- Vì hộ kinh doanh chỉ được sử dụng dưới 10 lao động, nếu sử dụng trên 10 lao động thì phải đăng kí thành lập doanh nghiệp theo quy định CSPL: Điều 66 luật Doanh nghiệp 2020 2.. Cá nhân,
Trang 1LỚP HÀNH CHÍNH 45A2
MÔN: PHÁP LUẬT VỀ CHỦ THỂ KINH DOANH BUỔI THẢO LUẬN THỨ 2: DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN VÀ HỘ KINH DOANH
DANH SÁCH NHÓM 1
Nhóm trưởng: Võ Thị Khánh Huyền
Trang 2- Nhận định trên là sai
- Vì hộ kinh doanh chỉ được sử dụng dưới 10 lao động, nếu sử dụng trên 10 lao động thì phải đăng
kí thành lập doanh nghiệp theo quy định
CSPL: Điều 66 luật Doanh nghiệp 2020
2 Cá nhân đủ 18 tuổi trở lên có quyền thành lập HKD
- Nhận định này là sai
- Vì người có quyền thành lập hộ kinh doanh phải là Công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đầy đủ; các hộ gia đình có quyền thành lập hộ kinh doanh và
có nghĩa vụ đăng ký hộ kinh doanh theo quy định của pháp luật
CSPL: Khoản 1 Điều 80 NĐ Số: 01/2021/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp:
“1 Cá nhân, thành viên hộ gia đình là công dân Việt Nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của Bộ luật Dân sự có quyền thành lập hộ kinh doanh theo quy định tại Chương này, trừ các trường hợp sau đây:
a) Người chưa thành niên, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người bị mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;
b) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định;
c) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật có liên quan.”
3 DNTN không được quyền mua cổ phần của công ty cổ phần
- Nhận định trên là đúng
- Theo Khoản 4 Điều 188 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định như sau:
"4 Doanh nghiệp tư nhân không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần."
Như vậy, doanh nghiệp tư nhân không có quyền góp vốn, mua cổ phần tại công ty khác
4 Chủ DNTN không được quyền làm chủ sở hữu loại hình doanh nghiệp một chủ sở hữu khác
- Nhận định trên là đúng
Trang 3- Vì theo Khoản 3 Điều 188 Luật Doanh Nghiệp 2020 thì : ” Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân Chủ doanh nghiệp tư nhân không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên hợp danh của công ty hợp danh.”
5 Chủ DNTN có thể đồng thời là cổ đông sáng lập của CTCP
- Nhận định này là đúng
- Vì Theo Khoản 3 Điều 17 có quy định:
“Tổ chức, cá nhân có quyền góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh theo quy định của Luật này, trừ trường hợp sau đây:
a) Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước góp vốn vào doanh nghiệp để thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;
b) Đối tượng không được góp vốn vào doanh nghiệp theo quy định của Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức, Luật Phòng, chống tham nhũng”.
Thì ta có thể thấy chủ DNTN không thuộc trong hai trường hợp này Và tại Khoản 3 Điều 188 quy
định “Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân Chủ doanh nghiệp tư nhân không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên hợp danh của công ty hợp danh” Do đó
chủ DNTN có thể đồng thời là cổ đông sáng lập CTCP
6 Chủ sở hữu của hộ kinh doanh phải là cá nhân
- Nhận định trên là đúng
- Vì Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc do các thành viên hộ gia đình đăng ký thành lập Tuy nhiên trường hợp các thành viên hộ gia đình đăng ký thành lập thì chỉ được ủy quyền cho một người làm đại diện và đồng thời là chủ hộ kinh doanh trên phương diện pháp lý
