Sự tác động ngược trở lại của ý thức xã hội lên tồn tại xã hội là biểu hiện quan trọng của tính độc lập tương đối của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội.... Quy luật phủ định của phủ đ
Trang 1BÀI KIỂM TRA NHÓM VÀ BÀI HỌC TRÌNH
Tên học phần: Triết học Mac-Lenin Lớp học phần: D06
Tên nhóm: 44-50
Thành viên nhóm:
Trang 2
MỤC LỤC BÀI NHÓM: Nội dung và Ý nghĩa phương pháp luận của Quy luật phủ định của phủ
định Liên hệ với hoạt động thực tiễn của sinh viên
1 Nội dung Quy luật phủ định của phủ định 3
1.1 Phủ định biện chứng 3
1.2 Kế thừa biện chứng 4
2 Ý nghĩa phương pháp luận Quy luật phủ định của phủ định 5
3 Liên hệ với hoạt động thực tiễn của sinh viên 6
BÀI HỌC TRÌNH: Mối quan hệ biện chứng giữa Tồn tại xã hội và Ý thức xã hội Ý nghĩa phương pháp luận 1 Tồn tại xã hội 7
1.1 Khái niệm 7
1.2 Các yếu tố cơ bản tạo thành điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội 7
2 Ý thức xã hội 8
2.1 Khái niệm 8
2.2 Kết cấu 8
2.3 Tính giai cấp của ý thức xã hội 9
3 Mối quan hệ biện chứng giữa Tồn tại xã hội và Ý thức xã hội 9
3.1 Tồn tại xã hội quy định ý thức xã hội 9
3.2 Tính độc lập tương đối và sự tác động ngược trở lại của ý thức xã hội 9
3.3 Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội cũng gây ảnh hưởng tới tồn tại xã hội
3.4 Sự tác động ngược trở lại của ý thức xã hội lên tồn tại xã hội là biểu hiện quan trọng của tính độc lập tương đối của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội
4 Ý nghĩa phương pháp luận 11 TÀI LIỆU THAM KHẢO
2
Trang 3ĐỀ BÀI NHÓM: Nội dung và Ý nghĩa phương pháp luận của Quy luật phủ định của phủ
định Liên hệ với hoạt động thực tiễn của sinh viên
I Nội dung Quy luật phủ định của phủ định.
Theo triết học Mác - Lênin, bất kỳ sự vật, hiện tượng nào trên thế giới đều trải qua quá trình sinh ra, tồn tại, phát triển và diệt vong Sự vật cũ mất đi được thay thế bằng những
sự vật mới và sự thay thế đó là tất yếu trong sự vận động và phát triển của sự vật Nếu không như vậy sự vật sẽ không thể phát triển được Và trong Triết học, sự thay thế đó
được gọi là sự phủ định.
Quy luật phủ định của phủ định là một trong ba quy luật của phép biện chứng duy
vật, Quy luật chỉ ra khuynh hướng (đi lên), hình thức (xoáy ốc), kết quả (sự vật, hiện tượng mới ra đời từ sự vật, hiện tượng cũ) của sự phát triển của chúng thông qua sự thống nhất giữa tính thay đổi với tính kế thừa trong sự phát triển; nghĩa là sự vật, hiện tượng mới ra đời từ sự vật, hiện tượng cũ, nó phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn Nội dung Quy luật phủ định của phủ định thể hiện qua các khái niệm và mối quan hệ giữa chúng dưới đây:
1 Phủ định biện chứng:
- Là khái niệm dùng để chỉ sự phủ định làm tiền đề, tạo điều kiện cho sự phát triển Phủ định biện chứng làm cho sự vật, hiện tượng mới ra đời thay thế sự vật, hiện tượng cũ và
là yếu tố liên hệ giữa sự vật, hiện tượng cũ với sự vật, hiện tượng mới Phủ định biện chứng là tự phủ định, tự phát triển của sự vật, hiện tượng; là “mắt xích” trong “sợi dây chuyền” dẫn đến sự ra đời của sự vật, hiện tượng mới, tiến bộ hơn so với sự vật, hiện tượng cũ
- Một số tính chất của phủ định biện chứng:
Tính khách quan: Quá trình đấu tranh, giải quyết mâu thuẫn tất yếu bên trong
bản thân sự vật, tạo kả năng ra đời cái mới thay thế cái cũ, nhờ đó tạo nên xu hướng phát triển của chính bản thân sự vật
Tính kế thừa: Yếu tố mới hình thành và phát triển tự thân thông qua quá trình
chọn lọc, loại bỏ những mặt tiêu cực, lỗi thời, giữ lại những nội dung tích cực
Tính phổ biến: Diễn ra trong mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy.
