1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BUỔI THẢO LUẬN THỨ BA vấn đề CHUNG của hợp ĐỒNG (TIẾP)

19 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Buổi Thảo Luận Thứ Ba Vấn Đề Chung Của Hợp Đồng (Tiếp)
Tác giả Đỗ Vân Anh, Lai Quỳnh Anh, Nguyễn Thị Vân Anh, Trần Huỳnh Anh, Trần Thị Tuyết Anh, Phùng Thị Bạch, Nguyễn Thị Trang Đài, Nguyễn Võ Thu Hà, Nguyễn Thanh Hải
Trường học Trường Đại Học Luật Tp. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Dân Sự
Thể loại thảo luận
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 359,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại phiên tòa cấp phúc thẩm đã giải quyết theo hướng công nhận hiệu lực của hợp đồng, các bên không phải làm thủ tục chuyển nhượng và bên chuyển nhượng được liên hệ cơ quan nhà nước có t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT DÂN SỰ

BUỔI THẢO LUẬN THỨ BA:

VẤN ĐỀ CHUNG CỦA HỢP ĐỒNG (TIẾP)

NHÓM 2 – DS46A1

Trang 2

Mục lục

Vấn đề 1: Hợp đồng vi phạm quy định về hình thức 4 1.1 Đoạn nào trong Bản án số 16 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập trước ngày BLDS 2015 có hiệu lực và chưa được công chứng, chứng thực? 5 1.2 Đoạn nào trong Bản án số 16 cho thấy Tòa án đã áp dụng Điều 129 BLDS 2015 cho hợp đồng chuyển nhượng dù hợp đồng được xác lập trước ngày BLDS 2015 có hiệu lực? 5 1.3 Việc Tòa án áp dụng Điều 129 BLDS 2015 trong trường hợp như trên có thuyết phục không? Vì sao? 5 1.4 Trong Bản án số 16, Tòa án áp dụng Điều 129 BLDS 2015 khi chỉ xác định Nguyên đơn thực hiện 2/3 nghĩa vụ có thuyết phục không? Vì sao? 6 1.5 Trong Bản án số 16, đoạn nào cho thấy, khi áp dụng Điều 129 BLDS, bên bán không cần phải làm thủ tục chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng được liên hệ

cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được công nhận quyền sử dụng đất theo bản án

đã có hiệu lực pháp luật? 6 1.6 Hướng giải quyết như nêu trên của Tòa án có thuyết phục không? Vì sao? 6 1.7 Đoạn nào trong Quyết định số 93 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền

sử dụng đất ngày 10/8/2009 chưa được công chứng, chứng thực? 7 1.8 Theo BLDS 2015, hệ quả pháp lý của việc hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu về hình thức 7 1.9 Đoạn nào trong Quyết định số 93 cho thấy Toà án đã áp dụng quy định về thời hiệu tại Điều 132 BLDS 2015 để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực? 8 1.10 Trong quyết định số 93, việc Toà án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền

sử dụng đất ngày 10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực có thuyết phục không? Vì sao? 8 Vấn đề 2: Đơn phương chấm dứt, hủy bỏ do không thực hiện đúng hợp đồng 8 2.1 Điểm giống nhau và khác nhau giữa hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng do có

vi phạm 9 2.2 Theo Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, hợp đồng vô hiệu hay bị huỷ bỏ? 10 2.3 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long (về huỷ bỏ hay vô hiệu hợp đồng) 10 2.4 Nếu hợp đồng bị vô hiệu thì có áp dụng phạt vi phạm hợp đồng không? Vì sao?

10

2.5 Hướng giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đối với câu hỏi trên như thế nào và suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết này của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long 11

Trang 3

2.6 Điểm giống nhau và khác nhau giữa đơn phương chấm dứt hợp đồng và hủy

bỏ hợp đồng do có vi phạm 11 2.7 Ông Minh có được quyền hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng nêu trên không?

