1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tiểu luận môn kinh tế vĩ mô đề tài CHÍNH SÁCH KÍCH cầu của VIỆT NAM

49 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chính Sách Kích Cầu Của Việt Nam
Tác giả Gia Đình Phép Thuật
Người hướng dẫn Lê Thị Tuyết Thanh
Trường học Trường Đại Học Tài Chính – Marketing
Chuyên ngành Kinh Tế Vĩ Mô
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Gói kích cầu của Chính phủ đã góp phần thực hiệnđược mục tiêu ngăn chặn suy giảm kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô; các cân đối thu chingân sách Nhà nước, tiền tệ, cán cân thanh toán quốc t

Trang 1

Bài tiểu luận môn Kinh tế vĩ mô

Nhóm nghiên cứu: Gia Đình Phép Thuật

Lớp học phần : 2121101003214

Giáo viên hướng dẫn : Lê Thị Tuyết Thanh

Trang 2

1 Nguồn gốc chính sách kích cầu: 7

2 Kích cầu là gì 9

3 Kích cầu có từ bao giờ? 9

4 Mục đích của việc kích cầu 10

5 Vai trò của kích cầu đối với nền kinh tế 11

6 Làm sao để kích cầu hiệu quả? 11

II. CHƯƠNG 2: NỀN TẢNG SINH RA VIỆC KÍCH CẦU

II.1 Khủng hoảng tài chính(Financial crisis) 14

II.2 Chính sách kích cầu 20

III. CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH THỰC TIỄN III.1 Khủng hoảng tài chính đối với nền kinh tế hiện nay 26

III.2 Thực trạng của việc kích cầu 35

IV. CHƯƠNG 4: MẶT LỢI ÍCH – HẠN CHẾ CỦA CHÍNH SÁCH KÍCH CẦU 40

V. CHƯƠNG 5: PHƯƠNG HƯỚNG GIẢI PHÁP 49

Trang 3

1995 và tổ chức WTO ( Tổ chức Kinh Tế Thế giới) vào năm 2006, Việt Nam đã hoàntoàn hội nhập với kinh tế toàn cầu và trở thành một nền kinh tế mở, thu hút ngày càngnhiều vốn đầu tư cho phát triển Cơ cấu kinh tế của Việt Nam đã bước đầu chuyển dịchtheo hướng hiện đại Tuy nhiên nền kinh tế thị trường vốn luôn linh hoạt biến đổi lúcthăng lúc trầm trước những tác động qua từng giai đoạn Và một nền kinh tế mở nhưnước ta không tránh khỏi tác động của biến đổi kinh tế thế giới.

Trong giai đoạn từ năm những năm 2000-2010, giá trị tổng sản phẩm quốc gia (GDP)của toàn thế giới tính theo giá thực tế ước tính đạt 463,675.35 tỷ USD, gấp 1.63 lần tổngGDP giai đoạn 1991–2000( theo IMF), riêng nước ta hàng năm nền kinh tế nước ta đềuđạt tốc độ tăng trưởng tương đối, bình quân mỗi 9 năm tổng sản phẩm trong nước tăng7,26% Có lẽ con số này có thể còn vượt xa hơn nữa, nếu như không xảy ra cuộc đại suythoái 2008-2009 gây ra cuộc khủng hoảng trầm trọng tác động trực tiếp đối với kinh tếtoàn thế giới Cuộc khủng hoảng 2008-2009, khiến GDP giảm 4,3%, làm mất 2.000 tỷUSD trong tăng trưởng kinh tế toàn cầu Tỷ lệ thất nghiệp của Mỹ lên mức 10%, cao nhất

kể từ cuộc Đại suy thoái những năm 1930 Khoảng 30 triệu người mất việc do ảnh hưởng

từ cuộc khủng hoảng, 50 triệu người quay lại ngưỡng dưới nghèo với ước tính thiệt hạikhoảng 10.000 tỷ USD Ở Việt Nam, GDP quý I/2009 chỉ tăng 3,1% được đánh giá làmức tăng thấp nhất so với cùng kỳ từ năm 2000, sức cầu giảm cả trong sản xuất và tiêudùng

Trong giai đoạn 2011-2020, nền kinh tế thế giới có nhiều bước đột phá Khoa học,công nghệ phát triển nhanh, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và kinh tế số trở thànhmột trong những xu hướng phát triển chủ yếu của thời đại, tuy nhiên tình hình thế giới,

Trang 4

khu vực diễn biến phức tạp hơn dự báo Khủng hoảng nợ công diễn ra trầm trọng hơn ởnhiều quốc gia, kinh tế thế giới phục hồi chậm hơn; rủi ro trên thị trường tài chính, tiền tệquốc tế gia tăng; nhiều nước tăng cường bảo hộ thương mại trong những năm gần đây.Vào năm 2019, xảy ra đại dịch Covid-19 trên toàn cầu kéo dài đến năm 2022 ảnh hưởngrất nghiêm trọng, chưa từng có trong nhiều thập kỷ, kinh tế thế giới rơi vào tình trạng suythoái, hậu quả kéo dài nhiều năm Việt Nam trong 10 năm qua, tốc độ tăng trưởng GDPcủa Việt Nam luôn cao, lạm phát không ở mức hai con số, còn thặng dư thương mại đượcnới rộng Đến năm 2020, do ảnh hưởng đại dịch Covid 19, GDP nước ta thấp nhất trong

10 năm, tuy nhiên so với tình hình chung thế giới, con số đó vẫn còn khá cao Từ năm

