái niệm tín dụng khách hàng cá nhân
1.1.1.1 Khái niệm tín dụng và cho vay
Căn cứ vào khoản 14, điều 4, Luật các Tổ chức tín dụng 2010: “Cấp tín dụng là
việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”
Căn cứ vào khoản 16, điều 4, Luật các Tổ chức tín dụng 2010: “Cho vay là hình
thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”
Lãi suất cho vay thường do các ngân hàng thương mại tự ấn định cho khách hàng, được hiểu là mức chi phí mà khách hàng phải trả trong suốt khoảng thời gian tồn tại của khoản vay Khi cấp tín dụng hay cho vay, ngân hàng thường dựa trên các nguyên tắc sau:
- Thứ nhất, cả gốc lẫn lãi vay đều phải được trả đúng hạn và trả đủ trong một khoảng thời gian vay nhất định mà bên vay và bên cho vay đã ký kết Cơ sở của nguyên tắc này dựa trên quy trình kinh doanh vốn của các NHTM, trong đó các NHTM sẽ huy động lượng tiền nhàn rỗi từ các cá nhân và tổ chức, đồng thời lấy số tiền đó cho các cá nhân và tổ chức khác vay Nếu trong quá trình hoạt động kinh doanh, các khoản tín dụng đã được cấp không được hoàn trả đúng hạn sẽ gây tổn thất, ảnh hưởng đến quản lý rủi ro thanh khoản và các rủi ro khác của ngân hàng
- Thứ hai, ngân hàng phải có tài sản thế chấp hoặc khách hàng đảm bảo bằng
uy tín của mình Hiện nay, với nền kinh tế mở cửa tự do, các hoạt động tài chính ngân hàng diễn ra hết sức đa dạng, vì thế các dự báo về rủi ro của ngân hàng sẽ rất phức tạp và chỉ mang tính tương đối Do đó, các biện pháp bảo đảm khoản vay là bắt buộc
Đại học Ngoại thương- ftu
Trang 15và cũng là tiêu chuẩn để xét duyệt cho vay, cấp tín dụng đối với khách hàng Mục đích chính là để phòng ngừa những rủi ro và hạn chế các tổn thất do rủi ro cho các NHTM
- Vốn vay phải được sử dụng đúng mục đích: Việc kiểm soát khách hàng sử dụng vốn đúng mục đích là nguyên tắc quan trọng cuối cùng đối với quy trình cấp tín dụng Thực hiện đúng các cam kết và mục đích vay trong hợp đồng tín dụng là cơ sở
để cá nhân, tổ chức thể hiện tính trung thực, đồng thời cũng là một trong những yếu
tố để đảm bảo khả năng thu nợ của ngân hàng Trong quá trình kiểm soát sau vay, nếu các nội dung trên hợp đồng tín dụng bị vi phạm, ngân hàng được quyền thu hồi
nợ trước hạn Trong trường hợp không thu được nợ thì ngân hàng thực hiện phong tỏa tài khoản và chuyển sang nợ nhóm 2, 3, 4, 5 Đồng thời thực hiện phát mại tài sản
để bù trừ tổn thất rủi ro tín dụng
Trong hoạt động kinh doanh tiền, lãi suất vay thể hiện chi phí của khoản tiền
mà người cho vay nhận lại khi tạm thời trao quyền sử dụng một khoản vốn của mình cho người khác trong khoảng thời gian cố định, hay còn có thể gọi là chi phí cơ hội Đối với hoạt động tín dụng của NHTM, lãi suất vay là một trong các công cụ điều tiết vĩ mô và cũng là yếu tố được theo dõi chặt chẽ nhất, góp phần giúp các NHTM cạnh tranh trên thị trường tài chính – tiền tệ
1.1.1.2 Các dịch vụ tín dụng khách hàng cá nhân
Dịch vụ tín dụng cá nhân thường là hoạt động cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư và tiêu dùng của các cá nhân, hộ gia đình như mua sắm tài tài sản hay phục vụ cho chi tiêu thường xuyên trong gia đình Cụ thể, tại ngân hàng TMCP Quân đội MB, các sản phẩm tín dụng cá nhân bao gồm:
- Cho vay bất động sản (mua nhà đất, chung cư, đất dự án, bù đắp tiền mua nhà đất, xây sửa nhà)
- Cho vay tín chấp (dành cho RM công nhân viên và RM quản lý điều hành, quân nhân, CBNV Viettel)
- Cho vay mua ô tô
- Cho vay cầm cố giấy tờ có giá
- Cho vay khác
Đại học Ngoại thương- ftu
Trang 161.1.2 Phân loại tín dụng tại ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Dựa theo mục đích sử dụng tiền vay
Cho vay đầu tư và tiêu dùng
Mục đích của loại cho vay này là người đi vay sẽ sử dụng tiền vay để thanh toán các giao dịch phục vụ cho nhu cầu, lợi ích cá nhân như mua bất động sản, động sản
và các đồ dùng thiết yếu, quan trọng khác Trên thực tế, vào đầu thế kỷ 20 tại các nước châu Âu, thời điểm mà kinh tế hàng hoá đang phát triển và kèm theo đó là những cuộc khủng hoảng kinh tế xảy ra, đã khiến các công ty sản xuất tư nhân phải hủy bỏ rất nhiều hàng hoá Phương thức trả nợ phổ biến hiện nay là lãi trả hàng kỳ, gốc trả theo dư nợ thực tế Đây loại hình vay mà các nước phát triển đã áp dụng rất thành công Tại đó, ngân hàng có thể cho các cá nhân vay để mua bất động sản, ô tô hoặc
đồ dùng cá nhân Ở các nước phương Tây và Mỹ thì một người có thể mua ô tô để đi lại trở lên rất dễ dàng bởi anh ta có thể được cấp một hạn mức tín dụng dựa trên uy tín của mình Tại Việt Nam cũng có các hình thức tương tự nhưng nếu muốn vay với giá trị lớn thì cần có thêm tài sản đảm bảo Việc cho vay đầu tư và tiêu dùng sẽ giúp nền kinh tế luân chuyển hàng hóa dễ dàng và tiết kiệm các chi phí phát sinh, qua đó thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển Đối với hình thức vay này, cán bộ thẩm định (CBTĐ) tín dụng cần đặc biệt phải chú trọng đến nguồn thu nhập được dùng để trả
nợ cho ngân hàng
Cho vay để kinh doanh
Mục đích của loại hình này là các NHTM cho các cá nhân hoặc tổ chức vay vốn
để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh như nhằm mở rộng quy mô hay đáp ứng một nhu cầu nào đó về nguồn tiền Để cấp tín dụng, các NHTM sẽ căn cứ vào đặc điểm của từng ngành nghề mà thiết lập các điều kiện cho vay, hình thức cho vay, phương thức trả nợ dựa trên nguồn thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân, tổ chức Ví dụ đối với các công ty chuyên về xây lắp thì NHTM sẽ chỉ cấp tín dụng trong ngắn hạn hay cho vay cá nhân trong ngành chăn nuôi vay để đầu tư mở rộng chuồng trại
1.1.2.2 Dựa theo thời hạn cho vay
Cho vay ngắn hạn
Hình thức tín dụng ngắn hạn thường có thời gian vay là 12 tháng, nhằm tài trợ
Đại học Ngoại thương- ftu
Trang 17cho tài sản lưu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn của nhà nước, doanh nghiệp,
cá nhân hoặc hộ sản xuất kinh doanh Cho vay ngắn hạn trong những trường hợp sau:
- Ngân hàng tài trợ vốn vay cho Chính phủ nhằm mục đích chi tiêu cho các dịch vụ công, trong đó NHTM sẽ mua trái phiếu do kho bạc phát hành là cách thức phổ biến hiện tại
- Ngân hàng tài trợ vốn đối với các NHTM khác, các công ty tài chính hoặc quỹ tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu thanh khoản Ngoài ra, một số NHTM còn cho vay ngắn hạn đối với một số công ty chứng khoán nhằm mục đích bảo lãnh và phân phối chứng khoán cho công ty phát hành Đa phần, các khoản tài trợ vốn vay này đều dựa trên độ tín nhiệm
- Ngân hàng cho vay đối với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, thương mại nhằm tài trợ cho nhu cầu gia tăng quy mô, mở rộng sản xuất kinh doanh Mặc dù
số lượng doanh nghiệp không bằng cá nhân nhưng quy mô tín dụng của doanh nghiệp lại cao hơn gấp nhiều lần trong đó hầu hết các hạn mức tín dụng của doanh nghiệp đều cần thế chấp tài sản đảm bảo
- Các tổ chức, cá nhân cần vay vốn để mua nguyên vật liệu hoặc các hàng hóa
có tính thanh khoản cao
- Ngân hàng cho các doanh nghiệp vay vốn trong lĩnh vực xuất nhập khẩu
- Ngân hàng cho vay để xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế - xã hội
- Ngân hàng cho vay đối với cá nhân có nhu cầu tiêu dùng như vay trả góp
Cho vay trung và dài hạn
