1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THẢO LUẬN học PHẦN xã hội học đại CƯƠNG đề tài bất bình đẳng xã hội ở việt nam hiện nay

37 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bất Bình Đẳng Xã Hội Ở Việt Nam Hiện Nay
Tác giả Nhóm 4
Người hướng dẫn Nguyễn Quỳnh Hương
Trường học Trường Đại Học Thương Mại
Chuyên ngành Xã Hội Học Đại Cương
Thể loại bài thảo luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 641,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

về tiếng nói và cơ hội gia tăng, làm thế nào để Việt Nam có thể tăng trưởng toàn diện và bền vững để tất cả người nghèo cùng hưởng lợi?Ở nước ta hiện nay, tuy đã bước vào một thời đại mớ

Trang 1

BÀI THẢO LUẬN

HỌC PHẦN: XÃ HỘI HỌC ĐẠI CƯƠNG

Đề tài: Bất Bình Đẳng Xã Hội Ở Việt Nam Hiện Nay

Nhóm 4 – K57H

Mã lớp học phần: 2175RLCP0421

Giảng viên: Nguyễn Quỳnh Hương

Hà Nội – Năm 2021

Trang 2

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

4 Phương pháp nghiên cứu

5 Phạm vi nghiên cứu đề tài

6 Kết cấu nội dung của đề tài

Chương 1: Cơ sở lý luận của những vấn đề cơ bản về bất bình đẳng xã hội.

I Khái niệm.

II Những quan niệm khác nhau về bất bình đẳng.

1 Quan niệm dựa vào yếu tố sinh học của cá nhân

2 Quan niệm dựa vào các yếu tố kinh tế

3 Quan điểm của Karl Marx

4 Quan điểm của Max Weber

III Cơ sở tạo nên bất bình đẳng xã hội

Trang 3

1 Giáo trình Xã hội học Đại Cương – Trường Đại Học Thương Mại.

2 Slide bài giảng Xã Hội Học Đại Cương – Giảng viên Nguyễn Quỳnh Hương

3 Bách khoa toàn thư mở - Wikipedia

4 Luật Bình đẳng giới 2006

5 Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội của các tỉnh giai đoạn 2006 - 2018

6 Bản tin cập nhật thị trường lao động Việt Nam của Bộ Lao động, Thương binh

và Xã hội và Tổng cục Thống kê

7.Tổng cục Thống kê (2018), Niên giám thống kê 2007 - 2018

8 Và 1 số trang báo, thông tin điện tử khác

Trang 4

về tiếng nói và cơ hội gia tăng, làm thế nào để Việt Nam có thể tăng trưởng toàn diện và bền vững để tất cả người nghèo cùng hưởng lợi?

Ở nước ta hiện nay, tuy đã bước vào một thời đại mới, bước vào một kỷ nguyên mới nhưng hiện tượng bất bình đẳng về giới tính, về thu nhập, về độ tuổi,

về cơ cấu hay nói chung là bất bình đẳng trong xã hội vẫn đang tồn tại và được nhà nước ta, các ban ngành và toàn xã hội quan tâm sâu sắc Mặc dù đây không phải là một vấn đề mới mẻ, nhưng rất đáng được chú ý và suy ngẫm vì vậy nhóm 4chúng em đã quyết định đi sâu vào nghiên cứu tình trạng " Bất bình đẳng xã hội ở Việt Nam hiện nay "

2 Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Hiện nay với sự phát triển và hòa nhập với kinh tế thế giới, kinh tế Việt Nam

đã có những bước phát triển vượt bậc từ đó đời sống an sinh xã hội từng bước đi vào ổn định Song bên cạnh đó, bất bình đẳng vẫn tồn tại trong xã hội Việt Nam

Đã có nhiều nghiên cứu khoa học về vấn đề này và từ đó xuất hiện rất nhiều ý kiến khác nhau về bất bình đẳng xã hội ở nước ta hiện nay Vậy nên để làm rõ hơn về thực trạng của vấn đề này, nhóm em sẽ đi vào nghiên cứu từ đó tìm ra nguyên nhân, hậu quả và đưa ra một số giải pháp thích hợp nhằm hạn chế bất bình đẳng xã hội ở Việt Nam hiện nay

3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Làm rõ khái niệm, phân loại, cơ sở hình thành của bất bình đẳng xã hội

Trang 5

- Chỉ ra được các dạng bất bình đẳng xã hội, kèm theo bảng dữ liệu, thống

- Từ các phân tích suy ra được giải pháp phù hợp

4 Phương pháp nghiên cứu

Nhóm đã sử dụng một số phương pháp như:

 Phương pháp điều tra xã hội học

 Phương pháp nghiên cứu, phân tích tài liệu

 Quan sát thực tế

5 Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu bất bình đẳng xã hội Việt Nam hiện

nay

6 Kết cấu nội dung của đề tài

Chương 1: Cơ sở lý luận những vấn đề cơ bản về bất bình đẳng xã hộiChương 2: Một số dạng bất bình đẳng và thực trạng bất bình đẳng xã hội ở Việt Nam