2020 đến cuối năm 2021, Covid-19 bùng phát mạnh, tiêu điểm là qua 4 đợt dịch caođiểm, nhiều ngành nghề không thể hoạt động do thực hiện biện pháp giãn cách xã hội cầnthiết, bắt buộc theo Chỉ thị số 16 của Thủ tướng chính phủ, điều này làm kinh tế nước ta

bị chậm lại một thời gian dài

Trước tình hình các cuộc khủng hoảng tác động nặng nề đến nền kinh tế, Đảng vàChính phủ đã có nhiều giải pháp kích cầu và giải pháp hạn chế tác động tiêu cực của cuộckhủng hoảng kinh tế thế giới vào nền kinh tế nước ta Những giải pháp này đã và đangngày một phát huy tác dụng tích cực Gói kích cầu của Chính phủ đã góp phần thực hiệnđược mục tiêu ngăn chặn suy giảm kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô; các cân đối thu chingân sách Nhà nước, tiền tệ, cán cân thanh toán quốc tế…được đảm bảo; lạm phát đượckiềm chế ở mức thấp nhất; tốc độ tăng trưởng được duy trì hợp lý và bền vững Liệu phápkích cầu về bản chất là việc sử dụng "Bàn tay Nhà nước" tác động tích cực tới tổng cung

và cầu xã hội một cách thống nhất và hợp lí; có tổ chức và có chủ đích, theo hướngkhuyến khích đầu tư và mở rộng quy mô tiêu dùng, kích hoạt và tăng động lực phát triểnkinh tế trong bối cảnh đặc thù có sự suy giảm động lực phát triển kinh tế gắn với các khókhăn về nguồn vốn và thị trường tiêu thụ của doanh nghiệp Như vậy ta thấy được vaitrò to lớn của việc sử dụng đúng đắn và đúng thời điểm của gói kích cầu đối với tính vĩ

mô của nền kinh tế

Trang 5

Vậy nên trong bài tiểu luận này, nhóm chúng tôi cảm thấy đây là một đề tài vô cùngthú vị và mang tính chất vĩ mô, đặc biệt đề tài này ra đời khi trong bối cảnh đại dịchCOVID-19 vẫn đang diễn biến phức tạp trên toàn thế giới và ở ngay chính Việt Nam.Kinh tế ngày ngày biến động không ngừng, không thể dự báo trước Chính sách kích cầu

có vai trò to lớn, cấp bách, quan trọng như thế nào đến nền kinh tế nước ta? Bên cạnhnhững lợi ích khổng lồ mà kích cầu mang lại thì nó có mặt hạn chế không ? Trong bàitiểu luận này chúng tôi sẽ trình bày rõ vấn đề này

Trang 6

I MỤC TIÊU CHUNG:

Tìm hiểu về chính sách kích cầu của nước ta trước tình hình kinh tế nhiều biếnđộng hiện nay

II MỤC TIÊU CỤ THỂ:

1 Tìm hiểu khai quát về chính sách kích cầu, gói kích cầu

2 Tìm hiểu bối cảnh kinh tế thế giới, bối cảnh kinh tế Việt Nam

3 Làm rõ hai mặt lợi và hạn chế của việc kích cầu Điều này thể hiện qua các chínhsách ban hành các gói kích cầu ở nước ta như thế nào? Từ đó rút ra được nhữnggiải pháp gì cho những lần áp dụng việc kích cầu về sau?

III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

Chính sách kích cầu, các gói kích cầu của Nhà nước

IV PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

Thế giới, tập trung nào Việt Nam

V CÂU HỎI NGHIÊN CỨU:

Chính sách kích cầu của Việt Nam như thế nào trong tình hình đại dịch Covid

19 đang diễn ra phức tạp?

VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Phương pháp nghiên cứu tổng hợp

Trang 7

CHƯƠNG 1:

TỔNG QUAN VỀ KÍCH CẦU

1.1 Kích cầu có từ bao giờ?

Chính sách kích cầu ( Pump Priming) là một trong những chính sách kinh tế có tầmquan trọng mang tính thời đại đối với nền kinh tế thế giới

Trang 8

Chính sách kích cầu lần đầu được đề cập đến trong học thuyết kinh tế “Lý thuyết chung

về việc làm, lãi suất và tiền tệ “(The genenal theory of employment, interest and money)năm 1936 của John Maynard Keynes (1883 - 1946)

1.1.1 John Maynard Keynes (1883-1946):

John Maynard Keynes (1883-1946)

Ông là nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh Ông là một trong ba nhà kinh tế vĩ đại nhấtnhân loại (cùng với Adam Smith, K Marx) đồng thời là người khai sinh kinh tế học vĩ

mô hiện đại Ông cũng là người có công trong việc sáng lập ra Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF

Có thể nói, bên cạnh những học thuyết kinh tế vĩ đại, John Keynes còn là nhà đầu tư thiêntài và là nguồn cảm hứng bất tận cho các nhà đầu tư hiện đại từ Warren Buffett đến Robert Shiller. ( cafebiz)

“Keynes là một trong những người đàn ông đáng chú ý nhất trong lịch sử thế giới

Tư duy logic, trực giác, tầm nhìn xa trông rộng, nhanh nhạy và luôn bắt kịp với nhữngthay đổi… tất cả các yếu tố này kết hợp trong một con người bình thường đến mức phithường” – một đại biểu tham dự hội nghị Bretton Woods nhận định về Keynes.( cafebiz) Tác phẩm nổi tiếng của ông nhất đó là “Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ(The genenal theory of employment, interest and money)” được xuất bản năm 1936 Tác

Trang 9

phẩm này xuất hiện trong bối cảnh nền kinh tế thế giới vừa trải qua cuộc đại khủng hoảngtrầm trọng (1929 - 1933) Cuốn sách đã làm cho ông trở nên nổi tiếng và được ví như mộtcuộc cách mạng trong lịch sử tư tưởng kinh tế ở các nước phương Tây.