Tính đa dạng, phong phú: Thể hiện ở nội dung, hình thức của nó
- Đặc điểm cơ bản của phủ định biện chứng là sau một số (ít nhất là hai) lần phủ định, sự
vật, hiện tượng phát triển có tính chu kỳ theo đường xoáy ốc mà thực chất của sự phát triển đó là sự biến đổi, trong đó giai đoạn sau vẫn bảo tồn những gì tích cực đã được tạo
ra ở giai đoạn trước Với đặc điểm này, phủ định biện chứng không chỉ khắc phục hạn
Trang 4chế của sự vật, hiện tượng cũ; mà còn gắn chúng với sự vật, hiện tượng mới; gắn sự vật, hiện tượng được khẳng định với sự vật, hiện tượng bị phủ định
- Vì vậy, phủ định biện chứng là vòng khâu tất yếu của sự liên hệ và sự phát triển.
2 Kế thừa biện chứng
- Là khái niệm dùng để chỉ việc sự vật, hiện tượng mới ra đời vẫn giữ lại có chọn lọc và
cải tạo yếu tố còn thích hợp để chuyển sang chúng; loại bỏ các yếu tố không còn thích hợp của sự vật, hiện tượng cũ đang gây cản trở cho sự phát triển của sự vật, hiện tượng mới
- Đặc điểm của kế thừa biện chứng là duy trì các yếu tố tích cực của sự vật, hiện tượng bị
phủ định dưới dạng vượt bỏ, các yếu tố chọn giữ lại sẽ được cải tạo, biến đổi để phù hợp với sự vật, hiện tượng mới
- Giá trị của sự kế thừa biện chứng chịu sự quy định bởi vai trò của yếu tố phù hợp được
kế thừa Do vậy, việc giữ lại yếu tố tích cực của sự vật, hiện tượng bị phủ định làm cho
sự vật, hiện tượng mới có chất giàu có hơn, phát triển cao hơn, tiến bộ hơn
- Kế thừa biện chứng đối lập với kế thừa siêu hình – là việc đối tượng giữ lại nguyên vẹn
những gì bản thân nó đã có ở giai đoạn phát triển trước, không tự mình rũ bỏ những yếu
tố đã tỏ ra lạc hậu hết thời, không còn phù hợp, thậm chí còn ngáng đường, ngăn cản sự phát triển tiếp theo của chính nó, của đối tượng mới
- Ta có, đường xoáy ốc chính là hình thức diễn đạt rõ nhất đặc trưng của quá trình phát
triển biện chứng ở tính kế thừa qua khâu trung gian, tính lặp lại, nhưng không quay lại và tính tiến lên của sự phát triển
- Trong đó, sự phát triển dường như lặp lại, nhưng trên cơ sở mới cao hơn là đặc điểm quan trọng nhất của quy luật phủ định của phủ định Mỗi vòng mới của đường xoáy ốc thể hiện trình độ phát triển cao hơn và sự nối tiếp nhau các vòng của đường xoáy ốc thể hiện tính vô tận của sự phát triển từ thấp đến cao
Như vậy, Quy luật phủ định của phủ định biểu hiện sự phát triển của sự vật, hiện
tượng là do mâu thuẫn bên trong chúng quy định Mỗi lần phủ định là kết quả của sự đấu tranh và chuyển hóa giữa những mặt đối lập trong sự vật, hiện tượng – giữa mặt khẳng
định và phủ định.