Chương 3: Một số giải pháp hạn chế bất bình đẳng xã hội

Trang 6

Chương I: Cơ sở lý luận của những vấn đề cơ bản về

bất bình đẳng xã hội

Cùng sự vươn lên không ngừng của nền kinh tế, khoa học kĩ thuật, công nghệ thông tin,… giúp cho xã hội ngày càng phát triển Điều đó làm cho cuộc sốngcủa con người ngày càng tốt đẹp hơn Nhưng không phải xã hội lúc nào cũng ẩn chứa những điều tốt đẹp, mà còn chứa đựng trong nó vô số những “bất cập xã hội” – những vấn đề ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống con người “Bất bình đẳng xãhội” là một trong những vấn đề như vậy

Tất cả các xã hội đều được đặc trưng bởi sự khác biệt xã hội Đó là quá trình

mà con người tạo nên khoảng cách do cách ứng xử khác nhau bởi vị thế, vai trò cùng những đặc điểm khác Quá trình đó chuẩn bị cho bất bình đẳng xã hội Là điều kiện mà con người có cơ hội không ngang bằng nhau về sử dụng của cải, quyền lực và uy tín Bất bình đẳng là một hiện tượng mang tính kế thừa ở mọi thời đại vì nó tồn tại trong mọi xã hội do cơ cấu xã hội mang lại Bất bình đẳng không phải là một hiện tượng tự nhiên, tồn tại một cách ngẫu nhiên giữa các mối quan hệ trong xã hội, mà nó tồn tại “khi có một nhóm xã hội kiểm soát và khai thác các nhóm xã hội khác.” Qua những xã hội khác nhau đã tồn tại những hệ thống bất

bình đẳng xã hội khác nhau Bất bình đẳng xã hội là một vấn đề trung tâm của xã hội học, đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với sự phân tầng trong tổ chức xã hội

Như Daniel Rossides (1976) đã viết: Thậm chí ngay trong các xã hội đơn

giản nhất “người già thường có quyền uy đối với người trẻ, cha mẹ có quyền uy với con cái và nam giới có quyền uy đối với phụ nữ".

Trong sự vận động và phát triển của xã hội thì bất bình đẳng xã hội luôn là một vấn đề trung tâm của xã hội học Bất bình đẳng xã hội hình thành, tồn tại song song với sự phát triển qua những xã hội khác nhau Điều đó cũng cho ta nhận biết được rằng hệ thống bất bình đẳng sẽ khác nhau trong những xã hội khác nhau và nguyên nhân chính là do thể chế chính trị và hoàn cảnh, điều kiện sinh sống của từng nơi quyết định Bất bình đẳng có ý nghĩa quyết định đối với sự phân tầng trong tổ chức xã hội Do đó, trong tiếp cận của mình nhà xã hội học hướng tới tìm hiểu cách mà các nhóm xã hội khác nhau có mối quan hệ bất bình đẳng với những nhóm xã hội khác như thế nào Để làm rõ được hiện tượng bất bình đẳng này nhóm

Trang 7

4 chúng em sẽ đi sâu vào nghiên cứu và phân tích nhằm đưa ra được các giải pháp góp phần giảm thiểu hiện tượng này trong xã hội Việt Nam hiện nay.

I.Khái niệm:

- Bất bình đẳng là sự không công bằng nhau về các cơ hội hoặc lợi ích đối với

những cá nhân khác nhau trong một nhóm hoặc nhiều nhóm trong xã hội

- Bất bình đẳng không phải là hiện tượng tồn tại một cách ngẫu nhiên giữa các cá nhân, các nhóm trong xã hội; bất bình đẳng xuất hiện khi một cá nhân, một nhóm (tạo ra) hay có đặc quyền đối với các cá nhân hoặc nhóm còn lại; những xã hội khác nhau tồn tại trong sự bất bình đẳng khác nhau

- Loài người chúng ta sinh ra có khá nhiều khác biệt như giới tính, sức khoe, trí tuệ

và sắc đẹp.Nhưng sự khác biệt về sinh học không phải là sự khác biệt về mặt xã hội, nhưng dựa vào đó dẫn không được coi là bất bình đẳng xã hội mà phải dựa trên những tiêu chí khác Thí dụ như các tiêu chí về của cải tài sản, quyền lực, học vấn, cơ hội sống, uy tín mà con người không có sự ngang bằng nhau trong cuộc sống

- Trong cuốn “Sự phân công lao động xã hội” (1893) E.Durkheim cho rằng: Tất cả các xã hội luôn nhìn nhận một số hành động quan trọng hơn những hành động khác, cũng theo ông bất bình đẳng xã hội được tạo ra từ những khác biệt về tài năng Ai có thiên bẩm nhiều hơn người khác, trải qua một quá trình đào tạo sẽ tạo nên sự khác biệt về mặt xã hội Mặc dù, các nhà xã hội học dễ dàng thống nhất rằng: bất bình đẳng xã hội là phổ biến, song họ lại không có cùng câu trả lời cho bất bình đẳng là gì, nguyên nhân của sự nảy sinh và tồn tại?