1.1.2 Cơ sở của chính sách kích cầu trong học thuyết của Keynes:

Trong học thuyết của mình, Keynes rất coi trọng tổng cầu của nền kinh tế Theo ôngnền kinh tế chịu tác động của hai yếu tố cơ bản tổng cung và tổng cầu Tổng cung giữ vaitrò thụ động và chịu tác động của tổng cầu Trong quá trình vận động của nền kinh tế,tổng cầu thường không theo kịp so với tổng cung Điều này gây ảnh hưởng đến tình hìnhsản xuất, thu hẹp đầu tư, gây ra nạn thất nghiệp cũng như khủng hoảng kinh tế Để chống

đỡ khủng hoảng và thất nghiệp đòi hỏi phải có sự can thiệp của Nhà nước ( hay như hiệnnay chúng ta gọi là phải kích cầu tiêu dùng và cầu đầu tư), thông qua đó để nâng cao tổngcầu trong nền kinh tế, kích thích tiêu dùng, khuyến khích doanh nhân đầu tư và kinhdoanh Trên thực tế, các nước có nền kinh tế thị trường đều vận dụng học thuyết Keynes

ở những mức độ khác nhau, nhằm điều tiết và kích thích nền kinh tế Trong học thuyếtcủa mình, Keynes đã nhấn mạnh tới các công cụ và chính sách kinh tế mà Nhà nước cóthể sử dụng để tác động tới nền kinh tế nhằm nâng cao tổng cầu; bao gồm các công cụ vàchính sách kinh tế như, chính sách khuyến khích đầu tư, công cụ tài chính và chính sáchtài khoá, công cụ tiền tệ cũng như chính sách tiền tệ và lãi suất của Chính phủ

2 Kích cầu là gì?

Trước đây, mỗi khi xảy ra các cuộc khủng hoảng kinh tế, các nhà kinh tế học cổ điển cho rằng giá cả và tiền công sẽ giảm đi, các nhà sản xuất sẽ lấy đó là cơ hội để thuê mướn lao động và mở rộng sản xuất, nhờ đó mà kinh tế phục hồi Các nhà kinh tế cổ điển tin rằng chính sách tiền tệ tốt nhất trong cuộc khủng hoảng không phải là chính sách tiền tệ Trong khi kinh tế học cổ điển tin vào lý thuyết về bàn tay vô hình , nơi mà bất kỳ sự không hoàn hảo nào trong nền kinh tế đều được tự động sửa chữa, thì kinh tế học Keynes lại xóa bỏ ý tưởng này Keynes quan sát cuộc khủng hoảng (1929-1933) và thấy rằng: tiền cũng không hề giảm, việc làm cũng không hề tăng, và nền sản xuất vẫn giậm chân tại

Trang 10

chỗ Kinh tế học Keynes không tin rằng giá có thể được điều chỉnh một cách dễ dàng và

do đó, cơ chế tự điều chỉnh dựa trên giá linh hoạt của thị trường rõ ràng không đem lại hiệu quả Theo Keynes, sở dĩ khủng hoảng và thất nghiệp là do nền kinh tế thiếu đi sự điều phối của Nhà nước Ông cho rằng sự giảm sút tổng cầu và nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng, suy thoái.Vì vậy mà theo Keynes, mỗi khi xảy ra khủng hoảng cần thực hiện các gói kích cầu.

công cộng) để làm tăng tổng cầu, kích thích tăng trưởng kinh tế

kích thích tổng cầu và thông qua hiệu ứng nhân tử, cơ chế tăng tốc để tạo ra mức gia tănglớn hơn nhiều của thu nhập quốc dân Khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, chínhphủ không phải tăng chi tiêu đến mức đủ để bù lại mức thâm hụt sản lượng (chênh lệchgiữa sản lượng tiềm năng và sản lượng thực hiện), mà chỉ cần tăng chi tiêu đến mức đủ

để tạo ra làn sóng lạc quan trong nền kinh tế Làn sóng lạc quan này sẽ làm cho khu vực

tư nhân chi tiêu nhiều hơn và nền kinh tế tiến tới trạng thái cân bằng toàn dụng (TheoVietnamfinace.vn)

tế lâm vào khủng hoảng trì trệ suy thoái Đặc biệt khi nền kinh tế rơi vào trạng thái BẫyThanh Toán, là khi mà chính sách tiền tệ trở nên mất hiệu lực vì lãi suất quá thấp vì cầutín dụng yếu đi do các doanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn, phải thu hẹp hoạt độngsản xuất kinh doanh

3 Mục đích của kích cầu:

Mục tiêu của gói kích cầu là tại thêm cầu để đối ứng với năng lực sản xuất hiện tại củanền kinh tế khi suy thoái, tránh để dư thừa năng lực sản xuất ở mức quá cao gây lãng phinguồn lực cũng như gây ra những vấn đề về xã hội do thất nghiệp tăng cao gây ra Nếukhông nhanh chóng ngăn chặn, thất nghiệp sẽ tiến đến ngưỡng nguy hiểm, đẩy suy giảm

Trang 11

kinh tế vào vòng xoáy luẩn quản: thất nghiệp sẽ dẫn đến cắt giảm thu nhập (thực tế và kỳvọng) làm giảm tiêu dùng, càng làm khó khăn về đầu ra của doanh nghiệp phải tiếp tụccắt giảm sản xuất và lao động, đẩy thất nghiệp tăng lên ở vòng tiếp theo và cứ tiếp tụcnhư vậy Do vậy mục đích lớn nhất của gói kích cầu là duy trì việc làm.