Vì sao? Nếu có, nêu rõ văn bản cho phép hủy bỏ 12 Vấn đề 3: Đứng tên giùm mua bất động sản 13 3.1 Việc Tòa án nhân dân tối cao xác định nhà có tranh chấp do bà Tuệ bỏ tiền ra mua và nhờ ông Bình, bà Vân đứng tên hộ có thuyết phục không? Vì sao? 13 3.2 Ở thời điểm mua nhà trên, bà Tuệ có được đứng tên không? Vì sao? 14 3.3 Ở thời điểm hiện nay, bà Tuệ có được đứng tên mua nhà ở tại Việt Nam không?

14

3.4 Ngày nay, theo Tòa án nhân dân tối cao, bà Tuệ được công nhận quyền sở hữu nhà trên không? Hướng giải quyết này của Tòa án nhân dân tối cao đã có tiền lệ chưa?

15

3.5 Theo Tòa án nhân dân tối cao, phần giá trị chênh lệch giữa số tiền bà Tuệ bỏ ra và giá trị hiện tại của nhà đất có tranh chấp được xử lý như thế nào? 15 3.6 Hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tối cao đã có Án lệ chưa? Nếu có, nêu

Án lệ đó 16 3.7 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tối cao 16 Vấn đề 4: Tìm kiếm tài liệu 16 Yêu cầu 1: Liệt kê những bài viết liên quan đến pháp luật hợp đồng được công bố trên các Tạp chí chuyên ngành Luật từ đầu năm 2019 đến nay (ít nhất 20 bài viết) 16 Yêu cầu 2: Cho biết làm thế nào để biết được những bài viết trên 18

Trang 4

Vấn đề 1: Hợp đồng vi phạm quy định về hình thức

Tóm tắt Bản án số 16/2019/DS-PT ngày 19/3/2019 về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Nguyên đơn: Ông M và bà N

Bị đơn: Ông C và bà L

Ông Võ Sĩ M, bà Phùng Thị N có quan hệ họ hàng với ông Đoàn C, bà Trần Thị L

Năm 2009 ông C và bà L cần tiền làm nhà cho con trai là anh Đoàn Tấn L1 nên thỏa thuận và lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cụ thể là lô B cho Ông M, bà

N với giá 90.000.000 đồng Ông M và bà N đã trả đủ 90.000.000 đồng cho bị đơn

Đến năm 2011, Nhà nước đã chỉ mốc giới vị trí đất cấp cho bị đơn là 03 lô đất liền kề ở mặt tiền, ông C và bà L và anh Đoàn Tấn L1 yêu cầu phía nguyên đơn đưa thêm 30.000.000 đồng vì giá đất mặt tiền cao hơn, ông M và bà N đồng ý đưa tiếp 20.000.000 đồng, còn 10.000.000 đồng khi nào làm thủ tục chuyển nhượng xong thì đưa đủ Lúc này

bị đơn đã chỉ vị trí cũng như mốc giới thửa đất chuyển nhượng cho phía ông M

Trong quá trình chờ làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thì vào ngày 05/06/2014 ông M có cho bà Nguyễn Thị M1 thuê diện tích đất này làm mặt bằng buôn bán và không ai có ý kiến gì

Đến tháng 10/2016 Nhà nước mới cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn, nhưng phía bị đơn và anh Đoàn Tấn L1 chỉ đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất cho nguyên đơn nhưng không làm thủ tục chuyển nhượng cho nguyên đơn, hiện nay nguyên đơn đã xây móng đá chẻ trên thửa 877 Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải làm thủ tục chuyển nhượng cho nguyên đơn

Tại phiên tòa cấp phúc thẩm đã giải quyết theo hướng công nhận hiệu lực của hợp đồng, các bên không phải làm thủ tục chuyển nhượng và bên chuyển nhượng được liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được công nhận quyền sử dụng đất theo bản án đã có hiệu lực của pháp luật

Tóm tắt Quyết định số 93/2018/DS-GĐT ngày 29/11/2018 về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Nguyên đơn: Võ Sĩ Mến, Phùng Thị Mến