CLPL Khoản 1 điều 79 NĐ 01/2021
Như vậy chủ sở hữu của hộ kinh doanh luôn là cá nhân, trường hợp các thành viên trong hộ gia đình thành lập, thì ủy quyền cho người đại diện đồng thời là chủ hộ kinh doanh
7 Chủ DNTN luôn là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
Nhận định này là đúng
Vì Theo khoản 4 Điều 143 Luật Doanh nghiệp 2020 thì chủ doanh nghiệp tư nhân là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Trong trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân thuê người khác quản
lý, điều hành doanh nghiệp (Giám đốc quản lý doanh nghiệp) thì chủ doanh nghiệp vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Trương hợp cho thuê cả doanh nghiệp thì chủ doanh nghiệp vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật với tư cách là chủ sở hữu
Trang 4Trong mọi trường hợp, chủ doanh nghiệp tư nhân đều là người đại diện trước pháp luật Mọi trường hợp đại diện khác chỉ có thể được thể hiện bằng hợp đồng uỷ quyền (ví dụ uỷ quyền cho luật sư hoặc một người nào đó), có thể bao gồm trong hợp đồng thuê Giám đốc quản lý hoặc hợp đồng cho thuê doanh nghiệp
8 Trong thời gian cho thuê DNTN, chủ doanh nghiệp vẫn là người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp
- Nhận định này là đúng
- Trong thời gian cho thuê DNTN, người đại diện theo pháp luật của DNTN chỉ có thể là chủ DNTN, bởi những lý do sau:
Theo Điều 191 LDN 2020, trong thời hạn cho thuê DNTN, chủ DNTN vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật với tư cách là chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân, điều này có nghĩa, chủ DNTN phải
là chủ thể nguyên đơn, bị đơn, đại diện cho DNTN thực hiện quyền và nghĩa vụ khác theo quy định pháp luật Cũng theo khoản 3 Điều 190 LDN 2020, chủ DNTN cũng là người đại diện theo pháp luật của DNTN
Thứ hai, DNTN không có tư cách pháp nhân, như vậy không thể áp dụng Điều 137 BLDS 2015 để xác định đại diện theo pháp luật của DNTN, còn trong Điều 136 BLDS 2015 quy định về đại diện theo pháp luật của cá nhân thì không bao gồm trường hợp người được cho thuê DNTN có thể làm người đại diện cho chủ DNTN
Với 02 luận điểm trên, trong thời gian cho thuê, chủ DNTN vẫn là người đại diện theo pháp luật của DNTN
9 Việc bán DNTN sẽ làm chấm dứt sự tồn tại của DNTN đó
- Nhận định này là sai
- Vì bán DNTN tức là người chủ của DNTN chuyển nhượng DN của mình cho người khác Như vậy, sau khi đã hoàn tất việc chuyển nhượng thì người nhận chuyển nhượng sẽ là người chủ mới của DNTN sau khi đã đăng ký thay đổi và DNTN đó vẫn tiếp tục tồn tại, hoạt động kinh doanh dưới sự quản lý, điều hành của người chủ mới chứ không chấm dứt hoạt động
10 Sau khi bán doanh nghiệp, chủ DNTN vẫn phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp
- Nhận định này là đúng
- Vì theo điều 192, Luật Doanh nghiệp 2020 quy định về bán DNTN thì sau khi bán DNTN, chủ DNTN vẫn phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của DNTN phát sinh trong thời gian trước ngày chuyển giao doanh nghiệp, trừ trường hợp chủ DNTN, người mua và chủ
nợ của DNTN có thỏa thuận khác
Trang 5III LÝ THUYẾT
1 Phân tích các đặc điểm cơ bản của DNTN Giải thích vì sao Luật Doanh nghiệp 2020 chỉ cho phép một cá nhân chỉ được làm chủ một DNTN
* Đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân:
Doanh nghiệp tư nhân do một cá nhân làm chủ.