Trang 8

+ Bất bình đẳng là cơ sở cho việc điều chỉnh các quan hệ xã hội.

+ Bất bình đẳng đảm bảo cho đời sống và phát triển xã hội

II Những quan niệm khác nhau về bất bình đẳng:

Bất bình đẳng xã hội là một hiện tượng xã hội phổ biến Tuy nhiên, liệu bất bình đẳng có phải là một hiện tượng xã hội không thể nào tránh khỏi? Xung quanh vấn đề này, có nhiều quan điểm khác nhau Chúng ta sẽ xem xét một số quan điểm tiêu biểu về bất bình đẳng xã hội

1 Quan điểm dựa vào yếu tố sinh học của cá nhân:

Quan điểm này cho rằng, bất bình đẳng là một thực tế của xã hội, nó luôn hiện diện bởi sự khác biệt giữa các cá nhân Trong một xã hội mở và nếu con người có sự khác nhau về tài năng và nhu cầu thì điều đó tất yếu dẫn đến bất bình đẳng “Một số bất bình đẳng đến như là kết quả không thể né tránh về bất bình đẳng sinh học của kỹ năng, thể chất, khả năng tinh thần và những khía cạnh của nhân cách.”

Ngay từ thời cổ đại, một số nhà triết học đã khẳng định những “khác biệt” mang tính tự nhiên giữa các cá nhân Trong thực tế, vẫn có những khác biệt trong kiểu phân chia giới như là kết quả không thể tránh được của bất bình đẳng

Aristotle (384 – 322 TCN) cho rằng: “Đàn ông bản chất là thống trị, đàn bà là bị trị, và đó là một luật lệ.” Ngay cả đến hiện nay, quan điểm này vẫn còn tồn tại Steven Goldberg nêu quan điểm: “Sự thống trị và sự thành đạt cao của nam giới là khả năng không thể đảo ngược, bởi có những khác biệt về sinh học giữa nam và nữ.”

Thực ra những quan điểm hoàn toàn tương tự có thể được tìm thấy trong các

xã hội khác Trong không ít các gia đình Việt Nam hiện đại, tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn tồn tại Người con trai luôn được dành cho những ưu tiên và cơ hội nhiều hơn người con gái và tất yếu điều này làm cho sự bất bình đẳng ngày một kéo dài và trầm trọng hơn

2 Quan điểm dựa vào yếu tố kinh tế:

Trong luận văn Về nguồn gốc của sự bất bình đẳng năm 1753, Jean-Jacques Rousseau đã vạch rõ nguồn gốc của sự bất bình đẳng trong xã hội là ở chế độ tư hữu tài sản Theo ông, bất bình đẳng không phải là một quy luật tự nhiên, mà là

Trang 9

sản phẩm của xã hội loài người; nó tồn tại và phát triển từ khi xuất hiện chế độ tư hữu tài sản; rằng con người đã tạo ra sự bất bình đẳng thì con người cũng có thể xóa bỏ nó Những đặc điểm về kinh tế – chính trị và thị trường lao động tạo ra những khác biệt trong thu nhập và của cải Thực chất, sự khác biệt về vị trí của các

cá nhân trong cơ cấu xã hội gây ra bất bình đẳng kinh tế Ông cũng đã phân biệt rõ hai loại bất bình đẳng giữa người với người Đó là bất bình đẳng tự nhiên và bất bình đẳng xã hội – bất bình đẳng do cơ chế xã hội tạo nên

Một số nhà xã hội học khác cho rằng bất bình đẳng là không thể tránh khỏi do

xã hội có những nhiệm vụ này cần thiết hơn những nhiệm vụ khác và khả năng thực hiện những nhiệm vụ này khác nhau Họ lập luận rằng bất bình đẳng xã hội vềlợi ích giữa các cá nhân là cần thiết để thúc đẩy người tài nhất thực hiện những nhiệm vụ khó khăn nhất Chính sự bất bình đẳng thúc đẩy các cá nhân lao động, học tập để mang lại cơ hội cho chính bản thân mình Do vậy không thể thủ tiêu bất bình đẳng, vì bình đẳng có thể nguy hiểm cho xã hội như nhà kinh tế học A

Lechevalier phân tích: “Bình đẳng chung chung thậm chí còn đi ngược lại ý niệm

về sự công bằng, không chỉ là công bằng về nỗ lực cá nhân, về nhu cầu, ham muốn

mà cả những thiệt thòi.”

