Với một bản sắc văn hóa độc đáo, người Việt Nam cần tìm hiểu và khai thác những đặc trưng văn hóa đồng thời bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống có bề dày lịch sử của nướ
Trang 1BÀI TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
MÔN: CƠ SỞ VĂN HOÁ VIỆT NAM
1 Lê Kim Thảo Vy 197QC04511
2 Nguyễn Hoàng Bảo Trân 197QC17360
3 Bùi Nguyễn Anh Kiệt 197QC03273
4 Châu Hồng Hải 197QC03102
5 Phạm Võ Khánh Ngân 197QC03505
6 Nguyễn Phương Nam 197QC03458
7 Phạm Uyên Đoan Thư 197QC27587
8 Vũ Mai Thuỳ Trang 197QC04250
Trang 2Ê Đê là một trong 54 dân tộc của Việt Nam, là một dân tộc có vùng cư trú làmiền trung Việt Nam Dân cư Ê Đê đa phần cư trú ở tỉnh Đắk Lắk, phía namcủa tỉnh Gia Lai
và miền tây của hai tỉnh Khánh Hòa và Phú Yên của Việt Nam Người Ê Đê
có kho tàng văn học truyền miệng phong phú: thần thoại cổ tích ca dao tục , , ,
ngữ, Nền văn hóa Ê Đê có đóng góp không nhỏ vào kho tàng văn hóa Việt Nam Với một bản sắc văn hóa độc đáo, người Việt Nam cần tìm hiểu và khai thác những đặc trưng văn hóa đồng thời bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống có bề dày lịch sử của nước Việt ta
II.ĐỊA BÀN CƯ TRÚ&DÂN SỐ:
1 Địa bàn cư trú:
Người Ê Đê là một dân tộc có vùng cư trú là miền Trung Việt Nam, đôngbắc Campuchia, nam Lào và đông Thái Lan Bên cạnh đó còn sống ở đa sốcác nước trên Thế Giới như Hoa Kì, Canada, Pháp, Phần Lan, Thụy Điển…
Trong đó miền trung cao nguyên của Việt Nam là quê hương bản địa lâu đờicủa người Ê Đê Đây là nhóm dân tộc có nguồn gốc từ nhóm tộc người nóitiếng Mã Lai từ các hải đảo Thái Bình Dương đã có mặt lâu đời ở ĐôngDương; truyền thống dân tộc vẫn mang đậm nét mẫu hệ thể hiện dấu vết hải
Trang 3Ma Thuột, Krông Ana, Krông Pač, Č Mgar Là ngôn ngữ chuẩn cóư
chữ viết của người Ê-đê
Ê Đê Adham: xuất phát từ chữ Ân-Độ là Adaham có nghĩa là vùngtrũng đệm, pha tạp Êđê Adham cư trú tại huyện Krông Buk, Čư
Mgar, Thị xã Buôn Hồ, Krông H-Nang và một phần Êa Hleo của tỉnhDak Lak
Ê Đê Mdhur: xuất phát từ chữ Ân-Đô là Madahura có nghĩa là vùngcằn cỗi, vùng đất thấp Êđê Mdhur cư trú tại huyện Mdrak của phíađông tỉnh Dak Lak, Sông Hinh của tỉnh Phú Yên
Ê Đê Bih: là nhóm Rang Đê cổ nhất bảo lưu nhiều dấu vết cổ quangôn ngữ, ÊĐê Bih có truyền thống làm gốm, dệt chiếu, trồng lúanước Họ Cư trú ven sông Krông Ana, sông Krong Kno của tỉnh ĐakNông
Ê Đê Krung: xuất phát từ chữ Kurung trong ngôn ngữ Rang Đê cổ,Khi vua Chế Mân, Chế Bồng Nga mộ lính đi đánh giặc họ tự gọi cácthủ lĩnh đó là Kurung hay Krung Cư trú chủ yếu tại huyện Êa Hleo,Krong Buk của tỉnh Dak Lak
Ngoài ra còn có các nhóm địa phương nhỏ khác: Blo, Dongmak, Hwing
Nhưng hầu như người Ê đê không có sự khác biết lớn giữa các nhóm địaphương Người Ê Đê là nhóm dân tộc có xu hướng thống nhất ý thức tộcngười, biểu hiện rõ nét nhất là ranh giới khác biệt giữa các nhóm địa phươngtồn tại trước kia thì ngày nay đã hoàn toàn bị xóa bỏ bằng việc thống nhất
