Ngoài Kết luận, Danh mục tài liệu thamkhảo, nội dung bài tiểu luận của nhóm em gồm 4 chương với kết cấu như sau: Chương 1: Khái quát về BPO Chương 2: Quy trình thực hiện nghiệp vụ BPO tr
Trang 1TIỂU LUẬN Môn: Thanh toán Quốc tế
Nhóm 9
ĐỀ TÀI THỰC TIỄN SỬ DỤNG PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN BPO TRÊN THẾ GIỚI VÀ ĐIỀU KIỆN ĐỂ TRIỂN KHAI
BPO TẠI VIỆT NAM
Lớp tín chỉ: TCH412.4 Giảng viên: PGS.TS Đặng Thị Nhàn
Hà Nội, ngày 19/09/2022
Trang 2Họ và tên MSV Công việc Đánh giá
Ánh
2014740018 - Chương 1
- Thuyết trìnhPhạm Trương Khánh
Ly
2014740064 - Chương 2
- Thuyết trìnhTrần Thị Nhật 2014740086 - Làm slide, word
- Thuyết trìnhLương Thị Thanh Tú 2014740119 - Chương 2
- Case study 1Nguyễn Thị Ngọc Ánh 2014740019 - Mở đầu và kết luận
- Case study 2
Trần Thị Ngoan 2014740076 - So sánh BPO và L/C
- Case study 1
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ BPO
1.1. Khái niệm BPO
1.2. Nguồn gốc hình thành phương thức BPO
1.3. Nghĩa vụ các bên tham gia
1.4. Rủi ro các bên tham gia
1.5. Nguồn luật điều chỉnh
CHƯƠNG 2: QUY TRÌNH THỰC HIỆN NGHIỆP VỤ BPO TRÊN THẾ GIỚI
2.1. Giai đoạn 1 - Xác lập quan hệ pháp lý
2.2. Giai đoạn 2 - Thiết lập dữ liệu số cơ sở
2.3. Giai đoạn 3 - Vận hành BPO thể hiện từ bước 8 đến bước 14, cụ thể
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN SỬ DỤNG BPO TRÊN THẾ GIỚI
3.1. Thực trạng sử dụng BPO trên thế giới
3.2. Lợi ích và rủi ro của việc sử dụng phương thức BPO
3.3. So sánh BPO và L/C
CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT CÁC ĐIỀU KIỆN TRIỂN KHAI BPO TẠI VIỆT NAM
4.1. Thực trạng các ngân hàng sử dụng BPO tại Việt Nam
4.2. Nguyên nhân BPO ít được sử dụng tại Việt Nam:
4.3. Đề xuất các điều kiện triển khai sử dụng BPO tại Việt Nam
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4Quốc tế) ICC International Chamber of Commerce
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU
Hoạt động Thanh toán quốc tế (TTQT) đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tếcủa mọi quốc gia trên thế giới. Một quốc gia không thể phát triển với chính sách đóng cửa,chỉ dựa vào tích lũy trao đổi trong nước mà phải phát huy lợi thế so sánh, kết hợp giữa sứcmạnh trong nước với môi trường kinh tế quốc tế. Trong bối cảnh hiện nay khi các quốc giađều đặt kinh tế đối ngoại lên hàng đầu, coi hoạt động kinh tế đối ngoại là con đường tất yếutrong chiến lược phát triển kinh tế đất nước thì vai trò của hoạt động TTQT lại càng đượckhẳng định. Đối với nước ta, thanh toán quốc tế là mắt xích không thể thiếu trong hoạt độngcủa nền kinh tế quốc dân. Với nhu cầu cần thiết phải có các phương tiện thanh toán tiện lợi,
ít rủi ro của những người xuất nhập khẩu, các phương thức thanh toán quốc tế cũng ngàycàng trở nên đa dạng và phổ biến ở nước ta. Tuy nhiên, phương thức thanh toán BPO dù cónhiều tiềm năng để phát triển nhưng vẫn còn mới lạ và đòi hỏi nhiều điều kiện để triển khaicũng như đưa vào sử dụng trong quá trình thanh toán.