Có quan điểm cho rằng bất bình đẳng chủ yếu là do cấu trúc của hệ thống xãhội gây ra chứ không phải do sự khác biệt về tài năng, đặc điểm và nhu cầu cá nhân Rousseau đưa ra quan điểm: “ Nguồn gốc của bất bình đẳng liên quan tới sở hữu tư nhân về của cải Nhứng đặt điểm về kinh tế, chính trị và thị trường lao độngtạo ra những khác biệt trong thu nhập và của cải Thực chất, sự khác biệt về vị trí của các cá nhân trong có cấu xã hội gây ra bất bình đẳng kinh tế.”

3 Quan điểm của Karl Marx:

Học thuyết của Marx chủ yếu dựa trên sự nghiên cứu các học thuyết kinh tế

mà ông coi là nền tảng của cơ cấu giai cấp Mối quan hệ giai cấp là chìa khoá của mọi vấn đề trong đời sống xã hội Marx khẳng định: “Những tư tưởng thống trị củamột thời đại bao giờ cũng là những tư tưởng của giai cấp thống trị” và phục vụ chogiai cấp thống trị

Những lý luận của Marx về hoạt động tổ chức sản xuất của cải vật chất cũngnhư sự phân công lao động trong xã hội cùng với những phân tích về cấu trúc xã hội đã vạch rõ tính chất giai cấp của xã hội và tính bất bình đẳng trong quan hệ xã

Trang 10

hội Qua những phân tích về cấu trúc xã hội này, có thể rút ra hai kết luận quan trọng Một là, cần xóa bỏ và thay thế chế độ sở hữu tư nhân bằng chế độ sở hữu xã hội để xây dựng xã hội phát triển Hai là, xã hội học cần tập trung phân tích cấu trúc xã hội để chỉ ra ai là người có lợi và ai là người thiệt hại từ cách tổ chức xã hội

và cơ cấu xã hội hiện có Nói cách khác, cấu trúc xã hội, phân tầng xã hội và bất bình đẳng xã hội phải là những chủ đề nghiên cứu cơ bản của xã hội học hiện đại

4 Quan điểm của Max Weber

Max Weber nghiên cứu cấu trúc xã hội sau Marx hơn nửa thế kỷ Do vậy, ông đã ghi nhận những thay đổi trong cơ cấu giai cấp xã hội để phát triển lý thuyết

xã hội học về sự phân tầng xã hội Theo đó, lĩnh vực kinh tế không còn vai trò quan trọng đối với sự phân chia giai cấp và tầng lớp xã hội trong xã hội tư bản hiệnđại Cấu trúc xã hội nói chung và sự phântầng xã hội nói riêng chịu tác động của hai nhóm yếu tố cơ bản là các yếu tố kinh tế và các yếu tố phi kinh tế trong quá trình hình thành, biến đổi cấu trúc xã hội và sự phân tầng xã hội

Weber không coi mọi cấu trúc xã hội đều bất bình đẳng như trong một xã hội có giai cấp Ông nhấn mạnh rằng quyền lực kinh tế có thể là kết quả nắm giữ quyền lực dựa vào các nền tảng khác Địa vị xã hội và uy tín xã hội có thể xuất phát từ quyền lực kinh tế, song đó không phải là tất yếu duy nhất Ngược lại, địa vị

có thể tạo nên cơ sở của quyền lực chính trị

Weber nhấn mạnh tầm quan trọng của thị trường chứ không phải là tái sản xuất, như là cơ sở kinh tế của giai cấp Ông quan niệm giai cấp là một tập hợp người có chung các cơ hội sống trong điều kiện kinh tế thị trường Nguyên nhân đầu tiên của bất bình đẳng trong xã hội tư bản là khác biệt về khả năng thị trường

III Cơ sở tạo nên bất bình đẳng xã hội:

Bất bình đẳng xã hội xuất hiện và tồn tại lâu dài trong suốt lịch sử phát triển của loài người Là sự không công bằng nhau về các cơ hội hoặc lợi ích giữa các cá nhân trong nhóm và nhiều nhóm, bất bình đẳng xã hội bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân gắn bó với các yếu tố tự nhiên, địa vị xã hội, điều kiện kinh tế-xã hội-văn hoá… Về cơ bản gồm:

- Sự khác nhau về điều kiện tự nhiên:

Trang 11

Yếu tố tự nhiên (đất đai, thời tiết khí hậu, tài nguyên thiên nhiên…) trước hết là môi trường sống và đảm bảo phần quan trọng cơ hội sống cho con người Con người sinh ra và tồn tại trong điều kiện, môi trường sống tự nhiên khác nhau

sẽ có những cơ hội và được “mang đến” những lợi ích khác nhau Những người sinh ra trong điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ có cơ hội tốt cho sự tiến bộ, ngược lại với điều kiện tự nhiên khó khăn, khắc nghiệt thì sẽ có ít cơ hội hơn