Phủ định lần thứ nhất làm cho sự vật, hiện tượng cũ chuyển thành sự vật, hiện tượng
đối lập với nó (cái phủ định, phủ định cái bị phủ định, cái bị phủ định là tiền đề là cái cũ, cái phủ định là cái mới xuất hiện sau cái phủ định là cái đối lập với cái bị phủ định Cái phủ định sau khi khi phủ định cái bị phủ định, cái phủ định định lại tiếp tục biến đổi và tạo ra chu kỳ phủ định lần thứ hai)
4
Trang 5Phủ định lần thứ hai được thực hiện dẫn tới sự vật mới ra đời Sự vật này đối lập với
cái được sinh ra ở lần phủ định thứ nhất Nó dường như lập lại cái ban đầu nhưng nó được bổ sung nhiều nhân tố mới cao hơn, tích cực hơn
Kết quả của sự phủ định của phủ định là điểm kết thúc của một chu kỳ phát triển và
cũng là điểm khởi đầu của chu kỳ phát triển tiếp theo Về hình thức, sự vật, hiện tượng
mới (ra đời do phủ định của phủ định) sẽ lại trở về sự vật, hiện tượng xuất phát (chưa bị
phủ định lần nào) Nhưng về nội dung, sự vật, hiện tượng không trở lại giống như cũ mà
sẽ lại tiếp tục phủ định biện chứng chính mình để phát triển Cứ như vậy sự vật, hiện tượng mới ngày càng mới hơn
Số lượng các lần phủ định trong một chu kỳ phát triển có thể nhiều hơn hai, tuỳ theo tính chất của quá trình phát triển cụ thể, nhưng ít nhất cũng phải qua hai lần mới dẫn đến
sự ra đời của sự vật, hiện tượng mới, hoàn thành được một chu kỳ phát triển
Tóm lại, Quy luật phủ định của phủ định phản ánh mối liên hệ, sự kế thừa thông qua
khâu trung gian giữa cái bị phủ định và cái phủ định Do có kế thừa nên phủ định biện chứng không phải là sự phủ định sạch trơn mà là điều kiện cho sự phát triển, nó lưu giữ nội dung tích cực của các giai đoạn trước, lặp lại một số đặc điểm chủ yếu của cái ban đầu trên cơ sở mới cao hơn Chính vì thế, sự phát triển có tính chất tiến lên không hẳn theo đường thẳng, mà theo đường xoáy ốc
II Ý nghĩa phương pháp luận
- Thứ nhất, quy luật này chỉ ra khuynh hướng tiến lên của sự vận động của sự vật, hiện tượng; sự thống nhất giữa tính tiến bộ và tính kế thừa của sự phát triển Sau khi đã trải qua các mắt xích chuyển hóa, có thể xác định được kết quả cuối cùng của sự phát triển
Vì vậy trong hoạt động thực tiễn, chúng ta cần phải có niềm tin vào xu hướng của sự phát triển
- Thứ hai, quy luật này giúp nhận thức đúng về xu hướng của sự phát triển, đó là quá trình diễn ra quanh co, phức tạp, không hề đều đặn thẳng tắp, không va vấp, không có những bước thụt lùi
- Thứ ba, quy luật này giúp nhận thức đầy đủ hơn về sự vật, hiện tượng mới, ra đời phù hợp với quy luật phát triển, biểu hiện giai đoạn cao về chất trong sự phát triển Trong tự nhiên, sự xuất hiện của sự vật, hiện tượng mới diễn ra tự phát Nhưng trong xã hội, sự xuất hiện mới đó gắn với việc nhận thức và hành động có ý thức của con người Vì vậy trong hoạt động thực tiễn cần phải phát huy tính năng động sáng tạo, phát hiện những cái mới thay thế những cái cũ lỗi thời