Hình thức này có thời gian vay trên 12 tháng, thường áp dụng cho các doanh nghiệp có nhu cầu vay trung và dài hạn để mua sắm tài sản cố định, trang thiết bị, xây dựng, cải tiến kĩ thuật, mua bản quyền công nghệ Ngoài ra, các cá nhân cũng có thể vay trung và dài hạn để thực hiện các nhu cầu như mua bất động sản, xây dựng nhà cửa, mua xe ô tô, Trong cho vay trung và dài hạn, ta có thể kể đến các loại vay như:
- Nhà nước vay trung và dài hạn để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, ví dụ như đường sắt Cát Linh – Hà Đông, dự án cao tốc Bắc – Nam,…
- Đối với doanh nghiệp, ngân hàng sẽ mua hoặc bảo lãnh trái phiếu doanh nghiệp nhằm giúp doanh nghiệp đầu tư máy móc, tài sản cố định Đồng thời, các
Đại học Ngoại thương- ftu
Trang 18NHTM cũng sẽ phải thẩm định rất kỹ tình hình tài chính doanh nghiệp để đưa ra các chính sách phù hợp liên quan đến kì hạn, khả năng chuyển đổi và lãi suất của trái phiếu
- Đối với những doanh nghiệp có mục đích vay vốn để thực hiện các dự án nhất định thì một trong những yêu cầu cho vay của NHTM là phải có kế hoạch đầu
tư cụ thể, quá trình thực hiện dự án sản xuất kinh doanh phải rõ ràng minh bạch Song song với đó là NHTM sẽ thẩm định và quyết định phần vốn vay cho doanh nghiệp khi đã xác định được khả năng hoàn trả vốn vay
- Đối với khách hàng cá nhân, có rất nhiều hình thức để cấp vốn, trong đó phải
kể đến các hình thức phổ biến: Mua bất động sản, mua ô tô, xây dựng và sửa chữa nhà
1.1.2.3 Dựa theo hình thức đảm bảo của các khoản vay
Cho vay có tài sản đảm bảo
Đối với loại hình này, các NHTM sẽ nắm giữ tài sản của người vay với mục đích
là phát mại tài sản đó để thu hồi vốn vay trong trường hợp người đi vay vi phạm hợp đồng tín dụng Khi cấp tín dụng cho khách hàng, ngân hàng cần có tài sản thế chấp
để đảm bảo quyền lợi, lợi ích của họ khi có rủi ro về khoản vay Thường tài sản thế chấp sẽ áp dụng với khoản vay có số vốn lớn Do vậy, ngân hàng cần được đảm bảo
về quyền lợi, lợi ích của họ khi có rủi ro về khoản vay xảy ra Tài sản thế chấp chính
là khoản đảm bảo đó Tuy nhiên, thực tế không phải loại tài sản đảm bảo nào cũng được chấp nhận Các NHTM sẽ xem xét tính pháp lý, khả năng thanh khoản của tài sản Nếu tài sản thế chấp của bạn phổ biến, dễ dàng bán lại thì khả năng cho vay sẽ cao hơn so với các tài sản khác.Thông thường tài sản đảm bảo để vay vốn ngân hàng
là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy tờ có giá trị do ngân hàng phát hành, đăng
ký xe, sổ tiết kiệm Ngoài ra còn có 1 số ngân hàng chấp nhận hợp đồng bảo hiểm có giá trị cao Tài sản đảm bảo phải thuộc quyền sở hữu của người đứng ra vay, ký hợp đồng vay với ngân hàng Ngoài ra, tài sản đảm bảo có thể là tài sản hiện có hoặc tài sản chắc chắn được hình thành trong tương lai, ví dụ như hợp đồng mua bán nhà chung cư
Cho vay không có tài sản đảm bảo
Đại học Ngoại thương- ftu
Trang 19Đây là hình thức cấp tín dụng mà ngân hàng sẽ không nắm giữ tài sản của khách hàng hay nói cách khác thì người đi vay không cần bất kỳ tài sản nào để thế chấp tại các ngân hàng Khách hàng chỉ cần đưa ra các bằng chứng về thu nhập cùng một số giấy tờ đơn giản khác là đã có thể được xét duyệt cho vay Số tiền vay sẽ phụ thuộc vào thu nhập và mức độ tin cậy của khách hàng đối với ngân hàng Những thông tin
mà người đi vay cần cung cấp bao gồm: Các chứng từ chứng minh pháp lý, chứng minh tài chính, chứng minh mục đích Một trong các hình thức phổ biến của loại hình này là vay trả góp các đồ dùng phục vụ cho lợi ích cá nhân Ví dụ như vay tín chấp
để mua xe máy, mua điện thoại Thông thường chỉ có những khách hàng có trả lương qua tài khoản với ngân hàng hoặc những khách hàng công tác trong đơn vị hành chính
sự nghiệp hoặc những khách hàng mà ngân hàng có tài trợ, bảo lãnh, cho vay vốn thì mới được cấp tín dụng dưới hình thức này.
Thực tế cho thấy có không ít ngân hàng trên thị trường đang thực hiện cho vay không đảm bảo bằng tài sản vì tiềm năng và lợi nhuận mà hình thức cho vay này mang lại Tuy nhiên, với mức lãi suất vay vốn tín chấp cao đã và đang tiềm ẩn của nhiều rủi ro khôn lường
1.1.2.4 Dựa theo hình thức hình thành khoản vay
Cho vay trực tiếp
Cho vay trực tiếp là hình thức cấp tín dụng mà khi khách hàng trực tiếp đến ngân hàng để xin cấp vốn, ngân hàng sẽ trực tiếp chuyển giao tiền cho khách hàng sử dụng trên cơ sở những điều kiện mà hai bên đã ký kết thoả thuận
Khi khách hàng có tài sản thế chấp và đã chứng minh đầy đủ các thông tin pháp
lý và tài chính thì họ có thể vay trực tiếp tại các NHTM
Cho vay gián tiếp
Đây là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian Các NHTM hoặc ngân hàng chính sách sẽ cho vay qua các nhóm như hội phụ nữ, hội nông dân, hội cựu chiến binh, Các tổ chức này có trách nhiệm liên kết các thành viên theo một mục đích cụ thể để hỗ trợ lẫn nhau, phổ biến và bảo vệ quyền lợi cho mỗi thành viên, trong
đó việc phát triển kinh tế, làm giàu, xoá đói giảm nghèo luôn được các tổ chức trung gian này đặc biệt chú ý quan tâm
Đại học Ngoại thương- ftu
Trang 20Thông thường, hình thức vay gián tiếp thường được áp dụng đối với giá trị hạn mức tín dụng thấp, người vay phân tán và địa điểm xa ngân hàng Trong trường hợp như vậy, nếu thông qua các tổ chức trung gian, ngân hàng thể tiết kiệm được chi phí liên quan đến khâu thẩm định và kiểm soát sau vay
Có ý kiến cho rằng cho vay gián tiếp có thể giảm bớt chi phí của ngân hàng Tuy nhiên, điều đó cũng bộc lộ không ít khiếm khuyết Đơn cử như phía trung gian
đã lợi dụng vị thế của mình để trục lợi cá nhân Ví dụ các ngân hàng không kiểm soát chặt chẽ lãi suất, bên trung gian sẽ tự ý tăng lãi suất để cho ăn thêm phần chênh lệch,
từ đó gây ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng
1.1.3 Đặc điểm của tín dụng khách hàng cá nhân
Đối với ngân hàng TMCP Quân Đội, khái niệm tín dụng cá nhân được hiểu là các gói vay dành cho các khách hàng cá nhân đang gặp khó khăn về tài chính, nhằm tạo điều kiện cho mọi người có thể trang trải được các nhu cầu cá nhân trong cuộc sống Các sản phẩm, dịch vụ tín dụng khách hàng cá nhân tại MB bao gồm:
- Cho vay bất động sản: Là hình thức ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng
cá nhân để thực hiện các mục đích bao gồm: Mua nhà đất, chung cư dự án, xây và sửa chữa nhà để ở hoặc kinh doanh
- Cho vay mua xe ô tô: Là hình thức cấp tín dụng cho khách hàng với mục đích mua ô tô cá nhân, phục vụ cho mục đích đi lại cá nhân và kinh doanh
- Cho vay tiêu dùng: Là hình thức cấp tín dụng cho khách hàng cá nhân để chi tiêu cho các mục đích tiêu dùng như mua sắm nội thất trong nhà, đóng học phí, mua các phương tiện đi lại cơ bản như xe máy (trừ ô tô)
- Cho vay sản xuất kinh doanh: Là hình thức cấp tín dụng cho các cá nhân, hộ kinh doanh cá thể có nhu cầu bổ sung vốn lưu động hoặc mở rộng kinh doanh Vai trò của hoạt động cho vay cá nhân đó là:
- Đối với các khách hàng: Đáp ứng kịp thời các nhu cầu chi tiêu và những nhu cầu mang tính cấp bách như sinh hoạt, tiêu dùng, giáo dục, y tế… Và như vậy khách hàng sẽ được hưởng những lợi ích của các dịch vụ trước khi họ có đủ tiền
- Đối với ngân hàng: Cho vay khách hàng cá nhân sẽ giúp ngân hàng tạo ra nhiều lợi nhuận, tăng khả năng huy động các nguồn vốn từ các cá nhân và doanh nghiệp
