Nhưng nhờ vào những chính sách đổi mới sáng tạo phù hợp của chính phủ mà kể từ khi dành tự chủ về chính trị năm 1956 đến nay Singapore đã vươn lên một cách thần kỳ từ một quốc gia gần nh
Trang 1Môn: KINH TẾ ĐỔI MỚI VÀ SÁNG TẠO
Đề tài: CHÍNH SÁCH THÚC ĐẨY ĐỔI MỚI SÁNG TẠO CỦA SINGAPORE
Giảng viên: TS Phạm Mỹ Duyên
Học viên thực hiện: Nguyễn Thị Bảo Lâm
Lớp: Kinh tế học
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Cơ sở lý thuyết 2
1.1 Khái niệm về đổi mới sáng tạo 2
1.2 Đo lường đổi mới sáng tạo 3
1.3 Vai trò của chính phủ trong đổi mới sáng tạo 4
1.4 Một số hoạt động cơ bản của chính phủ trong đổi mới sáng tạo 5
1.5 Tận dụng các cơ hội và thách thức do chính phủ mang lại 10
2 Chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo của Singapore 11
2.1 Giới thiệu về quá trình hướng tới đổi mới, sáng tạo của Singapore 11
2.2 Mô hình lan tỏa tri thức đổi mới, sáng tạo 13
2.3 Các thành phần chính trong quy trình thúc đẩy đổi mới, sáng tạo 14
2.4 Vai trò của chính phủ trong việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo 15
KẾT LUẬN 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Singapore, một đảo quốc với diện tích chỉ gấp đôi Phú Quốc, không tài nguyên thiên nhiên, dân số ít, bao quanh là các quốc gia khó tính, đôi khi còn thù địch Nhưng nhờ vào những chính sách đổi mới sáng tạo phù hợp của chính phủ mà kể
từ khi dành tự chủ về chính trị năm 1956 đến nay Singapore đã vươn lên một cách thần kỳ từ một quốc gia gần như không có thành tựu gì trong tất cả các lĩnh vực trở thành con Rồng Châu Á với nền kinh tế phát triển vượt bậc, nền văn hóa có bản sắc riêng khi hòa quyện hài hòa trên cơ sở văn hóa của Trung Hoa, Malyasia
và Ấn Độ Xã hội gần như không có tệ nạn, với ý thức và văn minh của người dân gần như được đánh giá cao nhất, nhì thế giới Tiếp tục giữ vững phong độ phát triển này, đứng trước kỷ nguyên ứng dụng các thành tựu của khoa học kỹ thuật, Singapore vẫn đang là một trong những nước đứng đầu trong các hoạt động đổi mới sáng tạo Vậy nhờ vào những chính sách thúc đẩy đổi mới nào của chính phủ
mà họ đạt được thành tựu này? Liệu rằng Việt Nam chúng ta có thể học hỏi được
gì từ họ?
Với sự phát triển vượt bậc của nền công nghiệp ứng dụng thành tựu của khoa học
kỹ thuật và internet hiện nay Việt Nam chúng ta càng cần hơn nữa những chính sách đổi mới sáng tạo để tận dụng được xu hướng phát triển của thời đại và áp dụng phù hợp vào thể chế kinh tế của nước nhà Việc tìm hiểu thành công của nước bạn để xem xét và học hỏi cũng là một cách để có được bài học và kinh nghiệm nhanh chóng và thực tế trong hoạch định chính sách của nước mình, vì vậy
em xin chọn nghiên cứu các chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo của Singapore
từ khi được thành lập đến nay và đặc biệt là những chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo gần đây trong kỷ nguyên ứng dụng thành tựu của khoa học kỹ thuật
Trang 41 Cơ sở lý thuyết
1.1 Khái niệm về đổi mới sáng tạo
Đổi mới sáng tạo: Đổi mới sáng tạo là việc tạo ra, ứng dụng thành tựu, giải pháp
kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa” Điều 3, Luật Khoa học công nghệ 2013
Hệ thống đổi mới sáng tạo: bao gồm những bên tham gia hay các tác nhân và các hoạt động và tương tác của họ, cũng như môi trường kinh tế xã hội mà trong đó những tác nhân hay những bên tham gia hoạt động để cùng xác định hiệu suất sáng tạo của hệ thống đó (M.R Eggick)