4 Vai trò của kích cầu đối với nền kinh tế

 Trước hết gói kích cầu có hiệu ứng tâm lý tích cực , làm tăng tức thòi lòng tin củacác doanh nghiệp ,các ngân hàng nhà đầu tư trong nước và quốc tế vào tráchnhiệm của Nhà nước vào việc hỗ trợ các doanh nghiệp đang gặp khó khăn, cũngnhư tin vào triển vọng thị trường và môi trường đầu tư trong nước

 Trực tiếp hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn ngân hàng với chi phíhơn,từ đó giảm bớt chi phí kinh doanh,góp phần giảm giá thành sản phẩm ,tăngcạnh tranh và tăng tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ trên thị trường

 Giúp các ngân hàng cải thiện hoạt động huy động vốn và cho vay tín dụng củamình mà không phải hạ thấp lãi suất huy động dễ gây giảm và biến động mạnhnguồn tiền gửi và biến động mạnh nguồn tiền gửi và huy động đồng thời mở rộngđầu ra nhờ không phải buộc nâng lãi suất cho vay dễ làm thu ẹp cầu tín dụng trênthị trường

 Góp phần gia tăng các hoạt động đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế và xãhội,duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế , tạo nền tảng và động lực của sự phát triển

xã hội của hiện tại cũng như tương lai

 Nhiều doanh nghiệp nhận được sự hỗ trợ kịp thời của gói kích cầu đã có them cơhội giữ vững và mở rộng sản xuất , từ đó góp phần giảm bớt áp lực thất nghiệp vàđảm bảo ổn định xã hội

Những hoạt động xúc tiến đầu tư và thương mại quốc gia được tài trợ từ gối kích cầu nếuthực hiện có hiệu quả sẽ có tác động tích cực đến việc tăng dòng vốn chảy vào và mở

Trang 12

rộng thị trường đầu ra cho doanh nghiệp và ền kinh tế,từ đó trực tiếp góp phần vào pháttriển kinh tế-xã hội đất nước

5 Làm sao để kích cầu hiệu quả?

Theo nhà kinh tế Lawrence Summers, để biện pháp kích cầu có hiệu quả thì cần phảithực hiện chính sách kích cầu : ĐÚNG LÚC, TRÚNG ĐÍCH VÀ VỪA ĐỦ Hay theo

Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng:” Các gói kích thích kinh tế phải đúng trọngtâm, hiệu quả, kịp thời” khi tham gia trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội chiềungày 11/11/2021

 Nguyên tắc số 1 — Kích cầu phải kịp thời:

Kích cần phải kịp thời có nghĩa là khi chinh phu thực hiện gói kích cầu thì nhữngbiện pháp kích cầu này phải có hiệu ứng kích thích ngay, làm tăng chỉ tiêu ngaytrong nền kinh tế

 Nguyên tắc 2 – Kích cầu phải đúng đối tượng:

Mức độ "đúng đổi trọng" của gói kích cầu của Chính phủ phụ thuộc vào

• Mức độ chi tiền của các đối tượng nhận được thu nhập nhờ có gói kích cầu thôngqua tác động lan tỏa diễn ra trong nhiều vòng

* Mức độ "rỏ rỉ" ra hàng ngoại nhập của các chi tiêu đó ở trong mỗi vùng của tácđộng lan tỏa

Ở thế giới cũng như ở Việt Nam, những người có thu nhập thấp thường có mứctiêu dùng cao trên 1 đồng thu nhập có thêm được và thưởng tiêu dùng lưng nội địa

Do vậy, nếu kịch cầu đang nhóm đối tượng này thì đạt đồng thời cả hai mục tiêu làhiệu quả và công bằng, khác với sự đánh đổi giữa hiệu quả và công bằng mà trongkinh tế thường gặp

 Nguyên tắc 3 – Kích cầu chỉ được thực hiện trong ngắn hạn:

Trang 13

Nguyên tắc ngắn hạn có nghĩa là sẽ chấm dứt kích cầu khi nếu kinh tế được cảithiện.

Nguyên tắc ngắn hạn có hai ý nghĩa

* Gói kích cầu thực hiện trong ngắn hạn sẽ làm tăng hiệu quả gói kích cầu

* Chi kích cầu trong ngắn hạn để không làm ảnh hưởng tới tỉnh hình ngân sáchtrong dài hạn

Trang 14

*Nguyên nhân.

-Lãi suất tăng cao.

Các cá nhân và công ty với các dự án mạo hiểm rủi ro cao lại là những người sẵn sàng trảmức lãi suất cao Nếu lãi suất thị trường nhạy cảm tăng theo nhu cầu tín dụng tăng hoặc

do cung tiền giảm, làm cho những người có rủi ro tín dụng tốt sẽ không còn thiết tha vayvốn nữa, trong khi đó, những người có rủi ro tín dụng xấu vẫn mong muốn được vay

Do lựa chọn đối nghịch tăng lên, khiến cho ngân hàng không còn muốn cho vay nữa Sựgiảm sút mạnh trong tín dụng dẫn đến sự giảm sút mạnh trong đầu tư và hoạt động kinh

tế vĩ mô

-Gia tăng sự bất ổn.

Trang 15

Sự bất ổn đột ngột trên thị trường tài chính (có thể do sự sụp đổ của một tổ chức tài chínhhay phi tài chính trụ cột nào đó), dấu hiệu của suy thoái kinh tế hay sự sụp đổ của thịtrường cổ phiếu, càng làm cho ngân hàng khó khăn hơn trong việc sàng lọc khách hàngvay vốn.

-Ảnh hưởng của thị trường cổ phiếu lên bảng cân đối kế toán.