Yếu tố tự nhiên còn tạo nên đặc điểm tự nhiên của con người, của cá nhân như giới tính, thể lực, trí tuệ, tính cách…Đây là yếu tố tác động, ảnh hưởng lớn và

có tính lâu bền đến bất bình đẳng xã hội Tuy nhiên xã hội càng phát triển, tiến bộ những khác biệt và phân biệt về các yếu tố tự nhiên càng được khắc phục dần

- Sự khác nhau về điều kiện kinh tế:

Đây cũng là 1 trong những yếu tố tạo ra sự khác biệt về cơ hội mà mỗi cá nhân hay mỗi nhóm được tiếp cận Khi cá nhân (hay nhóm) có điều kiện kinh tế tốthơn những cá nhân (hay nhóm) khác trong xã hội, chủ thể đó sẽ có nhiều cơ hội tốthơn

=> Ví dụ về tiếp cận dịch vụ giáo dục, y tế…của các cá nhân trong xã hội

- Sự khác nhau về địa vị xã hội:

Địa vị xã hội là vị trí then chốt của một cá nhân gắn liên với quyền hạn, nghĩa vụ, trách nhiệm trong một cơ cấu được xác định Địa vị xã hội thường gắn với nghề nghiệp, chức vụ của mỗi con người

=>Ví dụ, trong doanh nghiệp, người lao động trực tiếp (nhân viên) và người quản

lý (CEO) có địa vị xã hội khác nhau nên cơ hội và lợi ích không bằng nhau tạo nênmức thu nhập, mức sống, vị thế xã hội khác nhau

Những cá nhân ở địa vị xã hội khác nhau tạo ra sự khác biệt trong cơ hội mà

họ có thể có Cá nhân ở địa vị cao trong xã hội có nhiều cơ hội và lợi ích so với cá nhân ở địa vị thấp

Ngoài ra, địa vị xã hội còn tạo ra những bất bình đẳng cho những người kháctrong xã hội Khi cá nhân có địa vị cao trong xã hội, anh ta có thể lợi dụng quyền lực đó để tạo ra sự không công bằng cho những cá nhân, những nhóm khác trong

xã hội

Trang 12

- Sự khác nhau về ảnh hưởng chính trị:

Chính trị có thể tạo ra những quyền lực đặc biệt cho những cá nhân, các nhóm trong xã hội Nếu cá nhân nắm giữ chức vụ nhất định trong hệ thống chính trị sẽ có những cơ hội thuận lợi hơn người khác

=> Ví dụ, người làm công tác lãnh đạo, “có chân” trong bộ máy chính quyền sẽ có

cơ hội hơn để thăng tiến và có thu nhập cao hơn so với người không nằm trong bộ máy quản lý

- Sự khác nhau về văn hoá:

Những giá trị văn hoá cũng có thể góp phần tạo ra sự bất bình đẳng trong xã hội giữa các cá nhân, các nhóm Có những giá trị văn hoá làm hạn chế khả năng tiếp cận những cơ hội tốt trong cuộc sống của con người và ngược lại

 Ví dụ, người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến trước đây bị quan niệm là những người chỉ làm việc trong gia đình, không được tiếp xúc xã hộinên không có điều kiện, cơ hội để tiến bộ, họ luôn bị trói chặt vào gia đình, phụ thuộc vào gia đình Ngày nay, phụ nữ đã được giải phóng nên họ có cơ hội để phát triển, tiến bộ, đóng góp nhiều cho xã hội và bình đẳng hơn với mọi người

Những quan niệm xã hội về thân phận người phụ nữ là tài sản của người đànông hay mọi quyền lực thuộc về đàn ông đã khiến cho nam giới xem như cách ứng

xử của họ với phụ nữ thế nào là quyền của nam giới trong gia đình

Với tính gia trưởng, nam giới tự cho mình có quyền “dạy vợ”, nam giới có quyền đòi hỏi vợ con phục vụ, thực hiện những yêu cầu của mình Người phụ nữ

Trang 13

với vị thế lệ thuộc, phải phục tùng, làm theo Nếu trái ý hoặc chậm trễ họ dễ bị người chồng đối xử thô bạo, xúc phạm nhân phẩm.

