Năm 1976, Robert M.Nideffer giới thiệu Thang Đo Phong Cách Chú Ý và Tương Tác LiênCá Nhân Test of Attentional and Interpersonal Style là công cụ đầu tiên trong việc đo lường hai khái niệ
Trang 11 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4
4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
4.2 Khách thể nghiên cứu 4
5 Giả thuyết nghiên cứu 4
6 Giới hạn nội dung và phạm vi nghiên cứu 4
6.1 Nội dung 4
6.2 Phạm vi 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
7.1 Phương pháp luận 4
7.2 Phương pháp nghiên cứu 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Những nghiên cứu về phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân 6
1.1.2 Những nghiên cứu về thang đo TAIS 8
1.2 Một số vấn đề lý luận 13
1.2.1 Lý luận về chú ý 13
1.2.2 Lý luận về mô hình phong cách chú ý 18
1.3 Thích nghi thang đo 18
1.3.1 Quy trình thích nghi thang đo 18
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 26
Trang 22.1.2 Phạm vi nghiên cứu 27
2.2 Tổ chức thực hiện nghiên cứu 28
2.2.1 Nghiên cứu lý luận 28
2.2.2 Thu thập thông tin 28
2.2.3 Viết đề tài 28
2.3 Phương pháp nghiên cứu 28
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 28
2.3.2 Phương pháp điều tra bằng thang đo 29
2.3.3 Phương pháp thống kê toán học 29
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 30
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
3.1 Chuyển ngữ và thích ứng hoá thang đo 31
3.2 Thông tin về mẫu nghiên cứu 32
3.3 Độ tin cậy thang đo 35
3.3 Tính giá trị thang đo 39
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 49
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
Tiếng Việt 52
Tiếng Anh 52
Trang 31 Bảng 1.1 Tiểu thang đo của TAIS và mô tả đặc điểm của
thang đo TAIS2
40 - 43
đo phong cách tập trung
44 - 45
tập trung
45 - 47
đo phong cách tương tác liên cá nhân
47 - 48
tương tác liên cá nhân
48 - 50
Trang 5có vai trò ở việc hình thành trí nhớ (Phùng Phương Thảo, 2013) Đầu thế kỷ 18
và 19 chú ý bắt đầu được quan tâm đến như một quá trình trong tâm lý, chú ý đóng vai trò quan trọng trong mọi khía cạnh của tri giác, nhận thức, hành động
và ảnh hưởng đến quyết định của chúng ta (Andrade, 2004) Trong đó những nghiên cứu về phân chia các chiều kích của chú ý được nhen nhóm từ những năm đầu thế kỷ 19 và kéo dài đến đầu thế kỷ 21 với mong muốn xác định các loại chú ý khác nhau và ảnh hưởng của từng loại Năm 1976, mô hình phong cách chú ý lần đầu được giới thiệu để đáp ứng nhu cầu trên Kể từ khi ra đời mô hình phong cách chú ý chứng minh hiệu quả của bản thân thông qua các nghiên cứu về ảnh hưởng của nó đến các vấn đề như: trầm cảm(Nederhof et al., 2014), khả năng chịu áp lực(Sattizahn et al., 2016), hiệu suất chơi thể thao (Di Corrado
et al., 2014; Hijazi, 2013; Vallerand, 1983), kết quả học tập (Jones et al., 2017), hiệu quả điều trị bệnh (Lindberg et al., 2010)
Theo từ điển tâm lý APA, liên cá nhân (interpersonal) nghĩa là liên quan đến các hành động, sự kiện và cảm xúc giữa hai hoặc nhiều cá nhân Theo đó,
kỹ năng tương tác liên cá nhân là một năng lực cho phép một người thực hiện các tương tác và mối quan hệ hiệu quả với những người khác, chẳng hạn như khả năng truyền đạt suy nghĩ và cảm xúc hoặc đảm nhận các trách nhiệm xã hội thích hợp Tập hợp của nhiều kĩ năng tương tác liên cá nhân tạo thành phong cách tương tác liên cá nhân của mỗi người
Trong lĩnh vực tâm lý học thể thao, chú ý được xem như là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến kết quả trình diễn của cầu thủ (Abou Elmagd, 2016; Vallerand, 1983) bởi vì các quá trình tâm lý như cảm giác, tri giác, nhận thức, trí nhớ ngắn hạn đều có liên quan đến nó Các cầu thủ phải nâng cao khả năng
Trang 6sự khác biệt của cá nhân trong sự phát triển của các cơ chế chọn lọc chú ý có vai trò trong việc lưu trữ và truy xuất thông tin liên quan đến các nhiệm vụ khác nhau(Nideffer, 1990) Theo nhu cầu trên, một công cụ cần đo phong cách chú ý của mỗi cá nhân là rất cần thiết (Abou Elmagd, 2016) Cùng với phong cách chú
ý, trong thể thao, phong cách tương tác liên cá nhân của một cầu thủ cũng sẽ ảnh hưởng đến việc tạo trạng thái đỉnh cao của bản thân họ (Nideffer, 1990)
Với các ngành khoa học xã hội nói chung và ngành tâm lý học nói riêng, việc phát triển các công cụ đo lường đã từ lâu là một vấn đề được quan tâm Theo hiệp hội Tâm Lý học Hoa Kì (APA), công cụ đo lường tâm lý là công cụ tiêu chuẩn, bao gồm thang đo và kiểm kê tự báo cáo, được sử dụng để đo lường hành vi hoặc các thuộc tính tinh thần, chẳng hạn như thái độ, hoạt động cảm xúc, trí thông minh và khả năng nhận thức (lý luận, hiểu, trừu tượng, v.v.), năng khiếu, giá trị, sở thích và tính cách nét đặc trưng Mục đích cuối cùng là có thể phân loại và nhận biết rõ hơn về đặc điểm tâm lý của cá nhân để từ đó đưa ra một số dự đoán
Hiện nay tại Việt Nam, lĩnh vực thể thao đang ngày một phát triển toàn diện ở nhiều môn Trong đó sức khoẻ.đặc biệt là sức khoẻ tâm lý của tuyển thủ
là một vấn đề được quan tâm nhằm đảm bảo cầu thủ luôn trong trạng thái tốt nhất Tuy nhiên các nghiên cứu hiện nay chỉ mới ở mức bắt đầu tiếp cận một số vấn đề tâm lý trong thể thao như: bầu không khí tâm lý (Vũ Ngọc Ái Vy, 2013) , trạng thái tâm lý xấu (Nguyễn Mạnh Hùng, 2020) Đáng lưu ý đó là những bộ công cụ được sử dụng trong các nghiên cứu hoặc chưa được thích nghi trên đối tượng vận động viên (Vũ Ngọc Ái Vy, 2013) hoặc được mượn từ các phạm trù khác trong tâm lý học (Nguyễn Mạnh Hùng, 2020)
Trang 7Như vậy thực tế đã chứng minh, việc có một bộ công cụ đo lường về phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân là cần thiết và có nhiều ý nghĩa trong cả lâm sàng lẫn nghiên cứu Hơn nữa, việc có bộ công cụ đo lường hai khái niệm trên đặc hiệu trên đối tượng cầu thù là đặc biệt cần thiết Năm 1976, Robert M.Nideffer giới thiệu Thang Đo Phong Cách Chú Ý và Tương Tác Liên
Cá Nhân (Test of Attentional and Interpersonal Style) là công cụ đầu tiên trong việc đo lường hai khái niệm trên, thang đo sau đó được đánh giá về đặc tính tâm trắc (psychometric properties) cho thấy có độ tin cậy cao (Cronbach Alpha ở mức 0.62 – 0.84) và thoả mãn giá trị cấu trúc (Nideffer, 1976), thông qua liên lạc với tác giả thang đo sau đó được phát triển phiên bản thứ 2 (TAIS2) với số câu ngắn hơn thông qua liên(Vassos, 2009) Các nghiên cứu sau đó chỉ ra rằng thang có hiệu quả cao với đối tượng vận động viên (Nideffer, 2001; Nideffer, 1990; Vallerand, 1983) Hiện nay tại Việt Nam, sinh viên chuyên ngành thể dục thể thao chính là nguồn để đào tạo thành vận động viên chuyên nghiệp sau này nên sẽ có những đặc điểm giống với khách thể vận động viên Từ những lí do trên, đề tài “Thích nghi thang đo phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân trên sinh viên chuyên ngành thể dục thể thao ” được tổ chức thực hiện nhằm thích nghi thang đo Phong cách chú ý trên đối tượng phù hợp
Câu hỏi nghiên cứu được đặt ra là thang đo “Phong cách chú ý và tương
tác liên cá nhân” phiên bản tiếng Việt có phù hợp để sử dụng trên đối tượng sinh viên chuyên ngành thể dục thể thao hay không ?
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở xây dựng cơ sở lý luận về phong cách chú ý và tương tác liên
cá nhân, thích nghi thang đo “Phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân” đồng thời đề xuất các hướng ứng dụng bộ công cụ này
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân trên đối tương sinh viên thể dục thể thao.