Đại học Ngoại thương- ftu
Trang 21- Đối với nền kinh tế: Thúc đẩy nhu cầu tiêu dùng của các cá nhân và hộ gia đình, giúp kích cầu cho nền kinh tế, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển
xã hội Ngoài ra, nó cũng giúp nền kinh tế luân chuyển tiền tệ một cách suôn sẻ và an toàn hơn
Không những vậy, còn một đặc điểm của tín dụng cá nhân nữa đó là mảng kinh doanh này tuy đem lại lợi nhuận khá lớn cho các ngân hàng thương mại nhưng cũng phát sinh khá nhiều rủi ro tiềm ẩn Đặc điểm của rủi ro tín dụng bao gồm:
- Rủi ro tín dụng mang tính bị động: Tổn thất tín dụng đối với ngân hàng chỉ xảy ra sau khi ngân hàng đã giải ngân tức là trong quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng Khách hàng là người sử dụng trực tiếp vốn vay nên chính khách hàng mới là người có đầy đủ thông tin về chất lượng và hiệu quả của việc sử dụng vốn vay Điều này hàm ý do tình trạng thông tin bất cân xứng nên ngân hàng thường ở vào thế
bị động, là người biết thông tin sau hoặc biết không chính xác, không đầy đủ về những khó khăn thất bại của khách hàng trong kinh doanh nói chung và trong việc sử dụng vốn vay nói riêng khiến ngân hàng thường bị chậm trễ trong việc ứng phó (Nguyễn Văn Tiến, 2015, trang 161)
- Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng hóa phức tạp: Do tính chất đa dạng và phức tạp của khách hàng vay vốn, đối tượng cho vay, loại hình cho vay đã làm cho rủi ro tín dụng trở nên có tính chất đa dạng hóa phức tạp.Chính sự đa dạng và phức tạp của rủi ro tín dụng buộc ngân hàng phải chú trọng nhiều hơn đến công tác quản trị rủi ro tín dụng, từ việc thiết lập chính sách tín dụng, sử dụng các công cụ quản trị rủi ro đến quy trình quản trị trong khâu nhận diện, đánh giá đo lường xử lý và kiểm soát rủi ro tín dụng (Nguyễn Văn Tiến, 2015, trang 162)
- Rủi ro tín dụng có tính tất yếu: Bất kỳ hoạt động kinh doanh nào cũng gắn liền với rủi ro, trong đó kinh doanh tín dụng cũng không là ngoại lệ Chấp nhận rủi
ro là tất yếu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng, dựa trên mối quan hệ “rủi ro - lợi nhuận” nhằm tìm ra nhưng cơ hội đạt được lợi nhuận tương thích với mức rủi ro chấp nhận Ngân hàng sẽ hoạt động an toàn và hiệu quả nếu mức rủi ro mà ngân hàng chấp nhận là hợp lý, kiểm soát được và trong khả năng các nguồn lực tài chính và năng lực kinh doanh của ngân hàng (Nguyễn Văn Tiến, 2015, trang 162)
Đại học Ngoại thương- ftu
Trang 221.1.4 Quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại
Theo Saral Miller (2014), các hình thức cấp tín dụng cá nhân có thể gây ra một
số rủi ro như rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động, rủi ro thanh khoản và một số rủi ro tiềm ẩn khác Vì vậy, để gắn với thực tiễn hoạt động tín dụng tại Việt Nam, tác giả
đề xuất đưa vào sử dụng các khái niệm và định nghĩa theo các văn bản pháp luật hiện hành tại Việt Nam như sau:
i) Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12
ii) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng ngày 20 tháng
11 năm 2017
iii) Thông tư số 02/2013/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Quy định
về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài
1.1.4.1 Khái niệm rủi ro tín dụng
Theo chuẩn Basel II, rủi ro tín dụng được định nghĩa là khả năng bên vay hay bên đối tác của ngân hàng không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính theo các điều khoản đã thỏa thuận
Căn cứ vào thông tư 02/2013/TT-NHNN của Ngân hàng nhà nước Việt Nam, ngày 21/03/2013, rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro)
là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết Cũng theo thông tư 02, khi khách hàng được tài trợ tín dụng tại các ngân hàng thương mại, khách hàng nói chung và khách hàng cá nhân được theo dõi và phân loại nợ hoặc phân loại rủi ro tín dụng theo hai phương pháp phân loại là định tính và định lượng
- Phân loại nợ và cam kết ngoại bảng theo phương pháp định lượng:
a) Nhóm 1 - Nợ đủ tiêu chuẩn bao gồm: Nợ trong hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn; Nợ quá hạn dưới 10 ngày và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn;
Đại học Ngoại thương- ftu
Trang 23b) Nhóm 2 - Nợ cần chú ý bao gồm: Nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày; Nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu
c) Nhóm 3 - Nợ dưới tiêu chuẩn bao gồm: Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;
Nợ gia hạn nợ lần đầu; Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng;
d) Nhóm 4 - Nợ nghi ngờ bao gồm: Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; Nợ
cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;
e) Nhóm 5 - Nợ có khả năng mất vốn bao gồm: Nợ quá hạn trên 360 ngày; Nợ
cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được
cơ cấu lại lần đầu; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả
nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn;
- Phân loại nợ và cam kết ngoại bảng theo phương pháp định tính:
a) Nhóm 1 - Nợ đủ tiêu chuẩn bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn
b) Nhóm 2 - Nợ cần chú ý bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ
c) Nhóm 3 - Nợ dưới tiêu chuẩn bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất
d) Nhóm 4 - Nợ nghi ngờ bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất cao
e) Nhóm 5 - Nợ có khả năng mất vốn bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn
Đại học Ngoại thương- ftu
Trang 241.1.5.2 Phân loại rủi ro tín dụng
a) Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro
Rủi ro giao dịch là rủi ro liên quan đến từng khoản vay đơn lẻ hoặc từng khách hàng cụ thể Nguyên nhân phát sinh rủi ro thường đến từ những hạn chế, sai sót trong quy trình thẩm định, phê duyệt tín dụng, giải ngân và kiểm soát sau khi cho vay hoặc thực hiện sai quy định về tài sản đảm bảo cho khoản vay đối với các khoản vay thế chấp Rủi ro giao dịch bao gồm 3 loại:
- Rủi ro lựa chọn đối nghịch: là do thông tin bất cân xứng tạo ra trước khi lựa chọn quyết định phê duyệt tín dụng Ví dụ khi ngân hàng thẩm định về nguồn thu để đảm bảo cho việc trả nợ đúng hạn, khách hàng làm giả hồ sơ để ngân hàng ghi nhận nguồn thu cao hơn thực tế, khi đó khoản vay được phê duyệt có thể vượt quá tiềm lực tài chính của khách hàng, dẫn đến rủi ro tín dụng
- Rủi ro bảo đảm: Thường phát sinh từ các quy định về bảo đảm khoản vay theo các điều khoản trong hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản Theo đó nội dung trên hợp đồng sẽ bao gồm thông tin về tài sản đảm bảo (TSĐB), hình thức đảm bảo, mức cho vay trên giá trị TSĐB
- Rủi ro nghiệp vụ: Là rủi ro liên quan đến công tác quản trị khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng và quy trình xử
vụ
Rủi ro bảo đảm
Rủi ro nội tại
Rủi ro tập trung tín dụng Đại học Ngoại thương- ftu
Trang 25danh mục tín dụng của ngân hàng, bao gồm 2 loại sau:
- Rủi ro nội tại: Là rủi ro xuất phát từ những yếu tố, đặc điểm riêng biệt bên trong của khách hàng hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế Phụ thuộc vào đặc điểm hoạt động hay đặc điểm sử dụng vốn vay của khách hàng