Thực tế phụ nữ cũng như đàn ông, họ sinh ra, lớn lên đều là con người Họ cần được bình đẳng với nam giới về nhiều khía cạnh Không có sự khác biệt gì giữa nam và nữ ở góc độ giới, nếu có chăng thì chỉ là sự khác biệt về giới tính.Định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò, về năng lực của nam hoặc nữ vì vậy định kiến giới cũng là mộttrong những nguyên nhân gây nên bạo lực gia đình

Ví dụ : Việc người vợ “không chung thủy” (45%) hoặc “không chăm sóc con cái”

(27%) Những quan điểm này được nhóm phụ nữ có trình độ học vấn thấp và phụ

nữ sống ở khu vực nông thôn ủng hộ nhiều hơn so với nhóm phụ nữ sống ở khu vực thành thị

Trong gia đình truyền thống, ông bà, cha mẹ truyền dạy cho cháu con nhữngnguyên mẫu về các quan niệm và hành vi mong đợi được cho là thích hợp đối với mỗi giới và các kỳ vọng của xã hội đối với nam giới và nữ giới Chẳng hạn, quan niệm chung về đặc điểm tính cách của nữ giới là dịu dàng, nam giới là mạnh mẽ, quyết đoán

Do vậy, phụ nữ được quan niệm là gắn liền với vai trò của người mẹ, người

vợ, người nội trợ, là người phụ thuộc không quan tâm đến việc họ có thu nhập cao hay thấp; nam giới trở thành trụ cột về kinh tế, là tấm gương đạo đức, là chỗ dựa

về tinh thần của phụ nữ và trẻ em, là người chủ gia đình, đại diện cho gia đình trong các quan hệ xã hội và cộng đồng

Những đặc tính trên của nữ giới hay nam giới thực chất là do xã hội gán cho hoặc mong đợi các cá nhân nam và nữ thực hiện Quan niệm trên chính là những định kiến giới đã tồn tại từ thế hệ này đến thế hệ khác Những định kiến giới đó đã dẫn đến tình trạng bất bình đẳng giới tồn tại phổ biến trong xã hội.Bên cạnh đó, một phần nguyên nhân của sự bất bình đẳng giới hiện nay là do chính phụ nữ đang chưa nhận thức được về sự bình đẳng Theo khảo sát “trong trường hợp vợ không chung thủy chồng có thể đánh vợ không? ” thì có tới 50,5 % phụ nữ đồng ý, trong khi chỉ có 24,2% nam giới đồng ý

Trang 14

Hay tại câu hỏi “Chồng có thể đánh vợ không khi vợ không biết đối xử với gia đình chồng” thì có đến 12% phụ nữ đồng ý trong khi chỉ có 7% nam giới đồng tình.

Một biểu hiện của tư tưởng này là sự bất bình đẳng về giáo dục Theo số liệucủa Bộ Giáo dục và Đào tạo, tỷ lệ học sinh nữ ở cấp tiểu học và trung học sơ sở thấp hơn học sinh nam, nhất là ở các vùng nông thôn nghèo và vùng dân tộc thiểu số.Sau mỗi kỳ nghỉ Hè, đặc biệt là sau mỗi cấp học thì các em nam có nhiều cơ hộiquay trở lại học tiếp hơn so với các em nữ Tỷ lệ trẻ em gái ở các tỉnh miền núi đi học còn thấp, chủ yếu là các em phải ở nhà giúp gia đình, do trường nội trú ở quá

xa nhà và ở một số nơi vẫn còn hủ tục tảo hôn

Biểu hiện thứ hai là việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản của phụ nữ vùng nông thôn, vùng dân tộc thiểu số còn hạn chế Tỷ lệ tử vong sản phụ còn cao so với một số nước trong khu vực Mức giảm tỷ lệ tử vong sản phụ trong nhiều năm qua còn chậm, nhất là ở vùng sâu, vùng xa và vùng dân tộc thiểu số

Thứ ba là tình trạng phân biệt đối xử giữa bé trai và bé gái Theo số liệu của

Bộ Y tế, nếu như năm 2015 tỷ số giới tính khi sinh tại nước ta là 112,8 bé trai trên

100 bé gái thì đếm năm 2016, tỷ lệ này đã tới 113,4/100 Các chuyên gia lo ngại, nếu tỷ số giới tính tiếp tục gia tăng và ngày càng lan rộng như hiện nay thì vấn đề

về mất cân bằng giới của Việt Nam trong 20-25 năm sau là hết sức nghiêm trọng

Biểu hiện thứ tư là bất bình đẳng giới trong các hoạt động dân số - kế hoạch hóa gia đình và sức khỏe sinh sản Vai trò của nam giới tham gia KHHGĐ còn hạn chế, phụ nữ được coi là người phải chịu trách nhiệm thực hiện KHHGĐ Dĩ nhiên, việc mang thai và sinh đẻ là thiên chức của người phụ nữ Song trên thực tế, mang thai khi nào và sinh bao nhiêu con lại thường do người chồng hoặc gia đình chồng quyết định, có hay không sử dụng biện pháp tránh thai để giãn khoảng cách sinh hoặc không sinh con cũng thường do người chồng, gia đình chồng quyết định.Biểu hiện thứ năm là bất bình đẳng giới trên thị trường lao động và trong thunhập Khi tiếp nhận một lao động nữ trẻ thì các chủ doanh nghiệp thường e ngại vềthời gian 6 tháng nghỉ thai sản Nhiều doanh nghiệp buộc lao động nữ ký thêm mộtphụ lục trong hợp đồng lao động là không được mang thai trong thời gian 2 năm đầu làm việc Từ đó dẫn đến tình trạng một số doanh nghiệp thích tuyển lao động

