1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BUỔI THẢO LUẬN THỨ BA vấn đề CHUNG của hợp ĐỒNG (TIẾP) bộ môn pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

26 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Buổi Thảo Luận Thứ Ba Vấn Đề Chung Của Hợp Đồng (Tiếp)
Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Khánh, Nguyễn Lê Anh Thư, Nguyễn Quốc Kiệt, Mai Đặng Bích Ngọc, Võ Kim Nguyên, Nguyễn Thị Thanh Lam, Đặng Phan Minh Thư, Nguyễn Mạnh Lân, Phan Mỹ Anh
Người hướng dẫn Ths. Trần Nhân Chính
Trường học Trung Tâm Đào Tạo CLC Và Đào Tạo Quốc Tế
Chuyên ngành Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Thể loại buổi thảo luận
Năm xuất bản 2022
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 224,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đoạn trong Bản án số 16 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sửdụng đất được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực và chưa đượccông chứng, chứng thực là: “Vậy, tuy phía bị đơn ch

Trang 1

BUỔI THẢO LUẬN THỨ BA VẤN ĐỀ CHUNG CỦA HỢP ĐỒNG (TIẾP)

Bộ môn: Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Giảng viên: Ths Trần Nhân Chính

Nhóm: 01

Thành viên:

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 9 năm 2022

Trang 3

MỤC LỤC

Trang 5

và đã thông báo sẽ cấp đất tái định cư tại khu Làng Cá Sa Huỳnh) với giá90.000.000 đồng Nguyên đơn đã trả đủ 90.000.000 đồng cho bị đơn năm

2011, Nhà nước đã chỉ mốc giới vị trí đất cấp cho bị đơn là 03 lô đất liền kề ởmặt tiền, bị đơn và anh Đoàn Tấn L1 yêu cầu phía nguyên đơn đưa thêm30.000.000 đồng vì giá đất mặt tiền cao hơn, nguyên đơn đồng ý đưa tiếp20.000.000 đồng, còn 10.000.000 đồng khi nào làm thủ tục chuyển nhượngxong thì đưa đủ Lúc này bị đơn đã chỉ vị trí cũng như mốc giới thửa đấtchuyển nhượng cho phía nguyên đơn Trong quá trình chờ làm thủ tục chuyểnnhượng quyền sử dụng đất, thì vào ngày 05/6/2014 nguyên đơn có cho bàNguyễn Thị M1 thuê diện tích đất này làm mặt bằng buôn bán và không ai có

ý kiến gì Đến tháng 10/2016 Nhà nước mới cấp giấy chứng nhận quyền sửdụng đất cho bị đơn, nhưng phía bị đơn và anh Đoàn Tấn L1 chỉ đưa giấychứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 877 tờ bản đồ số 24 xã PT (Sauđây viết tắt là thửa 877) cho nguyên đơn nhưng không làm thủ tục chuyểnnhượng cho nguyên đơn, hiện nay nguyên đơn đã xây móng đá chẻ trên thửa877.Đình chỉ xét xử phúc thẩm một phần vụ án đối với Quyết định khángnghị số 1317/QĐKNPT-VKS-DS ngày 05/10/2017 của Viện trưởng Việnkiểm sát nhân dân huyện Đức Phổ

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Đoàn C, bà Trần Thị L và nhữngngười có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

2 Quyết định số 93/2018/DS-GĐT ngày 29/11/2018 của Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng

Nguyên đơn: Ông Võ Sĩ Mến và bà Phùng Thị Nhiễm

Bị đơn: Ông Đoàn Cưu và bà Trần Thị LắmNgười có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Đoàn Tấn Linh, bà Nguyễn ThịMai

Nội dung: Ngày 10/08/2009, ông Cưu, bà Lắm và con trai là Đoàn Tấn Linhlập hợp đồng thỏa thuận chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông Mến, bàNhiễm một lô B khi được Nhà nước giao đất, giá chuyển nhượng là90.000.000 VND, diện tích 5x20m Sau khi viết hợp đồng chuyển nhượng,hai bên đã hoàn thành nghĩa vụ Vào ngày 17/10/2016, ông Cưu, bà Lắmđược cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng sau đó họ chỉ giao giấy

Trang 6

chứng nhận này cho ông Mến, bà Nhiễm mà không làm thủ tục chuyểnnhượng Nay ông Mến, bà Nhiễm yêu cầu ông Cưu, bà Lắm phải làm thủ tụcchuyển nhượng thửa đất trên cho họ Ông Cưu, bà Lắm có đơn phản tố yêucầu Toà án tuyên huỷ hợp đồng chuyển nhượng vì cho rằng tại thời điểmchuyển nhượng chưa có đất và hợp đồng không được công nhận, chứng thực.