Bị đơn: Đoàn Cưu, Trần Thị Lắm

Ngày 10/08/2009, vợ chồng ông Cưu, bà Lắm có thống nhất thỏa thuận chuyển nhượng cho ông Cưu, bà Lắm một lô B (tự chọn) khi được Nhà nước giao đất, với giá 90 triệu đồng, diện tích 5 x 20m Ông Mến, bà Nhiễm giao đủ số tiền trên, tuy nhiên sau đó đổi ý lấy khu A nên giao thêm 30 triệu đồng, trong đó đưa 20 triệu trước còn 10 triệu thì đợi khi có sổ sang tên sẽ giao sau Tuy nhiên, hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông Cưu, bà Lắm và ông Mến, bà Nhiễm không được công chứng, chứng thực nên vi phạm về hình thức Nhưng trong thời hạn 02 năm kể từ ngày hợp đồng chuyển nhượng được xác lập, ông Cưu, bà Lắm không yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu mà đợi đến khi ông Mến, bà Nhiễm khởi kiện 18/04/2017 mới yêu cầu Như vậy, yêu cầu của ông Mến, bà Nhiễm đã quá thời hạn 02 năm dựa theo khoản 1, điều 132, BLDS 2015 Kết hợp với khoản 2, điều 132 BLDS 2015 thì hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông Mến, bà Nhiễm

và ông Cưu, bà Lắm có hiệu lực

Trang 5

1.1 Đoạn nào trong Bản án số 16 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập trước ngày BLDS 2015 có hiệu lực và chưa được công chứng, chứng thực?

Đoạn trong Bản án số 16 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực là: “Về thời hạn thực hiện giao dịch được hai bên xác định là từ khi xác lập giao dịch cho đến khi phía bị đơn thực hiện xong nghĩa vụ sang tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn, nên đây là giao dịch đang được thực hiện.” Mà thời điểm xác lập giao dịch theo như bản án là vào ngày 10/8/2009 nguyên đơn ông M, bà N cùng phía bị đơn ông C, bà L và anh Đoàn Tấn L1 thỏa thuận và lập “Giấy chuyển nhượng đất thổ cư” (Bút lục 27), cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực Đoạn trong Bản án số 16 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chưa được công chứng, chứng thực là: “Như vậy, tuy thời điểm các bên thỏa thuận việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì phía bị đơn chưa được cấp đất nên chỉ lập giấy viết tay thể hiện nội dung thỏa thuận, nhưng khi được cấp đất các bên đã thay đổi thỏa thuận bằng lời nói thành chuyển nhượng thửa 877 và tiếp tục thực hiện hợp đồng bằng việc giao thêm tiền, giao đất, giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thời điểm giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang đứng tên bị đơn là đã đủ điều kiện để chuyển nhượng.”

1.2 Đoạn nào trong Bản án số 16 cho thấy Tòa án đã áp dụng Điều 129 BLDS

2015 cho hợp đồng chuyển nhượng dù hợp đồng được xác lập trước ngày BLDS 2015 có hiệu lực?

Đoạn trong Bản án số 16 cho thấy Toà án đã áp dụng Điều 129 BLDS 2015 cho hợp đồng chuyển nhượng dù hợp đồng được xác lập trước ngày BLDS năm 2015 có hiệu lực là:

“Theo quy định tại Điều 116, khoản 2 Điều 129 Bộ luật dân sự năm 2015 thì tuy giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các bên không tuân thủ về hình thức được quy định tại khoản 1 Điều 502 Bộ luật dân sự năm 2015 nhưng bên nguyên đơn đã thực hiện giao cho phía bị đơn 110.000.000 đồng, phía bị đơn đã giao quyền sử dụng đất cho nguyên đơn là đã thực hiện hơn 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch nên giao dịch được công nhận hiệu lực.”