Trang 8- Chuyển ngữ, thích ứng văn hoá và đảm bảo giá trị nội dung cho thang
đo “Phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân” phiên bản tiếng Việt trên đối tượng sinh viên chuyên ngành thể dục thể thao
- Xác định độ tin cậy và giá trị cấu trúc của thang đo “Phong cách chú ý
và tương tác liên cá nhân” phiên bản tiếng Việt trong đo lường phong cách chú
ý và tương tác liên cá nhân ở sinh viên chuyên ngành thể dục thể thao
- Đề xuất hướng ứng dụng bộ công cụ trên
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thích nghi thang đo “Phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân”
4.2 Khách thể nghiên cứu
Sinh viên ngành thể dục thể thao tại khoa Giáo Dục Thể Chất – đại học Huế, đại học Sư phạm Thể tục thể thao Thành phố Hồ Chí Minh.
5 Giả thuyết nghiên cứu
H 1 : Thang đo “Phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân” có thể sử dụng trên đối tượng sinh viên chuyên ngành thể dục thể thao
6 Giới hạn nội dung và phạm vi nghiên cứu
7.1.1 Quan điểm hệ thống cấu trúc
Vận dụng quan điểm hệ thống cấu trúc để xây dựng cơ sở lý luận như phong cách chú ý, phong cách tương tác liên cá nhân, chú ý, thích nghi thang
Trang 9đo Nghiên cứu đề tài gồm Thích nghi thang đo, bình luận về giá trị của thang
đo được thích nghi so với thang đo gốc
7.1.2 Quan điểm thực tiễn
Thực tiễn là nguyên nhân cũng như điều kiện phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân hình thành và phát triển Việc nghiên cứu trong đề tài sẽ khảo sát thực tiễn để tìm hiểu đối tượng nghiên cứu trên khách thể nghiên cứu.
7.2 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, người nghiên cứu sử dụng phối hợp các phương pháp sau:
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
7.2.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 20.0 để xử lý thống kê như: tính tần
số, tỷ lệ phần trăm, trị số trung bình, độ lệch chuẩn, phân tích độ tin cậy, phân tích nhân tố khám phá làm cơ sở để bình luận số liệu thu được từ phương pháp điều tra bằng thang đo.
Trang 10CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu về phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân.
Chú ý là trạng thái trong đó các nguồn lực nhận thức tập trung vào các khía cạnh nhất định của môi trường hơn là các khía cạnh khác và hệ thần kinh trung ương ở trạng thái sẵn sàng phản ứng với các kích thích (APA) Chú ý bao gồm 4 khía cạnh( phân chia, di chuyển, duy trì và chọn lọc) (Koss, 1994) Trong
đó dựa trên khía cạnh phân chia chú ý theo chiều rộng phản ánh việc tiếp nhận một lúc nhiều hay ít kích thích, và hướng phản ánh chú ý hướng vào bên trong
hay bên ngoài, Robert M.Nideffer lần đầu đề xuất mô hình phong cách chú ý (Nideffer, 1976) Phong cách chú ý không có định nghĩa chính xác nhưng có thể hiểu là xu hướng sử dụng của chú ý của một người.
Tuỳ theo khía cạnh của chú ý về các loại phong cách chú ý khác nhau Dựa trên khía cạnh về duy trì sẽ có phong cách Duy Trì chú ý và Di Chuyển chú
ý (Nederhof et al., 2014; Sattizahn et al., 2016) Dựa trên chọn lọc chú ý sẽ có phong cách chú ý Trọng Tâm(Di Corrado et al., 2014) Ngoài ra cùng một khía cạnh nhưng sẽ có những cách chia phong cách khác nhau Dựa trên phân chia chú ý còn sẽ có phong cách Liên Kết và Phân Li (Jones et al., 2017)
Có rất nhiều nghiên cứu đã chứng minh được vai trò của phong cách chú trong cả lầm sàng và nghiên cứu Về mặt nghiên cứu, nghiên cứu của (Nederhof
et al., 2014) về giả thuyết rằng những người có phong cách chú ý Di Chuyển có trải nghiệm rủi ro tiền trưởng thành hay không và liệu rằng việc này có liên quan đến trầm cảm Kết quả chỉ ra rằng, những người có phong cách Di Chuyển trải nghiệm rủi ro tiền và hậu trưởng thành nhiều hơn người có phong cách Duy Trì và việc này có là nguyên nhân của trầm cảm Cũng về trầm cảm, có một số giả thuyết về phương thức điều trị trầm cảm liên quan đến thay đổi phong cách chú ý (Sebastian, 2013) Nghiên cứu của (Jones et al., 2017) về ảnh hưởng của
Trang 11phong cách chú ý lên kết quả nhận thức, tình cảm của học sinh ở lớp học thể dục Kết quả thu được cho thấy phong cách Liên Kết tích cực hơn phong cách Phân Ly cả về mặt kiên định và có trải nghiệm Trong lâm sàng, phong cách chú
ý cho thấy có liên quan đến việc bệnh nhân chạy thận tuân thủ khuyến nghị điều trị, dẫn đến ảnh hưởng đến kết quả điều trị(Lindberg et al., 2010) Trong lĩnh vực thể thao, nghiên cứu của (Majzub & Muhamad, 2010) trên khách thể cầu thủ golf đã cho kết quả phong cách chú ý dự đoán được hiệu suất thi đấu của tuyển thủ Đồng quan điểm trên, nghiên cứu của (Sattizahn et al., 2016) cho thấy ở những tình huống áp lực cao những người có chú ý ly tán sẽ ảnh hưởng hiệu suất trí nhớ ngắn hạn và dễ gây ra lỗi.
Theo từ điển tâm lý APA, liên cá nhân (interpersonal) nghĩa là liên quan đến các hành động, sự kiện và cảm xúc giữa hai hoặc nhiều cá nhân Theo đó,
kỹ năng tương tác liên cá nhân là một năng lực cho phép một người thực hiện các tương tác và mối quan hệ hiệu quả với những người khác, chẳng hạn như khả năng truyền đạt suy nghĩ và cảm xúc hoặc đảm nhận các trách nhiệm xã hội thích hợp Phong cách tương tác liên cá nhân được định nghĩa như là xu hướng cách con người tương tác với ngừoi khác, theo đó nhân cách của mỗi người quyết định cách họ tương tác với người khác(Alevriadou & Pavlidou, 2016) Những nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ giữa phong cách tương tác liên cá nhân của mối người với các vấn đề như: trầm cảm (Hisli Şahin et al., 2011), bạo lực cặp đôi (Yalch & Levendosky, 2016), hiệu quả điều trị trầm cảm (Messina et al., 2018), phong cách làm cha mẹ (Meisel, 2021) Trong lĩnh vực thể thao, nghiên cứu của (Matosic et al., 2017) cho kết quả phong cách tương tác liên cá nhân dạng Hỗ Trợ của huấn luyện viên có tương quan dương đến động lực của tuyển thủ.
Tại Việt Nam hiện nay, các nghiên cứu chỉ ở mức mới bắt đầu quan tâm đến chủ đề chú ý Nghiên cứu của ( Phùng Phương Thảo, 2013) về khả năng chú ý có chủ định của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi chỉ cho kết quả về thực trạng và biểu hiện của khả năng chú ý Nghiên cứu của (Đinh Công Dũng, 2011) trên đối
Trang 12tượng sĩ quan quân sự cũng chỉ dừng lại ở khảo sát về thực trạng nhận thức về tầm quan trọng của chú ý đối với việc học tập Hơn nữa cả hai nghiên cứu trên đều tự xây dựng bộ công cụ dựa trên lí luận về chỉ báo và thiết kế nghiên cứu
mà chưa thật sử dụng một bộ công cụ chuẩn khi khảo sát về chú ý Như vậy hiện nay, tại Việt Nam chưa có những nghiên cứu nào về mô hình phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân
Như vậy, tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy vấn đề về phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân được quan tâm nghiên cứu trên toàn thế giới trong vòng 40 năm kể từ lần đầu được giới thiệu Tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu nào về vấn đề này ở Việt Nam, đặc biệt là sự thiếu công cụ đo lường
về khái niệm này
1.1.2 Những nghiên cứu về thang đo phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân
Năm 1976, Robert M.Nideffer lần đầu giới thiệu về “thang đo phong cách chú ý và tương tác giữa các cá nhân” (TAIS) Thang đo được cho rằng thuộc về lĩnh vực đo lường nhân cách (Nideffer, 2001; Nideffer, 1976) Dựa ý tưởng rằng
ở mỗi người quá trình phân chia chú ý và cách mọi người phản ứng lại với môi trường là khác nhau và sẽ phân biệt được những nhóm người đặc trưng cho từng phong cách.