Tại Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa công nhận hợp đồng chuyển nhượng là đúng vàbác yêu cầu phản tố của bị đơn về việc yêu cầu huỷ hợp đồng chuyển nhượngnhưng tuyên buộc ông Cưu, bà Lắm làm thủ tục chuyển nhượng cho ôngMến, bà Nhiễm là không thể thi hành án Tại Tòa án cấp phúc thẩm, Tòa xácđịnh hợp đồng này là vô hiệu do vi phạm về nội dung và hình thức của hợpđồng Ngày 02/03/2018, nguyên đơn đề đơn đề nghị Chánh án Tòa án nhândân cấp cao tại Đà Nẵng xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đốivới bản án phúc thẩm Tại Quyết định số 68/2018/KN-DS ngày 19/09/2018,Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đề nghị Ủy ban Thẩm phánTòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử giám đốc thẩm, hủy toàn bộ bản

án phúc thẩm nêu trên; giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh QuảngNgãi để xét xử phúc thẩm lại theo đúng quy định của pháp luật Tại Quyếtđịnh giám đốc thẩm số 93/2018/DS-GĐT ngày 29/11/2018, Tòa án nhân dâncấp cao tại Đà Nẵng quyết định chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa ánnhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, công nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa 2bên tuy có vi phạm về mặt hình thức nhưng có hiệu lực căn cứ vào khoản 2Điều 132 BLDS 2015 và huỷ toàn bộ bản án dân sự phúc thẩm, giao hồ sơ vụ

án cho Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm

1.1 Đoạn nào trong Bản án số 16 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực

và chưa được công chứng, chứng thực?

Đoạn trong Bản án số 16 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sửdụng đất được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực và chưa đượccông chứng, chứng thực là:

“Vậy, tuy phía bị đơn chưa được cấp đất nên chỉ lập giấy viết tay thể hiện nội dung

thỏa thuận [ ] giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các bên không tuân thủ về hình thức được quy định tại khoản 1 Điều 502 Bộ luật dân

sự năm 2015 nhưng bên nguyên đơn đã thực hiện giao cho phía bị đơn 110.000.000 đồng, phía bị đơn đã giao quyền sử dụng đất cho nguyên đơn là

đã thực hiện hơn 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch nên giao dịch được công nhận hiệu lực.”

Trang 7

1.2 Đoạn nào trong Bản án số 16 cho thấy Toà án đã áp dụng Điều 129 BLDS 2015 cho hợp đồng chuyển nhượng dù hợp đồng được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực?

Đoạn trong Bản án số 16 cho thấy Toà án đã áp dụng Điều 129 BLDS 2015cho hợp đồng chuyển nhượng dù hợp đồng được xác lập trước ngày BLDS

năm 2015 có hiệu lực là: “Theo quy định tại Điều 116, khoản 2 Điều 129 Bộ

luật dân sự năm 2015 thì tuy giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các bên không tuân thủ về hình thức được quy định tại khoản 1 Điều 502 Bộ luật dân sự năm 2015 nhưng bên nguyên đơn đã thực hiện giao cho phía bị đơn 110.000.000 đồng, phía bị đơn đã giao quyền sử dụng đất cho nguyên đơn là đã thực hiện hơn 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch nên giao dịch được công nhận hiệu lực.”

1.3 Việc Toà án áp dụng Điều 129 BLDS 2015 trong trường hợp như trên

có thuyết phục không? Vì sao?

Việc tòa án áp dụng điều 129 BLDS năm 2015 trong trường hợp trên làthuyết phục vì: Căn cứ vào khoản 2 Điều 129 BLDS năm 2015 quy định:

“Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.”

theo đó, theo quy định của điểm a khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai năm 2013

quy định: “Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng

quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;”.

Tại đây, giấy chuyển nhượng được viết tay và không được công chứng, tức đã

vi phạm về mặt hình thức của giao dịch dân sự Song, nghĩa vụ của các bên đãđược thực hiện quá ⅔, đây là điểm được xem xét để công nhận giao dịch dân

sự đó Nghĩa vụ của bên bán đất là giao đất và bên bán đã thực hiện Bênmua có nghĩa vụ giao số tiền mà đã thỏa thuận bằng giá trị mảnh đất đó, bênmua đã thực hiện giao 110.000.000 đồng / 120.000.000 đồng giá trị mảnh đất

Cả hai bên đều đã thực hiện quá ⅔ nghĩa vụ của mình Từ đó, việc áp dụngquy định tại Điều 129 BLDS năm 2015 cho tình huống trên là hợp lý

1.4 Trong Bản án số 16, Tòa án áp dụng Điều 129 BLDS 2015 khi chỉ xác định nguyên đơn thực hiện 2/3 nghĩa vụ có thuyết phục không? Vì sao?