1.3 Việc Tòa án áp dụng Điều 129 BLDS 2015 trong trường hợp như trên có thuyết phục không? Vì sao?

- Việc Tòa án áp dụng Điều 129 BLDS 2015 là thuyết phục

- Vì theo khoản 2 Điều 129 BLDS 2015: “Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên

đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực.” Ở đây bên nguyên đơn đã thực hiện giao cho phía bị đơn 110.000.000 đồng, phía bị đơn đã giao quyền sử dụng đất cho nguyên đơn là đã thực hiện hơn 2/3 nghĩa vụ trong giao dịch và trước đó giao dịch cũng được xác lập bằng văn bản, cụ thể là hai bên thỏa thuận và lập

“Giấy chuyển nhượng đất thổ cư” (Bút lục 27), nên hoàn toàn thỏa mãn các điều kiện của Điều 129 BLDS 2015 Thêm nữa ở đây khi xác lập hợp đồng thì ý chí của các bên đều hướng về một mục đích là đạt được sự thỏa thuận mà sự thỏa thuận đó có sự thống nhất

Trang 6

về ý chí, sự tự nguyện về quyền và nghĩa vụ của họ nên được Tòa án công nhận giao dịch

có hiệu lực, vì thế quyết định của Tòa án là hoàn toàn có căn cứ và hợp pháp

Trong thực tiễn xét xử, TAND các cấp có quan điểm khác nhau về việc áp dụng pháp luật nội dung khi giải quyết tranh chấp Theo nhóm em, trong trường hợp này, Tòa án áp dụng quy định của BLDS 2015 để giải quyết vụ án là hoàn toàn thuyết phục và hợp lý bởi tại khoản 3 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định: “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của quy phạm pháp luật ban hành sau” Cả hai BLDS 2005 và BLDS 2015 đều do cùng cơ quan ban hành là Quốc hội, có quy định khác nhau về cùng một vấn đề, giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định điều kiện về hình thức (Điều 134 BLDS 2005 tương ứng Điều 129 BLDS 2015) nên cần áp dụng văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau là BLDS 2015 và phải xác định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đó có hiệu lực pháp luật do một bên đã thực hiện ít nhất 2/3 nghĩa vụ của mình; các bên không phải làm thủ tục chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng được quyền liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được công nhận quyền sử dụng đất theo bản án đã có hiệu lực pháp luật

1.4 Trong Bản án số 16, Tòa án áp dụng Điều 129 BLDS 2015 khi chỉ xác định Nguyên đơn thực hiện 2/3 nghĩa vụ có thuyết phục không? Vì sao?

Trong Bản án số 16, khi chỉ xác định Nguyên đơn thực hiện 2/3 nghĩa vụ thì Tòa án đã áp dụng Điều 129 BLDS 2015 là thuyết phục

Vì theo khoản 2 Điều 129 BLDS 2015 thì tuy giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất của các bên không tuân thủ về hình thức được quy định tại khoản 1 Điều 502 BLDS

2015 nhưng bên nguyên đơn đã thực hiện giao cho phía bị đơn 110.000.000 đồng trên tổng số tiền theo thỏa thuận là 120.000.000 tức là đã hơn 2/3, nên việc Tòa án áp dụng Điều 129 để xem xét nguyên đơn đã thực hiện 2/3 nghĩa vụ là hợp lý

1.5 Trong Bản án số 16, đoạn nào cho thấy, khi áp dụng Điều 129 BLDS, bên bán không cần phải làm thủ tục chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng được liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được công nhận quyền sử dụng đất theo bản án đã có hiệu lực pháp luật?

Trong Bản án số 16, đoạn cho thấy khi áp dụng Điều 129 BLDS, bên bán không cần phải làm thủ tục chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng được liên hệ cơ quan Nhà nước

có thẩm quyền để được công nhận quyền sử dụng đất theo bản án đã có hiệu lực pháp luật là: “Tòa án cấp sơ thẩm công nhận hiệu lực của giao dịch là đúng pháp luật nhưng buộc bị đơn phải làm thủ tục chuyển nhượng thửa 877 cho nguyên đơn là không cần thiết, khi Tòa án công nhận hiệu lực của giao dịch thì nguyên đơn liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được công nhận quyền sử dụng đất theo bản án đã có hiệu lực pháp luật.”