Trang 6- Thứ tư, tuy sự vật, hiện tượng mới thắng sự vật, hiện tượng cũ, nhưng trong thời gian nào đó, sự vật, hiện tượng cũ còn mạnh hơn Vì vậy, cần ủng hộ sự vật, hiện tượng mới, tạo điều kiện cho nó phát triển hợp quy luật, biết kế thừa có chọn lọc những yếu tố tích cực và hợp lý của sự vật, hiện tượng cũ làm cho nó phù hợp với xu thế vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng mới
* Ví dụ như chúng ta cần phải kế thừa phát triển những tinh hoa văn hoá của dân tộc và
tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại Loại bỏ những hủ tục lạc hậu, những tư tưởng lỗi thời mang tính bảo thủ
- Trong quá trình đổi mới của nước ta cùng đều diễn ra theo chiều hướng đó Nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa đặt dưới sự quản lý điều tiết của nhà nước tạo tiền đề phủ định nền kinh tế tập trung, bao cấp đặt nền móng cho xã hội phát triển cao hơn nó trong tương lai đó là hệ thống Xã hội Chủ nghĩa
- Tuy nhiên ở mỗi mô hình đều có đặc điểm riêng Do đó, chúng ta đã nhận thức được vấn đề và đã có cách thức tác động phù hợp với sự phát triển của thực tiễn đất nước, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế và từng bước xóa bỏ đói nghèo nhưng không vì thế mà chúng ta không trân trọng cái cũ
- Chúng ta đã biết giữ hình thức cải tạo nội dung, biết kế thừa và sử dụng đặc trựng tiến
bộ của nền kinh tế tập trung là tiền đề để phát triển nền kinh tế thị trường trên cơ sở đảm bảo định hướng Xã hội Chủ nghĩa
- Tuy nhiên để có thành công như hôm nay, trong cà hoạt động nhận thức cũng như hoạt động thực tiến chúng ta phải vận dụng tổng hợp tất cả những quy luật một cách đầy đủ sâu sắc, năng động, sáng tạo phù hợp với điều kiện cụ thể Chỉ có như vậy hoạt động của chúng ta, kể cả hoạt động học tập, mới có chất lượng và hiệu quả cao
III Liên hệ với hoạt động thực tiễn của sinh viên
- Nhằm tạo ra môi trường học tập năng động, sáng tạo, rèn luyện bản thân, trau dồi các kĩ năng mềm cũng như kiến thức, các nhóm sinh viên đã lập ra các câu lạc bộ, đội nhóm Sau khi các nhóm sinh viên này ra trường thì những thành viên thế hệ mới sẽ kế thừa và phát triển Mỗi năm đều tuyển thành viên mới và ngày càng tạo ra những sân chơi bổ ích thu hút đông đảo các bạn sinh viên giúp họ có những kỹ năng cần thiết, mở rộng quan hệ, biết thêm nhiều kiến thức bổ ích…
=> Như vậy, ta có thể nói những thành viên thế hệ mới là phủ định của các nhóm thành viên đã ra trường Và kết quả của sự phủ định này là chúng ta vẫn là những câu lạc bộ,
6
Trang 7đội nhóm ban đầu nhưng phát triển lên nấc thang cao hơn, tạo ra xu hướng tiến lên không ngừng, trải qua nhiều thế hệ từ đó càng có nhiều bạn sinh viên được trau dồi những kiến thức, kĩ năng và mang lại nhiều yếu tố tích cực mới
- Thường xuyên đổi mới phương pháp học tập phù hợp với điều kiện: Môi trường học tập
ở bậc phổ thông và đại học có rất nhiều điểm khác biệt về phương pháp học tập và giảng dạy Chính vì thế, sinh viên cần có những phương pháp học tập đúng đắn và đem lại hiệu quả như chủ động tìm kiếm tài liệu, chủ động trong tư duy để tìm hiểu, thảo luận cũng như việc cân bằng thời gian giữa việc học và rèn luyện những kĩ năng…