Thang đo xây dựng cấu trúc lý thuyết dựa trên cơ sở các công trình lý thuyết của Shakow (1962), Cromwell (1968), và Nideffer (1974) về phân chia chú ý, và quan sát lâm sàng của MacKinnon và Michels (1971) và Frank (1961)
về phản ứng với các kích thích bên ngoài Cuối cùng 17 nhân tố (factor) khác nhau của sự chú ý và hành vi tương tác giữa các cá nhân đã được xác định (Nideffer, 1976) Sau đó các khía cạnh này được dựa theo gợi ý của McClelland (1973), Wallace (1966), và Jackson (1971) để tìm ra cách hành vi cụ thể của các nhân tố trên Kết quả cuối cùng là hình thành thang đo TAIS với 144 mục (item) được đo bằng thang likert 5 mức độ, chia ra thành 17 tiểu thang đo (Bảng
Trang 131.1) Trong nghiên cứu của (Vassos, 2009), qua việc liên hệ riêng với tác giả đã tiếp cận được thang đo “Phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân - phiên bản 2) (TAIS2) với số câu hỏi được rút gọn so với ban đầu còn 124 mục nhưng vẫn giữ nguyên cấu trúc – đây cũng là phiên bản thang đo mà được nhóm lựa chọn
để tiến hành thích nghi
Phong cách chú ý
Chú ý rộng bên ngoài (BET)
Điểm cao phản ánh khả năng làm việc hiệu quả của một cá nhân tích hợp nhiều kích thích bên ngoài cùng một lúc.
Quá tải bởi kích thích bên ngoài (OET)
Điểm cao phản ánh xu hướng mắc lỗi bởi vì cá nhân trở nên quá tải và bối rối bởi các kích thích bên ngoài Quá tải bởi các kích
thích bên trong (OIT)
Điểm cao phản ánh xu hướng mắc lỗi bởi vì cá nhân tự nhầm lẫn với suy nghĩ về quá nhiều thứ cùng một lúc
Chú ý rộng bên trong (BIT)
Điểm cao phản ánh khả năng làm việc hiệu quả của một cá nhân tích hợp các ý tưởng và thông tin từ các lĩnh vực khác nhau.
hẹp sự chú ý của một cá nhân khi họ cần thiết
Giảm tập trung (RED)
Điểm cao phản ánh xu hướng của một cá nhân sai lầm bởi vì họ thu hẹp sự chú ý của bản thân quá nhiều
Trang 14soát (Control)
chống đối xã hội Thang đo kiểm soát
(CON)
Điểm cao phản ánh khả năng của một cá nhân kiểm soát hầu hết các tình huống ( hoặc giữa các tương tác liên các nhân)
Tương tác liên
cá nhân
Lòng tự trọng (SES) Điểm số cao phản ánh một người có
đánh giá cao về bản thân
Xử lý thông tin (INFP)
Điểm cao phản ánh xu hướng xử lý lớn lượng thông tin kích thích
Xu hướng thể lý (P/O)
Điểm cao phản ánh một cá nhân thích các môn thể thao cạnh tranh
hướng ngẫm nghĩ và lo lắng về mọi điều
Hướng ngoại (EXT) Điểm cao phản ánh một người hướng
ngoại, ấm áp, và thích ở bên mọi người
thời gian yên tĩnh, tránh trở thành trung tâm của sự chú ý và thích một mình
Biểu hiện trí tuệ (IEX)
Điểm cao phản ánh một cá nhân thích thể hiện ý tưởng và suy nghĩ của họ cho người khác
Biểu hiện tình cảm tiêu cực (NAE)
Điểm cao phản ánh một cá nhân thể hiện cảm xúc tiêu cực với người khác
Biểu hiện tình cảm Điểm cao phản ánh một cá nhân thể
Trang 15tích cực (PAE) hiện (cả bằng lời nói và thể chất)
cảm xúc tình cảm tích cực của họ đối với người khác.
Bảng 1.1 : Tiểu thang đo của TAIS và mô tả đặc điểm của tiểu thang đo
(Nideffer, 1976)
Về các đặc tính tâm trắc, sau khi được công bố, thang đo được tác giả kiểm tra độ tin cậy và giá trị của thang đo Nghiên cứu đầu tiên thực hiện 302 sinh viên chưa tốt nghiệp(Nideffer, 1976) Mục tiêu để kiểm tra những đặc tính sau của thang đo : độ tin cậy đo- đo lại ( test – retest realiability), độ tin cậy nội tại (internal consistency realbility), giá trị cấu trúc (construct validity), giá trị dự đoán (predictive validity) Kết quả thu được ở các tiểu thang như sau: độ tin cậy
đo – đo lại dao động từ 0.6 – 0.93; độ tin cậy nội tại Cronbach’s Alpha dao động từ 0.01 – 0.8; giá trị cấu trúc được kiểm định bằng tương quan với các thang đo cùng khái niệm như thang Minnesota Multi Personallity Inventory, thang Wescher Adult’s Intelligence Scale,… cho thấy thang có sự tương quan
đo cùng khái niệm; giá trị dự đoán được tiến hành thông qua 2 nghiên cứu quan sát thực tiễn với vận động viên bơi lội cho thấy thang có hiệu lực dự báo về sự mắc lỗi (r=0.75) và ngạt thở dưới áp lực (r= 0.59) Tiếp theo sau tác giả, rất nhiều nghiên cứu được tiến hành để xác định đặc tính tâm trắc của thang nhưng lại cho nhiều tranh cãi trái chiều Cụ thể, về độ tin cậy: bên cạch các bằng chứng cho thấy thang có độ tin cậy đảm bảo (Schoyck & Grasha, 1981; Vassos, 2009) thì còn có nhiều bằng chứng cho thấy thang có sự trùng lập ở các câu hỏi (Summers & Ford, 1990) Về tính giá trị của thang: về giá trị cấu trúc, các kiểm định cho thấy cấu trúc của thang có sự khác biệt so với tác giả đề xuất ban đầu (Ford & Summers, 1992; Summers et al., 1991; Vassos, 2009) Tuy nhiên những nghiên cứu trên khách thể là vận động viên thể thao lại cho thấy thang giữ nguyên cấu trúc so với đề xuất của tác giả (Vallerand, 1983)
Trang 16Về mục đích sử dụng, ý tưởng ban đầu chính là dựa trên xu hướng phân chia chú ý của từng người (phong cách chú ý) và xu hướng phản ứng với các kích thích bên ngoài (phong cách tương tác liên cá nhân) để chia thành các nhóm nhân cách có thể dự đoán đặc điểm của mỗi người (Bảng 1.1) (Nideffer, 1976) Theo thời gian, các nghiên cứu cho thấy mục đích trên là phù hợp với nhóm khách thể vận động viên các môn như: tennis(Schoyck & Grasha, 1981), nhảy, bóng bầu dục (Nideffer, 1990), chơi gôn (Majzub & Muhamad, 2010) Về các cách ứng dụng mới, năm 1983, Robert J.Vallerand thực hiện nghiên cứu nhằm mục đích là để đánh giá mối quan hệ giữa phong cách tập trung của các vận động viên và thành phần hiệu suất, ra quyết định Nghiên cứu thiết kế chia
ra 3 nhóm gồm nhóm có quyết định tồi, nhóm có quyết định trung bình, nhóm quyết định tốt trong thi đấu và thực hiện tự đánh giá trên 6 tiểu thang đo thuộc loại chú ý gồm: BET, OIT, OET, BIT, NAR, RED và xem rằng các điểm số cao trên từng loại thang đo có liên quan gì đến từng nhóm ở trên hay không Nghiên cứu thực hiện trên mẫu gồm 29 vận động viên bóng rổ Sau khi tiến hành thí nghiệm, kết luận nói rằng việc đưa ra quyết định trong thể thao có tương quan nghịch đáng kể với điểm số cao trong tiểu thang đo OET và O/S (Vallerand, 1983) Từ sau đó, các nghiên cứu xoay quanh ứng dụng TAIS để dự đoán các hiện tượng ảnh hưởng đến kết quả thi đấu của vận động viên như: tự tin trong thi đấu bóng rổ (Summers et al., 1991), dự đoán chấn thương (Vassos, 2009)
Như vậy, tổng quan các nghiên cứu cho thấy, thang đo “phong cách chú ý
và tương tác liên cá nhân” đã được ứng dụng rộng rãi kể từ khi ra đời và đặc biệt có hiệu quả trên đối tượng tuyển thủ thể thao Hiện nay tại Việt Nam, chưa
có các nghiên cứu nào về việc thích nghi thang đo trên.
Trang 171.2 Một số vấn đề lý luận 1.2.1 Lý luận về chú ý.
Chú ý đã từ lâu là một khái niệm được quan tâm nhiều trong lĩnh vực tâm
lý Ngay từ những năm 1850, các nhà khoa học đã có nhiều tranh cãi về việc liệu một người có thể chú ý đến nhiều việ cùng một lúc hay không (phân phối chú ý) Đến những năm 1900 phải tiến hành nhiều cuộc thực nghiệm để có thể giải quyết mâu thuẫn này (Phùng Phương Thảo, 2013)
Năm 1890 William James cho rằng : “Chú ý là sự khu biệt, sự tập trung của ý thức Chú ý là trạng thái trái ngược với sự lộn xộn, hỗn độn và đãng trí.