Trạng thái bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp phản ánh thực trạng về vấn đề thôngtin bất cân xứng trong hệ thống tài chính Một sự giảm sút nghiêm trọng trên thị trường

cổ phiếu là nhân tố làm cho bảng cân đối của doanh nghiệp trở nên xấu đi

Ngược lại, sự xấu đi của bảng cân đối có thể làm gia tăng vấn đề lựa chọn đối nghịch vàrủi ro đạo đức, kích thích khủng hoảng tài chính xảy ra Sự giảm sút của thị trường cổphiếu giảm làm giảm vốn chủ sở hữu của các công ty

Vốn chủ sở hữu của các công ty giảm, khiến cho các ngân hàng không còn sẵn sàng chovay, bởi vì vốn chủ sở hữu vốn là một chiếc đệm, có vai trò như tài sản bảo đảm tiền vay.Khi giá trị bảo đảm giảm, khiến cho ngân hàng không còn được bảo vệ tốt nữa, dẫn đếnkhả năng tổn thất tín dụng là hiện hữu

-Các vấn đề trong lĩnh vực ngân hàng.

Các ngân hàng đóng vai trò quan trọng trên các thị trường tài chính, bởi vì chúng hoạtđộng hiệu quả trong việc sản xuất và xử lí thông tin, làm cơ sở cho việc gia tăng đầu tưhiệu quả trong nền kinh tế

Trạng thái bảng cân đối tài sản của ngân hàng có tác động quan trọng đến việc cho vay.Nếu bảng cân đối của ngân hàng trở nên xấu đi (vốn chủ sở hữu giảm đáng kể), thì nguồnvốn cho vay trở nên hạn hẹp, dẫn đến giảm sút tín dụng Hậu quả là đầu tư giảm, nềnkinh tế đình trệ

-Thâm hụt ngân sách chính phủ.

Trang 16

Ở các nước mới nổi, nếu thâm hụt ngân sách chính phủ trầm trọng, sẽ làm phát sinh tâm

lí lo sợ về khả năng vỡ nợ của chính phủ Kết quả là chính phủ gặp khó khăn trong việcphát hành trái phiếu cho công chúng, chính phủ quay sang ép các ngân hàng mua

Nếu giá trái phiếu chính phủ giảm, làm cho bảng cân đối tài sản ngân hàng trở nên xấu đi,dẫn đến giảm sút trong cho vay của ngân hàng Mối lo sợ chính phủ vỡ nợ cũng có thể làtác nhân của khủng hoảng ngoại hối, khi giá trị đồng nội tệ giảm đột ngột do các nhà đầu

tư nước ngoài rút vốn ra khỏi quốc gia

Kết quả là ngân hàng không còn khả năng giải quyết được vấn đề lựa chọn đối nghịchnữa, dẫn đến hạn chế cho vay, làm suy giảm tín dụng, đầu tư và hoạt động kinh tế vĩ mô Giá trị nội tệ giảm, làm cho bảng cân đối tài sản của công ty có nợ phải trả bằng ngoại tệlớn trở nên xấu đi Bảng cân đối xấu làm gia tăng vấn đề lựa chọn đối nghịch và rủi rođạo đực, hậu quả là giảm tín dụng, giảm đầu tư và khiến cho nền kinh tế đình trệ (TheoGiáo trình Ngân hàng Thương mại, NXB Thống kê)

*Các loại khủng hoảng tài chính.

-Khủng hoảng tiền tệ.

Tình huống tồn tại nghi ngờ nếu ngân hàng trung ương của một quốc gia có đủ ngoại hối

để duy trì tỷ giá hối đoái cố định của quốc gia đó được gọi là khủng hoảng tiền tệ Cuộckhủng hoảng tiền tệ ảnh hưởng không kém đến thị trường chứng khoán quốc tế cũng nhưthị trường chứng khoán trong nước Vì cuộc khủng hoảng tiền tệ là một cuộc khủnghoảng tài chính, nó là tiền thân của cuộc khủng hoảng kinh tế thực tế

Nợ nước ngoài làm tăng mạnh đồng nội tệ khi khủng hoảng tiền tệ xảy ra Người ta đãthấy rằng cuộc khủng hoảng tiền tệ có thể phá hủy các nền kinh tế mở nhưng có thểkhông ảnh hưởng đến các nền kinh tế ổn định

Chính phủ đóng một vai trò thiết yếu trong việc quản lý cuộc khủng hoảng tiền tệ bằngcách đáp ứng nhu cầu dư thừa đối với một loại tiền tệ cụ thể bằng dự trữ ngoại hối của

nó, thường là USD, Euro hoặc Bảng Anh

Trang 17

Khủng hoảng tiền tệ tác động đến tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế, kể cả các lĩnh vựcphi kinh tế như chính trị Chúng ảnh hưởng đến những người lãnh đạo đang nắm quyềnmột cách tiêu cực Hậu quả của cuộc khủng hoảng tiền tệ gây ra sự thay đổi trong chínhphủ hoặc bộ trưởng tài chính hoặc thống đốc trung ương.

Trong mọi trường hợp, khủng hoảng tiền tệ tác động tiêu cực đến các nền kinh tế

Sự hoảng loạn ngân hàng là nguyên nhân chính của khủng hoảng ngân hàng đồng thờigây ra khủng hoảng tài chính Điều này dẫn đến tình trạng mất ổn định của các ngânhàng, có thể dẫn đến phá sản

Đây là lý do tại sao các ngân hàng thường hạn chế việc rút tiền của khách hàng hoặc tạinhững thời điểm đó, họ sẽ tạm dừng hoàn toàn việc rút tiền Mọi người có thể bắt đầu rúttiền của họ khỏi ngân hàng dựa trên mối đe dọa rằng ngân hàng có thể đóng cửa

Nếu không được kiểm soát, mối đe dọa này sẽ dẫn đến việc rút tiền từ tất cả các ngânhàng, điều này sẽ gây ra sự sụp đổ của ngân hàng và từ đó dẫn đến khủng hoảng tàichính Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế trong thời gian rất dài Cũng dẫnđến suy thoái kinh tế trong các doanh nghiệp, và nhiều công ty phải đóng cửa

-Bong bóng đầu cơ.