Trang 8

Nguyên đơn và bị đơn có lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đấtvào năm 2009, tuy hợp đồng không đáp ứng về mặt hình thức theo Khoản 1Điều 502 BLDS 2015 cụ thể là không công chứng, chứng thực nhưng ông M

đã trả 110.000.000 đồng trong đó tổng số tiền ông phải trả là 120.000.000đồng Như vậy, ông đã thực hiện được 2/3 nghĩa vụ của mình trong hợp đồng

đã giao kết với bị đơn Như vậy, việc toà án áp dụng Điều 129 BLDS 2015cho vụ việc này là hợp lý nhằm công nhận hiệu lực của hợp đồng mà khôngcần phải công chứng, chứng thực

1.5 Trong Bản án số 16, đoạn nào cho thấy, khi áp dụng Điều 129 BLDS, bên bán không cần phải làm thủ tục chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng được liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được công nhận quyền sử dụng đất theo bản án đã có hiệu lực pháp luật?

Phần quyết định của toà án, tại mục 1:”Công nhận hiệu lực của hợp đồngchuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 877, tờ bản đồ số 24, xã PhổThạnh giữa ông Võ Sĩ M, bà Phùng Thị N với ông Đoàn C, bà Trần Thị L

Ông M, bà N có quyền sử dụng thửa đất số 877, tờ bản đồ số 24, xã PhổThạnh Ông M, bà N có nghĩa vụ liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền đểđược cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 877, tờ bản

đồ số 24, xã PT, huyện ĐP, tỉnh Quảng Ngãi.”

1.6 Hướng giải quyết như nêu trên của Tòa án có thuyết phục không? Vì sao?

Theo nhóm, hướng giải quyết như nêu trên của Tòa án là hoàn toàn thuyếtphục bởi vì những nguyên nhân sau:

quy định: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” Theo đó, tuy

giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các bên không tuân thủ về

hình thức được quy định tại khoản 1 Điều 502 BLDS năm 2015: “Quy định chung về hợp đồng và nội dung của hợp đồng thông dụng có liên quan trong

Bộ luật này cũng được áp dụng với hợp đồng về quyền sử dụng đất, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” nhưng bên nguyên đơn đã thực hiện

giao cho phía bị đơn 110.000.000 đồng, phía bị đơn đã giao quyền sử dụngđất cho nguyên đơn là đã thực hiện hơn 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch nên giaodịch được công nhận hiệu lực

Thứ hai, Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì thửa 877 là đất tái định

cư được cấp cho ông C và chị L , không phải cấp cho hộ gia đình nên bị đơn

có quyền chuyển nhượng, việc chuyển nhượng thửa 877 của bị đơn không viphạm điều cấm của pháp luật như bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa

Trang 9

vụ liên quan, thửa 877 là tài sản chung của hộ gia đình thì bị đơn chỉ chuyểnnhượng một trong ba thửa đất tái định cư nên vẫn thuộc phạm vi quyền tài sảncủa bị đơn

1.7 Đoạn nào trong Quyết định số 93 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 chưa được công chứng, chứng thực?

Đoạn trong Quyết định số 93 93 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền

sử dụng đất ngày 10/8/2009 chưa được công chứng, chứng thực là: “Về hìnhthức của hợp đồng: Đối với các giao dịch dân sự được xác lập trước ngày01/01/2017, thời hiệu được áp dụng theo quy định của BLDS năm 2015 (điểm

d khoản 1 Điều 688 BLDS 2015) Giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụngđất lập ngày 10/8/2009 giữa vợ chồng ông Cưu, bà Lắm với vợ chồng ôngMến, bà Nhiễm không được công chứng, chứng thực là vi phạm về hìnhthức.”

1.8 Theo BLDS 2015, hệ quả pháp lý của việc hết thời hiệu yêu cầu Tòa

án tuyên bố hợp đồng vô hiệu về hình thức.

1.9 Đoạn nào trong Quyết định số 93 cho thấy Toà án đã áp dụng quy định về thời hiệu tại Điều 132 BLDS 2015 để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực?