- Rủi ro tập trung: Xảy ra khi ngân hàng tập trung tín dụng quá mức vào một hoặc nhiều khách hàng cùng chung một hoặc nhiều ngành, lĩnh vực hoạt động trong một vùng địa lý nhất định
b) Căn cứ vào mức độ tổn thất
Rủi ro đọng vốn: Là rủi ro do khách hàng không hoàn trả nợ đúng hạn, xảy ra khi đến hạn trả nợ theo quy định hoặc theo thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng, trong đó ngân hàng vẫn chưa thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi, dẫn đến các khoản vốn bị đóng băng và gây ảnh hưởng tiêu cực cho ngân hàng trên phương diện kế hoạch sử dụng vốn và khó khăn trong quản lý thanh khoản
Rủi ro mất vốn: Là rủi ro do khách hàng không có khả năng trả nợ Rủi ro mất vốn xảy ra trong trường hợp khách hàng mất khả năng trả nợ gốc và/hoặc nợ lãi, buộc ngân hàng phải phát mại TSĐB để thu hồi nợ Rủi ro mất vốn làm tăng chi phí nợ khó đòi và chi phí giám sát, đồng thời làm giảm lợi nhuận do các khoản dự phòng rủi
ro tín dụng gia tăng
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay của khách hàng cá nhân 1.2.1 Khái niệm khả năng trả nợ vay
Khái niệm khả năng trả nợ vay của khách hàng cá nhân thường là khả năng tạo
ra nguồn thu tài chính hay thu nhập đủ để hoàn thành hoàn trả tiền gốc và lãi định kỳ theo thỏa thuận trên hợp đồng tín dụng
Theo Rajeev Dhir (2020), khả năng trả được nợ là sự đánh giá của bên cho vay đối với rủi ro vỡ nợ hay khả năng tiếp nhận nợ mới của khách hàng Khả năng trả được nợ mà theo đó, bên cho vay sẽ xem xét trước khi quyết định cho khách hàng vay Khả năng trả được nợ được xác định từ nhiều yếu tố như lịch sử trả nợ hay điểm xếp hạng tín dụng Ngoài ra, một số tổ chức cho vay còn xem xét đến tài sản và nợ hiện tại mà bạn đang nắm giữ để xác định được xác suất vỡ nợ của bạn
Theo thông tư 02/2013/TT-NHNN, nợ nhóm 1 được coi là khách hàng đang có
Đại học Ngoại thương- ftu
Trang 26khả năng trả nợ gốc, lãi đầy đủ và đúng hạn cho ngân hàng, còn nợ nhóm 2 hay nợ cần chú ý là các khoản nợ được tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm khả năng trả nợ Như vậy, nếu khách hàng phát sinh nợ nhóm 2 vẫn được hiểu là khách hàng còn khả năng trả nợ, dù khách hàng mất khả năng trả nợ tạm thời
Để thống nhất cách hiểu trong toàn bộ luận văn, tác giả quyết định đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng sẽ được xem xét dựa trên các nhóm nợ cao nhất tại những TCTD mà khách hàng có quan hệ tín dụng Những khách hàng hiện đang có nợ nhóm
2, 3, 4, 5 được hiểu là nhóm khách hàng không có khả năng trả nợ, những trường hợp còn lại được hiểu là khách hàng có khả năng trả nợ
Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới khi xem xét về khả năng trả nợ vay,
ở góc độ đối lập là rủi ro trả nợ vay của khách hàng cá nhân được biểu hiện ở hai khía cạnh chính là quy mô trả nợ gốc, tức là số tiền gốc trả nợ được và thời hạn trả nợ Một số nghiên cứu thực nghiệm của Krishna H Maharjan và các cộng sự (1981) có nghiên cứu về việc khoản vay được trả đúng hạn hay trễ hạn hay công trình nghiên
cứu Million Sileshi và các cộng sự (2012) thì lại tập trung vào yếu tố tổng dư nợ gốc
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay của khách hàng cá nhân
Khi nghiên cứu về rủi ro tín dụng cá nhân, một số tác giả trong đó nổi bật nhất
là John M Chapman (1940) đã phân loại những yếu tố ảnh hưởng tới rủi ro tín dụng
cá nhân bao gồm: Đặc điểm nhân thân, đặc điểm nghề nghiệp, đặc điểm thu nhập hay đặc điểm học vấn và đặc điểm khoản cho vay Ngoài ra, Mohammad Reza Kohansal
và các cộng sự (2009) có nghiên cứu thêm về rủi ro đạo đức trong tín dụng Tại Việt Nam, Hoàng Thanh Hải và các cộng sự (2018) còn xem xét thêm yếu tố là “Lượng chi tiêu hàng tháng” hay Trương Đông Lộc và Nguyễn Thanh Bình (2011) đưa vào
mô hình nghiên cứu biến số “mục đích vay”
Tóm lại, đối với mỗi khu vực, thời gian nghiên cứu khác nhau thì các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng cũng sẽ thay đổi Dưới đây, tác giả sẽ tổng hợp lại một số yếu tố mang tính chất đặc thù cố định, ít thay đổi theo thời gian và không gian nghiên cứu Căn cứ vào các quy định về quản trị rủi ro tín dụng tại MB,
Đại học Ngoại thương- ftu
Trang 27tác giả đề xuất chia các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng cá nhân theo các nhóm như sau
1.2.2.1 Các yếu tố về mặt pháp lý
Các yếu tố về mặt pháp lý của khách hàng cá nhân bao gồm: Họ tên, số giấy tờ tùy thân, giới tính, độ tuổi, tình trạng hôn nhân, số người phụ thuộc Những thông tin này đều được thể hiện trên các chứng từ hồ sơ: Giấy tờ tùy thân, đăng ký kết hôn hoặc xác nhận hôn nhân, sổ hộ khẩu
Trước hết, họ tên và số giấy tờ tùy thân thì không thể thay đổi được Tuy nhiên nếu không xem xét kỹ thì vẫn sẽ có những cá nhân lợi dụng việc này để làm giả hồ
sơ tín dụng, gây tổn thất cho ngân hàng
Thứ hai, xét ở yếu tố giới tính, theo Saral Miller (2014), nếu người đi vay là nữ giới thì các rủi ro tín dụng giảm đi nhiều hơn so với nam giới vì họ thường thận trọng hơn và ít gây ra các rủi ro đạo đức Mặt khác, trong nghiên cứu tổng hợp của John M Chapman (1940), ông cũng đã chỉ ra rằng nữ giới thường sẽ ít có nợ xấu hơn nam giới Thực tế, khi vay vốn, thông thường nam giới sẽ đứng tên khoản vay và người đồng trả nợ sẽ là nữ giới Vì vậy về cơ bản thì cả nam và nữ đều sẽ cùng đứng tên trên khoản vay Do đó, chúng ta không nên đưa yếu tố giới tính vào quản trị rủi ro tín dụng vì yếu tố này quá chung chung, không rõ ràng Hơn nữa, trong nghiên cứu của Samuel Antwi và các cộng sự (2012) cũng không tìm thấy mối liên hệ giữa khả năng trả nợ giới tính
Thứ ba, độ tuổi là một yếu tố quan trọng và có mặt trong hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm Phần lớn các công trình nghiên cứu đã cho thấy rằng độ tuổi của người
đi vay càng lớn thì rủi ro tín dụng có thể sẽ được hạn chế một phần do tính thận trọng cũng như kinh nghiệm đã được tích lũy theo thời gian John M Chapman (1940), Jonathan Crook (2001), Mohammad Reza Kohansal và các cộng sự (2009) cũng đã tìm thấy mối tương quan thuận chiều giữa yếu tố này với khả năng trả nợ đúng hạn Thứ bốn, tình trạng kết hôn hay hôn nhân lại là một biến số không được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu thực nghiệm Về mặt thực tiễn, thông thường những người đã lập gia đình chủ yếu sẽ vay vốn để tiêu dùng và phục vụ lợi ích cá nhân, còn những người độc thân sẽ thường vay để kinh doanh Ngoài ra, thu nhập từ người có
Đại học Ngoại thương- ftu
Trang 28gia đình sẽ đa dạng và cao hơn so với độc thân, vì vậy khả năng trả nợ thành công của họ thường sẽ cao hơn Tuy nhiên, khi tiến hành nghiên cứu thì John M Chapman (1940), Burcu Duygan-Bump và cộng sự (2008) hay Samuel Antwi và các cộng sự (2012) lại không tìm thấy mối liên hệ này
Cuối cùng, số người phụ thuộc trong gia đình thường được cho là có tương quan nghịch với khả năng trả nợ đúng hạn của khách hàng do họ phải chi nhiều thu nhập của mình vào việc trợ cấp cho các thành viên trong gia đình thay vì dùng nó để trả nợ cho ngân hàng
1.2.2.2 Các yếu tố quyết định tài chính và nguồn trả nợ