Đổi mới sáng tạo quốc gia: Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia (NIS- National nnovation System) là hệ thống liên kết giữa khu vực hàn lâm (chủ thể tạo ra tri thức - đại diện là các trường đại học, viện nghiên cứu) với khu vực công nghiệp các ngành sản xuất, hoạt động sản xuất) Ttrong đó, nhà nước đóng vai trò kiến tạo, kết nối, tạo môi trường chính sách, thể chế thúc đẩy mối quan hệ và hoạt động tương tác giữa khu vực hàn lâm và công nghiệp để tạo ra, ứng dụng và chuyển hóa tri thức thành các giá trị gia tăng phục vụ nền kinh tế và đời sống xã hội Hình bên bên dưới là một minh họa về một đổi mới sáng tạo quốc gia
Trang 51.2 Đo lường đổi mới sáng tạo
Rất khó để đo lường chính xác sự tiến bộ của đổi mới sáng tạo, có thể được đo lường bằng lợi nhuận hay một số thông số của sản phẩm,… tuy nhiên một số chỉ
số đang được áp dụng tại Việt Nam hiện này
- GII (Global InnovaDon Index – chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu) Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu/ hay chỉ số đổi mới toàn cầu là chỉ số nhằm đánh giá năng lực và kết quả đổi mới của các nền kinh tế thế giới, do WIPO, Đại học Cornell (Hoa Kỳ) và Viện INSEAD hợp tác thực hiện hàng năm từ năm 2009 Chỉ số này được tổng hợp từ 84 chỉ tiêu trong các lĩnh vực: Thể chế; Nguồn nhân lực và năng lực nghiên cứu; Kết cấu hạ tầng; Sự tinh tế của thị trường và doanh nghiệp; Sản phẩm tri thức và công nghệ; Sản phẩm sáng tạo
Với mục tiêu duy nhất nhằm xác định làm thế nào để có được những số liệu và phương pháp tiếp cận cho phép nắm bắt tốt hơn mức độ của đổi mới sáng tạo (ĐMST) và hiệu quả của hệ thống ĐMST của các quốc gia, nền kinh tế
(Theo Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam)
- FOP (Readiness for the Future of ProducDon- chỉ số tương lai sản xuất )
Do WEF xây dựng và công bố vào ngày 11/01/2018 nhằm đánh giá mức độ các quốc gia/nền kinh tế sẵn sàng như thế nào trước những cơ hội và thách thức mà cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang tới, đặc biệt là trong sản xuất Chính phủ
đã sử dụng kết quả đánh giá FOP và đưa thành mục tiêu trong Nghị quyết
02/NQ-CP Để kịp thời cung cấp thông tin hướng dẫn, hỗ trợ các bộ, cơ quan và địa phương theo dõi, nắm bắt và cải thiện nhóm chỉ số Công nghệ và ĐMST thuộc bộ chỉ số FOP, Bộ KH&CN đã ban hành Sổ tay hướng dẫn về Chỉ số FOP 2018, với 03 nội dung về: Giới thiệu chung về Khung chỉ số Mức độ sẵn sàng cho Tương lai của Sản xuất; giới thiệu kết quả đánh giá của Việt Nam về mức độ sẵn sàng cho tương lai của sản xuất; hướng dẫn chi tiết từng chỉ số thuộc nhóm Công nghệ và ĐMST
- GCI (Global CompeDDveness IndexNăng lực cạnh tranh toàn cầu, WEF) Chỉ số GCI là thước đo để đánh giá năng suất và hiệu quả của một quốc gia Bằng cách so sánh các quốc gia trên thế giới, nó cung cấp cái nhìn sâu sắc về lợi thế cạnh tranh của mỗi quốc gia Năng lực cạnh tranh toàn cầu được đánh giá bởi 12 trụ cột: thể chế, cơ sở hạ tầng, môi trường kinh tế vĩ mô, y tế và giáo dục tiểu học, giáo
Trang 6dục và đào tạo sau đại học, hiệu quả của thị trường hàng hóa, hiệu quả của thị trương lao động, trình độ phát triển của thị trường tại chính, tiềm năng công nghệ, quy mô thị trường, trình độn kinh doanh, năng lực đổi mới sáng tạo
1.3 Vai trò của chính phủ trong đổi mới sáng tạo