Do đó, nhóm em xin nghiên cứu đề tài “Thực tiễn sử dụng phương thức thanh toán BPO trênthế giới và đề xuất các giải pháp để có thể triển khai BPO tại Việt Nam” nhằm tìm hiểu sâuhơn và có cái nhìn rộng hơn về phương thức thanh toán BPO, đồng thời đưa ra các điều kiệncần thiết để BPO được đưa vào sử dụng ở Việt Nam. Ngoài Kết luận, Danh mục tài liệu thamkhảo, nội dung bài tiểu luận của nhóm em gồm 4 chương với kết cấu như sau:
Chương 1: Khái quát về BPO Chương 2: Quy trình thực hiện nghiệp vụ BPO trên thế giới Chương 3: Thực tiễn sử dụng BPO trên thế giới
Chương 4: Đề xuất các điều kiện triển khai BPO tại Việt Nam
Do còn nhiều hạn chế trong kiến thức chuyên môn cũng như trong thời gian nghiên cứu nênbài tiểu luận sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Nhóm em rất mong nhận được sự góp ýchân thành từ phía cô để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn
Trang 6CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ BPO
1.1 Khái niệm BPO
BPO (Bank Payment Obligation) hay “Nghĩa vụ thanh toán ngân hàng” là một cam kết độclập và không hủy ngang của một ngân hàng (gọi là Ngân hàng có nghĩa vụ BPO - ObligorBank) sẽ thanh toán ngay hoặc cam kết thanh toán có kỳ hạn và thực hiện thanh toán khi đáohạn một số tiền đã được xác định cho một ngân hàng khác (gọi là Ngân hàng tiếp nhận BPO
- Recipient Bank) sau khi so khớp điện tử thành công các dữ liệu theo các quy tắc thống nhấttoàn cầu về BPO của Phòng Thương mại Quốc tế (ICC).
1.2 Nguồn gốc hình thành phương thức BPO
Trước khi URBPO - Bộ quy tắc thống nhất về nghĩa vụ thanh toán ngân hàng (UniformRules for Bank Payment Obligation) được ICC thông qua, năm 2012 Standard CharteredBank là ngân hàng đầu tiên thực hiện thành công giao dịch BPO. Giao dịch được thực hiệngiữa công ty OCTAL Petrochemicals và công ty BP Petrochemicals, một trong những nhàsản xuất hạt nhựa PET lớn nhất thế giới, và một công ty hàng đầu thế giới trong ngành côngnghiệp bao bì và sử dụng chương trình so khớp dữ liệu Straight2bank do Ngân hàngStandard Chartered tự xây dựng từ tháng 2/2012
Từ giao dịch đầu tiên này, ICC đã hợp tác với Swift xây dựng ứng dụng so khớp dữ liệuTMA - được phát triển trên nền chương trình Straight2bank của Standard Chartered nhằmđưa phương thức thanh toán BPO áp dụng tại phạm vi toàn thế giới. Standard Chartered Bankcho rằng sử dụng BPO, khách hàng của ngân hàng có thể được đảm bảo thanh toán và hạnchế rủi ro nhưng thông qua một quy trình hoàn toàn tự động, không sử dụng giấy tờ và nhanhhơn rất nhiều - bằng cách đó nó là chiếc cầu nối giữa phương thức thư tín dụng và phươngthức ghi sổ. Đây là công cụ thanh toán thương mại ít phức tạp và tiết kiệm chi phí.
David Vermylen, giám đốc phụ trách thư tín dụng toàn cầu của BP cho rằng chương trình BPO cho họ một số những lợi ích hiệu quả về chi phí cũng như thời gian xử lý chứng từ so với thư tín dụng truyền thống
1.3 Nghĩa vụ các bên tham gia
a Nghĩa vụ của người bán:
- Đàm phán chi tiết hàng hóa (mô tả, số lượng, đơn giá, ).
- Đồng ý về số tiền của nghĩa vụ thanh toán và các điều kiện thanh toán phí
- Xác định các điều khoản thanh toán: khi nhận hóa đơn, khi giao hàng hoặc trả chậm.Đồng ý vào ngày hết hạn, điều khoản vận chuyển và ngày giao hàng gần nhất
- Phân tích rủi ro và quản lý tuân thủ nội bộ (KYC - know your customer) của người mua
Trang 7- Báo giá BPO cho Người mua.
- Đề xuất BPO có lợi cho Người mua.
- Giải quyết BPO vào ngày đáo hạn, tùy thuộc vào các điều kiện phù hợp đã được đápứng.