Trang 15

nam dù khả năng làm việc của họ thua kém nữ giới Còn về thu nhập, theo số liệu báo cáo của Tổng cục Dạy nghề (Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội) năm 2017,mức lương bình quân hằng tháng của lao động nữ khoảng 4,58 triệu đồng, thấp hơn so với lao động nam (5,19 triệu đồng) Điều này không hẳn là do chủ doanh nghiệp cố ý trả lương cho lao động nữ thấp hơn nam giới khi làm cùng một công việc Lý do chính là vì phụ nữ phải chăm sóc con, đảm đang việc gia đình nên ngàycông không cao bằng nam giới.

Biểu hiện thứ sáu là bất bình đẳng giới về vị thế xã hội, sở hữu tài sản Nam giới chiếm ưu thế trong kiểm soát đất đai và các tài sản giá trị cao Hầu hết các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp mang tên chủ hộ là nam giới Tình trạng này có thể khiến phụ nữ bị mất quyền sở hữu trong trường hợp ly hôn hay hưởng thừa kế Nam giới thường ra quyết định về đầu tư kinh doanh của hộ gia đình và việc sử dụng thu nhập Hạn chế trong sở hữu tài sản làm giảm khả năng tiếp cận của phụ nữ tới các cơ hội tín dụng và đầu tư…

Luật Bình đẳng giới được Quốc hội nước CH XHCN Việt Nam khoá XII thông qua vào ngày 29/11/2006 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7 năm 2007 Luậtquy định nguyên tắc bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, biện pháp bảo đảm bình đẳng giới, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện bình đẳng giới Mục tiêu là xoá bỏ phân biệt đối

xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống

xã hội và gia đình.Từ năm 2007 đến nay nước ta đã đạt được nhiều thành tựu về bình đẳng giới, xóa bỏ khoảng cách giới, đặc biệt là trong lĩnh vực lao động, việc làm, chăm sóc sức khỏe, giáo dục Chỉ tiêu nữ làm chủ doanh nghiệp đạt 27,8% năm 2017, cao nhất khu vực Đông Nam Á và xếp thứ 19/54 trong bảng chỉ số xếp hạng

2.Bất bình đẳng về thu nhập:

Một trong những vấn đề xã hội quan trọng nhất liên quan đến phát triển nhanh là bất bình đẳng về thu nhập Cần nhấn mạnh rằng không phải tất cả hiện tượng bất bình đẳng đều không tốt, vì luôn có sự đánh đổi giữa tăng trưởng và bìnhđẳng Trong một xã hội hoàn toàn bình đẳng hay một xã hội bất bình đẳng cao độ

Trang 16

đều có rất ít động lực để các cá nhân vươn lên tầng lớp trên Ngoài ra, do có sự khác biệt giữa bất bình đẳng dựa trên nỗ lực và bất bình đẳng dựa vào hoàn cảnh, trong khi hoạch định chính sách, những đánh giá là rất quan trọng để quyết định xem bình đẳng nào là cần thiết, bình đẳng nào cần loại bỏ vì ranh giới giữa chúng đôi khi rất mong manh.

- Bất bình đẳng thunhập là sự chênh lệch lớn về phân phối thu nhập, với phần lớn tổng thu nhập trong nền kinh tế tập trung trong tay một nhóm người chiếm tỉ lệ nhỏ

trong tổng dân số Khi xảy ra bất bình đẳng thu nhập, có một khoảng cách lớn giữa

tài sản và sự giàu có của một phân khúc dân số so với phân khúc dân số còn lại

- Bản chất của bất bình đẳng thu nhập: Cơ sở căn bản để nghiên cứu bất bình đẳng thu nhập và chênh lệch thu nhập là phân phối thu nhập theo phân khúc nhân khẩu học

- Các loại phân khúc thu nhập khác nhau được nghiên cứu khi phân tích bất bình đẳng thu nhập có thể bao gồm các phân phối cho:

+ Nam so với nữ+ Dân tộc

+ Vị trí địa lí+ Nghề nghiệp+ Thu nhập trong quá khứMức độ bất bình đẳng thu nhập của quốc gia hiện nay dựa trên các thước đo như hệ số GINI, hệ số chênh lệch giàu nghèo, Thông qua hệ số GINI của Việt Nam trong giai đoạn 2006 - 2018 cho thấy, bất bình đẳng thu nhập tại Việt Nam biến động không nhiều, nằm trong khoảng 0,424 đến 0,436; trong đó khu vực thành thị có xu hướng giảm, khu vực nông thôn có xu hướng tăng và luôn cao hơn