tôn giáo ngôn ngữ, và chữ viết và người Ê Đê tự gọi họ là Anak Đê đọc
Trang 42 Dân số:
Theo tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Ê Đê ở Việt Nam códân số 331.194 người), xếp thứ 12 về số lượng trong cộng đồng các dân tộcViệt Nam (theo vov5.vn), cư trú tại 59 trên tổng số 63 tỉnh và thành phố
Người Ê Đê cư trú tập trung tại tỉnh:
Đak Lăk (298.534 người, chiếm 17,2% dân số toàn tỉnh và 90,1%
tổng số người Ê Đê tại Việt Nam),
III CỘI NGUỒN LỊCH SỬ - XÃ HỘI CỦA NGƯỜI DÂN Ê ĐÊ
Người Ê ĐÊ là một tộc người sống rải rác trên thế giới, có mặt ở các quốcgia như Việt Nam, Thái Lan, Campuchia, Hoa Kỳ, Canada và các nước Bắc
Âu Tại Việt Nam người Ê Đê được công nhận trong số 54 dân tộc tại ViệtNam Họ thuộc nhóm ngữ hệ Mã Lai – Đa Đảo Ở khu vực Đông Nam Á,người Ê đê đã sớm xuất hiện và cùng các tộc người khác tồn tại cà phát triển
ở khu vực này Có nhiều giả thiết về nguồn gốc di dân của họ:
Đây là truyền thuyết khá phổ biến ở cư dân bản địa Đông Nam Á để giải thích nguồn gốc cội nguồn:
Truyền thuyết của người Êđê kể lại rằng: Một người thủ lĩnh (Krung) từ Ấn Độ tên
là Kudaya (Đê) đến xứ sở của công chúa mẹ Xứ Sở tên là Nagar (Gar) Kudaya đãchinh phuc được xứ sở của Nagar sau đó kết hôn với công Chúa mẹ Xứ sở Nagarđựoc phong làm Krung Con cháu hâu duệ của họ được gọi là Anak Kudaya Nagar
Trang 5sau này rút gọn âm lại thành Anak Đê Ga có nghĩa là con cháu của thủ lĩnh Ấn ĐộKudaya (Đê) với Công Chúa xứ sở Nagar (Gar) Đây là truyền thuyết khá phổ biến
ở cư dân bản địa Đông Nam Á để giải thích nguồn gốc cội nguồn
Truyền thuyết khác:
Người Ê Đê cho rằng vị thần cao nhất của họ là Aê Diê nghĩa là Thượng Đế, trongmột cuộc chiến với con Rồng thì Aê Diê đã giết được con Rồng, đốt cháy nó trênđất, sau đó xác của Rồng cháy thành đất màu đỏ, từ đó Aê Diê cho con cái mìnhsinh sống và làm chủ đất đai màu mỡ đó Vì vậy người Ê Đê tự gọi mình là Anak
Aê Diê (có nghĩa là những đứa con của thượng đế), sau này đọc lệch đi là Anak Ê
Đê (Người Ê Đê kiêng đọc đúng tên thần linh) Trong bia ký Champa tại Tháp PôYang Ana Gar đã ghi chép sự xuất hiện của tộc danh Orang Đêy tại vùng Êa Trang(Nha Trang) từ rất sớm khoảng thế kỷ thứ 8, Orang Đêy biến âm sau này thành Ra
Đê, Ra Đêy hay Ê Đê Trước năm 1975, tại miền Nam Việt Nam người Ê Đê đượcgọi là Ra Đê Đối với người Ê Đê họ còn tự gọi cộng đồng họ nữa là Đêgar hayĐêga trong cụm từ Anak Đêgar (Người Con của Núi Rừng)
Một giả thiết khác được nhiều người ủng hộ nhất xung quanh nguồn gốc của nhóm
Mã Lai – Đa Đảo ơ Việt Nam cho rằng:
Họ có nguồn gốc hải đảo hoặc ven biển Quảng Đông, Trung Quốc xuống vùngĐông Nam Á, trong đó có người Orang Đê cổ, các nhà nghiên cứu cho rằng cái tênnày về sau biến âm thanh Ra-Đê, Ra-Đêy hay Ê-đê Tại vùng địa lý là Việt Namhiẹn nay, sự di cư của người Hindus đến tả ngạn sông Mê Kông đã khiến người MãLai – Đa đảo đã dần di chuyển đại bản sinh sống lên vùng núi Trường Sơn Tiếp