Nó chính là điều kiện để giải quyết hiệu quả các công việc” Theo định nghĩa này chú ý được xem là có liên quan tới tính chọn lựa quá trình xử lý Khi được nhận quá nhiều thông tin tri giác sẽ chỉ có thể đưa một số thông tin đang được cung cấp vào để xử lý Tuy nhiên thông tin được xử lý có thể là được chủ động lựa chọn hoặc bị động Để phân biệt, sự chú ý này là chủ động khi nó được điều khiển bởi kích thích bên trong theo con đường “từ trên – xuống”, nghĩa là có sự tham gia của sự tích cực của cá nhân, sự chú ý sẽ được hình thành dựa trên mục tiêu của mỗi người Ngược lại, chú ý là bị động khi nó được kiểm soát bởi các kích thích từ bên ngoài theo con đường “từ dưới – lên”(Eysenck & Keane, 2015) Tác dụng tức thời của chú ý có thể giúp ta nhận thức, tưởng tượng, phân biệt các sự vật một cách hiệu quả hơn
Đồng quan điểm với nhận định này, năm 1908 Pillsbury và Titchener cho rằng : “Bản chất của sự chú ý như một quá trình có ý thức là sự gia tăng mức độ
rõ ràng của một ý tưởng hoặc một nhóm ý tưởng cùng đó là bỏ qua các suy nghĩ khác” (Andrade, 2004)
Ở giai đoạn đầu của thế kỉ 20, đã nảy ra các tranh cãi về việc làm thế nào chú ý có thể loại bỏ các yếu tố khác và tập trung Đã có nhiều cuộc thí nghiệm diễn ra nhưng tổng kết lại, vào những năm 1860 phương pháp tiếp cận triết học
đã thống trị việc nghiên cứu tâm lý học nói chung và đặc biệt là sự chú ý Trong giai đoạn từ 1980 đến 1909, nghiên cứu về sự chú ý, cũng như lĩnh vực
Trang 18tâm lý học nói chung, đã được chuyển thành một trong những nghiên cứu khoa học với trọng tâm là điều tra thực nghiệm (Andrade, 2004) Tuy nhiên, do chủ nghĩa hành vi đã thống trị tâm lý học trong giai đoạn tiếp theo, việc nghiên cứu các cơ chế chú ý phần lớn đã bị trì hoãn cho đến giữa thế kỷ 20 Mặc dù vậy trong giai đoạn 1910 – 1960 vẫn ghi nhận một số nghiên cứu quan trọng về chú
ý
Năm 1927, nhà tâm lý học phát triển Jerild đã công bố nghiên cứu kinh điển “Mental set and shift” về tính đa nhiệm và chuyển giao giữa các công việc Bằng cách thực hiện thí nghiệm cho hai dãy số đã yêu cầu các đối tượng của mình chuyển đổi giữa các nhiệm vụ tính toán khác nhau, không phải từng khối, như thường xảy ra trong các thử nghiệm, nhưng giữa các yếu tố trong nhiệm vụ.
Ví dụ, các đối tượng được cung cấp một danh sách 25 số có hai chữ số và yêu cầu cộng sáu với số đầu tiên, trừ ba từ số thứ hai, thêm sáu vào số thứ ba, v.v Điều kiện này, Jersild gọi là "nhiệm vụ thay đổi" Cuối cùng ông đi đến kết luận rằng khi chúng ta thực hiện các công việc đan xen nhau thì sẽ mất nhiều thời gian hơn chỉ làm một công việc nào đó được lặp đi lặp lại, bởi chúng ta phải mất thời gian cho quá trình chuyển tiếp từ công việc này sang công việc khác(Eysenck & Keane, 2015) Một công trình khác cũng được quan tâm khi nghiên cứu về chú ý là của C.W.Telford vào năm 1931, sau các nghiên cứu ông
đã lưu ý rằng khi kích thích một tế bào thần kinh đã được kích thích từ trước thì
tế bào đó sẽ trở nên ít nhạy cảm với kích thích hơn (Andrade, 2004) Từ đó ông chứng minh rằng, khi thực hiện hai việc cùng lúc thì sẽ dễ dàng quan sát thấy sự trì hoãn hoạt động trong nhiệm vụ thứ hai Nghiên cứu của J.R.Stroop (1935) cũng cho ra kết quả tương tự, theo đó những kích thích thông tin không tương thích với nhiệm vụ có thể tạo nên những ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện công việc ông gọi đó là hiệu ứng Stroop Ngoài ra còn có Paschal (1941), Gibson (1940) và Mowrer, Rayman và Bliss (1940) cũng tiến hành nghiên cứu
về sự chú ý như qúa trình tinh thần.
Trang 19Giai đoạn từ năm 1950 đến năm 1974 nghiên cứu về sự chú ý trong thời
kỳ này được đặc trưng bởi sự tác động lẫn nhau giữa các ứng dụng kỹ thuật và
lý thuyết Chú ý trong giai đoạn này được chia thành các quá trình nhỏ hơn ở các giác quan khác nhau, điển hình là thông qua thị giác, thính xác
Mackworth (1950) tiến hành một loạt nghiên cứu khảo sát về khả năng duy trì một công việc nhàm chán nhưng vẫn còn tỉnh táo, nhanh nhẹn qua đó để thấy được mức độ duy trì chú ý và các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian duy trì sự chú ý của một người Nghiên cứu đi đến kết luận: có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thời gian duy trì sự cảnh giác của một người, công việc càng kéo dài thì càng phạm sai lầm Nếu chúng ta không chú ý thì chắc chắn phạm nhiều sai lầm hơn Nghiên cứu này của Mackworth đã làm tiền đề để phát triển những nghiên cứu sau trong cùng giai đoạn
Kế tiếp sau đó là sự bùng nổ của những nghiên cứu về chú ý chọn lọc và kết quả là sự ra đời của mô hình bộ lọc thông qua loạt nghiên cứu của BroadBent (1952, 1958), Cherry (1953) và Treisman (1955) Những năm 1953 – 1960, các nghiên cứu về chú ý hầu hết thí nghiệm vào quá trình chú ý của thính giác bởi vì không như thị giác chúng ta có thể điều khiển hướng nhìn, đóng mở mắt để nhìn thì chúng ta không thể “đóng” tai lại, vì thế nó sẽ đảm bảo tính khách quan hơn Năm 1953 thông qua thí nghiệm nổi tiếng “bữa tiệc cocktail”, đã mô tả về việc nghe có chọn lọc hay nghe “nghe đơn cực” Thí nghiệm mô tả rằng trong một bữa tiệc cocktail ồn ào với đủ loại âm thanh thì bạn vẫn có thể chỉ tập trung nghe người nói chuyện bên cạnh mình và bỏ qua hết các thông tin âm thanh khác Theo Cherry, vào một thời điểm xác định, con người có thể lựa chọn để tập trung hoàn toàn vào một kích thích nào đó trong số các kích thích hỗn độn khác (như tiếng ồn, âm thanh của những cuộc nói chuyện khác nhau…), mặc dù vậy, con người vẫn chú ý đến những kích thích khác ở một mức độ nhất định Từ đây, năm 1958 Broadbent đã mô tả rõ ràng hơn hiện tượng trên bằng các thí nghiệm thiết kế liên quan đến việc trình bày hai kích thích đồng thời (thường, nhưng không phải lúc nào cũng khác) vào hai
Trang 20tai qua tai nghe và yêu cầu phải thực hiện một trong nhiều nhiệm vụ khác nhau Kết quả là người nghe thường chỉ chú ý đến một trong hai ta và bỏ qua thông tin bên tai còn lại Đây là cơ sở để Broadbent xây dựng mô hình “lý thuyết bộ lọc”.