1.6 Hướng giải quyết như nêu trên của Tòa án có thuyết phục không? Vì sao?

Theo em thì hướng giải quyết như trên của Tòa án chưa thật sự thuyết phục Vì trong Bản

án trên Tòa án dựa vào khoản 2 Điều 129 BLDS 2015 để xem xét việc Nguyên đơn đã thực hiện hơn 2/3 nghĩa vụ (đưa cho bị đơn 110.000.000 trên tổng 120.000.000) để công nhận hiệu lực của giao dịch mặc dù nó vi phạm về mặt hình thức Nhưng trong khoản 2 Điều 129 BLDS 2015 có đề cập đến việc “Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực,…” qua đó có thể thấy

Trang 7

luật đang đề cập đến giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản, nhưng trong bản án trên thì khi các bên liên quan lập thỏa thuận là “Giấy chuyển nhượng đất thổ cư” thì trên văn bản chỉ đề cặp đến việc bị đơn chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho nguyên đơn là một lô đất thuộc lô B, nhưng trên thực tế thì bị đơn không được Nhà nước cấp cho lô đất thuộc lô B như đã thỏa thuận, nên hai bên đã thỏa thuận chuyển thành lô A và nguyên đơn trả thêm tiền Vì vậy việc hai bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất của lô đất thuộc

lô A không được ghi vào “Giấy chuyển nhượng đất thổ cư” cũng như không được xác lập bằng văn bản Nên việc Tòa án áp dụng khoản 2 Điều 129 để xem xét và công nhận hiệu lực của giao dịch chưa thuyết phục

1.7 Đoạn nào trong Quyết định số 93 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền

sử dụng đất ngày 10/8/2009 chưa được công chứng, chứng thực?

Đoạn trong Quyết định số 93 cho thấy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 chưa được công chứng, chứng thực: “Về hình thức của hợp đồng: Đối với các giao dịch dân sự được xác lập trước ngày 01-01-2017, thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 (điểm d khoản 1 Điều 688 BLDS 2015) Giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10-8-2009 giữa vợ chồng ông Cưu, bà Lắm với

vợ chồng ông Mến, bà Nhiễm không được công chứng, chứng thực là vi phạm về hình thức”

1.8 Theo BLDS 2015, hệ quả pháp lý của việc hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên

bố hợp đồng vô hiệu về hình thức

“Điều 132 Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu

1 Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu quy định tại các Điều 125,

126, 127, 128 và 129 của Bộ luật này là 02 năm, kể từ ngày:

a) Người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người

có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự biết hoặc phải biết người được đại diện tự mình xác lập, thực hiện giao dịch;

b) Người bị nhầm lẫn, bị lừa dối biết hoặc phải biết giao dịch được xác lập do bị nhầm lẫn, do bị lừa dối;

c) Người có hành vi đe dọa, cưỡng ép chấm dứt hành vi đe dọa, cưỡng ép;

d) Người không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình xác lập giao dịch;

đ) Giao dịch dân sự được xác lập trong trường hợp giao dịch dân sự không tuân thủ quy định về hình thức

2 Hết thời hiệu quy định tại khoản 1 Điều này mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì giao dịch dân sự có hiệu lực.”

Như vậy, căn cứ theo khoản 1 điều 132 BLDS 2015 thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu là 02 năm kể từ ngày luật quy định (cụ thể dựa vào các điểm a,

b, c, d, đ) Nếu sau thời hiệu 02 năm mà không có yêu cầu tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu thì dựa vào khoản 2 ở điều này thì giao dịch dân sự đó sẽ có hiệu lực Hệ quả pháp

lý của việc hết thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu về hình thức là giao dịch dân sự đó có hiệu lực

Trang 8

1.9 Đoạn nào trong Quyết định số 93 cho thấy Toà án đã áp dụng quy định về thời hiệu tại Điều 132 BLDS 2015 để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực?