Doanh nghiệp tư nhân không xuất hiện sự góp vốn giống như các công ty nhiều chủ sở hữu, nguồn vốn của doanh nghiệp tư nhân chủ yếu xuất phát từ tài sản của một cá nhân duy nhất Doanh nghiệp
tư nhân do một cá nhân Việt Nam hoặc cá nhân nước ngoài đầu tư vốn, thành lập và làm chủ có nghĩa là doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp thuộc sở hữu của một chủ Tất cả các cá nhân đều có quyền thành lập doanh nghiệp tư nhân trừ những cá nhân không có quyền thành lập, quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam Đặc điểm về chủ sở hữu (doanh nghiệp tư nhân thuộc sở hữu của một chủ) sẽ phân biệt doanh nghiệp tư nhân với những loại hình doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhiều chủ như công ty hợp danh, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên trở lên
Về quan hệ sở hữu vốn trong Doanh nghiệp
Nguồn vốn ban đầu của Doanh nghiệp tư nhân xuất phát từ tài sản của chủ Doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động chủ Doanh nghiệp có quyền tăng hoặc giảm số vốn đầu tư, chỉ phải khai báo với
cơ quan kinh doanh khi giảm số vốn xuống dưới mức đăng ký Vì vậy, không có giới hạn nào giữa phần vốn và tài sản đưa vào kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân và phần còn lại thuộc quyền sở hữu của Doanh nghiệp Điều đó có nghĩa không có sự tách bạch tài sản của chủ Doanh nghiệp tư nhân với tài sản của doanh nghiệp tư nhân đó Với tính chất là doanh nghiệp thuộc sở hữu của một chủ nên toàn bộ vốn để thành lập doanh nghiệp tư nhân chỉ do một cá nhân (chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân) đầu tư Tài sản được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp, vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân do chủ doanh nghiệp tự đăng ký Chủ doanh nghiệp tư nhân có nghĩa vụ đăng ký chính xác tổng số vốn đầu tư, trong đó nêu rõ số vốn bằng đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng và các tài sản khác; đối với vốn bằng tài sản khác còn phải ghi rõ loại tài sản, số lượng và giá trị còn lại của mỗi loại tài sản Chủ doanh nghiệp tư nhân phải đăng ký số vốn đầu tư và phải ghi chép đầy đủ toàn bộ vốn, tài sản kể cả vốn vay và tài sản thuê được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vào sổ kế toán và báo cáo tài chính của doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động, chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền tăng hoặc giảm vốn đầu tư và phải được ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán Trường hợp giảm vốn đầu tư xuống thấp hơn vốn đầu tư đã đăng ký thì chủ doanh nghiệp tư nhân chỉ được giảm vốn sau khi đã đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh
Trang 6 Quan hệ sở hữu quyết định quan hệ quản lý
Doanh nghiệp tư nhân chỉ có một chủ sở hữu, vì vậy chủ Doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định trong tổ chức cũng như quá trình hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp tư nhân Chủ Doanh nghiệp tư nhân là người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp tư nhân
Về phân phối lợi nhuận
Về vấn đề chia lợi nhuận không đặt ra với Doanh nghiệp tư nhân bởi Doanh nghiệp tư nhân chỉ có một chủ sở hữu, toàn bộ lợi nhuận trong quá trình hoạt động kinh doanh sẽ thuộc về chủ Doanh nghiệp Tuy nhiên điều đó cũng đồng nghĩa khi có rủi ro chủ Doanh nghiệp tư nhân sẽ tự mình chịu toàn bộ rủi ro trong quá trình kinh doanh
Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân
Một pháp nhân phải có tài sản riêng, tức là phải có sự tách bạch giữa tài sản của pháp nhân đó với những người tạo ra pháp nhân Doanh nghiệp tư nhân không có sự độc lập về tài sản vì tài sản của Doanh nghiệp tư nhân không có sự độc lập trong quan hệ với tài sản của chủ Doanh nghiệp tư nhân
Chủ Doanh nghiệp Tư nhân phải chịu trách nhiệm vô hạn trước mọi khoản nợ trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp tư nhân
Do không có sự độc lập về tài sản, người chịu trách nhiệm trước mọi rủi ro của Doanh nghiệp sẽ phải chịu trách nhiệm vô hạn Doanh nghiệp tư nhân không chỉ chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp trong phạm vi vốn đầu tư đã đăng ký mà phải chịu bằng toàn bộ tài sản trong trường hợp vốn đã đăng ký không đủ
Trách nhiệm tài sản trong kinh doanh thường được đặt ra đối với doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp Trách nhiệm tài sản trong kinh doanh của doanh nghiệp để chỉ về khả năng chịu trách nhiệm tài sản giữa doanh nghiệp với các khách hàng, chủ nợ của doanh nghiệp Doanh nghiệp sẽ chịu trách nhiệm tài sản bằng tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp Trách nhiệm tài sản của chủ sở hữu doanh nghiệp là trách nhiệm của chủ sở hữu doanh nghiệp đối với doanh nghiệp do mình góp vốn đầu tư
Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân, không có tài sản riêng nên trách nhiệm tài sản đối với đối tác, khách hàng, chủ nợ, những người có liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp do chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm Chủ doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm tài sản vô hạn trong kinh doanh có nghĩa là chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp bằng toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của mình bao gồm cả tài sản chủ doanh nghiệp tư nhân đã đầu tư vào doanh nghiệp và tài sản mà chủ doanh nghiệp tư nhân không đầu tư vào doanh nghiệp Cụ thể hơn có thể hiểu là chủ doanh nghiệp tư nhân
Trang 7không chỉ chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân trong phạm vi số vốn đầu tư đã đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh mà còn phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của mình không đầu tư vào doanh nghiệp trong trường hợp số vốn đầu tư
đã đăng ký không đủ để thanh toán các khoản nợ phát sinh từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản
* Giải thích vì sao Luật Doanh nghiệp 2020 chỉ cho phép một cá nhân chỉ được làm chủ một DNTN.