- Người bán: giảm rủi ro không được thanh toán tiền hàng. Ngân hàng cam kết trả tiềnngười bán và rủi ro chuyển từ người nhập khẩu sang ngân hàng phát hành ΒΡΟ.
- Người mua: Giảm rủi ro về chất lượng hàng hóa. BPO là trả có điều kiện và chỉ trả saukhi người bán đã giao hàng.
- Về phía ngân hàng: BPO kiểm tra và khớp thông tin qua máy móc sẽ tránh nhầm lẫn,thiếu sót.
Tuy nhiên BPO vẫn khá độc lập về chứng từ và hàng hóa. Chứng từ được chuyển thẳng từngười xuất khẩu đến người nhập khẩu và không qua kiểm tra của ngân hàng nên có thể có saisót. Bên cạnh đó, ngân hàng cũng không đảm bảo về chất lượng của hàng hóa đã được giao
1.5 Nguồn luật điều chỉnh
Giống như LC được điều chỉnh bởi UCP600 thì BPO được điều chỉnh bởi URBPO
URBPO (Uniform Rules for Bank Payment Obligations): Bộ quy tắc thống nhất về nghĩa vụthanh toán ngân hàng được Phòng Thương Mại Quốc tế (International Chamber ofCommerce – ICC) thông qua vào ngày 17/4/2013 và có hiệu lực áp dụng từ ngày 01/7/2013.Mục đích cơ bản là cung cấp quy tắc chung cho BPO liên quan đến giao dịch thương mại cơbản giữa người mua và người bán
Case study 1: Thương vụ BPO đa ngân hàng đầu tiên được thực hiện ở Châu Âu
- Bối cảnh và các bên liên quan:
Trang 8Tháng 4 năm 2014, Giao dịch được kết cấu với các bên thương mại Châu Âu và các ngân hàng Châu Âu là các giao dịch BPO đầu tiên được thực hiện ở Châu Âu Cấu trúc này được gọi là “Mô hình BPO bốn góc” trái ngược với “Mô hình BPO ba góc” trong đó người nhận
và ngân hàng có nghĩa vụ giống nhau.
- Quy trình thực hiện BPO:
Trang 9Bảng 1: Thương vụ giữa BNP Paribas Fortis và BP Aromatics Limited
Đầu tiên, người mua và người bán ký hợp đồng mua bán thỏa thuận sử dụng BPO Lúc này, BPO trong hợp đồng đóng vai trò là điều khoản thanh toán trong cuộc giao dịch (1) Ngày 25/4, người mua cung cấp dữ liệu hợp đồng và đề nghị ngân hàng phát hành BPO(2a), ngân hàng thụ hưởng BNP Paribas Fortis thông báo cho người bán về BPO(2b) Từ đó, giao dịch BPO được thiết lập và có giá trị ràng buộc ngân hàng phát hành BPO(3a+3b) Sau khi thực hiện giao hàng (4), người bán chuyển các dữ liệu liên quan cho ngân hàng thụ hưởng BPO, ngân hàng thụ hưởng BNP Paribas Fortis (5a) Ngân hàng thụ hưởng sau đó đã chuyển các
dữ liệu cho các ngân hàng phát hành BPO Turkiye is Bankasi(5c)
Ngày 2/5, dữ liệu điện tử được kiểm tra và có điểm không đúng, có sai lệch, (5b) nhưng đây
là sai lệch nhỏ và đồng thời BPO đã đến hạn nên thanh toán được chấp nhận ngay trong ngày 2/5(6) Sau đó, ngân hàng phát hành BPO Türkiye İş Bankasi- Thổ Nhĩ Kỳ đã thanh toán tiền cho ngân hàng thụ hưởng BNP Paribas Fortis - Bỉ, ngân hàng thụ hưởng chuyển lại tiền cho công ty xuất khẩu BP Aromatics Limited - Bỉ theo thỏa thuận (8).
Để thực hiện được một giao dịch BPO đầu tiên thành công, trong thời gian ngắn (khoảng 2 tuần) là nhờ có:
Các công ty có kiến thức đầy đủ rõ ràng về BPO
Có một bộ tài liệu pháp lý hoàn chỉnh
2 bên ngân hàng cần có thiết lập nền tảng TSU (công cụ đối sánh dữ liệu) trong ngân hàng
Trang 10 Thiết kế quy trình làm việc mới giữa các bên liên quan vì họ sẽ xử lý dữ liệu thay vì tài liệu vật lý.