Chính phủ có vai trò quan trọng trong việc tạo môi trường, thúc đẩy duy trì các cá nhân doanh nghiệp đổi mới sáng tạo gắn liền với bản chất của đổi mới sáng tạo Thứ nhất, Tri thức đổi mới sáng tạo hay tri thức công nghệ có bản chất “đại chúng”
có thể gây khó khăn cho việc thu được lợi nhuận từ đổi mới Khi một công ty muốn mua ý tưởng mới họ không thể xác định được giá trị của ý tưởng tới khi họ biết được ý tưởng đó là gì Nhưng khi biết được ý tưởng đó, thì họ lại không còn động
cơ trả cho ý tưởng đó nữa, vì họ đã nắm được ý tưởng Điều này có thể làm cản trở nhà cung cấp tri thức tiềm năng đầu tư để tạo ra ý tưởng
Hai là, tri thức có khía cạnh không cạnh tranh Khác với các sản phẩm và dịch vụ thông thường, người cung cấp có thể tăng số lượng bán để thu về lợi nhuận, nhưng tri thức của đổi mới sáng tạo khi chia sẻ đi người nhận có thể sở hữu mãi mãi và không hạn chế người sử dụng, điều này có thể ngăn cản nhà cung cấp tiềm năng đầu tư tạo ra tri thức đổi mới
Thứ ba, tri thức có thể bị rò rỉ trong quá trình chuyển giao Và khi người mua thu được lợi nhuận từ tri thức, thì ý tưởng cũng có thể nhanh chóng bị rò rỉ Tuy nhiên, việc rò rỉ tri thức còn mang lại tác động tích cực, đó là tác động tràn, lan tỏa tri thức ra cộng đồng
Với bản chất đại chúng trên của tri thức vai trò của chính phủ là: bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cho những người tạo ra tri thức; trực tiếp tham gia vào quá trình tạo ý tưởng và cung cấp đầu ra rộng rãi cho các công ty và doanh nghiệp; có chế độ trợ giá cho các công ty và cá nhân cũng như khuyến khích tạo ra tri thức riêng Tiếp theo, quá trình đổi mới luôn chứa đầy bất ổn về công nghệ và thị trường Có những nghiên cứu tốn rất nhiều thời gian và rủi ro và rất khó dự đoán được kết quả như nghiên cứu mã gen hay các nghiên cứu về dược phẩm, sức khỏe con người Chính phủ có thể thực hiện một số chính sách để trợ giúp vấn đề này: chính phủ tự nhận một số chương trình nghiên cứu và phát triển (R&D) rủi ro; hoặc hỗ trợ các công ty hợp tác trong những chương trình R&D rủi ro; trợ cấp R&D cho những
Trang 7công việc kinh doanh mạo hiểm để thu hút thêm các nhà đổi mới; gia hạn thời hạn bằng sáng chế của những đổi mới từ các nghiên cứu mạo hiểm để kéo dài thời gian công ty thu hồi các khoản đầu tư vào R&D
Hơn nữa, khi thực hiện đổi mới thì chỉ nghiên cứu và phát triển thôi là chưa đủ Trong một số trường hợp để thực hiện đổi mới còn cần sử dụng các tài sản bao gồm đường xá, điện, gas, nước và hệ thống truyền thông Trong một số trường hợp, những tài sản này đòi hỏi sự độc quyền tự nhiên của nhà nước vì quy mô hiệu quả tối thiểu để sản xuất những tài sản này bằng hoặc lớn hơn quy mô toàn thị trường Chính vì vậy chính phủ sẽ để một công ty chuyên cung cấp dịch vụ này hoặc tự mình cung cấp
Tiếp theo, là các yếu tố mạng lưới của một sản phẩm đổi mới sáng tạo, một loại công nghệ thể hiện ảnh hưởng của các yếu tố ngoài mạng lưới nếu càng nhiều người sử dụng, giá trị của công nghệ càng được nâng cao Một bất lợi của những công nghệ này là nếu một công nghệ tốt hơn ra đời nhưng lại có mạng lưới nhỏ hơn, người sử dụng có thể thích tiếp tục dùng công nghệ cũ vì sợ là người duy nhất chuyển sang công nghệ mới, và đánh mất ích lợi từ mạng lưới cũ Do đó, họ có thể tiếp tục giữ công nghệ cũ Nếu điều này tiếp diễn trong một thời gian dài, quốc gia
có thể mất đi lợi thế cạnh tranh vì công nghệ lỗi thời, lúc này hính phủ sẽ phải can thiệp để mở rộng mạng lưới cho các sản phẩm đổi mới, sáng tạo