Đây còn được gọi là bong bóng kinh tế hoặc bong bóng giá trong đó giá tài sản dựa trênnhững quan điểm không nhất quán trong tương lai Đã có nhiều lời giải thích về bongbóng kinh tế, nhưng hầu hết chúng đều đi kèm với sự không chắc chắn Bong bóng kinh

Trang 18

tế không chắc chắn như vậy được gọi là bong bóng không đầu cơ Hầu hết thời gian,bong bóng kinh tế có thể được phát hiện khi nhìn lại.

Trong trường hợp này, giá đột ngột giảm, còn được gọi là sụp đổ hoặc vỡ bong bóng Giá

cả biến động rất dễ dàng trong trường hợp bong bóng kinh tế và không thể tách rời, bảo

vệ khỏi cung và cầu

Thuật ngữ bong bóng có nguồn gốc từ bong bóng Biển Nam của Anh và dùng để chỉchính các công ty đã thổi phồng cổ phiếu của họ hơn là đối phó với khủng hoảng Bongbóng vốn chủ sở hữu và bong bóng nợ là hai loại bong bóng đầu cơ

-Khủng hoảng tài chính quốc tế.

Khi tỷ giá hối đoái cố định của một quốc gia đột ngột bị phá giá do thâm hụt không bềnvững trong tài khoản vãng lai, thì được gọi là khủng hoảng cán cân thanh toán hoặckhủng hoảng tài chính quốc tế

Khi quốc gia không thể trả khoản nợ có chủ quyền, được gọi là sự vỡ nợ có chủ quyền

-Khủng hoảng kinh tế rộng hơn.

Điều này còn được gọi là trầm cảm hoặc suy thoái Khi GDP âm trong hơn hai quý, cóthể được gọi là suy thoái Suy thoái dẫn đến trì trệ kinh tế

Tất cả các hoạt động kinh tế suy giảm trong suy thoái Có thể có nhiều sự kiện khácnhau , chẳng hạn như khủng hoảng tài chính hoặc cú sốc thương mại, có thể gây ra suythoái Suy thoái là một tác động gây ra bởi nhiều yếu tố đã thảo luận ở trên

Khi tình trạng suy thoái tiếp tục diễn ra trong một thời gian dài, nó sẽ chuyển thành đạisuy thoái

Khi tăng trưởng kinh tế vắng bóng trong một thời gian dài, thì nó có thể được gọi là trì trệkinh tế Tỷ lệ thất nghiệp cao thường là hậu quả của sự đình trệ kinh tế

*Ví dụ.

Trang 19

-Khủng hoảng Châu Á 1997–1998Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á bắt đầu ở Thái Lan vào tháng 7 năm 1997 Sau đó đãlan sang các quốc gia Đông Á khác và cuối cùng đã gây ra hiệu ứng lan rộng ở Mỹ Latinh

Tăng trưởng giảm mạnh trên toàn châu Á, tỷ lệ đầu tư giảm và một số quốc gia rơi vàosuy thoái

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã vào cuộc, cung cấp các khoản vay hàng tỷ USD để giúp ổnđịnh các nền kinh tế châu Á còn yếu ở Thái Lan, Indonesia và Hàn Quốc

Để đổi lấy các khoản vay của mình, IMF yêu cầu các quy định mới dẫn đến việc giám sát

và quản lý tài chính tốt hơn

Các quốc gia nhận được các khoản vay phải tăng thuế, giảm chi tiêu công và tăng lãi suất.-Từ khi khủng hoảng kinh tế toàn cầu nổ ra năm 2008, Việt Nam chìm trong vòng xoáytăng trưởng chậm khi các thị trường xuất khẩu lớn bị ảnh hưởng, sức mua trong nướcgiảm Cả giai đoạn này, tăng GDP luôn thấp hơn 7% và ngày càng đi xuống, đến năm

2012 chỉ còn 5,03%, chưa bằng hai phần ba so với mức trước khi khủng hoảng

UNDP, cho biết: Theo một báo cáo gần đây của UNCTAD (Hội nghị Liên Hợp Quốc vềThương mại và Phát triển), thì nền kinh tế thế giới giảm 3,5% trong năm 2020 đối với cácnước phát triển là những nước phụ thuộc nhiều vào dịch vụ nên bị ảnh hưởng đặc biệtnghiêm trọng Tốc độ tăng trưởng khu vực Đông Nam Á giảm 3,9% do mất nguồn thu

từ du lịch quốc tế, suy giảm đầu tư của khu vực tư nhân và giảm hoạt động trong lĩnh vựcxây dựng và khai khoáng Việt Nam, quốc gia ghi nhận mức tăng trưởng 2,9% cho năm

Trang 20

2020, là một nước vượt trội trong khu vực nhờ việc kiểm soát dịch bệnh sớm và hiệu quả.UNCTAD dự báo tăng trưởng sản lượng thế giới là 5,3% trong năm nay khi nền kinh tếlấy lại vị thế đã mất vào năm 2020, nhưng tình hình phục hồi sẽ chậm trong năm 2022.Mặc dù tăng trưởng theo xu thế trên sẽ duy trì trong năm 2021-2022, nhưng kinh tế thếgiới vào cuối năm 2022 sẽ đạt 10 nghìn tỷ USD thấp hơn nhiều so với con số đáng lẽ sẽđạt được nếu không có đại dịch Covid-19 Sự phục hồi của Đông Nam Á sẽ bị chậm lạibởi đợt bùng phát dịch mới nhất trong khu vực, và tăng trưởng sẽ bứt tốc vào năm 2022.

*Kết luận.