Đoạn trong Quyết định số 93 cho thấy Toà án đã áp dụng quy định về thờihiệu tại Điều 132 BLDS 2015 để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền

sử dụng đất ngày 10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực là:“Giao

dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 10/08/2009 giữa vợ chồng ông Cưu, bà Lắm với vợ chồng ông Mến, bà Nhiễm không được công chứng, chứng thực là vi phạm về hình thức Tuy nhiên, từ khi xác lập hợp đồng đến ngày nguyên đơn khởi kiện 18/4/2017, đã quá thời hạn hai năm, bị đơn không yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu theo quy định tại khoản 1 Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015 Do đó hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên có hiệu lực theo khoản 2 Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015.”

1.10 Trong quyết định số 93, việc Toà án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực có thuyết phục không? Vì sao?

Trong Quyết định số 93, Tòa án công nhận hợp đồng chuyển nhượngquyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực làthuyết phục

Trang 10

Thứ nhất, như Tòa án đã phân tích, Hợp đồng trên không vi phạm về nội

dung vì đã đi đến sự thỏa thuận giữa các bên, vợ chồng ông Cưu, bà Lắm vàcon trai là Đoàn Tấn Linh thống nhất thỏa thuận chuyển nhượng cho vợchồng ông Mến, bà Nhiễm

Thứ hai, trên thực tế, sau khi viết giấy chuyển nhượng, hai bên đã thực hiện

nghĩa vụ đã thỏa thuận Ông Mến, bà Nhiễm đã giao đủ số tiền 90.000.000đồng theo thỏa thuận ban đầu, sau đó đưa thêm 20.000.000 đồng để lấy lô khu

A thay cho lô khu B

Thứ ba, căn cứ khoản 1 Điều 132 BLDS 2015, thời hiệu để Tòa tuyên giao

dịch dân sự vô hiệu là 2 năm, nhưng trong vụ việc thì ông Cưu, bà Lắm trongsuốt 2 năm đó không yêu cầu Tòa tuyên giao dịch vô hiệu, đến khi ông Mến,

bà Nhiễm khởi kiện ông Cưu, bà Lắm vì 2 ông bà không thực hiện nghĩa vụsang tên quyền sử dụng đất cho họ thì ông Cưu, bà Lắm mới phản tố yêu cầuTòa hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa 2 bên Hơn nữa,giao dịch dân sự vô hiệu và hủy hợp đồng là hoàn toàn khác nhau và hợpđồng không được công chứng, chứng thực không phải là căn cứ để Tòa tuyênhủy hợp đồng theo Điều 423 BLDS 2015

Căn cứ vào những luận điểm đã nêu trên, Tòa căn cứ vào khoản 2 Điều 132thì Tòa tuyên giao dịch dân sự chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày10/08/2009 có hiệu lực là hợp lý, vừa bảo đảm được quyền và lợi ích hợppháp của bên chuyển nhượng, vừa tôn trọng thỏa thuận giữa các bên đương

sự, tránh được những rủi ro về kinh tế và tố tụng

Trang 11

VẤN ĐỀ 2: ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT, HỦY BỎ DO KHÔNG

THỰC HIỆN ĐÚNG HỢP ĐỒNG Tóm tắt: Bản án số 06/2017/KDTM-PT ngày 26/5/2017 của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long

Ngày 26/5/2017V/v tranh chấp hợp đồng mua bánNguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Đông Phong CầnThơ (Giải Thể)

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị DệtNội dung:Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Đông Phong Cần Thơ

đã kí với ông Trương Văn Liêm hợp đồng mua bán chiếc xe ô tô biển kiểmsoát 64C-008.76 vào ngày 26/5/2017 Ông Liêm với công ty Đông Phong Cần Thơ ký hợp đồng thế chấp ô tô ngày 20/6/2012 với Ngân hàng thươngmại cổ phần Việt Nam thịnh vượng Cần Thơ,

2.1 Điểm giống nhau và khác nhau giữa hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng do có vi phạm

Điểm giống nhau:

Các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận

Trường hợp không hoàn trả được bằng hiện vật thì được trị giá thành tiền đểhoàn trả

Việc giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng đều liênquan đến nhân thân do Bộ luật này và luật khác có liên quan quy định

Điểm khác nhau:

Tiêu

Cơ sở pháp lý, Điều kiện

- Do vi phạm điều cấm của luật, trái đạođức xã hội;

Do giả tạo;

- Do người chưa thành niên, ngườimất năng lực hành vi dân sự, người hạnchế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện;