Cuối cùng là chính trị, các sản phẩm đổi mới sáng tạo liên quan đến an toàn, an ninh quốc gia hay uy tín của quốc gia trên thế giới sẽ được chính phủ đầu tư, thúc đẩy và nghiêm ngặt giám sát
1.4 Một số hoạt động cơ bản của chính phủ trong đổi mới sáng tạo
Can thiệp của chính phủ có thể cần thiết ở một số giai đoạn nhất định trong một quy trình đổi mới Sự can thiệp này có thể ở dạng huy động vốn cho R&D, đóng vai trò như một người sử dụng tiêu biểu, cung cấp tài sản bổ sung, quy định hoạt động của công ty, đào tạo lực lượng lao động, duy trì các quy tắc cơ bản của kinh
tế vĩ mô và duy trì ổn định chính trị để thu hút đầu tư vào đổi mới
Trang 8
Chính phủ-môi trường cho đổi mới (Allan Afuah Quản trị quá trình đổi mới và sáng tạo)
Huy động vốn cho các chương trình R&D
Đối với một số hoạt động nghiên cứu và phát triển khi thực hiện có những khó khăn làm cản trở công ty thực hiện, lúc này chính phủ sẽ đầu tư vào hoạt đầu này
và cũng có thể sẽ thực hiện và cung cấp cho công ty Thông thường chính phủ sẽ tài trợ hai loại nghiên cứu và phát triển là nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng Nghiên cứu được phần lớn thực hiện tại các phòng thí nghiệm quốc gia, trường đại học Nguồn vốn của chính phủ cho các hoạt động nghiên cứu và phát triển không phải lúc nào cũng là hình thức trực tiếp, có khi nó được tài trợ gián tiếp thông qua chính sách giảm thuế, chính sách trợ giá của chính phủ, đảm bảo khoản vay, tính dụng xuất khẩu hoặc giá trần cho các doanh nghiệp mang tính biểu tượng của một quốc gia
Khi chính phủ tài trợ cho nghiên cứu và phát triển, chính phủ cũng đang đào tạo
ra nguồn nhân lực của mình với tri thức và kỹ năng cần có trong đổi mới Chi tiêu của chính phủ vào nghiên cứu và phát triển cũng khích lệ các công ty tư nhân đầu
tư vào các phát minh liên quan hoặc tiến hành hoạt động thương mại hoá Bằng cách tập trung vào những khu vực cụ thể, dự án nghiên cưu và phát triển của chính phủ có thể đạt được lợi thế quy mô luôn đi kèm với những dự án đầu tư lớn Cuối cùng, chính phủ có thể giảm đáng kể chi phí để công ty gia nhập một số thị trường
Trang 9nhất định Mặc dù mục tiêu của chính phủ khi đầu tư vào phát triển các dự án là tạo nên những đổi mới, sáng tạo hữu ích cho mọi người, nhưng trong quá trình thực hiện có dự án thành công, cũng có dự án thất bại, vì vậy cần các nhà hoạch định phải có những tính toán cẩn thận trước khi rót vốn vào bất kỳ dự án nào
Người sử dụng tiêu biểu
Vào đầu vòng đời đổi mới, có rất nhiều bất ổn về công nghệ và thị trường Nhà đổi mới có thể không chắc chắn liệu điều gì sẽ tạo thành sản phẩm và khách hàng muốn gì Nhiều khách hàng thậm chí cũng không biết họ muốn gì trong sản phẩm
Do đó, sự tương tác giữa nhà đổi mới và khách hàng là thực sự quan trọng để giúp khách hàng biết tới những khả năng và giúp nhà đổi mới tìm ra nhu cầu khách hàng Vì vậy một người sử dụng tiêu biểu thực sự quan trọng với đổi mới Họ là những người sử dụng có nhu cầu tương tự như nhu cầu của những người khác, trừ phi họ có những nhu cầu này hàng tháng hoặc hàng năm trước phần còn lại của thị trường và họ thu được lợi nhuận đáng kể khi nhu cầu của mình được đáp ứng sớm hơn lượng khách hàng còn lại Trong một số lĩnh vực quan trọng, chính phủ cần đổi mới sớm hơn so với cộng đồng, và sẵn sàng trả giá cao để đổi mới được thực hiện từ sớm Hơn thế nữa chính phủ, với tư cách người sử dụng tiêu biểu, luôn sẵn sàng phối hợp chặt chẽ với các công ty tư nhân để hướng phát minh thành đổi mới