=> Như vậy, phương pháp học tập ở bậc đại học là phủ định của của phương pháp học tập ở phổ thông Kết quả của sự phủ định này cũng là điểm khởi đầu cho những nhân tố mới mẻ hơn, mang lại hiệu quả cao hơn, phù hợp với từng giai đoạn phát triển
ĐỀ BÀI HỌC TRÌNH: Mối quan hệ biện chứng giữa Tồn tại xã hội và Ý thức xã hội Ý
nghĩa phương pháp luận
Để nêu ra được mối quan hệ biện chứng giữa Tồn tại xã hội và Ý thức xã hội, trước tiên chúng ta cần hiểu chi tiết, cụ thể hơn về Tồn tại xã hội và Ý thức xã hội
1 Tồn tại xã hội
1.1 Khái niệm: Tồn tại xã hội là toàn bộ sinh hoạt vật chất và những điều kiện sinh
hoạt vật chất của xã hội Tồn tại xã hội của con người là thực tại xã hội khách quan, là một kiểu vật chất xã hội, là các quan hệ xã hội vật chất được ý thức xã hội phản ánh Trong các quan hệ xã hội vật chất ấy thì quan hệ giữa con người với giới tự nhiên và quan hệ giữa con người với con người là những quan hệ cơ bản nhất
1.2 Các yếu tố cơ bản tạo thành điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội, gồm có:
- Một là, phương thức sản xuất ra của cải vật chất của xã hội Ví dụ, phương thức kỹ thuật canh nông lúa nước là nhân tố cơ bản tạo thành điều kiện sinh hoạt vật chất truyền thống của người Việt Nam
- Hai là, các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên - hoàn cảnh địa lý như: các điều kiện khí hậu, đất đai, sông hồ, tạo nên đặc điểm riêng có của không gian sinh tồn của cộng đồng
xã hội
- Ba là, các yếu tố dân cư bao gồm: cách thức tổ chức dân cư, tính chất lưu dân cư, mô hình tổ chức dân cư,
- Các yếu tố đó tồn tại trong mối quan hệ thống nhất biện chứng, tác động lẫn nhau tạo thành điều kiện sinh tồn và phát triển của xã hội, trong đó phương thức sản xuất vật chất
là yếu tố cơ bản nhất
Trang 82 Ý thức xã hội
2.1 Khái niệm: Ý thức xã hội là các mặt, các bộ phận khác nhau của lĩnh vực tinh
thần xã hội như quan điểm, tư tưởng, tình cảm, tâm trạng, truyền thống của cộng đồng
xã hội; mà những bộ phận này nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định, hợp thành văn hóa tinh thần của xã hội Văn hóa tinh thần của xã hội mang đậm dấu ấn đặc trưng của hinh thái kinh tế - xã hội, của các giai cấp đã tạo ra nó Hay ý thức xã hội chính là xã hội tự nhận thức về mình, về sự tồn tại xã hội của mình và về hiện thực xung quanh mình
2.2 Kết cấu: Ý thức xã hội phản ánh tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau Sự đa
dạng các hình thái ý thức xã hội là do tính nhiều mặt, nhiều vẻ và đa dạng của đời sống
xã hội quy định Chúng phản ánh xã hội theo những cách thức khác nhau Tùy thuộc vào góc độ xem xét, người ta thường chia ý thức xã hội thành ý thức xã hội thông thường và ý thức lý luận, tâm lý xã hội và hệ tư tưởng xã hội
- Ý thức xã hội thông thường là những tri thức, những quan niệm của con người hình
thành một cách trực tiếp trong các hoạt động trực tiếp hằng ngày nhưng chưa được hệ thống hóa, tổng hợp và khái quát hóa Nó phản ánh một cách sinh động và trực tiếp các mặt khác nhau của cuộc sống hằng ngày của con người
- Ý thức lý luận là những tư tưởng, những quan điểm được tổng hợp, hệ thống hóa và khái