Trang 6theo, đến khoảng cuối thế kỷ XIII, quân Mông Cổ tấn công vào Đại Việt cộng với
sự di cư vào phía Nam của người Việt đa đẩy những người Orang Đê cổ lên vùngnúi cao hơn và hình thành các dân tộc ít người ở đây, trong đó ó người Ê đê Đâyđược xem là giả thiết được nhiều người ủng hộ nhất xung quanh nguồn gốc củanhóm Mã Lai – Đa Đảo ơ Việt Nam
Lịch sử:
Người Ê Đê là cư dân đã có mặt lâu đời ở miền trung Tây nguyên Dấu vết vềnguồn gốc hải đảo của dân tộc Ê Đê đã phản ánh lên từ các sử thi và trong nghệthuật kiến trúc, nghệ thuật tạo hình dân gian Cho đến nay, cộng đồng Ê Đê vẫncòn là một xã hội đang tồn tại những truyền thống đậm nét mẫu hệ ở nước ta
IV ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA TINH THẦN:
Văn hóa tinh thần bao gồm các tư tưởng, giá trí tinh thần, những lý luận mà conngười sáng tạo ra trong quá trình sinh sống Văn hóa tinh thần được tạo ra nhằmphục vụ cho các hoạt động tinh thần với những nguyên tắc, tiêu chí có tác động chiphối các hoạt động của con người, các hoạt động tinh thần như ứng xử, kĩ năng, trithức, giá trị khoa học nghệ thuật Văn hóa tinh thần cũng là thị hiếu, nhu cầu vềtinh thần và cách thỏa mãn nhu cầu đó
1 Văn hóa cồng chiêng:
Với đồng bào dân tộc Tây Nguyên nói chung cũng như dân tộc Ê Đê noia riêng,cồng chiêng là báu vật, thứ báu vật gắn với lịch sử của cả một đời người Côngchiêng Tây Nguyên không chỉ có sự hấp dẫn đặc biệt ở sự đa dạng độc đáo bởi kỹthuật diễn tấu mà còn là biểu tượng cho đời sống các tộc người, là nhân tố gắn kếtgiữa quá khứ, hiện tại và tương lai của cộng đồng
Trang 7Chiêng của người Ê Đê: Vang xa như khác vọng Đam San
Vai trò của Cồng Chiêng mang một sức mạnh to lớn ảnh hưởng mạnh mẽ đến đờisống sinh hoạt của các thế hệ người Ê đê Tước đây gia đình nào ở Tây Nguyêncũng có cồng chiêng Đồng bào Tây Nguyên coi cồng chiêng như là sức mạnh vậtchất, sự giàu có của cá nhân, gia đình, dòng họ và buôn làng Cồng Chiêng lànhững tài sản quý giá của ông bà tổ tiên để lại, có những bộ cồng chiêng quý phảiđổi vài chục con trâu, mấy con voi mới có được Bởi vậy Chiêng là tài sản quýhiếm được lưu giữ và truyền từ đời này sang đời khác, ăn sâu vào đời sống tâmlinh của người dân tộc Ê đê
Tiếng chiêng Ê Đê có âm thanh chắc, khỏe, dồn dập, ngân và vang xa như khátvọng của chàng Đam san chinh phục Nữ thần Mặt Trời Trong những nhạc cụ cổtruyền của người Ê Đê dàn chiêng được đông bào xem trọng hơn cả bởi tiếngchiêng gắn bó với đời sống con người từ khi chào đời cho đến khi về với tự nhiên
Chiêng Ê Đê mang đậm tính tiết tấu mặc dù những yếu tố còn lại như giai điệu,hòa thanh… vẫn không bị lấn át Tiết tấu chiêng Ê Đê rất nhanh, dồn dập, sôi nổi
Trang 8như tác reo như gió thổi Đòi hỏi trình độ tiết tâu của nghệ nhân phải rất điêu luyệnmới có thể cùng hòa tấu được Âm thanh dàn chiêng Ê Đê vang xa và mạnh mẽ.