Mô hình này cho rằng, không phải tất cả các thông tin đến từ các cơ quan cảm giác đều được chúng ta xử lý Các thông tin sẽ được chuyển đến một “bộ lọc” của chủ thể và được lưu giữ trong trí nhớ tạm thời để được xử lý Theo quan điểm này thì chỉ có những yếu tố cảm giác nào có những đặc tính chung (Ví dụ: đặc điểm của giọng nói) được lựa chọn để vào vùng lọc (bộ lọc) Việc hiểu ý nghĩa của thông tin chỉ được thực hiện sau khi “bộ lọc” lựa chọn thông tin tiếp nhận Vì thế, bất kỳ thông tin nào được gởi đến bên tai không được lựa chọn chú ý thì sẽ không thể được hiểu (A.Styles, 2006) Lý thuyết này sau này được Treisman (1955) phát triển thành mô hình “thuyết bộ nhiễu”, tranh cãi với thí nghiệm Cocktail đã kể ở trên, ông cho rằng dù khi đang chú ý vào câu chuyện với ngừoi khác nhưng khi nhận được âm thanh có người gọi tên bạn thì bạn vẫn nhận ra và phản ứng với nó Từ đây ông đưa ra kết luận rằng không phải thông tin bị bỏ qua mà chỉ bị làm “mờ”, nó vẫn được xử lý nhưng không đưa lên vùng
ý thức để phản ứng lại Đây là tiền đề để xây dựng quá trình chú ý bị động Lý thuyết này sau này còn được mở rộng ra không chỉ dành cho thính giác mà còn các giác quan khác
Đầu những năm 1970, nghiên cứu về chú ý chuyển từ nghiên cứu chú ý
âm thanh sang chú ý hình ảnh Quan điểm xem chú ý như là một khả năng giới hạn, với các đại biểu như Kahneman (1973), Navon và Gopher (1979) Theo Kahneman, chú ý là khả năng đơn nhất có thể được phân phối cho những công việc khác nhau Tuy vậy, việc thực hiện công việc có thể gặp trở ngại khi chúng
ta tiến hành nhiều nhiệm vụ cùng lúc vì chú ý là khả năng giới hạn Khi nhiều yêu cầu đang được thực hiện, bộ xử lý quyết định nên dành tiềm năng nào cho một công việc cụ thể và trạng thái sinh lý của con người sẽ ảnh hưởng đến nỗ lực của chúng ta
Trang 21Cuối thập niên 1970, Navon và Gopher (1979) đã thiết kế thí nghiệm kiểm chứng xem rằng liệu cục bộ hay tổng thể của một sự vật thì sẽ được con người chú ý đến nhanh hơn Thí nghiệm được thực hiện như sau: một hình chữ cái lớn (ví dụ H) được xếp bởi những chữ cái nhỏ hơn (ví dụ chữ S) rồi thực hiện trong một thử nghiệm, những người quan sát quyết định xem chữ cái lớn là
“H” hay “S”; trong các thử nghiệm khác, họ quyết định xem các chữ cái nhỏ là
Hs hay Ss Và kết quả thu được rằng tốc độ nhận ra các chữ cái nhỏ đã bị chậm lại rất nhiều khi chữ cái lớn khác với chữ cái nhỏ Ngược lại, tốc độ nhận ra chữ cái lớn không bị ảnh hưởng bởi bản chất của chữ cái nhỏ Do đó, chúng ta thường thấy cấu trúc toàn bộ trước cấu trúc bộ phận hơn là ngược lại Sau này càng có thêm nhiều bằng chứng cho thấy hệ thống trực quan được thiết kế để xử
lý tổng thể hoặc chung thường trước xử lý cục bộ hoặc chi tiết (A.Styles, 2006) Như vậy Navon và Gopher (1979) cho rằng tốt hơn nên xem xét chú ý như là một khả năng đa dạng, bởi theo hai nhà Tâm lý học này thì việc thực hiện hai nhiệm vụ cùng một lúc sẽ dễ dàng hơn khi hai nhiệm vụ ấy sử dụng kích thích
và phương thức phản hồi khác nhau và ngược lại sẽ khó khăn hơn khi chúng sử dụng cùng một phương thức phản hồi.
Năm 1980, A.M Treisman và G Gelade phát triển lý thuyết tích hợp đặc tính Theo lý thuyết này, chú ý giữ vai trò kết nối các đặc tính khác nhau thành một thể thống nhất được trải nghiệm một cách có ý thức Lý thuyết của Treisman đã khắc phục một số điểm hạn chế của Broadbent và có những đóng góp quan trọng vào việc nghiên cứu chú ý, dù vẫn còn những hạn chế nhất định Các lý thuyết và quan điểm về chú ý từ những năm 1920 đến cuối thế kỷ 20 được nghiên cứu nhiều bởi Tâm lý học nhận thức Gần đây, các nghiên cứu chú
ý được tập trung nghiên cứu trên bình diện Tâm lý học thần kinh, gắn liền với
cơ chế của não bộ Các dữ liệu Tâm lý học thần kinh và hành vi giúp cho sự phát triển quan trọng trong nghiên cứu về chú ý ở nửa đầu thế kỷ 21 (Phùng Phương Thảo, 2013)
Trang 221.2.2 Lý luận về mô hình phong cách chú ý
Theo APA, mô hình phong cách chú ý lần đầu tiên được giới thiệu vào năm 1976 bởi R.M.Nideffer Dựa trên các nghiên cứu về phân chia và chọn lọc chú ý, ông chia ra chú ý sẽ có sẽ có hai chiều kích chính là: độ rộng (chỉ sự rộng hay hẹp của chú ý) và hướng (chỉ chú ý bên trong hay bên ngoài) Những bằng chứng về chú ý có thể thể phân chia theo hai chiều kích này đã được chứng minh ở các thí nghiệm của Kanehman (1973), Navon và Gopher (1979)
1.3 Thích nghi thang đo 1.3.1 Quy trình thích nghi thang đo
Trong trường hợp muốn lượng giá một khái niệm tâm lý nhưng chưa có
bộ công cụ đo lường thích hợp với ngôn ngữ của đất nước mình thì nhà nghiên cứu có hai lựa chọn hoặc là phát triển một bộ công cụ mới hoặc là chuẩn hoá một công cụ đã được xác định giá trị trước đó trong một ngôn ngữ khác thông qua thích ứng văn hoá (Nguyễn Trung Nghĩa, 2020) Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) mục đích của quá trình chuẩn hoá một bộ công cụ là nghiên cứu là bao gồm quá trình chuyễn ngữ và điều chỉnh/thích ứng (adaption) bộ công cụ, là đạt được một phiên bản ngôn ngữ khác từ bộ công cụ bằng Tiếng Anh Theo Uỷ Ban Kiểm Tra Quốc Tế (International Test Commission), tổng cộng có 22 nguyên tắc ràng buộc khi thích nghi một bộ công cụ và được phân vào 5 mục: (1) Bối cảnh, (2) Phát triển công cụ và thích nghi, (3) Áp dụng bộ công cụ, (4) Đánh giá tài liệu/điểm số, (5) Điều kiện phổ biến và chuyên nghiệp (Akcay et al., 2018) Cụ thể:
(1)Bối cảnh: đây là giai đoạn đảm bảo bảo ảnh hưởng của sự khác biệt văn hoá là mức thấp nhất, đối tượng thang đo gốc hướng tới nên tương đồng với đối tượng ở bản thích nghi
(2)Phát triển công cụ và thích nghi: đây là giai đoạn dịch và thích nghi văn hoá, đảm bảo giá trị nội dung cho bộ công cụ Thang được dịch được đánh giá thử nghiệm (pilot) để đảm bảo về giá trị và độ tin cậy và loại bỏ những biến không phù hợp
Trang 23(3)Áp dụng bộ công cụ: bộ công cụ được đưa vào sử dụng đánh giá khung vận hành tương tự với thang đo gốc
(4)Đánh giá giá tài liệu/điểm số: đây là bước diễn giải sự khác nhau về kết quả của thang đo được thích nghi với thang đo gốc, diễn giải về sự thay đổi.
(5)Điều kiện phổ biến và chuyên nghiệp: các nhà phát triển thử nghiệm nên nhận thức được thực tế rằng sự khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa của nhóm mục tiêu là quan trọng trong các nghiên cứu thích ứng thử nghiệm
Trong đó ở mục phát triển công cụ và thích nghi, thích ứng văn hoá nghĩa
là không chỉ dịch từ ngữ theo nghĩa đen mà còn điều chỉnh, biến đổi các từ, cụm
từ hay thành ngữ phù hợp với bối cảnh văn hoá và cách sử dụng ngôn ngữ của đối tượng nghiên cứu mà không làm thay đổi nội dung bản gốc (Nguyễn Trung Nghĩa, 2020) Việc thích ứng văn hoá theo (WHO, 2019) gồm 4 bước:
1 Chuyển ngữ thang đo sang Tiếng Việt
2 Một ban chuyên gia xem xét bản dịch và dịch ngược lại
3 Làm khảo sát thực nghiệm và đánh giá quá trình phỏng vấn
4 Bản dịch hoàn thiện Tất cả những bước và quy tắc trên là nhằm để đảm bảo sự tương đương của thang đo bản gốc và thang đo bản thích nghi Trong đó các phương diện về
sự tương đương thường thấy là: sự tương đương về mặt khái niệm (Conceptual equivalance), từng hạng mục (item quivalance), ngữ nghĩa (senmatics equivalance), triển khai (operational equivalance), đo lường (measurement equivalance) (Nguyễn Trung Nghĩa, 2020)
Sự tương đương về khái niệm yêu cầu chuyển tải những khải niệm cốt
lõi trong thang đo sang ngôn ngữ và nền văn hoá mới (Nguyễn Trung Nghĩa, 2020) Một số khái niệm nếu được dịch theo từng chữ sẽ rất tối nghĩa hoặc sẽ không tồn tại khái niệm đó ở nền văn hoá mới đó có thể là thành ngữ hoặc tính cánh Ví dụ: “Burning oil in the night” là thành ngữ tiếng Anh có nghĩa là “cố
Trang 24gắng hết mình”, nếu dịch từng chữ sẽ rất tối nghĩa Như vậy quá trình dịch cần phải dịch thoát nghĩa hoặc thay thế hoàn toàn khái niệm sao cho ý nghĩa của nó phải giống nhau Người dịch cần lưu ý đến yếu tố về nhân chủng, dân tộc học, bối cảnh văn hoá, kinh tế.