Theo quy định của pháp luật, mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân Sở
dĩ như vậy là vì, chủ DNTN phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng tất cả tài sản của mình về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Do đó, để đảm bảo quyền lợi cho khách hàng và đối tác, kể cả chủ nợ của các DNTN nên luật chỉ cho phép mỗi cá nhân chỉ được thành lập 1 DNTN
2 Phân tích hệ quả pháp lý trong các trường hợp bán, cho thuê DNTN
- Hệ quả pháp lý của việc bán DNTN:
+ Sau khi bán doanh nghiệp, chủ DNTN vẫn phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác mà doanh nghiệp chưa thực hiện, trừ trường hợp người mua, người bán và chủ nợ của doanh nghiệp có thoả thuận khác
+ Người bán, người mua doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định của pháp luật về lao động
+ Người mua doanh nghiệp phải đăng ký kinh doanh lại theo quy định của Luật này
- Hệ quả pháp lý của việc cho thuê doanh nghiệp tư nhân:
+ Người thuê doanh nghiệp tư nhân được sử dụng toàn bộ tài sản của doanh nghiệp theo thỏa thuận trong hợp đồng thuê
+ DNTN không chấm dứt tư cách pháp lý
+ Chủ DNTN phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và bên thứ ba đối với hợp đồng của DNTN trong thời gian cho thuê
+ Quyền và trách nhiệm của chủ DNTN và người thuê được xác định theo hợp đồng thuê Bên thuê DNTN chỉ có thể làm đại diện nếu được chủ DNTN uỷ quyền bằng Hợp đồng uỷ quyền nhằm thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp đó
3 So sánh DNTN và HKD
* Giống nhau:
- Đều không có tư cách pháp nhân;
- Chủ hộ kinh doanh, chủ doanh nghiệp tư nhân đều phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của
mình đối với hoạt động kinh doanh
Trang 8- Trường hợp kinh doanh thua lỗ và phát sinh nợ, chủ hộ kinh doanh và chủ doanh nghiệp tư nhân
phải chịu nghĩa vụ thanh toán nợ bằng tài sản riêng của mình
- Mỗi cá nhân chỉ được thành lập 01 hộ kinh doanh hoặc 01 doanh nghiệp tư nhân (cá nhân thành lập và tham gia góp vốn thành lập hộ kinh doanh không được đồng thời là chủ doanh nghiệp tư nhân
và ngược lại)
* Khác nhau:
Chủ thể
thành lập
Do một cá nhân là công dân Việt Nam đủ
18 tuổi hoặc người nước ngoài có năng lực hành vi dân sự đầy đủ làm chủ
Do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ
Cơ cấu tổ
chức
Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân, việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật
Không quy định rõ cơ cấu tổ chức
Thủ tục đăng
ký thành lập,
giải thể, phá
sản
+ Thủ tục đăng ký thành lập phức tạp hơn Hồ sơ nộp tại Phòng đăng ký kinh doanh thuộc Sở kế hoạch và Đầu tư nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính
+ Được phép đăng ký và sử dụng con dấu
+ Tiến hành thủ tục giải thể, phá sản theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Phá sản
+ Thủ tục đăng ký thành lập đơn giản
Hồ sơ nộp tại Phòng Tài chính – Kế hoạch thuộc UBND cấp huyện nơi hộ kinh doanh đặt cơ sở
+ Không được phép đăng ký sử dụng con dấu
+ Khi chấm dứt hoạt động chỉ cần gửi lại thông báo và nộp lại Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh tại nơi cấp
Trang 9Nghĩa vụ
thuế
+ Được phép xuất hóa đơn giá trị gia tăng
+ Phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp
+ Không được xuất hóa đơn giá trị gia tăng (gọi tắt là VAT hay là hóa đơn đỏ)
+ Không phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp Hộ kinh doanh đóng lệ phí môn bài tùy theo doanh thu/năm (Nếu hộ kinh có doanh thu từ 100 triệu trở xuống thì không phải nộp lệ phí môn bài)
Chuyển
nhượng
Có thể chuyển nhượng doanh nghiệp cho chủ thể khác
Không được chuyển nhượng hộ kinh doanh cho chủ thể khác
4 Tại sao chủ DNTN được quyền bán, cho thuê DNTN, còn chủ sở hữu các DN khác không
có quyền bán, cho thuê DN của mình
III TÌNH HUỐNG
1 TÌNH HUỐNG 1
Đầu năm 2015, bà Phương Minh có hộ khẩu thường trú tại TP Hồ Chí Minh (bà Minh không thuộc đối tượng bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp) dự định đầu tư cùng một lúc dưới các hình thức sau để kinh doanh:
(i) Mở một cửa hàng bán tạp hóa tại nhà dưới hình thức HKD (ii) Thành lập doanh nghiệp tư nhân kinh doanh quần áo may sẵn do bà làm chủ sở hữu, dự định đặt trụ sở tại tỉnh Bình Dương
(iii) Đầu tư vốn để thành lập công ty TNHH 1 thành viên do bà làm chủ sở hữu, cũng dự định đặt trụ sở tại tỉnh Bình Dương
(iv) Làm thành viên của công ty hợp danh (CTHD) X có trụ sở tại tỉnh Bình Dương
Anh (chị) hãy cho biết dự định của bà Phương Minh có phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành không? Vì sao?