Họ tin rằng mỗi khi vang lên âm thanh của Cồng Chiêng có thể giúp con ngườithông tin trực tiếp đến các đấng thần linh, là chiếc cầu nối giữa các thành viêntrong cộng đồng từ lúc cất tiếng khóc chào đời con người đã nghe tiếng chiêngtrống Khi lớn lên dựng vợ gả chồng tiếng chiêng lại rộn ràng trong ngày vui hạnhphúc Và để có lời với tổ tiên thì cũng có tiếng chiêng, tiếng cồng Cồng chiêngkhông được sử dụng một cách bừa bãi mà chỉ được sử dụng trong các nghi lễ, lễhội của gia đình và buôn làng cho những dịp tiếp khách quý theo quan niệm tínngưỡng của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên thì tiếng chiêng cũng có hồn Do đócon người phải tôn trọng quý mến thờ cúng thần chiêu, thì thần chiêng mới cho âmthanh hay trong trẻo và giúp cho con người giày sang, khỏe mạnh, ấm no, hạnhphúc
2.Văn hóa lễ hội.
Có nhiều lễ hội gắn liền với sản xuất nông nghiệp (Lễ gặt lúa, lễ xuống giống,cúng vía trâu, bò, …) và đời sống cả vật chất lẫn tinh thần (Lễ cầu sức khỏe, vừa
có tính chất tâm linh vừa mang tính thực tiễn Những lễ hội được người dân trântrọng, gìn giữ và lưu truyền qua nhiều thế hệ
Trang 9Tuy nhiên, một số lễ hội tuy rất tốn kém về thời gian và tiền bạc như Lễ hội đâmtrâu nhưng đối với người Tây Nguyên nói chung và người Ê-đê nói riêng, con trâu
là biểu tượng cho sự thịnh vượng và sức mạnh của cộng đồng Vì vậy, trâu thườngđược đồng bào sử dụng làm vật tế thần linh Đâm trâu là một trong lễ tế long trọngnhất trong tất cả các nghi lễ, một hoạt động văn hóa đặc sắc, khơi dậy niềm kiêuhãnh, tự tin của cộng đồng hay thậm chí còn để xua đuổi tà thần đến quấy nhiễudân làng Lễ hội đâm trâu còn thể hiện sự phô trương thế lực của các gia đình giàu
có và nâng cao uy tín cộng đồng
Lễ cúng bến nước
Người Ê Đê thường lập buôn ở gần nguồn nước Họ rất tôn trọng và gìn giữ nguồnnước luôn trong sạch Hàng năm, sau khi kết thúc việc thu hoạch mùa màng,thường là vào tháng 3, cả buôn sẽ cùng tổ chức lễ cúng cảm tạ thần nước đã phù hộcho buôn có được nguồn nước trong lành để sử dụng, ban cho mưa thuận gió hòa
để mùa màng bội thu, người dân được no ấm Đây cũng là dịp để bà con trongbuôn tụ họp, chia sẻ về đời sống, công việc sản xuất trong một năm đã qua
Trang 10Lễ cúng bến nước gồm 3 phần: cúng mời tổ tiên, ông bà về dự lễ, cúng đầu nguồnnước và cúng sức khỏe chủ bến nước Mỗi phần lễ sẽ có lễ vật riêng là 1 con gàhoặc 1 con heo và 1 ché rượu cần Khi lễ cúng bắt đầu, thầy cúng khấn báo sự việcbuôn tổ chức lễ cúng, mời tổ tiên, ông bà của chủ bến nước và các thần linh cùng