Sự tương đương từng hạng mục yêu cầu từng mục hỏi có liên quan và
chấp nhận được ở dân số đích (Nguyễn Trung Nghĩa, 2020) Ví dụ các câu hỏi
về quan hệ tình dục sẽ không phù hợp với người bị AIDS Việc này yêu cầu người dịch cần thay thế hoàn toàn câu hỏi (hay hạng mục) hoặc diễn đạt lại bằng từ ngữ khác trong bản dịch.
Sự tương đương về mặt ngữ nghĩa yêu cầu các từ, cụm từ tương đương
ở hai ngôn ngữ phải được hiểu theo cùng một cách (Nguyễn Trung Nghĩa, 2020) Trong mỗi ngôn ngữ, cùng một từ ngữ có thể có nhiều ý nghĩa Ví dụ:
“blue” trong tiếng Anh có nghãi là “màu xanh dương” những cũng có nghĩa là
“buồn mang mác” Người dịch cần đảm bảo nghĩa được dịch đúng là nghĩa được nhắc đến trong ngôn ngữ gốc
Sự tương đương về mặt triển khai là khái niệm xoay quanh việc hai
phiên bản thang đo tương tự nhau về hình thức trình bày, hướng dẫn thực hiện
và cách thức triển khai Sự triển khai này đề cập đến việc liệu thang đo là trả
lời /miêu tả tự do không giám sát (phi cấu trúc) hay là trả lời/miêu tả theo từng
đề mục có giám sát (bán cấu trúc) hay là trả lời theo trắc nghiệm có giám sát (cấu trúc) (Streiner et al., 2015) Quá trình triển khai có thể thay đổi sao cho phù hợp với dân số đích Ví dụ: việc khảo sát trực tuyến sẽ không phù hợp với đối tượng học sinh trung học cơ sở.
Sự tương đương về mặt đo lường được đánh giá thông qua sự so sánh
các đặc tính tâm trắc của thang đo gốc và bản dịch (Nguyễn Trung Nghĩa, 2020) Các đặc tính tâm trắc không có sự sắp xếp thứ bậc mà là nhiều mặt của một thang đo Theo đó việc lựa chọn các đặc tính tâm trắc để thể hiện là tuỳ theo mục đích, khả năng của người nghiên cứu Trong nghiên cứu của chúng
Trang 25tôi, các đặc tính đo lường được đánh giá sẽ bao gồm: độ tin cậy nội tại và tính giá trị (bề mặt, cấu trúc).
1.3.1.1 Độ tin cậy
Khái niệm về độ tin cậy là một cách cơ bản để phản ánh số lượng lỗi, cả
về lỗi ngẫu nhiên và lỗi hệ thống, vốn có trong bất kỳ công cụ nào (Coulacoglou
& Saklofske, 2017a; Streiner et al., 2015) Lấy ví dụ về thang đo lường các khái niệm hữu cơ, vật lý là thang đo cân nặng: thang có độ sai số lệch sấp xỉ 0.05g có nghĩa là giá trị cân nặng của vật được đo sai số xấp xỉ 0.05g so với cân nặng thật của nó, ở đây độ tin cậy của thang chính là xấp xỉ 0.05g Trong lĩnh vực đo lường sức khoẻ, độ tin cậy mô tả mức độ không phụ thuộc của điểm số
đo lường vào sai số (Nguyễn Trung Nghĩa) Nghĩa là độ tin cậy càng cao thì các phép đo càng có ít sai số và ngược lại Có 6 nguồn ảnh hưởng đến độ tin cậy của thang (Coulacoglou & Saklofske, 2017a) gồm:
1 Sự phù hợp hoặc mức độ liên quan của nội dung mục: chỉ việc các biến đo lường không liên quan nhau, không cùng để đo lường biến tìm ẩn
2 Nội dung mục không đồng nhất: chỉ việc các mục đo lường nhiều khía cạnh khác của một đặc điểm
3 Lỗi thoáng qua: đề cập đến sự thay đổi của bản thân khách thể được đo ở 2 lần đo khác nhau
4 Lỗi đo lường: chỉ nguồn lổi ngẫu nhiên trong quá trình đo lường,
ví dụ phổ biến là hành vi của người phản hồi
5 Mục không rõ ràng: chỉ lỗi vì sử dụng từ ngữ phức tạp, cấu trúc câu cầu kỳ làm rối người phản hồi
6 Đặc tính của mẫu.
Trong lĩnh vực đo lường nhân cách còn có các lỗi về thiên kiến xác nhận gồm: sự thu nhận (hiểu nội dung của câu hỏi theo ý của mình), cực trị (luôn chọn đáp án ở cực đồng ý hoặc cực không đồng ý), mong muốn xã hội (phản hồi đáp án được xã hội chấp nhận thay vì giá trị thật của mình), phản hồi bất cẩn
Trang 26hoặc ngẫu nhiên, lỗi suy đoán (đoán đáp án nào là đúng/sai) (Scale
Construction and Psychometrics for Social and Personality Psychology, 2011).
Dựa theo các nguồn lỗi sẽ có các loại độ tin cậy tương ứng đề lượng hoá nó, tuy nhiên không phải tất cả lỗi đều có thể lượng hoá Trong nghiên cứu của chúng tôi chỉ tập trung vào độ tin cậy nội tại (internal reliability)
Độ tin cậy nội tại cho biết mức độ tương quan giữa các câu hỏi trong
cùng một bộ câu hỏi (Nguyễn Trung Nghĩa 2020, Đinh Thị Hoa 2019) Độ tin cậy nội tại thấp cho thấy các câu hỏi đo lường các khái niệm khác nhau hoặc
các câu trả lời của đối tượng không nhất quán Có nhiều thông số được chọn để
thể hiện độ tin cậy, trong đó hệ số Cronbach’s alpha được sử dụng phổ biến nhất(Streiner et al., 2015) Vì công thức tính của Cronbach’s alpha phụ thuộc vào số lượng câu hỏi và cỡ mẫu nên đã có nhiều mức giá trị alpha được đề nghị
để đánh giá thang đo “đủ tốt” Nhìn chung, mức 0,7 trở lên được cho là “chấp nhận được”, 0,8 trở lên là “tốt” và 0,9 trở lên là “xuất sắc” (Nguyễn Trung Nghĩa) Tuy nhiên nếu hệ số Cronbach’s Alpha vượt quá 0.95 thì sẽ có sự trùng lặp giữa các mục.(Streiner et al., 2015)
Cronbach’s alpha đôi khi không đủ để gợi ý câu hỏi nào bị dư thừa nên cần đánh giá thêm các chỉ số khác như tương quan câu-tổng câu hiệu chỉnh (item-rest correlation) và trung bình tương quan giữa các câu (average inter- item correlation) Tương quan câu-tổng câu hiệu chỉnh là mối tương quan giữa một câu trong bảng hỏi với các thành phần còn lại của bảng hỏi (trừ câu đó ra) Trong khi đó, trung bình tương quan giữa các câu là mối tương quan giữa câu
đó và toàn bộ bảng hỏi (bao gồm cả câu đó) Nếu Cronbach’s alpha khi bỏ đi câu hỏi tăng lên so với Cronbach’s alpha chung thì gợi ý việc bỏ đi câu hỏi có thể tăng độ tin cậy cho thang điểm Một câu hỏi nên có hệ số tương quan câu- tổng câu hiệu chỉnh nằm trong khoảng 0,3 đến 0,7 và trung bình tương quan giữa các câu từ 0,2 đến 0,4 Nếu thấp hơn các giới hạn dưới, nên loại câu hỏi đó
ra khỏi thang đo vì nó không đánh giá cùng một lĩnh vực thang đo đang hướng tới (Kline, 1979) Ngược lại, nếu các chỉ số cao hơn các giới hạn trên, thang đo
Trang 27có vẻ đang quá hẹp và chuyên biệt, với các câu hỏi chỉ là cách diễn đạt khác nhau của cùng vấn đề (Kline, 1979).
1.3.1.2 Tính giá trị
Giá trị (validity) là mức độ mà một công cụ đo lường được những gì mà
nó muốn đo (Taherdoost, 2016) Việc đánh giá tính giá trị là “một quy trình trong đó người ta cung cấp bằng chứng để hỗ trợ tính thích hợp và ý nghĩa và tính hữu ích của các suy luận cụ thể được thực hiện từ điểm số về các cá nhân từ một mẫu nhất định và trong một ngữ cảnh nhất định” (Coulacoglou &
Saklofske, 2017b) Hay nói cách khác đây là một quá trình đánh giá dựa trên những bằng chứng suy luận rút ra từ điểm số để chứng minh công cụ đo lường được những gì nó muốn đo Có nhiều thông số và khái niệm đã được đề xuất để biểu hiện giá trị thang đo và không có kỹ thuật nào là “hợp lệ rộng rãi” cho mọi lúc, mọi cách sử dụng, mọi dân số đích (Cohen, 2009) Hình 1.3 cho thấy các dạng con của các dạng kiểm tra tính giá trị khác nhau được khám phá.