Đây là một yếu tố có ảnh hưởng rất nhiều tới khả năng hoàn thành nghĩa vụ nợ của khách hàng cá nhân Đối với những cá nhân có nghề nghiệp ổn định, có địa vị xã hội, có kinh nghiệm công tác trong nghề lâu năm hoặc ở những lĩnh vực đòi hỏi chất xám cao và có tay nghề vững vàng như kỹ sư công nghệ thông tin thì khả năng trả nợ đúng hạn là cao hơn Thu nhập của khách hàng có thể được tổng hợp từ các yếu tố cơ bản như sau:
- Trình độ học vấn: Thường rất được chú trọng trong quá trình thẩm định cho
vay của ngân hàng Những người có trình độ học vấn cao thì dễ được chấm điểm tín dụng cao hơn do họ có thể phân tích và tính toán hiệu quả chính xác khi đi vay, đồng thời họ cũng có thể tạo ra nguồn thu nhập cao hoặc ổn định trong thời gian dài Nghiên cứu của John M Chapman (1940) đã cho thấy những nghề nghiệp đòi hỏi sử dụng chất xám nhiều như giáo sư, nghệ sĩ hay những nghề nghiệp có tính ổn định cao như
kỹ sư công nghệ máy móc, nhân viên văn phòng sẽ có tỷ lệ trả nợ đúng hạn cao hơn Trong khi đó, những người công nhân tay nghề kém hoặc trung bình sẽ thường lâm vào tình trạng nợ quá hạn Các nghiên cứu của Million Sileshi và các cộng sự (2012) hay Trương Đông Lộc và cộng sự (2011) cũng đồng quan điểm trên Tuy nhiên, nghiên cứu của Samuel Antwi và các cộng sự (2012) lại cho thấy trình độ học vấn
không liên quan đến khả năng trả nợ của khách hàng cá nhân
- Yếu tố thu nhập: Đây được coi là một trong những yếu tố quan trọng khi muốn
tiếp cận với tín dụng từ ngân hàng Đặc biệt là đối với những khoản vay tín chấp và
là nền tảng trả hoàn thành nghĩa vụ tài chính của người vay Theo John M Chapman
Đại học Ngoại thương- ftu
Trang 29(1940), biến số thu nhập cho thấy rằng khả năng trả nợ được sắp xếp theo thứ tự sau: thu nhập cao, thu nhập thấp và thu nhập trung bình Ông lý giải rằng những người thu nhập thấp nhưng xác suất trả nợ thành công vẫn lớn hơn người có thu nhập trung bình
là do tính cẩn trọng trong việc sử dụng khoản vay của họ vì họ biết khả năng chi trả
của họ là rất thấp nên họ chủ động hạn chế lãng phí khoản vay
- Yếu tố chi phí: Đi cùng thu nhập chính là chi phí Chi phí bao gồm chi phí sinh
hoạt hàng tháng và các chi phí khác tác động trực tiếp đến khách hàng như chi phí của khoản vay cũ, chi phí thẻ tín dụng… Trong quá trình thẩm định khách hàng, CBTĐ cần xác định được bình quân chi phí mà khách hàng phải chi ra hàng tháng để
từ đó khấu trừ vào thu nhập và số tiền dư còn lại sẽ quyết định đến khả năng vay nợ của khách hàng Ngoài ra, theo Eduardo A.de.S Rodrigues và các cộng sự (2006), một số hành vi chi tiêu bất thường không nằm trong dự kiến của người vay như chi tiêu cho tai nạn, dịch bệnh ốm đau…v v sẽ khiến cho người đi vay phải tiêu tốn thu nhập tích lũy vào những khoản chi phí này thay vì dùng nó để trả nợ khiến cho rủi ro
không trả được nợ vay tăng lên
- Yếu tố tài sản tích lũy: Đây là yếu tố mà các ngân hàng thương mại đánh giá
rất cao đối với người đi vay Tài sản tích lũy có thể là nhà đất, xe ô tô, sổ tiết kiệm tại ngân hàng… Theo Jonathan Crook (2001), những người sở hữu nhà ở có khả năng hoàn thành nghĩa vụ nợ với ngân hàng cao hơn những người không sở hữu nhà ở Thực tế, nếu người vay sở hữu các tài sản tích lũy thì họ có rất nhiều lợi thế khi vay vốn tại ngân hàng vì để tạo ra từng đó giá trị tài sản tích lũy thì thu nhập của khách hàng cũng phải ở một mức độ tương ứng
1.2.2.3 Các yếu tố cấu thành khoản vay
Đặc điểm cấu thành của khoản cho vay thông thường được thể hiện ở bốn yếu
tố chính là giá trị khoản vay, lãi suất vay, thời gian vay và mục đích vay
Trong đó về mặt lý thuyết, nếu như giá trị khoản vay càng lớn thì rủi ro trả nợ không đúng hạn càng cao, điều này tương tự với lãi suất của khoản cho vay Trong khi đó, nếu thời hạn của khoản vay càng kéo dài thì khả năng trả được nợ càng cao Tuy nhiên, nghiên cứu của John M Chapman (1940) lại cho thấy những khoản vay
có giá trị nhỏ lại thường có rủi ro không trả nợ cao nhất, sau đó tới khoản vay lớn
Đại học Ngoại thương- ftu
Trang 30nhất và sau cùng là những khoản vay có giá trị trung bình Tương tự Manohar P Sharma và cộng sự (1997) đưa ra quan điểm cho rằng những khoản vay lớn có mối tương quan thuận chiều với khả năng trả nợ đúng hạn Điều này được giải thích rằng: Thứ nhất, những khoản vay lớn đòi hỏi nguồn tài chính của khách hàng phải rất tốt, đồng thời giá trị tài sản đảm bảo cũng thường sẽ rất lớn nên khách hàng sẽ có động thái tập trung cho việc trả nợ Thứ hai, các khoản vay lớn sẽ giúp người vay dễ dàng tạo ra giá trị hơn so với những khoản vay nhỏ
Đối với lãi suất vay: Hầu như tất cả các nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh
rằng lãi suất khoản vay càng cao thì khả năng trả nợ đúng hạn sẽ càng thấp Rõ ràng khi lãi suất cao thì chi phí dành cho việc trả nợ sẽ tăng lên tương ứng và có thể gây nên tình trạng bất cân đối tài chính cho khách hàng vay Vì vậy, thông thường các ngân hàng sẽ điều chỉnh lãi suất cho vay theo lãi suất tiền gửi để đảm bảo việc tăng hoặc giảm lãi suất không gây sốc cho khách hàng của mình
Đối với thời gian vay: Giả sử hai khách hàng vay cùng 1 khoản như nhau, lãi
suất cũng bằng nhau, nếu thời gian vay của khách hàng A lâu hơn khách hàng B thì
rõ ràng số tiền phải trả hàng tháng của A sẽ ít hơn B Như vậy, khả năng trả nợ đúng hạn của A sẽ tốt hơn B Tuy vậy, theo công trình nghiên cứu của John M Chapman (1940), ông cho rằng nếu những khoản nợ ngắn hạn từ một năm trở xuống thì sẽ có xác suất trả nợ đúng hạn cao hơn, còn nếu những khoản nợ trung và dài hạn thì lại có xác suất ngược lại Ngoài ra, S U O Onyeagocha và các cộng sự (2012) lại không tìm thấy tác động của yếu tố này trong nghiên cứu của mình
Đối với mục đích vay: Rủi ro liên quan đến mục đích vay thường liên quan đến
thông tin bất cân xứng trong thị trường Đối với lĩnh vực tín dụng, theo quan điểm của ngân hàng, khi người vay đã sử dụng một phần hoặc toàn bộ vốn vay không đúng mục đích vay ban đầu, điều này sẽ dẫn tới rủi ro không trả được nợ vay tăng lên Tuy nhiên, nghiên cứu của Trương và cộng sự (2011) hay Mohammad Reza Kohansal và các cộng sự (2009) lại không tìm thấy thấy tương quan khi tìm hiểu về khả năng trả
nợ của nông dân và các tác giả cũng không đưa ra các lý giải cụ thể về vấn đề này
Đại học Ngoại thương- ftu
Trang 311.2.2.4 Yếu tố chủ quan đến từ ngân hàng
Yếu tố chủ quan đến từ ngân hàng chính là rủi ro đạo đức của CBTĐ và rủi ro tác nghiệp đến từ phía ngân hàng Có hai nguyên nhân chính dẫn tới rủi ro này:
- CBTĐ có năng lực yếu, thẩm định không kỹ, bỏ sót các yếu tố liên quan đến phương án vay hoặc do cấu kết với người đi vay để trục lợi riêng, dẫn đến đánh giá không đúng đối với người đi vay Ngoài ra, rủi ro khách hàng không trả được nợ còn xuất phát từ việc ngân hàng không xác định đúng đối tượng cho vay, cụ thể từ chối cho vay với một khách hàng có năng lực tài chính, phẩm chất đạo đức tốt và chấp thuận cho vay với những trường hợp ngược lại Việc thẩm định khả năng tài chính và phẩm chất đạo đức của khách hàng có hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn vào kỹ năng và kinh nghiệm của CBTĐ và thể hiện thông qua việc đánh giá đúng khả năng khách hàng có thực hiện đúng cam kết trả nợ hay không, đồng thời có những phương