về dự lễ Sau đó, mọi người di chuyển ra bến nước đầu buôn, thầy cúng tiếp tụclàm lễ cảm tạ thần nước, cầu an cho buôn làng và dâng các lễ vật lên thần nước
Khi lễ cúng sức khỏe cho chủ bến nước kết thúc, phần hội được tiếp tục trong tiếngchiêng rộn rã, tiếng cười nói, hỏi thăm nhau của những người dự lễ
Trang 11Lễ cúng bến nước là một trong những nghi lễ quan trọng của đồng bào Ê Đê Họquan niệm nước còn quan trọng hơn cả cơm ăn, áo mặc bởi không có cơm cònsống được cả tháng, không có áo thì chỉ bị lạnh nhưng không có nước thì khôngthể sống được.
Ngoài ra còn có các lễ khác mang đậm tính văn hóa Ê Đê:
Lễ kết nghĩa anh em, lễ cưới, lễ trưởng thành, lễ cúng sức khỏe cho mọi thành viêntrong cộng đồng
Lễ cúng hòn đá
Lễ cúng cầu mưa, cúng thần gió, cầu một năm mưa thuận gió hòa, làm ăn phát đạt,nhà nhà no ấm, hạnh phúc
3 Cưới hỏi, hôn nhân:
Người dân Ê-đê theo chế độ mẫu hệ, vì vậy trong gia đình hay ngoài xã hội, ngườiphụ nữ có quyền rất lớn Một trong những quyền lớn nhất đó là quyền cưới chồng,con cái lấy họ mẹ và có vị trí đặc biệt trong gia đình Con trai không được hưởngthừa kế, đàn ông kết hôn và sinh sống tại nhà vợ Theo truyền thống, người con gáiphải đi hỏi và cưới chồng, chủ động hoàn toàn về mọi phí tổn trong lễ hỏi-cưới
Trang 12Khi một người con gái cưới chồng chỉ cần nhìn vào các cửa sổ của ngôi nhà dài là
có thể biết cô gái Ê-đê đã có gia đình hay chưa (Nếu cửa sổ được mở ra thì ngườiphụ nữ đó đã lấy chồng)
Ngoài ra còn có Lễ Thách cưới - Nhà trai thách một con trâu, một thanh la, mộtcon gà, 10 ché rượu, 2 kiềng đồng (hoặc vàng) Cũng có đám cưới phải hoãn lạiđến vài năm vì nhà gái nghèo, không lo đủ đồ thách cưới Cũng có khi nhà traithông cảm cho “cưới tạm”, nhà gái trả nợ sau
Trong phong tục đám cưới của người Ê-đê còn có “Lễ hỏi chồng” Trai gái tìmhiểu nhau, quyết định đi đến thành hôn thì trước tiên phải thông qua đám hỏi Nhàgái chuẩn bị lễ hỏi gồm một chén rượu và một vòng đồng để cúng thần, sau đó côgái cùng ông mối đến nhà trai Nếu ở khác buôn thì những người đi hỏi mang theocơm nếp với ý nghĩa để đôi trai gái gắn bó với nhau như cơm nếp ĐămĐêi (anh,
em trai bên mẹ) cầm chiếc vòng đã được cúng thần để hỏi chàng trai, nếu chàngtrai ưng thuận thì họ làm lễ trao vòng: Cô gái và chàng trai chạm tay vào chiếcvòng (đây là lời giao ước hôn thú) Từ đó coi như hai gia đình trở thành thông gia,mỗi gia đình cử ra Miết Ava (người đỡ đầu) của mình đại diện cho hai gia đìnhgiúp đôi trai gái nên vợ nên chồng cũng như tham gia khuyên răn và hòa giảinhững bất hòa giữa hai gia đình