Nhà cung cấp tài sản bổ sung đại chúng
Hệ thống giao thông hiện đại và cao cấp có thể khuyến khích đổi mới trong ngành công nghệp sản xuất Ô tô Phương tiện thông tin truyền thông tiên tiến không những tạo điều kiện thúc đẩy truyền đạt thông tin giữa các công ty và khách hàng trong nước mà còn kết nối họ với mạng lưới đối tác toàn cầu
Nhà quản lý
Khi một công ty thu được lợi nhuận từ sản phẩm/ ý tưởng đổi mới của mình, những
ý tưởng đó rất dễ bị sao chép vì vậy chính phủ lúc này phải có các chính sách quản
lí phù hợp hơ ban hành các quy định để bảo về sự độc quyền về các bằng phát minh, sáng chế Theo lập luận của Schumpeter “mong muốn có được sức mạnh thị trường thông qua bằng sáng chế là một động cơ lớn để các công ty đầu tư vào đổi mới” Chính phủ Trao cho một công ty đặc quyền độc quyền thông qua cấp bằng sáng chế nâng cao khả năng công ty sẽ quan tâm tới việc cấp bằng sáng chế ưu
Trang 10tiên, trong đó công ty đăng ký bản quyền sáng chế phát minh của mình, nhưng lại không thương mại hoá phát minh đó Do đó, công ty có thể ngăn cản các công ty khác cung cấp sản phẩm sử dụng sáng chế này Nếu sáng chế mang tính đột phá
về mặt kinh tế, trong đó công ty làm cho những sản phẩm hiện tại mất đi khả năng cạnh tranh, cấp bằng sáng chế ưu tiên cho phép công ty có thu được lợi nhuận độc quyền trong khi làm chậm lại tốc độ đổi mới Do đó, mặc dù đặc quyền độc quyền được cho là thúc đẩy đổi mới, các đặc quyền đó có thể gây ra trì trệ nếu không được quản lý tốt Chính vì vậy việc hạn chế độc quyền mà chỉnh phủ thường cố gắng kiểm soát lại vô hình tạo nên rào cản đổi mới
Một khía cạnh quản lý khác có thể ảnh hưởng tới đổi mới là chính sách định giá của chính phủ Các hình thức gồm có giá sàn, giá trần, thuế, hạn ngạch và trợ giá Giá sàn là mức giá công ty không thể định giá sản phẩm của công ty thấp hơn Khi muốn ngăn chặn bán phá giá từ công ty nước ngoài chính phủ có thể áp dụng mức giá sàn cho hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu vào nước mình Nhờ vào đó chính phủ
có thể đảm bảo cho công ty nội địa thu được lợi nhuận cao hơn khi giá sàn kết thúc Còn đối với giá trần, mức giá mà công ty không thể định giá sản phẩm của mình cao hơn Giá trần có thể được chính phủ quy định để giữ những chi phí nhất định
ở mức thấp Tuy nhiên, điều này có thể làm giảm lợi nhuận của người bán và cũng
là lợi nhuận của đổi mới Về thuế quan, chính phủ áp mức phí lên hàng nhập khẩu,
do đó làm tăng giá hàng nhập khẩu Điều này cho phép công ty địa phương nâng giá và thu được lợi nhuận cao hơn Thay vì áp dụng thuế quan, chính phủ có thể quyết định đặt ra số lượng hàng hoá được nhập khẩu từ một số nước ở mức nào đó hay còn gọi là hạn ngạch Mức độ được chọn phải đủ nhỏ để tổng lượng hàng bán
ra tại địa phương đủ thấp để đẩy giá lên cao Tác động lên giá địa phương và lợi ích của công ty địa phương cũng tương tự như trong trường hợp của thuế quan Sự khác biệt là với hạn ngạch, công ty nước ngoài cũng thu được nhiều lợi nhuận, trong khi người bị thiệt là chính phủ vì không thu được gì Cuối cùng, để duy trì lợi nhuận của công ty nội địa ở mức cao, chính phủ có thể áp dụng chính sách trợ giá Với mỗi lượng sản phẩm được bán ra, chính phủ trả cho công ty một lượng tiền nhất định, gọi là lượng trợ giá