án xử lý kịp thời khi xuất hiện rủi ro tín dụng của ngân hàng Thêm vào đó, việc thẩm định hồ sơ tín dụng chủ quan và mang tính hời hợt, không có căn cứ vào quy định tín dụng sẽ dẫn đến khả năng cao ngân hàng không thu hồi được khoản tiền đã cho vay
- Nguyên nhân thứ hai có thể là do hệ thống chấm điểm tín dụng của ngân hàng không chính xác hoặc hoạt động không hiệu quả cũng có thể dẫn đến rủi ro đánh giá không đúng khả năng trả nợ của người đi vay Tuy vậy, nguyên nhân này thường rất
ít khi xảy ra do hiện nay các quy trình, quy định về quản trị rủi ro tín dụng đang được các ngân hàng thương mại đầu tư rất bài bản
Đại học Ngoại thương- ftu
Trang 32CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
2.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Trên thế giới, đã và đang có không ít các nghiên cứu về khả năng trả nợ của khách hàng tại NHTM Mỗi nghiên cứu lại chỉ ra được những đặc điểm riêng của khu vực nghiên cứu và từng thời điểm nghiên cứu khác nhau Những nghiên cứu đó liên tục kế thừa và phát triển dựa trên các thị trường kinh tế mới với những ưu điểm và nhược điểm riêng Dựa trên những tài liệu thu thập được, tác giả sẽ tóm tắt một vài bài nghiên cứu nổi bật trên thế giới để làm cơ sở cho các chương quan trọng tiếp theo Năm 1940, John M Chapman đã đặt những nền móng đầu tiên đối với việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng trong cho vay cá nhân Sau đó, nghiên cứu này đã được Cục nghiên cứu kinh tế quốc gia Hoa Kỳ đưa vào tài liệu Commercial Banks and Consumer Instalment Credit Để phân tích các rủi ro khi cấp tín dụng khách hàng cá nhân, ông đã thu thập 2,765 quan sát và thống kê các yếu tố
cơ bản có ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay như sau: Lý do từ chối khoản vay, độ tuổi, giới tính, số người phụ thuộc, nghề nghiệp, liên kết công nghiệp, số năm kinh nghiệm, giá trị khoản vay, thu nhập hàng năm, tài sản tích lũy của người vay, thời gian vay, mục đích vay Theo nghiên cứu của John M Chapman (1940), các yếu tố trên cơ bản đều có những tác động nhất định đến khả năng trả nợ vay của khách hàng
cá nhân nhưng nhược điểm của nghiên cứu là chỉ đưa ra các thống kê kết hợp với thực tế để phân tích chứ chưa làm rõ các luận điểm thông qua các mô hình tính toán
cụ thể Tuy vậy, các yếu tố đưa ra trong bài nghiên cứu đều là các yếu tố cơ sở cho các nghiên cứu khác sau này
Công trình khoa học của Jonathan Crook (2001) nghiên cứu về các yếu tố ảnh
hưởng đến nhu cầu tín dụng của 4.299 hộ gia đình tại Hoa Kỳ Bài nghiên cứu đã
sử dụng mô hình Probit để ước lượng các hệ số của biến độc lập Kết quả hồi quy cho thấy khả năng trả nợ của các hộ gia đình tại Hoa Kỳ chịu tác động cùng chiều bởi yếu tố độ tuổi, thu nhập ròng của chủ hộ và tương đồng với kết quả nghiên của Cox và Jappelli (1993) Đặc biệt, trong bài của nghiên cứu của Jonathan Crook
Đại học Ngoại thương- ftu
Trang 33(1993) có đề cập đến biến “Homeowner” hay còn được gọi là sở hữu nhà ở hoặc tài sản tích lũy Trong nghiên cứu của mình, ông đã kết luận rằng sở hữu nhà ở có tác động cùng chiều với khả năng trả nợ của hộ gia đình nghĩa là nếu một hộ gia đình có tài sản tích lũy thì khả năng trả nợ đúng hạn sẽ cao hơn so với hộ gia đình không có tài sản tích lũy Điều này cũng trùng hợp với nghiên cứu của Duca và Rosenthal (1993)
Tại Iran, nghiên cứu của Mohammad Reza Kohansal và các cộng sự (2009) đã
sử dụng mô hình logit để giải thích khả năng trả nợ vay đúng hạn của khách hàng cá nhân Kết quả nghiên cứu cho thấy kinh nghiệm của nông dân, thu nhập, khoản vay nhận được và giá trị tài sản thế chấp có quan hệ đồng biến với khả năng trả nợ; ngược lại, lãi suất cho vay lại tương quan nghịch biến với khả năng trả nợ Trong khi đó, Pishbahar và các cộng sự (2015) lại cho rằng lãi suất tác động thuận chiều với khả năng trả nợ vay
Tại Đông Nam Á, Việt Nam và Malaysia là hai quốc gia có có tình hình kinh tế tương đồng với nhau Đây là hai quốc gia đang phát triển và có tốc độ tăng trưởng GDP hàng đầu khu vực, trong đó nhu cầu vay vốn là không thể thiếu Trong công trình nghiên cứu, Roslan Abdul-Hakim và cộng sự (2009) đã thực hiện phân tích các yếu tố có thể ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của các trường hợp tín dụng vi mô trong tại ngân hàng Agrobank Các tác giả đã thu thập tổng cộng 2.630 quan sát, giai đoạn
từ tháng 06/2007 đến tháng 08/2007 của 86 chi nhánh Agrobank, Malaysia Các tác giả chia các yếu tố ảnh hưởng thành 3 nhóm: Nhóm 1 bao gồm các nhân tố liên quan đến đặc điểm của bên đi vay, nhóm 2 liên quan đến khả năng kinh doanh của khách hàng vay và nhóm 3 liên quan đến bản thân khoản vay Sau đó, sử dụng mô hình Probit để tìm ra các yếu tố chính có ảnh hưởng đến khả năng khả năng trả nợ vay Công trình nghiên cứu chỉ ra rằng: Biến giới tính có ý nghĩa thống kê trong đó tỷ lệ
nợ quá hạn đối của nam giới so với nữ giới là cao hơn Ngoài ra, những người đi vay đang công tác trong các ngành dịch vụ, thương mại sẽ có ít rủi ro tín dụng hơn đối với những người công tác trong các ngành sản xuất Người đi vay nếu được đào tạo
về chuyên môn tốt đối với công việc đang làm cũng có khả năng trả nợ cao hơn so với những người lao động không được đào tạo Giá trị khoản vay có tác động thuận chiều đối với khả năng trả nợ của khách hàng tức là giá trị khoản vay càng lớn thì rủi
Đại học Ngoại thương- ftu
Trang 34ro không trả được nợ càng thấp Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của John M Chapman (1940) và nghiên cứu của Gabriel Jimenez và cộng sự (2004) nhưng lại đối lập với kết quả nghiên cứu của Manohar P Sharma và cộng sự (1997) Thời hạn cho vay tác động ngược chiều và có ý nghĩa thống kê mức 1%, trong đó thời gian cho vay càng lâu thì tỷ lệ nợ quá hạn càng cao Ngoài ra, Norhaziah Nawai và cộng sự (2012) cũng đã có đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ trong chương trình tín dụng vi mô tại Malaysia Trong đó, các tác giả đã thu thập dữ liệu của 309 khách hàng trong giai đoạn từ tháng 11 năm 2010 đến tháng 02 năm 2011 Nhằm đạt được mục đích nghiên cứu ban đầu, các tác giả đã chia tình trạng trả nợ vay của khách hàng thành 3 mức, cụ thể: Nếu khách hàng trả nợ vay đúng ngày thì gọi là trả nợ đúng hạn, nếu khách hàng trả nợ thiếu và chậm thì được gọi lại nợ quá hạn và nếu khách hàng không trả nợ liên tiếp trong 3 tháng thì gọi là tình trạng vỡ nợ Bài nghiên cứu ứng dụng mô hình hồi quy logit với 12 biến như sau: Giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, tôn giáo, thu nhập, khoảng cách đến nơi vay, đăng ký SSM (đăng ký kinh doanh tại Malaysia), số lượng khoản vay phê duyệt mỗi tháng, tổng dư nợ, số lần kiểm soát sau khi vay và mục đích vay có đúng hay không Theo đó, các yếu tố: độ tuổi, tôn giáo,
số lượng khoản vay được phê duyệt mỗi tháng và đăng ký SSM sẽ có tác động ngược chiều đến khả năng trả nợ vay, trong khi đó các biến giới tính, khoảng cách đến nơi vay, tổng số nợ, số lần kiểm soát sau vay và mục đích vay có đúng hay không của khách hàng sẽ ảnh hưởng thuận chiều đến khả năng trả nợ của khách hàng Trong đó,
mô hình trên đã giải thích được 84.72% sự ảnh hưởng của các biến độc lập lên biến phụ thuộc, đồng thời có 2 biến đạt mức ý nghĩa 1% đó là: Khoảng cách đến nơi vay