quát hóa thành các học thuyết xã hội dưới dạng các khái niệm, các phạm trù, các quy luật Phản ánh hiện thực khách quan một cách sâu sắc, chính xác, bao quát và vạch ra được những mối liên hệ khách quan, bản chất, tất yếu mang tính quy luật của các sự vật và các quá trình xã hội Đồng thời, ý thức khoa học có khả năng phản ánh vượt trước hiện thực
- Tâm lý xã hội bao gồm toàn bộ tư tưởng, tình cảm, tâm trạng, thói quen, nếp sống, nếp
nghĩ, phong tục, tập quán, ước muốn của một người, một bộ phận xã hội hay của toàn thể xã hội hình thành dưới tác động trực tiếp của cuộc sống hằng ngày Nó cũng phản ánh một cách trực tiếp và tự phát những điều kiện sinh hoạt hằng ngày của con người cho nên chỉ ghi lại những gì dễ thấy, những gì nằm trên bề mặt của tồn tại xã hội
- Hệ tư tưởng là giai đoạn phát triển cao hơn của ý thức xã hội, là sự nhận thức lý luận về
tồn tại xã hội Hệ tư tưởng có khả năng đi sâu vào bản chất của mọi mối quan hệ xã hội Đây là kết quả của sự tổng kết, sự khái quát hóa các kinh nghiệm xã hội để hình thành nên những quan điểm, những tư tưởng về chính trị, pháp luật, triết học, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo
o Hệ tư tưởng không khoa học phản ánh các quan hệ vật chất một cách hư ảo, sai lầm hoặc xuyên tạc
8
Trang 9o Hệ tư tưởng khoa học phản ánh các quan hệ, các quá trình và hiện tượng xã hội một cách khách quan, chính xác
2.3 Tính giai cấp của ý thức xã hội biểu hiện cả ở tâm lý xã hội lẫn ở hệ tư tưởng.
- Ở trình độ tâm lý xã hội mỗi giai cấp xã hội đều có tình cảm, tâm trạng, thói quen, thiện
cảm hay ác cảm riêng
- Ở trình độ hệ tư tưởng tính giai cấp thể hiện rõ rệt và sâu sắc hơn nhiều Ở trình độ này
sự đối lập giữa các hệ tư tưởng của những giai cấp khác nhau thường là không dung hòa nhau Và khi đó, hệ tư tưởng thống trị trong xã hội là hệ tư tưởng của giai cấp thống trị
- Ý thức của các giai cấp trong xã hội có sự tác động qua lại với nhau Không chỉ giai cấp
bị thống trị chịu ảnh hưởng tư tưởng của giai cấp thống trị mà giai cấp thống trị cũng chịu ảnh hưởng tư tưởng của giai cấp bị thống trị
3 Mối quan hệ biện chứng giữa Tồn tại xã hội và Ý thức xã hội
3.1 Tồn tại xã hội quy định ý thức xã hội.
- Tồn tại xã hội là cái thứ nhất, ý thức xã hội là cái thứ hai Tồn tại xã hội quy định nội
dung, bản chất, đặc điểm và xu hướng vận động của ý thức xã hội; ý thức xã hội phản ánh cái logic khách quan của tồn tại xã hội
- Tồn tại xã hội thay đổi là điều kiện quyết định để ý thức xã hội thay đổi Khi tồn tại xã
hội, đặc biệt là phương thức sản xuất biến đổi thì tư tưởng, quan điểm về chính trị, pháp luật và triết học sớm hay muộn cũng sẽ có những sự thay đổi nhất định
- Tồn tại xã hội quy định ý thức xã hội không giản đơn, trực tiếp mà thường thông qua các khâu trung gian Không phải bất kỳ tư tưởng, quan niệm, lý luận, hình thái ý thức xã hội nào cũng phản ánh rõ ràng và trực tiếp những quan hệ kinh tế của thời đại, mà chỉ khi xét cho đến cùng mới thấy rõ những mối quan hệ kinh tế được phản ánh, bằng cách này hay cách khác, trong các tư tưởng ấy Như vậy, sự phản ánh tồn tại xã hội của ý thức xã hội phải được xem xét một cách biện chứng