CHƯƠNG 2: QUY TRÌNH THỰC HIỆN NGHIỆP VỤ BPO TRÊN
THẾ GIỚI
Quy trình thực hiện thanh toán nghiệp vụ BPO trên thế giới được chia làm 3 giai đoạn:
2.1 Giai đoạn 1 - Xác lập quan hệ pháp lý
Xác lập quan hệ pháp lý giữa người mua và người bán với ngân hàng người bán bằng việc kýkết “Thỏa thuận khách hàng BPO” (BPO Customer Agreement)
2.2 Giai đoạn 2 - Thiết lập dữ liệu số cơ sở
Bước 1: Người bán và người mua ký kết hợp đồng ngoại thương.
Bước 2 và 3: Người bán và người mua gửi nội dung của hợp đồng ngoại thương cho ngân
hàng của mình để ngân hàng thiết lập dữ liệu cơ sở thông qua Hệ thống ứng dụng so khớp dữliệu giao dịch (Transaction Matching Application - TMA)
Bước 4: Ngân hàng người mua xuất trình dữ liệu cơ sở ban đầu qua TMA yêu cầu so khớp Bước 5: TMA gửi cho ngân hàng người bán báo cáo thúc đẩy công việc phải hoàn thành Bước 6: Ngân hàng người bán tái xuất trình bản dữ liệu cơ sở ban đầu để TMA so khớp.
Bước 11: Ngân hàng người bán xuất trình bộ dữ liệu thương mại qua TMA yêu cầu so khớp
với dữ liệu cơ sở đã được thiết lập xem có phù hợp không
Bước 12: Kết quả so khớp thành công, TMA thông báo kết quả đến ngân hàng người mua và
ngân hàng người bán. Lúc này, ngân hàng người mua trở thành ngân hàng có nghĩa vụ vàngân hàng người bán trở thành ngân hàng tiếp nhận hay ngân hàng thụ hưởng BPO
Trang 11Bước 13: Ngân hàng người mua thông báo cho người mua biết so khớp bộ dữ liệu thương
mại phù hợp với dữ liệu cơ sở đã được thiết lập. Ngân hàng này có nghĩa vụ thanh toán theocam kết của BPO
Bước 14: Đến hạn quy định, ngân hàng người mua có nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng thụ
hưởng BPO
Từ quy trình thanh toán BPO có thể thấy BPO có đặc trưng cơ bản sau đây:
BPO là một cam kết độc lập, không hủy ngang của ngân hàng phát hành BPO. Sau khiBPO được phát hành, ngân hàng phát hành BPO chịu trách nhiệm thanh toán ngay hoặccam kết thanh toán sau và thực hiện thanh toán vào ngày đáo hạn cho ngân hàng thụhưởng BPO (ngân hàng tiếp nhận) với điều kiện là sau khi so khớp bộ dữ liệu thương mạiphù hợp với dữ liệu cơ sở đã được thiết lập. Ngân hàng phát hành BPO không thể tự hủyngang BPO kể từ thời điểm BPO được thiết lập, việc BPO bị hủy bỏ chỉ khi có sự đồng ýcủa tất cả các ngân hàng liên quan đến BPO
Ngân hàng phát hành BPO thanh toán ngay hoặc cam kết thanh toán sau và thực hiệnthanh toán vào ngày đáo hạn cho ngân hàng thụ hưởng BPO chứ không thanh toán ngayhoặc cam kết thanh toán trực tiếp với người xuất khẩu. Việc hoàn trả tiền từ ngân hàngthụ hưởng BPO cho người xuất khẩu sẽ được thực hiện theo thỏa thuận riêng được ký kếtgiữa ngân hàng này với người xuất khẩu
Trong thanh toán BPO, so khớp bộ dữ liệu thương mại được thực hiện bằng máy quaTMA hoàn toàn khách quan, không bị chi phối bởi yếu tố con người, kiểm tra chứng từbằng tay như thanh toán L/C. Trong quá trình vận hành BPO, thời gian so khớp dữ liệunhanh chóng, kịp thời nhờ sự số hóa chứng từ thương mại qua TMA. Tuy nhiên, TMA làmột hệ thống do tổ chức TSU (Trade Services Utility) quản lý và vận hành, vì vậy cácngân hàng muốn sử dụng TMA phải thực hiện đăng ký với TSU
CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN SỬ DỤNG BPO TRÊN THẾ GIỚI
3.1 Thực trạng sử dụng BPO trên thế giới
Trang 12Hình 4 Tỷ trọng các phương thức thanh toán quốc tế tính đến năm 2020
Nhìn chung, phương thức thanh toán BPO chưa thực sự được áp dụng phổ biến trên thế giới.Theo thống kê của WTO, tính đến năm 2020, phương thức thanh toán bằng phương thức Ghi
sổ được cho là được sử dụng rộng rãi nhất (chiếm khoảng 90% tổng lượng thanh toán thươngmại), 10% còn lại là các phương thức thanh toán khác (chủ yếu là thư tín dụng từ L/Cs -chiếm 6-7%)
Theo SWIFT, hiện nay có 27 tập đoàn tài chính trên thế giới đã áp dụng phương thức thanhtoán BPO. Kể từ năm 2015, khi ngân hàng Commerzbank triển khai nghiệp vụ BPO trongcác thương vụ giữa doanh nghiệp Đức với Thái Lan, ngày càng nhiều các ngân hàng trên thếgiới đã thúc đẩy việc triển khai phương thức thanh toán này vì những lợi ích mà nó mang lại.Trong số đó phải kể đến các giao dịch như: BPO London năm 2016 giải quyết với UniCredit
về việc xuất hóa chất từ Ailen đến Ý, BPO của Đức - Trung Quốc vào năm 2016, Áo vàonăm 2017…
3.2 Lợi ích và rủi ro của việc sử dụng phương thức BPO
Trang 13- Đối với nhà nhập khẩu:
Bên nhập khẩu được bảo vệ bởi ngân hàng, do ngân hàng đảm bảo chỉ thực hiện việcthanh toán khi các dữ liệu trích xuất từ các chứng từ thể hiện đúng thời hạn giao hàng,quy cách hàng hóa, chứng nhận xuất xứ, chất lượng… đúng theo yêu cầu của BPO
Có thể đàm phán giá cả thuận lợi hơn, các điều kiện thanh toán và tín dụng cao hơn từphía người bán do việc thanh toán qua ngân hàng diễn ra nhanh chóng hơn so với phươngthức tín dụng chứng từ
Nhận chứng từ thương mại nhanh chóng do chuyển trực tiếp từ người bán sang ngườimua, do đó không ảnh hưởng đến thời gian nhận hàng và không ảnh hưởng đến kế hoạchsản xuất kinh doanh
An toàn hơn phương thức chuyển tiền trả trước, người mua không phải trả tiền trước khinhận được chứng từ sở hữu hàng hoá
ra trong chuỗi cung ứng, giữa các bên trong hợp đồng mua bán. Ngân hàng có thể tạo ra
cơ hội phát triển những phương thức mới mẻ hơn để đáp ứng nhu cầu của người mua vàngười bán
Tóm lại, trong số các lợi ích trên đây, quy trình so khớp dữ liệu là đặc điểm mang lại nhữnglợi ích thực tế lớn nhất: không cần phải kiểm tra chứng từ bằng tay; Việc so khớp dữ liệuđiện tử khớp hay không khớp rất rõ ràng; Không có sự can thiệp mang tính chủ quan của conngười vào quy trình so khớp; Toàn bộ quy trình thanh toán được tự động hóa sẽ nhanh hơn,tiết kiệm chi phí vận hành. Điều này cũng có nghĩa là các tranh chấp hay chậm thanh toán sẽgiảm đi đáng kể
b Rủi ro
Rủi ro đối với ngân hàng có nghĩa vụ là người mua có thể không thanh toán tiền khi đáo hạn.Cũng có trường hợp ngân hàng người mua không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán do phásản, hoặc không đúng hạn. Với rủi ro này, theo quy định của URBPO, ngân hàng người bánkhông có nghĩa vụ phải thanh toán cho người bán
Một rủi ro nữa có thể xảy ra ở giai đoạn trước khi giao hàng. Đó là khi người bán cung cấpsai thông tin, dữ liệu, dẫn đến không thể thực hiện thành công giao dịch BPO
3.3 So sánh BPO và L/C