Đoạn trong Quyết định số 93 cho thấy Tòa án đã áp dụng quy định về thời hiệu tại Điều

132 BLDS 2015 để công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực:

“Giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 10/08/2009 giữa vợ chồng ông Cưu, bà Lắm với vợ chồng ông Mến, bà Nhiễm không được công chứng, chứng thực là vi phạm về hình thức Tuy nhiên, từ khi xác lập hợp đồng đến ngày nguyên đơn khởi kiện 18/04/2017, đã quá thời hạn hai năm, bị đơn không yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu theo quy định tại khoản 1 Điều 132 Bộ luật dân sự 2015 Do đó, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên có hiệu lực theo khoản 2 Điều 132 Bộ luật Dân sự 2015.”

1.10 Trong quyết định số 93, việc Toà án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực có thuyết phục không? Vì sao?

Trong quyết định số 93, việc Toà án công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/8/2009 dù chưa được công chứng, chứng thực có thuyết phục

Bởi vì:

Căn cứ theo khoản 1, điều 132 BLDS 2015 thì thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu là 02 năm Tuy nhiên, vào ngày 10/08/2009 ông Cưu, bà Lắm viết giấy thỏa thuận chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông Mến, bà Nhiễm; thì 02 năm sau đó

vợ chồng ông Cưu, bà Lắm không yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu mà đợi đến khi ông Mến, bà Nhiễm khởi kiện 18/04/2017 vì 2 ông bà không thực hiện nghĩa

vụ sang tên quyền sử dụng đất cho ông Mến, bà Nhiễm thì lúc này ông bà mới yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu Thì dựa vào khoản 1, điều 132 BLDS 2015, yêu cầu của ông Cưu, bà Lắm không được thực hiện vì đã quá thời hiệu yêu cầu là 02 năm Như vậy, từ khi xác lập hợp đồng đến ngày nguyên đơn là ông Mến, bà Nhiễm khởi kiện, ông Cưu, bà Lắm không yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu nên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên có hiệu lực theo khoản 2, điều 132, BLDS 2015

Vấn đề 2: Đơn phương chấm dứt, hủy bỏ do không thực hiện đúng hợp đồng

Tóm tắt bản án số 06/2017/KDTM-PT ngày 26/5/2017 về việc tranh chấp hợp đồng mua bán

Nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Đông Phong Cần Thơ (giải thể)

Bị đơn là bà Nguyễn Thị Dệt

Ngày 26/5/2012 công ty có lập hợp đồng mua bán xe với bà Dệt, nhưng hợp đồng này vô hiệu theo quy định tại Điều 122 BLDS 2005 nên không có căn cứ tuyên huỷ hợp đồng Hợp đồng ghi bên mua là “Trang trí nội thất Thanh Thảo”, nhưng bà Dệt không phải là người đại diện bên này mà do ông Trương Hoàn Thành làm Giám đốc đại diện Mặc khác, đại diện mua là bà Dệt nhưng đứng ra giao dịch ký kết lại là ông Trương Văn Liêm Toà không chấp nhận yêu cầu sửa bản án sơ thẩm số 05/2016/KDTM-ST của nguyên đơn

và bị đơn, tuyên vô hiệu hợp đồng mua bán xe ô tô giữa giữa công ty Đông Phong và ông Trương văn Liêm, kiến nghị Công an tỉnh Vĩnh Longthu hồi giấy đăng ký xe ô tô cho bà

Trang 9

Dệt đứng tên còn chiếc ô tô do Công ty Đông Phong tiếp tục quản lý để thực hiện các quy định về doanh nghiệp giải thể

2.1 Điểm giống nhau và khác nhau giữa hợp đồng vô hiệu và hủy bỏ hợp đồng

do có vi phạm

Giống nhau :