Hình 1.2: Các dạng con của các dạng kiểm tra tính giá trị khác nhau
(Taherdoost, 2016)
Giá trị
Giá trị tiêu chuẩn
Giá trị dự đoán Giá trị đồng thời Giá trị hậu
dự đoán
Giá trị bề mặt Giá trị nội dung Giá trị cấu trúc
Giá trị phân
li Giá trị hội tụ
Trang 28Với giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ phân tích sâu vào giá trị bề mặt và giá trị cấu trúc
Giá trị bề mặt (face validity) là mức độ mà một phép đo dường như có
liên quan đến một cấu trúc cụ thể (Jones et al., 2017; Taherdoost, 2016) Giá trị
bề mặt liên quan nhiều hơn đến những gì một bài kiểm tra xuất hiện để đo lường đối với người được kiểm tra so với những gì bài kiểm tra thực sự đo lường Nói cách khác, tính giá trị bề mặt đề cập đến những đánh giá chủ quan của nhà nghiên cứu về cách trình bày và mức độ phù hợp của công cụ đo lường xem các mục trong công cụ đó có liên quan, hợp lý, rõ ràng và rõ ràng hay không (Taherdoost, 2016) Nếu một thang đo hoàn toàn thể hiện được cho người phản hồi hiểu được rằng mục đích đo lường của nó là gì “trên nghĩa bề mặt của nó” thì nó có thể được cho rằng là có giá trị bề mặt cao (Cohen, 2009) Giá trị bề mặt không có chỉ số hữu ích nhưng rất hữu ích trong thích nghi thang đo (Đinh Thị Hoa, 2019) Trong quá trình thích nghi thang đo, việc dịch và hỏi ý kiến của chuyên gia về bản dịch chính là đang đảm bảo tính giá trị bề mặt của thang đo bản thích nghi
Giá trị cấu trúc (construct validity) mô tả các kết quả có được khi sử
dụng công cụ phù hợp như thế nào với khái niệm lý thuyết mà công cụ đó muốn
đo lường (Nguyễn Trung Nghĩa, 2020) Khái niệm lý thuyết hay còn gọi là lý thuyết cấu trúc có thể được xem là một “tiểu lý thuyết” để mô tả mối quan hệ giữa nhiều giá trị hành vi hoặc thái độ Hệ thống lại, một thang đo sẽ bao gồm nhiều đề mục, các đề mục này nhằm mục đích mô tả các nhóm nhân tố (factor), các nhóm nhân tố đưọc xây dựng dựa trên lý thuyết cấu trúc ban đầu Như vậy tiến trình xác định giá cấu trúc là một tiến trình kiểm tra giả thiết của thang đo (Nguyễn Trung Nghĩa, 2020) Giá trị cấu trúc bao gồm giá trị phân li (discriminant validity) và giá trị hội tụ (Convergent validity)( (Taherdoost, 2016) Giá trị phân li là mức độ mà các biến quan sát của các cấu trúc khác nhau phân kỳ hoặc tương quan tối thiểu với nhau, giá trị hội tụ là mức độ mà các các biến quan sát của cùng cấu trúc hội tụ hoặc tương quan chặt chẽ với nhau
Trang 29(Taherdoost, 2016) Thang đo có các biến trong một nhóm nhân tố có mức độ tải nhân tố cao thì xem là có giá trị hội tụ, thang đo có các biến trong các nhóm nhân tố khác nhau tương quan thấp với nhau thì được xem là có giá trị phân kỳ.
Có nhiều cách tiến hành kiểm định tính giá trị nhưng phổ biến đó là tiến trình
phân tích nhân tố khám phá (exploratory factor analysis) Trong đó phân tích
nhân tố khám phá được tiến hành lần đầu khi thang đo (1) mới được tạo ra hoặc (2) mới được chuyển ngữ hoặc (3) mới được áp dụng trên một dân số nhiều khác biệt so với dân số gốc (Đinh Thị Hoa, 2019) Vì nghiên cứu của chúng tôi thuộc trường hợp số (2) nên chúng tôi sẽ tiến hành tiến trình phân tích nhân tố khám phá.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy mô hình phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân được quan tâm và nghiên cứu rộng rãi và có nhiều ứng dụng Trong đó thang đo “phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân” là bộ công cụ đầu tiên về hai khái niệm trên đã chứng mình hiệu quả của mình trên đối tượng tuyển thủ thể thao Tuy nhiên, tại Việt Nam nghiên cứu về khái niệm
và bộ công cụ sử dụng để đo lường còn hạn chế.
Phong cách chú ý còn được hiểu là xu hướng cá nhân phân chia chú ý của mình Phong cách tương tác liên cá nhân được định nghĩa như là xu hướng cách con người tương tác với người khác, theo đó nhân cách của mỗi người quyết định cách họ tương tác với người khác.
Thang đo “phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân” là thang đo thuộc lĩnh vực về nhân cách và sử dụng xu hướng phân chia chú ý và tương tác với các kích thích bên ngoài của mọi người để chia thành 17 tiểu thang tương ứng với 17 tập hành vi ở từng người.
Quy trình thích nghi thang đo chính là quy trình chuyển một bộ công cụ được sử dụng từ ngôn ngữ gốc sang ngôn ngữ khác sao cho vẫn đảm bảo về độ
Trang 30tương đương Tuỳ theo thiết kế từng nghiên cứu sẽ chú trọng vào từng loại giá trị tâm trắc riêng của thang đo Đề tài chúng tôi sử dụng quy trình thích nghi được đề nghị bởi WHO gồm các bước: chuyển ngữ và thích ứng văn hoá, đánh giá độ tin cậy nội tại, đánh giá giá trị cấu trúc thang đo
Trang 31CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vài nét về khách thể, phạm vi nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu 2.1.1 Khách thể nghiên cứu
Đề tại được tiến hành trên khách thể là sinh viên chuyên ngành thể dục thể thao
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Tại Việt Nam hiện nay, có tất cả 17 trường đại học, cao đẳng đào tạo về khối ngành thể dục thể thao bao gồm 4 ngành nhỏ hơn, riêng tại thành phố Hồ Chí Minh có 4 trường Tổng số lượng sinh viên chưa có số liệu cụ thể nhưng những năm gần đây số lượng tuyền sinh đang giảm sút
Trong khoảng thời gian từ tháng 11 năm 2021 đến tháng 4 năm 2021, nhóm nghiên cứu đã tiếp cận và được sự đồng ý tự nguyện tham gia vào nghiên cứu của 153 sinh viên chuyên ngành Thể dục thể thao chủ yếu ở 2 khu vực thành phố Hồ Chí Minh và Huế.
Đề tài giới hạn nghiên cứu thực tiễn ở các nội dung sau:
Khảo sát về phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân dựa trên thang đo
“Phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân – phiên bản 2” (Test of attentional and interpersonal style - 2, TAIS2) được trích từ nghiên cứu của (Vassos, 2009)
do Giáo sư Tâm lý học Robert M.Nideffer phát triển được trích từ nghiên cứu của Đại học Rochester, Hoa Kỳ phát triển vào thực tiễn
Các biến được đo lường trên bình diện nhận thức, và hành vi bởi đặc thù của phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân Các kết quả phân tích đều dựa trên nghiên cứu cắt ngang
Trang 322.1.2.3 Về địa bàn
Đề tài được tiến hành trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Huế.
2.2 Tổ chức thực hiện nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu gồm 4 giai đoạn: nghiên cứu lý luận, dịch và đảm bảo giá trị bề mặt cho thang đo, thu thập thông tin, và viết đề tài.
2.2.1 Nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu tổng quan về các tiếp cận, xu hướng nghiên cứu, chỉ ra gợi ý cho các nghiên cứu tiếp theo
Làm rõ các khái niệm liên quan đến đề tài như chú ý và các nghiên cứu
2.2.2 Thu thập thông tin
Phiếu khảo sát được phát là 153 phiếu dành cho sinh viên chuyên ngành Thể dục thể thao trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và Huế, thu về 153 phiếu trong đó có 140 phiếu đủ điều kiện xử lý dữ liệu.
2.2.3 Viết đề tài
Đề tài được cấu trúc thành 3 chương: cơ sở lý luận, tổ chức và phương pháp nghiên cứu, kết quả nghiên cứu.
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu, trong đó phương pháp điều tra bằng thang đo (bảng hỏi, phiếu thăm dò ý kiến) là phương pháp chính, các phương pháp nghiên cứu còn lại là các phương pháp bổ trợ.