Khủng hoảng tài chính là một hiện tượng có mối quan hệ nhân quả với sự vận hành củacác nền kinh tế Nhiều yếu tố có thể gây ra sự sụp đổ của các nền kinh tế dẫn đến khủnghoảng tài chính

Các cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ một nơi và có khả năng rất cao sẽ lan ra nhiềunơi khác nhau, tạo ra sự sụp đổ tổng hợp

Cùng xem thêm các thông tin thị trường, các kiến thức về tài chính, kinh nghiệm đầu tưhiệu quả tại đây

2.2 Chính sách kích cầu.

*Khái niệm.

Kích cầu là kích thích nhu cầu tiêu dùng, tiêu thụ hàng hoá nhằm phát triển sản xuất, là

biện pháp đẩy mạnh chi tiêu ròng của chính phủ (hay còn gọi tiêu dùng công cộng) đểlàm tăng tổng cầu, kích thích tăng trưởng kinh tế

Chính sách kích cầu (pum priming) là khoản chi tiêu của chính phủ được hoạch định

để kích thích tổng cầu và thông qua hiệu ứng nhân tử, cơ chế tăng tốc để tạo ra mức giatăng lớn hơn nhiều của thu nhập quốc dân

Khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái, chính phủ không phải tăng chi tiêu đến mức

đủ để bù lại mức thâm hụt sản lượng (chênh lệch giữa sản lượng tiềm năng và sản lượngthực hiện), mà chỉ cần tăng chi tiêu đến mức đủ để tạo ra làn sóng lạc quan trong nền

Trang 21

kinh tế Làn sóng lạc quan này sẽ làm cho khu vực tư nhân chi tiêu nhiều hơn và nền kinh

tế tiến tới trạng thái cân bằng toàn dụng

(Tài liệu tham khảo: Nguyễn Văn Ngọc, Từ điển Kinh tế học, Đại học Kinh tế Quốc dân)

*Tác động của chính sách kích cầu.

-Thứ nhất, tác động tích cực:

– Chính sách kích cầu đã trực tiếp hỗ trợ các doanh nghiệp tiếp cận được các nguồn vốnngân hàng với chi phí rẻ hơn, từ đó giảm bớt chi phí kinh doanh, góp phần giảm giá thànhsản phẩm, tăng cạnh tranh và tăng tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ trên thị trường; giúp cácngân hàng cải thiện hoạt động huy động vốn và cho vay tín dụng của mình;

Một mặt không phải hạ thấp lãi suất huy động dễ gây giảm và biến động mạnh nguồn tiềngửi và huy động; mặt khác, mở rộng đầu ra nhờ không buộc phải nâng lãi suất cho vay dễlàm thu hẹp cầu tín dụng trên thị trường

– Chính sách kích cầu đã góp phần gia tăng các hoạt động đầu tư phát triển cơ sở hạ tầngkinh tế và xã hội, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế, tạo nền tảng và động lực của sự pháttriển xã hội cả hiện tại, cũng như tương lai Nhiều doanh nghiệp nhận được sự hỗ trợ kịpthời của gói kích cầu đã có thêm cơ hội giữ vững và mở rộng sản xuất, từ đó góp phầngiảm bớt áp lực thất nghiệp và đảm bảo ổn định xã hội

– Cuối cùng thì chính sách kích cầu được biết đến là những hoạt động xúc tiến đầu tư vàthương mại quốc gia được tài trợ từ gói kích cầu nếu thực hiện có hiệu quả sẽ có tác độngtích cực đến việc tăng dòng vốn chảy vào và mở rộng thị trường đầu ra cho doanh nghiệp

và nền kinh tế, từ đó trực tiếp góp phần vào phát triển kinh tế – xã hội đất nước

-Thứ hai, tác động tiêu cực:

– Đối với Chính sách kích cầu thì nếu Chính phủ quá lạm dụng và sử dụng không hiệuquả các gói kích cầu sẽ có thể gây ra một số hậu quả, Ví dụ như: đối với các dự án vayđầu tư có chất lượng thấp hoặc triển khai kém hay là các vấn đề liên quan đến giải ngânkhông đúng mục đích Việc làm này sẽ làm thất thoát và lãng phí các nguồn vốn vay

Trang 22

Hoặc là có thể thiệt hại nhiều hơn đó chính là việc gia tăng gánh nặng nợ nần và các hiệntượng “đầu cơ nóng” gây hệ quả xấu cho cả Chính phủ, doanh nghiệp, ngân hàng và xãhội nói chung.

– Chính sách kích cầu sử dụng không hiệu quả các gói kích cầu sẽ làm tổn hại đến sứccạnh tranh của nền kinh tế nếu việc cho vay thiên về qui mô và thành tích việc này là gópphần níu kéo hay là duy trì cơ cấu kinh tế, đồng thời thì cơ cấu sản phẩm và thị trườngkinh doanh lạc hậu và kém hiệu quả Ngoài ra thì còn làm gia tăng hoặc kéo dài tình trạngbất bình đẳng thị trường giữa các loại hình doanh nghiệp và các khu vực kinh tế và cácđịa phương nếu không tuân thủ tốt các nguyên tắc minh bạch và bình đẳng trong triểnkhai các gói kích cầu

* Tiêu chí kích cầu

Một gói kích cầu có hiệu quả thì phải đảm bảo ít nhất ba tiêu chí: kịp thời, đúng đốitượng và ngắn hạn

Kịp thời : là việc Chính phủ phải hành động nhanh chóng mà những biện pháp đưa ra

còn phải có hiệu ứng ngay, tức là làm tăng chi tiêu của nền kinh tế

Kích cầu phải đúng đối tượng : Gói kích cầu có thành công hay không phụ thuộc rất

nhiều vào xu hướng chi tiêu và đầu tư của các đối tượng mà gói kích cầu nhắm đến

Kích cầu chỉ trong ngắn hạn : Theo nguyên tắc này, gói kích cầu sẽ chấm dứt khi nền

kinh tế đã được cải thiện Thông thường, sau khi vượt qua suy thoái, nên thực hiện cácbiện pháp để giảm thâm hụt ngân sách Nguyên tắc ngắn hạn có hai ý nghĩa: (1) gói kíchcầu thực hiện trong ngắn hạn sẽ làm tăng hiệu quả gói kích cầu; (2) chỉ kích cầu trongngắn hạn để không làm ảnh hưởng tới ngân sách trong dài hạn

*Ví dụ.