và tổng dư nợ
Đối với công trình nghiên cứu Li Rui và cộng sự (2010), trong đó mục đích chính là ước tính mức độ hạn chế tín dụng mà các gia đình nông thôn Trung Quốc phải đối mặt, cũng như các tác động của nó đối với thu nhập và tiêu dùng của các hộ gia đình Các tác giả đã đưa vào các biến độc lập khá đặc biệt để giải thích cho biến phụ thuộc, trong đó chi phí đất đai, chi phí y tế và giáo dục tác động tích cực đáng kể đến nhu cầu tín dụng của hộ gia đình Cán cân tài chính trong gia đình có tác động tiêu cực đến nhu cầu tín dụng Biến “Rela-ar (mối quan hệ)” có tác động tích cực đến
Đại học Ngoại thương- ftu
Trang 35nguồn cung tín dụng (mức ý nghĩa 1%) Điều đó cho thấy, “mối quan hệ” có vai trò khá quan trọng trong thị trường tín dụng nông thôn Trung Quốc Hơn thế nữa, Zhang
và Izumida (2013) cũng có công trình nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố quyết định đến khả năng trả nợ vay tại tỉnh Quý Châu, Trung Quốc Các kết quả thực nghiệm chỉ ra “thu nhập hộ gia đình” cao hơn không tăng khả năng trả nợ Tuy nhiên, các yếu tố như “mức độ quen biết” cao hơn, “thu nhập người di cư” và “việc làm trong các cơ quan chính phủ” lại là các yếu tố cải thiện tích cực khả năng trả nợ Thông qua hai bài nghiên cứu trên, ta có thể thấy rằng nếu thay đổi không gian và thời gian nghiên cứu thì có thể cho ra các kết quả không tương đồng với nhau
2.1.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Tại Việt Nam, đầu tiên phải kể đến công trình nghiên cứu của Vương Quân Hoàng và các cộng sự (2006) đã thực hiện hồi quy nhị nguyên logit trên tập mẫu là 1.728 khách hàng tại ngân hàng Techcombank trong đó biến phụ thuộc là “Mức tín nhiệm của khách hàng thể nhân” (Các tác giả chia thành hai nhóm trong đó Nhóm A_Khách hàng tốt và Nhóm B_Khách hàng không tốt) và 16 biến phụ thuộc là: “Tuổi tác, trình độ học vấn, loại hình công việc, thời gian công tác, mức thu nhập hàng tháng, tình trạng hôn nhân, nơi cư trú, thời gian cư trú, số người phụ thuộc, phương tiện đi lại, phương tiện thông tin, chênh lệch thu nhập và chi tiêu, giá trị tài sản khách hàng, giá trị các khoản nợ, quan hệ với Techcombank và uy tín trong giao dịch” Dựa trên các kết quả thực hiện mô hình, các tác giả đã bỏ 02 biến là thời gian công tác và
uy tín trong giao dịch vì cho rằng có hiện tượng đa cộng tuyến với các biến khác và
hệ số trong mô hình 16 biến thể hiện sự không ổn định Các biến “thu nhập hàng tháng, chênh lệch thu nhập và chi tiêu và giá trị tài sản của khách hàng” có tác động thuận chiều đến mức tín nhiệm của khách hàng thể nhân, có nghĩa là nếu các biến này tăng thì mức tín nhiệm sẽ càng cao và tương đương với khách hàng tốt Đối với 11 biến còn lại có tác động ngược chiều đến biến phụ thuộc Ngoài ra khả năng dự đoán của mô hình cũng khá tốt khi tỷ lệ khách hàng được dự đoán đúng là 99.02% trong tổng số 1.728 khách hàng
Một nghiên cứu khác của Trương Đông Lộc và cộng sự (2011), trong đó tập mẫu là 436 nông hộ trong năm 2009 trên địa bàn tỉnh Hậu Giang Trong công trình
Đại học Ngoại thương- ftu
Trang 36của mình, các tác giả đã đặt biến phụ thuộc là “Khả năng trả nợ vay đúng hạn của nông hộ”(Y: Y nhận giá trị 1 nếu nông hộ trả nợ vay đúng hạn, nhận giá trị 0 nếu trả
nợ không đúng hạn) Và các biến độc lập (X1…X7) như sau: “Mục đích sử dụng vốn vay (biến giả, bằng 1 nếu nông hộ sử dụng vốn vay đúng mục đích, bằng 0 nếu sử dụng sai mục đích), thu nhập sau khi vay, lãi suất vay, tuổi của người đi vay, ngành nghề chính tạo ra thu nhập của nông hộ (biến giả, bằng 1 nếu ngành nghề chính tạo
ra thu nhập trả nợ từ nông nghiệp, bằng 0 nếu là nghề khác), số thành viên trong gia đình có thu nhập, trình độ học vấn chủ hộ (biến giả, bằng 1 nếu chủ hộ học từ lớp 9 trở lên, bằng 0 nếu ngược lại)” Các tác giả đã kết luận rằng khả năng trả nợ vay đúng hạn của nông hộ có tương quan thuận với thu nhập sau khi vay, trình độ học vấn của chủ hộ và số thành viên trong gia đình có thu nhập Kết quả của hồi quy Probit chỉ ra rằng: Trước tiên, giá trị LR(likelihood ratio) của mô hình là 77.07 và mô hình có ý nghĩa thống kê mức 1% Các biến: Thu nhập sau khi vay, số thành viên trong gia đình
có thu nhập và học vấn có mối tương quan thuận với khả năng trả nợ đúng hạn của nông hộ Ngược lại, lãi suất vay tương quan nghịch với khả năng trả nợ đúng hạn của nông hộ
Công trình nghiên cứu của Hoàng Thanh Hải và các cộng sự (2018) đã sử dụng
dữ liệu trả nợ của 30.000 khách hàng tín dụng cá nhân tại một ngân hàng ở Đài Loan vào tháng 10 năm 2005, dữ liệu dùng để xây dựng mô hình có kích thước 29.543, được lấy từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2005 trên cơ sở sử dụng phần mềm R 3.3.1 để phân tích dữ liệu Nhóm tác giả đã sử dụng mô hình logit dự báo xác suất vỡ nợ của khách hàng tín dụng cá nhân và đánh giá tác động của các nhân tố đến xác suất này, thực hiện kiểm định đa cộng tuyến và đánh giá độ chính xác phân loại trên cơ sở so sánh độ chính xác trong phân loại của mô hình trên 2 bộ dữ liệu huấn luyện và dữ liệu kiểm định với ngưỡng xác suất phân loại giữa vỡ nợ và không vỡ nợ là 0,5 Mô hình được sử dụng gồm biến phụ thuộc là biến nhị phân (nhận giá trị 1 nếu khách hàng vỡ nợ, nhận giá trị 0 nếu ngược lại) và 23 biến giải thích bao gồm thông tin cá nhân và dữ liệu trả nợ của khách hàng: hạn mức tín dụng (đơn vị: đô la Đài Loan), giới tính khách hàng (1-nam; 2-nữ), trình độ học vấn (1-sau đại học; 2-đại học; 3-phổ thông; 4-khác), tình trạng hôn nhân (1-đã kết hôn; 2-độc thân; 3-khác), độ tuổi (tuổi),
Đại học Ngoại thương- ftu
Trang 37tình trạng trả nợ hàng tháng (từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2005, bao gồm 6 biến), lượng chi tiêu hàng tháng (đơn vị: đô la Đài Loan, bao gồm 6 biến), lượng trả nợ hàng tháng (đơn vị: đô la Đài Loan, bao gồm 6 biến) Mô hình đã chứng minh được các biến hạn mức tín dụng, giới tính khách hàng, tình trạng hôn nhân, lượng chi tiêu hàng tháng (tháng 6, 8, 9), lượng trả nợ hàng tháng (tháng 6, 7, 8, 9), tình trạng trả nợ hàng tháng (tháng 6, 8, 9, 11) là các biến có ý nghĩa thống kê với khoảng tin cậy 95% Trong đó, các biến hạn mức tín dụng, lượng trả nợ hàng tháng có tác động ngược chiều lên biến phụ thuộc, lượng chi tiêu hàng tháng có tác động cả 2 chiều Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nam giới có xác suất vỡ nợ cao hơn nữ giới, khách hàng đã kết hôn có xác suất vỡ nợ cao hơn khách hàng đang độc thân, tình trạng trả nợ thể hiện qua việc trả nợ trễ làm tăng khả năng vỡ nợ của khách hàng
Ngoài ra, còn có công trình nghiên cứu của Bùi Hữu Phước và các cộng sự (2018) Nghiên cứu này phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng của ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Kiên Giang, sử dụng dữ liệu thu được từ 120 hồ sơ tín dụng trong năm 2016, những khoản vay được chọn phải nằm trong thời gian nghiên cứu, những khoản vay được chọn đã phát sinh kỳ hạn nợ phải thanh toán, như vậy mới đánh giá được chất lượng của khoản vay một cách chính xác Mô hình logit nhị thức và logit đa thức được sử dụng để ước tính các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng Kết quả cho thấy logit đa thức thực hiện tốt hơn Biến phụ thuộc trong mô hình là rủi ro tín dụng và khả năng tổn thất hoặc khả năng mất vốn (dựa trên phân loại 5 nhóm nợ) Trong khi mô hình logit nhị thức chỉ có thể dùng để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng (tức là có rủi ro hoặc là không có rủi ro xảy ra, nhận giá trị 0 hoặc 1) thì mô hình hồi quy logit đa thức có thể ứng dụng