3.2 Tính độc lập tương đối và sự tác động ngược trở lại của ý thức xã hội.
- Ý thức xã hội thường lạc hậu so với tồn tại xã hội do không phản ánh kịp những thay
đổi của tồn tại xã hội do những thói quen, truyền thống, tập quán và tính bảo thủ của một
số hình thái ý thức xã hội tiếp tục tồn tại sau khi những điều kiện lịch sử sinh ra chúng đã mất đi từ lâu, do lợi ích nên không chịu thay đổi
- Ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội Do tính năng động của ý thức, trong những điều kiện nhất định, tư tưởng, đặc biệt là những tư tưởng khoa học tiên tiến có thể
Trang 10vượt trước sự phát triển của tồn tại xã hội, dự báo được quy luật và có tác dụng tổ chức, hướng hoạt động thực tiễn của con người vào mục đích nhất định
- Ý thức xã hội có tính kế thừa Quan điểm, lý luận của mỗi thời đại được tạo ra trên cơ
sở kế thừa những thành tựu lý luận của các thời đại trước Kế thừa có tính tất yếu khách quan; có tính chọn lọc và sáng tạo; kế thừa theo quan điểm lợi ích; theo truyền thống và đổi mới Lịch sử phát triển của các tư tưởng cho thấy những giai đoạn hưng thịnh và suy tàn của suy tàn của nền kinh tế
3.3 Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội cũng gây ảnh hưởng tới tồn tại xã hội.
Trong mỗi thời đại, tuỳ theo những hoàn cảnh lịch sử cụ thể sẽ có những hình thái ý thức
xã hội nào đó nổi lên hàng đầu tác động và chi phối các hình thái ý thức xã hội khác => Các hình thái ý thức xã hội không chỉ chịu sự tác động quyết định của tồn tại xã hội, mà còn chịu sự tác động lẫn nhau Mối liên hệ và tác động lẫn nhau đó giữa các hình thái ý thức xã hội làm cho mỗi hình thái ý thức xã hội có những tính chất và những mặt không thể giải thích trực tiếp được bằng các quan hệ vật chất
3.4 Sự tác động ngược trở lại của ý thức xã hội lên tồn tại xã hội là biểu hiện quan trọng của tính độc lập tương đối của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội.
Đó là sự tác động nhiều chiều với các phương thức phức tạp Sự tác động này thể hiện mức độ phù hợp giữa tư tưởng với hiện thực, sự xâm nhập của ý thức xã hội vào quần chúng cả chiều sâu, chiều rộng và phụ thuộc vào khả năng hiện thực hoá ý thức xã hội của giai cấp và đảng phái Như vậy, ý thức xã hội, với tính cách là thể thống nhất độc lập, tích cực tác động ngược trở lại lên tồn tại xã hội nói riêng và lên đời sống xã hội nói chung
4 Ý nghĩa phương pháp luận.
- Thứ nhất, tồn tại xã hội và ý thức xã hội là hai phương diện thống nhất biện chứng của đời sống xã hội Vì vậy công cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới phải được tiến hành đồng thời trên cả hai mặt tồn tại xã hội và ý thức xã hội
- Thứ hai, nghiên cứu ý thức xã hội không được dừng lại ở các hiện tượng ý thức mà phải
đi sâu nghiên cứu tồn tại xã hội Do đó, để nhận thức đúng các hiện tượng của đời sống ý thức xã hội thì cần phải căn cứ vào tồn tại xã hội đã làm nảy sinh ra nó, đồng thời cũng cần phải giải thích các hiện tượng đó từ các phương diện khác nhau thuộc nội dung tính độc lập tương đối của chúng
10