Gói kích cầu ở Việt Nam 2009.

Ở Việt Nam, gói kích cầu thứ nhất trị giá 17 000 tỷ đồng đã được Chính phủ quyết địnhthông qua và sớm được giải ngân nhanh chóng để hỗ trợ 4% lãi suất vay ngân hàng

Trang 23

thương mại cho các khoản vay ngắn hạn dưới 1 năm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cóvốn điều lệ dưới 10 tỷ đồng, sử dụng không quá 300 công nhân, không nợ đóng thuế và

nợ tín dụng quá hạn …Tiếp đó, gói kích cầu thứ hai cũng đã được công bố với quy mô lớn hơn, thời hạn cho vaydài hơn (tới 2 năm), điều kiện nới lỏng hơn (doanh nghiệp và cả HTX có vốn dưới 20 tỷđồng, sử dụng dưới 500 lao động, có thể nợ thuế và tín dụng quá hạn nhưng có dự án phùhợp vẫn được xét cho vay) và lĩnh vực cho vay cũng mở rộng hơn…

-Chính sách kích cầu hậu COVID 19

Chính phủ đẩy mạnh tuyên truyền để doanh nghiêp, người dân thực hiện đúng các quyđịnh về phòng, chống dịch và triển khai các biện pháp duy trì, ổn định sản xuất kinhdoanh; chủ động triển khai các chương trình thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh,tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19

Chính phủ cũng hỗ trợ doanh nghiệp đẩy mạnh lưu thông, phân phối hàng hóa thông quaviệc tổ chức “Hội chợ hàng hóa sản phẩm vì người tiêu dùng”, “Tuần hàng Việt”, “Tuầnhàng trái cây, nông sản các tỉnh, thành phố tại Hà Nội”, giới thiệu cho các tỉnh, thành phố

24 địa điểm tổ chức điểm bán trái cây, nông sản mùa vụ tại Hà Nội

Từ đầu năm đến nay, Sở Công Thương đã đẩy mạnh hỗ trợ các tỉnh kết nối tiêu thụ sảnphẩm với các doanh nghiệp, đơn vị phân phối, chế biến của Hà Nội Nhờ đó các tỉnh,thành phố đã tiêu thụ được 74.000 tấn sản phẩm, trị giá 920 tỷ đồng thông qua hệ thốngbán lẻ, chế biến của Thành phố

Nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất, kinhdoanh khi Hà Nội giãn cách xã hội, Sở Công Thương phối hợp với Sở GTVT cấp mã QRđăng ký “luồng xanh” cho khoảng 2.500 ô tô, 9.500 xe máy vận chuyển hàng hóa thiếtyếu

Sở cũng chỉ đạo các doanh nghiệp tăng lượng dự trữ hàng hóa, tăng cường bán onlinetrên nền tảng thương mại điện tử, bán hàng combo, đi chợ hộ, bán hàng lưu động, đăng

Trang 24

ký phục vụ 24/7, tiếp nhận và chấp thuận cho 13.300 website/ứng dụng thương mại điện

tử hoạt động Song song với đó, Sở tăng cường hướng dẫn, kiểm tra, kiểm soát công tácphòng, chống dịch, việc chấp hành pháp luật trong sản xuất, kinh doanh của các doanhnghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh…

*Rủi ro của chính sách kích cầu.

Việc tung ra các chương trình phục hồi và phát triển nền kinh tế trị giá hàng tỷ USDkhiến nhiều người lo ngại về rủi ro lạm phát mà Việt Nam sẽ phải đối mặt trong 1 - 2 nămtới nhất là khi giá cả thị trường thế giới đang có xu thế tăng Lạm phát toàn cầu còn ởmức cao khoảng 3,3%

Nền kinh tế toàn cầu phục hồi mạnh mẽ, các công ty đang phải vật lộn để đáp ứng nhucầu của khách hàng sau đại dịch Chỉ số giá tiêu dùng tăng cao cũng được ghi nhận ởnhiều nước Nhiều chuyên gia kinh tế cảnh báo, các ngân hàng trung ương nên chuẩn bịhành động nhanh chóng nếu rủi ro lạm phát gia tăng trở nên hữu hình hơn trong quá trìnhphục hồi

Những số liệu lạm phát được công bố gần đây của các nền kinh tế lớn trên thế giới đangcho thấy áp lực tăng giá cả trên phạm vi toàn cầu ngày càng lớn Các nhà quan sát vàhoạch định chính sách đều có chung nhận định, lạm phát đang đang có xu hướng ngàycàng tăng mạnh trên khắp thế giới

Trước tình trạng này, Quỹ Tiền tệ Quốc tế đã hạ dự bảo tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm

2021 từ 6% xuống 5,9% và sang năm 2022 sẽ là 4,9% Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế, lạmphát tăng sẽ tạo ra các rủi ro đối với các nền kinh tế trên thế giới

-Vấn đề đầu tiên là nợ tăng cao Khi các quốc gia chống chọi với đại dịch, họ đã nới lỏngchính sách tiền tệ, mở rộng chi tiêu tài khoá… Kết quả là nợ trong khu vực doanh nghiệp,

nợ giữa các chính phủ và nợ trong lĩnh vực hộ gia đình ở một số quốc gia đã tăng lên rấtnhiều

Ngày đăng: 23/12/2023, 21:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w