để ước lượng các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ rủi ro tín dụng với 3 mức (nợ nhóm 1-mức 0, nợ nhóm 2 đến nhóm 4 - mức 1 và nợ nhóm 5 - mức 2) Biến độc lập trong
mô hình gồm: năng lực tài chính của khách hàng (vốn tự có), tài sản đảm bảo (số tiền vay trên tổng số tài sản đảm bảo), sử dụng vốn vay (=1 nếu sử dụng vốn đúng mục đích; = 0 nếu ngược lại), kinh nghiệm của cán bộ tín dụng (số năm công tác của cán
bộ trực tiếp xét duyệt hồ sơ và tư vấn), đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh, trình độ quản lý doanh nghiệp (4 mức: thấp hơn trung cấp (1); trung cấp - cao đẳng (2); đại
Đại học Ngoại thương- ftu
Trang 38học (3); trên đại học (4), kiểm tra, giám sát vốn vay (số lần kiểm tra trước khi khoản vay chuyển sang nợ xấu) Các kiểm định đa cộng tuyến và phương sai sai số thay đổi được thực hiện cho thấy không có hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình nhưng có hiện tượng phương sai sai số thay đổi Kết quả ước tính bằng mô hình logit nhị thức cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng bao gồm: tài sản đảm bảo, năng lực tài chính của người vay, mục đích sử dụng vốn vay, đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh, kinh nghiệm cán bộ tín dụng, kiểm tra và giám sát vốn vay Các yếu tố cho biết nếu ngân hàng kiểm soát được lượng hàng hóa tồn kho của khách, không để các món vay có giá trị hàng hóa bảo đảm gặp rủi ro cao và đánh giá đủ tình hình cũng như hiệu quả sản xuất, kinh doanh khách hàng sẽ không dẫn đến quyết định cho vay
có nguy cơ mất vốn Ngoài ra, việc giám sát, kiểm tra vốn vay phải chặt chẽ Kết quả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng bằng mô hình hồi quy logit đa thức cho thấy mô hình logit đa thức cho phép giải thích tốt hơn mô hình logit nhị thức Mức độ 1, các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng bao gồm: Tài sản đảm bảo, năng lực tài chính của khách hàng, đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh, kinh nghiệm của cán bộ tín dụng, kiểm tra và giám sát khoản vay Mức độ 2, các yếu tố có ý nghĩa bao gồm: Năng lực tài chính của khách hàng, đa dạng hóa ngành nghề kinh doanh, kinh nghiệm của cán bộ tín dụng, kiểm tra và giám sát khoản vay Trong khi đó, kết quả của hai mô hình đều chỉ ra rằng biến mục đích sử dụng vốn vay không có ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng ở cả hai mức độ Một điểm đáng chú ý nữa là một khi nợ vay rơi vào nợ thuộc nhóm 5, thì tài sản đảm bảo cũng không có ý nghĩa nữa Bởi vì đây thuộc nhóm nợ có nguy cơ mất vốn cao nhất, ngân hàng cũng rất khó khăn khi tiến hành xử lý và gần như 100% khả năng là mất vốn
Tóm lại, ta có thể thấy rằng các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng khả năng trả nợ đã được tiến hành ở các nền kinh tế khác nhau, các quốc gia khác nhau sẽ cho những kết quả không tương đồng với nhau
2.2 Xây dựng các giả thuyết nghiên cứu
Dựa trên các bài nghiên cứu điển hình trong và ngoài nước, tác giả sẽ thực hiện xây dựng các giả thuyết nghiên cứu của mô hình: “Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng cá nhân tại ngân hàng TMCP Quân Đội” như sau:
Đại học Ngoại thương- ftu
Trang 39H1: Xác suất trả nợ thành công của nữ giới cao hơn nam giới
H2: Người vay đã có đăng ký kết hôn tác động thuận chiều với khả năng trả nợ thành công
H3: Người đi vay càng có nhiều người phụ thuộc thì khả năng trả nợ thành công càng giảm
H4: Khách hàng có trình độ học vấn càng cao thì khả năng trả nợ thành công càng tăng
H5: Khách hàng có số năm kinh nghiệm công tác trong lĩnh vực hiện tại càng lâu thì khả năng trả nợ thành công càng cao
H6: Thời gian vay càng dài thì rủi ro tín dụng đối với ngân hàng càng tăng
H7: Tỷ lệ giá trị khoản vay so với giá trị tài sản đảm bảo tăng cao thì khả năng vỡ nợ tăng
H8: Thu nhập thuần tác động thuận chiều với khả năng trả nợ của khách hàng H9: Lãi suất cho vay tác động ngược chiều với khả năng trả nợ của khách hàng H10: Giá trị khoản vay tác động ngược chiều với khả năng trả nợ của khách hàng H11: Điểm xếp hạng tín dụng tác động thuận chiều với khả năng trả nợ của khách hàng
H12: Tài sản tích lũy tác động thuận chiều đến khả năng trả nợ của khách hàng H13: Vốn vay được sử dụng đúng mục đích sẽ tăng tỷ lệ trả nợ thành công đối với khách hàng cá nhân
2.3 Chọn mẫu nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu là các khách hàng cá nhân đã và đang có quan hệ tín dụng với
MB Dữ liệu nghiên cứu được được xuất từ hệ thống T24 của MB vào thời điểm ngày 15/01/2020 Số lượng đơn vị trong mẫu nghiên cứu là 760 khách hàng, bao gồm những khách hàng đang có dư nợ hoặc khách hàng đã tất toán khoản vay tại MB Mẫu nghiên cứu được chọn theo nguyên tắc ngẫu nhiên, tuy nhiên có loại trừ các trường hợp sau: Các trường hợp cán bộ công nhân viên MB vay tín chấp, các trường hợp vay tín chấp đặc thù như vay tín chấp quân nhân, tín chấp Viettel…
Trường hợp vay cán bộ nhân viên và các trường hợp vay tín chấp đặc thù là những đối tượng khách hàng ưu tiên cho vay theo quy định của MB, một số thông tin
Đại học Ngoại thương- ftu
Trang 40về những khách hàng này sẽ không đầy đủ như những khách hàng vay thế chấp có tài sản thông thường (ví dụ thông tin về tài sản đảm bảo, hôn nhân, người phụ thuộc…)
Vì vậy, những đối tượng khách hàng này sẽ không có đầy đủ dữ liệu đối với mẫu nghiên cứu
2.4 Mô tả biến nghiên cứu
Biến phụ thuộc: Khả năng trả nợ - TRANO
Biến phụ thuộc TRANO mô tả khả năng trả nợ của khách hàng và nhận các giá trị như sau:
- Nếu TRANO = 1 thì khách hàng có khả năng trả nợ vay
- Nếu TRANO = 0 thì khách hàng không có khả năng trả nợ
Việc đánh giá khách hàng có khả năng trả nợ hay không được căn cứ vào phân loại nợ của theo quy định pháp luật Việt Nam như đã đề cập trong chương 1 Nợ nhóm 1 được đánh giá là có khả năng thanh toán, ngược lại nếu khách hàng có khoản
nợ bị liệt vào các nhóm 2,3,4,5 sẽ bị xem là mất khả năng thanh toán Nếu phương thức trả nợ là trả tiền gốc và lãi đều hàng kỳ, tại thời điểm kết thúc khoản vay, khách hàng trả hết nợ gốc và lãi phát sinh trong kỳ thì coi như khách hàng đó trả nợ đúng hạn và không tính đến những lần quá hạn trước đó Đồng thời nhóm nợ trong suốt thời gian vay là nợ nhóm 1 Khi đó quan sát này nhận giá trị 1, ngược lại nhận giá trị
0 Đối với phương thức trả nợ là trả gốc cuối kỳ, lãi hàng kỳ, nếu khách hàng trả hết
nợ gốc và lãi thì khách hàng trả nợ thành công, khi đó quan sát này nhận giá trị 1, các trường hợp trả gốc nhưng chậm trả lãi hoặc trả lãi đủ nhưng chậm trả gốc sẽ nhận giá trị là 0
Các biến độc lập trong mô hình:
Giới tính - GT
Biến số này mô tả giới tính của khách hàng Đây là biến giả và được xác định
là 1 nếu người vay chính là nam, bằng 0 nếu người vay chính là nữ