- Do nhầm lẫn;

- Do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép;

- Do người xác lập không nhận thức vàlàm chủ hành vi của mình;

- Vi phạm điều kiện hủy

bỏ mà các bên đã thỏathuận;

- Vi phạm nghiêm trọngnghĩa vụ hợp đồng;

- Trường hợp khác dopháp luật quy định

=> CSPL: Điều 423 BLDS 2015

Trang 12

- Do không tuân thủ quy định về hìnhthức;

- Do có đối tượng không thể thực hiệnđược

=> CSPL: Điều 122, Điều 407, Điều 408 BLDS 2015

Hậu quả pháp lý

- Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồithường

=> CSPL: Điều 131 BLDS 2015

- Các bên không phảithực hiện nghĩa vụ đãthỏa thuận, trừ thỏathuận về phạt vi phạm,bồi thường thiệt hại vàthỏa thuận về giải quyếttranh chấp

- Bên bị thiệt hại dohành vi vi phạm nghĩa

vụ của bên kia được bồithường

=> CSPL: Điều 427 BLDS 2015

Tính

thời điểm giao dịch được xác lập

=> CSPL: khoản 1 Điều 131 BLDS 2015

Hợp đồng này không cóhiệu lực tại thời điểmgiao kết, các bên khôngphải thực hiện nghĩa vụ

đã thỏa thuận, trừ thỏathuận về phạt vi phạm,bồi thường thiệt hại vàthỏa thuận về giải quyếttranh chấp

=> CSPL: khoản 1 Điều 427 BLDS 2015

2.2 Theo Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, hợp đồng vô hiệu hay bị huỷ bỏ?

Toà nhận định " xét thấy hợp đồng mua bán xe ngày 26/5/2012 là vô hiệutheo quy định tại các điều 122 BLDS 2015 nên không có căn cứ tuyên hủy

Trang 13

hợp đồng cũng không xét yêu cầu phạt vi phạm hợp đồng của nguyên đơn và

bị đơn vì hợp đồng vi phạm không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của cácbên ngày từ thời điểm giao kết, không ràng buộc trách nhiệm giao kết của cácbên trong hợp đồng mà phải tuyên hợp đồng vô hiệu và xử lý hậu quả theođiều 131 của BLDS"

2.3 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long (về huỷ bỏ hay vô hiệu hợp đồng).

vô hiệu hợp đồng mua bán xe ô tô giao kết giữa công ty TNHH MTV ĐôngPhong với ông Liêm là hoàn toàn hợp lý Vì:

Về chủ thể: hợp đồng ghi bên Mua là “Trang trí nội thất Thanh Thảo”, ngườiđại diện Nguyễn Thị Dệt là không đúng vì bà Dệt không đại diện cho Trangtrí nội thất Thanh Thảo mà thực chất là Công ty TNHH-SX-TM Thành Thảo

do Trương Hoàng Thành là Giám đốc đại diện

Mặt khác: Hợp đồng ghi đại diện bên mua là bà Nguyễn Thị Dệt nhưng đứng

ra giao dịch ký kết lại là ông Trương Văn Liêm là không đúng quy định củapháp luật

Xét thấy hợp đồng trên bị vô hiệu theo quy định tại Điều 122 BLDS năm

2015: “Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại

Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác.” Do đó không có căn cứ để tuyên hủy hợp đồng Ngoài ra, xét về lỗi

dẫn đến vô hiệu hợp đồng của các bên giao dịch là ngang nhau, do đó các bênkhông phát sinh quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng mà các bên đã ký kết chonên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận là có cơ sở

2.4 Nếu hợp đồng bị vô hiệu thì có áp dụng phạt vi phạm hợp đồng không? Vì sao?

Nếu hợp đồng bị vô hiệu thì không thể áp dụng phạt vi phạm hợp đồng

Vì căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 418 BLDS 2015: “Phạt vi phạm là

sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụphải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.” Các quy định này cho thấy,điều kiện áp dụng phạt vi phạm là: hợp đồng phải có hiệu lực, có hành vi viphạm hợp đồng, có thỏa thuận áp dụng phạt vi phạm Vì vậy, hợp đồng cóhiệu lực pháp luật mới làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ tương ứng, trựctiếp giữa các chủ thể giao kết hợp đồng, trong đó có phạt vi phạm hợp đồng

Do vậy, chế định phạt vi phạm hợp đồng chỉ xảy ra khi hợp đồng có hiệu lựcpháp luật

Ngày đăng: 23/12/2023, 23:00

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w