Trả lời:
Mở một cửa hàng bán tạp hóa tại nhà dưới hình thức HKD:
Theo khoản 1 Điều 80 Nghị định 01/2021 NĐ-CP của CP về đăng ký doanh nghiệp thì bà Phương Minh có đầy đủ quyền để thành lập HKD
Theo khoản 2 Điều 79 Nghị định 01/2021 NĐ-CP của CP về đăng ký hộ kinh doanh thì, các trường không phải đăng ký HKD bao gồm:
Trang 10“2 Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, kinh doanh thời vụ, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký hộ kinh doanh, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định mức thu nhập thấp áp dụng trên phạm vi địa phương.”
Theo đó, việc mở cửa hàng tạp hóa không thuộc trường hợp không phải đăng ký kinh doanh Do vậy, mở cửa hàng tạp hóa của bà Phương Minh cần phải đăng ký kinh doanh theo hình thức hộ kinh doanh
Thành lập doanh nghiệp tư nhân kinh doanh quần áo may sẵn do bà làm chủ sở hữu,
dự định đặt trụ sở tại tỉnh Bình Dương.
Theo Khoản 3 Điều 80 NĐ 01/2021 NĐ-CP của CP 2020 về đăng ký doanh nghiệp và Khoản 3 Điều 188 Luật Doanh Nghiệp 2020 thì bà Phương Minh không được đồng thời vừa là chủ hộ kinh doanh vừa là chủ doanh nghiệp tư nhân:
Như vậy, bà Phương Minh chỉ có thể chọn mở cửa hàng tạp hóa tại nhà theo hình thức HKD hoặc thành lập doanh nghiệp tư nhân kinh doanh quần áo may sẵn do bà làm chủ sở hữu
Đầu tư vốn để thành lập công ty TNHH 1 thành viên do bà làm chủ sở hữu, cũng dự định đặt trụ sở tại tỉnh Bình Dương.
+ Nếu bà Phương Minh chọn thành lập doanh nghiệp tư nhân kinh doanh quần áo may sẵn do bà làm chủ thì bà Phương Minh không được góp vốn thành lập công ty TNHH 1 thành viên do bà làm chủ sở hữu
CSPL: Khoản 4 Điều 188 Luật DN 2020
+ Nếu bà Phương Minh mở cửa hàng bán tạp hóa tại nhà dưới hình thức HKD: thì có 2 khả năng xảy ra HKD của bà Phương Minh không được tham gia góp vốn và bà Phương Minh được tham gia góp vốn
Theo quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 80 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP của CP về đăng ký doanh nghiệp nêu rõ:
“Điều 80 Quyền thành lập hộ kinh doanh và nghĩa vụ đăng ký của hộ kinh doanh
2 Cá nhân, thành viên hộ gia đình quy định tại khoản 1 Điều này chỉ được đăng ký một hộ kinh doanh trong phạm vi toàn quốc và được quyền góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp trong doanh nghiệp với tư cách cá nhân.
3 Cá nhân, thành viên hộ gia đình đăng ký hộ kinh doanh không được đồng thời là chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh trừ trường hợp được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại.”