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp này được sử dụng nhằm khái quát hoá những tài liệu, những công trình nghiên cứu liên quan, phục vụ cho việc xây dựng cơ sở lý luận của
Trang 33đề tài, cụ thể là tìm hiểu các lý thuyết về mô hình phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân, quy trình thích nghi thang đo.
2.3.2 Phương pháp điều tra bằng thang đo
Đánh giá phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân sử dụng thang đo Phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân – phiên bản 2 (Test of Attentional and Interpersonal Style – 2 , TAIS2)
2.3.3 Phương pháp thống kê toán học
2.3.3.1 Mục đích
Xử lý các kết quả định lượng thu được từ cuộc khảo sát nhằm làm cơ sở
để biện luận kết quả nghiên cứu
Trang 34TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
Đề tài đã trình bày về khách thể nghiên cứu là sinh viên chuyên ngành thể dục thể thao, nội dung nghiên cứu là phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân của sinh viên chuyên ngành thể dục thể thao, địa bàn nghiên cứu là thành phố
Hồ Chí Minh và thành phố Huế.
Đề tài cũng đã trình bày tổ chức thực hiện nghiên cứu là quá trình gồm 4 giai đoạn: nghiên cứu lý luận, dịch và đảm bảo giá trị bề mặt cho thang đo, thu thập thông tin, và viết đề tài Trong đó, công cụ được chọn chính là “Phong cách chú ý và tương tác liên cá nhân – phiên bản 2” được trích từ nghiên cứu của (Vassos, 2009) do Giáo sư Tâm lý học Robert M.Nideffer phát triển được trích từ nghiên cứu của Đại học Rochester, Hoa Kỳ phát triển vào thực tiễn Bên cạnh đó, đề tài cũng trình bày phương pháp nghiên cứu được thực hiện trong đề tài gồm phương pháp nghiên cứu lý luận, phương pháp điều tra bằng thang đo và phương pháp thống kê toán học.
Trang 35CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Chuyển ngữ và thích ứng hoá thang đo
Thang đo gốc gồm 17 tiểu thang được chúng tôi nhóm lại thành 2 nhóm
chính là phong cách tập trung và phong cách tương tác liên cá nhân và tiến
“I feel guilty”.
Với bước hỏi ý kiến chuyên gia, nhóm nghiên cứu tiếp cận được hai chuyên gia có nhiều năm kinh nghiệm nghiên cứu và dạy học trong lĩnh vực Tâm lý đều có thể nói song ngữ Anh – Việt, và trong đó một chuyên gia có vốn hiểu biết sâu về xã hội, văn hoá tại nơi khảo sát (thành phố Huế) Kết quả ý kiến từ hai chuyên gia cho rằng bản dịch khá dài không phù hợp với đối tượng
Trang 36khảo sát là sinh viên chuyên ngành thể dục thể thao – thường được nhận xét là
có ưu thế về hình thể, vận động hơn là ngôn ngữ, tư duy trừu tượng Bảng hỏi dài còn dễ gây mất kiên trì - khiến khách thể phản hồi sai nên cần diễn đạt gọn hơn.
Mẫu hỏi sau đó được được điều chỉnh lại cho phù hợp với nhận xét Các câu hỏi nêu ngữ cảnh trước hầu hết đều chuyển thành đưa mệnh đề lên đầu Ngôn ngữ dịch đều sử dụng từ đại chúng Kết quả thu được bảng dịch cuối cùng
đạt giá trị bề mặt (phụ lục )
3.2 Thông tin về mẫu nghiên cứu
Từ 153 phiếu khảo sát được phát ra, chúng tôi thu về 153 phiếu khảo sát (đạt tỉ lệ 100%) Sau khi loại bỏ các phiếu khảo sát không đạt yêu cầu (có nhiều
ô thiếu thông tin hay nhiều hơn một ô trả lời), hoặc có cơ sở xác định thông tin trả lời không đáng tin cậy (chọn cùng một mức độ, hoặc hai mức độ trả lời cho tất cả các câu hỏi), số phiếu khảo sát đáp ứng được yêu cầu còn lại là 140 đạt tỉ
lệ 91.5% số phiếu khảo sát phát ra vượt quá tỷ lệ phản hồi đủ điều kiện là 30%
mà hầu hết các nhà nghiên cứu yêu cầu để dữ liệu được xử lý (Dillman, 2011), được phân bổ theo các đặc điểm nhân khẩu học của sinh viên chuyên ngành thể dục thể thao trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và Huế được khảo sát như sau (Bảng 3.1).
Kết quả thống kê mẫu nghiên cứu theo các đặc điểm nhân khẩu học (Bảng 3.1) cho thấy có sự chênh lệch khá lớn kích thước các nhóm mẫu theo đặc điểm về giới tính, năm học và chuyên ngành Cụ thể:
- Sinh viên nữ chiếm đa số trong khách thể nghiên cứu (81.4%).
- Khách thể là sinh viên năm 2 chiếm phần nhiều (52.9%), sinh viên năm 4 chiếm tỉ lệ ít nhất (2.1%).
- Sinh viên chuyên ngành giáo dục (cụ thể là giáo dục thể chất) chiếm phần nhiều (46.4%).
Trang 37- Các sinh viên phần nhiều tới từ trường Đại học Huế và trường Đại học
Sư phạm Thể dục thể thao thành phố Hồ Chí Minh (tổng 89.3%).
Các đặc điểm nhân khẩu học
Tầ
n số (SL)
Tần suất (%)
Trường
Đại học Sư Phạm thành Phố Hồ Chí Minh
Đại học Sư phạm Thể dục thể thao thành phố Hồ Chí Minh
Trang 38thuật Khối ngành
Bảng 3.1: Thông tin mẫu nghiên cứu theo đặc điểm nhân khẩu học
Biến đại diện
Trang 39IS6 140 -0.022 0.205 -0.059 0.407
Bảng 3.2: Kiểm tra tính phân phối chuẩn của mẫu
Kết quả kiểm tra tính phân phối chuẩn của mẫu thông qua các chỉ số Skewness và Kurtosis (Bảng 3.2) cho thấy, hầu hết các chỉ số này của tập dữ liệu các biến quan sát đều được phân bố trong khoảng [-1;+1], chứng tỏ tập dữ liệu có phân phối xấp xỉ phân phối chuẩn Vì vậy, cho phép chúng tôi áp dụng các kỹ thuật định lượng sử dụng tham số mẫu để suy luận cho tổng thể ở các bước tiếp theo
3.3 Độ tin cậy thang đo
Xem xét hệ số Cronbach’s alpha Với thang đo phong cách chú ý, hệ số Cronbach’s alpha của 10 tiểu thang đo dao động từ 0.6 – 0.938 Đều nằm trong đoạn [0.6; 0.95] nên được xem xét là có độ tin cậy nội tại cao Với thang đo phong cách tương tác liên cá nhân, hệ số Cronbach’s alpha của 6 tiểu thang đo dao động từ 0.872 – 0.95 Đều nằm trong khoảng [0.6;0.95] nên được xem xét
là có độ tin cậy nội tại cao (Bảng 3.3)
Trang 40Phong cách tương tác liên cá nhân
Bảng 3.3 Độ tin cậy nội tại của thang đo TAIS2 phiên bản tiếng Việt
Xét tương quan câu - tổng câu hiệu chỉnh ở các thang đo Với thang đo phong cách tập trung, tương quan tổng câu hiệu chỉnh của các câu ở các tiểu thang đo Chú ý 3, Chú ý 4, Chú ý 5, Chú ý 6, Chú ý 7, Chú ý 8, Chú ý 9, Chú ý
10 đều nằm trong khoảng [0.3;0.7] với thấp nhất là tiểu thang Chú ý 10 (tương quan tổng câu hiệu chỉnh là 0.429) và cao nhất là tiểu thang 4 (tương quan dao động từ 0.615 – 0.666), chứng tỏ các biến ở từng tiểu thang thể hiện mức độ tương quan cao phù hợp, cùng thể hiện một khái niệm nhưng không có sự trùng
lập Ở tiểu thang đo Chú ý 1 có các câu 1.25, 1.31, 1.33, 1.34, 1.42, 1.43, 1.46,
1.48 và ở tiểu thang Chú ý 2 có các câu 1.44, 1.45, 1.47 tương quan tổng câu
hiệu chỉnh vượt mức 0.7 thể hiện có sự trùng lập khái niệm ở các câu trong từng tiểu thang với nhau, các câu là cách diễn giải khác của cùng một đặc điểm Với thang đo phong cách tương tác liên cá nhân, tương quan tổng câu hiệu chỉnh ở tất cả các tiểu thang đều có mức tối thiểu nằm trên mức 0.4 (thấp nhất là 0.445), tuy nhiên đều có sự xuất hiện các câu có tương quan vượt mức 0.7 (cao nhất là 0.805)
Câu Tương quan câu - tổng câu hiệu chỉnh Cronbach's Alpha khi bỏ đi câu hỏi
Tiểu thang chú ý 1