ở thành thị

Bảng 1 Bất bình đẳng thu nhập thông qua hệ số GINI tại Việt Nam giai đoạn 2006-2018

Trang 17

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Số liệu Bảng 1 cho thấy, trước năm 2010, hệ số GINI ở thành thị cao hơn ở nông thôn, sau năm 2010 hệ số GINI ở nông thôn cao hơn ở thành thị, cho thấy xu hướng bất bình đẳng thu nhập ở khu vực thành thị có xu hướng giảm còn ở nông thôn có xu hướng tăng Theo báo cáo “Wealth Distribution and Income Inequality

by Country 2018”, hệ số GINI của Việt Nam là 0,424 ở mức trung bình so với các quốc gia khác trong khu vực Theo Cornia và Court (2001), hệ số GINI trong khoảng 0,30 - 0,45 là nằm trong ngưỡng an toàn và hiệu quả, phù hợp cho tăng trưởng cao Theo đó, có thể khẳng định bất bình đẳng thu nhập của Việt Nam hiện nay vẫn nằm trong phạm vi an toàn, nhưng trong dài hạn có xu hướng tăng lên nếu Việt Nam không có những biện pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề này

Biểu đồ 1: Hệ số GINI của các vùng kinh tế giai đoạn 2006 -2018

Nguồn: Tổng cục Thống kê

Trang 18

Biểu đồ 1 cho thấy hệ số GINI tại các vùng kinh tế có những biến động tăng giảm ở các năm khác nhau, nhưng đều có xu hướng giảm dần So với các khu vực khác, Đông Nam Bộ là khu vực kinh tế phát triển có tốc độ phát triển cao nhất so với các khu vực còn lại, hệ số GINI có tốc độ giảm mạnh nhất so với các khu vực khác, khoảng cách về bất bình đẳng thu nhập ở khu này ngày càng được thu hẹp.Mức độ bất bình đẳng thu nhập còn được thể hiện thu nhập của các nhóm và chênhlệch giữa thu nhập của nhóm 1 và nhóm 5.

Bảng 2 Thu nhập bình quân đầu người/tháng phân theo 5 nhóm thu nhập của Việt Nam giai đoạn 2006 - 2018

có xu hướng gia tăng khá nhanh, chứng tỏ Việt Nam đang dần trở thành nước có chênh lệch giàu nghèo cao So sánh thu nhập năm 2018 và 2008 cho thấy, nhóm 1

là nhóm có mức độ tăng thu nhập chậm nhất (tăng 3,38 lần) so với các nhóm còn lại Tốc độ tăng trưởng ở nhóm 1 vẫn thấp hơn nhóm 5 đã khiến cho khoảng cách

Ngày đăng: 23/12/2023, 22:37

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Thu nhập bình quân đầu người/tháng phân theo 5 nhóm thu nhập của Việt Nam giai đoạn 2006 - 2018 - THẢO LUẬN học PHẦN xã hội học đại CƯƠNG đề tài bất bình đẳng xã hội ở việt nam hiện nay
Bảng 2. Thu nhập bình quân đầu người/tháng phân theo 5 nhóm thu nhập của Việt Nam giai đoạn 2006 - 2018 (Trang 18)
Bảng 2 cho thấy, thu nhập bình quân/tháng ở cả 5 nhóm thu nhập đều tăng  qua các năm, trong đó thu nhập bình quân đầu người một tháng năm 2018 gấp 3,78 lần so với năm 2008 - THẢO LUẬN học PHẦN xã hội học đại CƯƠNG đề tài bất bình đẳng xã hội ở việt nam hiện nay
Bảng 2 cho thấy, thu nhập bình quân/tháng ở cả 5 nhóm thu nhập đều tăng qua các năm, trong đó thu nhập bình quân đầu người một tháng năm 2018 gấp 3,78 lần so với năm 2008 (Trang 18)
Bảng 3. Thu nhập bình quân/người/tháng khu vực thành thị và nông thôn  phân theo 5 nhóm thu nhập của Việt Nam giai đoạn 2008 - 2018 - THẢO LUẬN học PHẦN xã hội học đại CƯƠNG đề tài bất bình đẳng xã hội ở việt nam hiện nay
Bảng 3. Thu nhập bình quân/người/tháng khu vực thành thị và nông thôn phân theo 5 nhóm thu nhập của Việt Nam giai đoạn 2008 - 2018 (Trang 19)
Bảng 4. Tỷ lệ hộ nghèo phân theo khu vực thành thị, nông thôn giai đoạn 2006 -2018 của Việt Nam - THẢO LUẬN học PHẦN xã hội học đại CƯƠNG đề tài bất bình đẳng xã hội ở việt nam hiện nay
Bảng 4. Tỷ lệ hộ nghèo phân theo khu vực thành thị, nông thôn giai đoạn 2006 -2018 của Việt Nam (Trang 20)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w