- Đều là những hình thức chấm dứt hợp đồng đang được thực hiện

- Hậu quả là các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận

- Có thể phát sinh bồi thường và bên có lỗi gây thiệt hại sẽ phải bồi thường cho bên còn lại

Khác nhau:

phạm

Bản chất Hợp đồng vô hiệu là hợp đồng có

sự vi phạm một trong các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng

Huỷ bỏ hợp đồng do có vi phạm

là khi một trong hợp đồng vi phạm các điều khoản có trong hợp đồng hoặc một bên yêu cầu huỷ hợp đồng

Cơ sở pháp lý Điều 407 Bộ luật dân sự 2015 Điều 423 Bộ luật dân sự 2015 Điều kiện chấm dứt Hợp đồng vô hiệu do vi phạm một

trong các trường hợp sau:

Không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều

117 BLDS 2015;

Do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội;

Do giả tạo;

Do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân

sự, người hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện;

Do nhầm lẫn;

Do bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép;

Do người xác lập không nhận thức và làm chủ hành vi của mình;

Do không tuân thủ quy định về hình thức;

Do có đối tượng không thể thực

Vi phạm điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thỏa thuận;

Vi phạm nghiêm trọng nghĩa

vụ hợp đồng;

Trường hợp khác do pháp luật quy định

(Điều 423 Bộ luật dân sự 2015)

Trang 10

hiện được.

(Điều 122, Điều 407, Điều 408 BLDS 2015)

Tính chất Hợp đồng không có giá trị pháp

lý Chưa bao giờ phát sinh quyền

và nghĩa vụ giữa các bên

Hợp đồng có hiệu lực tại thời điểm giao kết Nhưng khi các bên tuyên huỷ thì hợp đồng chấm dứt

từ lúc ký kết

Hậu quả pháp lý Khôi phục lại tình trạng ban đầu,

hoàn trả lại cho nhau những gì đã nhận

(Điều 131 BLDS 2015)

Các bên hoàn trả cho nhau những

gì đã nhận sau khi trừ chi phí hợp

lý trong hợp đồng và chi phí bảo quản, phát triển tài sản

Trường hợp các bên có nghĩa vụ hoàn trả thì phải được thực hiện cùng một thời điểm, trừ trường hợp có thoả thuận hay quy định khác

(Điều 427 BLDS 2015)

Trách nhiệm

bồi thường

Bên có lỗi gây thiệt hại có trách nhiệm bồi thường (một trong các bên trong hợp đồng, có thể là người thứ ba)

(Điều 131 BLDS 2015)

Bên bị thiệt hại do hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên kia được bồi thường

(Điều 427 BLDS 2015)

Thẩm quyền quyết định Toà án hoặc Trọng tài Một trong các bên Toà án hoặc

Trọng tài

2.2 Theo Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, hợp đồng vô hiệu hay bị huỷ bỏ?

Theo Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long, Toà căn cứ vào Điều 122 Bộ luật dân sự 2005 tuyên bố hợp đồng vô hiệu

Đoạn cho thấy điều đó: “Xét hợp đồng mua bán xe ngày 26/5/2012 nêu trên là vô hiệu theo quy định tại các Điều 122 Bộ Luật dân sự nên không có căn cứ tuyên huỷ hợp đồng”

2.3 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Long (về huỷ bỏ hay vô hiệu hợp đồng)

Hướng giải quyết trên của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long về vô hiệu hợp đồng là hợp

Đầu tiên, bà Dệt không phải là đại diện của Trang trí nội thất Thanh Thảo mà phải do Trương Hoàng Thành là đại diện

Thứ hai, bên mua là bà Dệt nhưng đứng ra ký kết lại là ông Liêm là không đúng thẩm quyền Đây là trường hợp vi phạm về chủ thể nên hợp đồng bị vô hiệu

2.4 Nếu hợp đồng bị vô hiệu thì có áp dụng phạt vi phạm hợp đồng không? Vì sao?

Ngày đăng: 23/12/2023, 22:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w