Trang 13Nếu trong trường hợp người con trai không đồng ý thì nhà trai làm một nghi lễ nhỏmời nhà gái đến dự để tỏ lòng tôn trọng và duy trì sự hòa thuận với nhau Theoquan niệm của người Êđê việc từ chối hôn lễ là từ chối hôn nhân của một dòng họ,ảnh hưởng và gây tổn thương rất lớn đến lòng tự trọng của không những một giađình mà còn cả một dòng họ Do đó cần thiết phải có sự thể hiện gắn bó đoàn kếtcủa một cộng đồng dân tộc
Phong tục cưới hỏi của người dân tộc Ê Đê là một tập quán cưới hỏi đặc sắc, mangmột nét đẹp văn hóa rất riêng Ngày nay cuộc sống hiện đại hóa người ta có phầngiản lược một số lễ nghi truyền thống nhưng người Ê Đê vẫn giữ lại các tập quántốt đẹp nêu trên Ngày cưới được sự chứng minh của thần linh, tổ tiên, hai bên giađình và cộng đồng
4.Văn hóa sử thi
Đây là một nét nghệ thuật lâu đời Diễn xướng sử thi Đam San Sử thi của người Ê
Đê là những trường thiên, tiểu thuyết được diễn tấu bằng âm nhạc với cung bậctrầm bỗng Qua những tác phẩm ấy, đời sống và buôn làng Ê Đê hiện lên rỏ néthơn bao giờ hết
Nội dung cơ bản của sử thi Êđê chủ yếu ca ngợi, tôn vinh những người có công với
Trang 14kết, tương trợ lẫn nhau lúc khó khăn hoạn nạn, đề cao chính nghĩa, phản khángnhững điều trái với đạo lý, luật tục; đề cao cái đẹp về sức mạnh hình thể lẫn sứcmạnh tâm hồn Sử thi còn ca ngợi tình yêu đôi lứa, tình cảm gia đình, chế độ nô lệ
sơ khai, mong muốn chinh phục thiên nhiên để cuộc sống tốt đẹp hơn
Ngoài ra, sử thi còn miêu tả cuộc sống sinh hoạt, lao động bình thường giản dị củabuôn làng; thể hiện những nguyện vọng, ước mơ chính đáng của con người về mộtthế giới tốt đẹp hơn giữa người với người, giữa con người với thế giới tự nhiên vàgiữa con người với các đấng thần linh
Trang 15Nghệ nhân hát kể sử thi được người Ê Đê coi trọng vì theo tín ngưỡng dân gian, đó
là những người được thần linh ban cho khả năng độc đáo Họ được coi là "báu vậtsống" của dân tộc, là nghệ sỹ tổng hợp, là người sáng tạo tác phẩm, đạo diễn cáctình huống, cũng là diễn viên tài năng, có thể diễn giọng nữ, giọng nam, giọng conquỷ, giọng thần tiên đồng thời là người bình luận tính cách hay diễn biến câuchuyện Họ chính là người tạo ra nhiều dị bản của sử thi Ê Đê, nên sử thi Ê Đêphát triển thành cả một kho tàng khuyết danh, đúng nghĩa là những sáng tạo dângian, giàu có và phong phú
Khi tiếng hát kể sử thi vang lên hàng ngày trong nhà dài của người Ê Đê, nó sẽtừng bước ăn sâu vào tâm trí cộng đồng người Ê Đê trẻ tuổi, tạo ra một lớp ngườinghe, người kể sử thi mới, để hát khan, hát kể và sử thi tồn tại mãi trong cộng đồngdân tộc Ê Đê
5.Nghệ thuật:
Dân ca Ê Đê:
Từ bao đời nay, hát eirei đã trở thành nét sinh hoạt văn hoá cộng đồng người Ê Đê