Một số khái niệm liên quan đến giải phóng mặt bằng Theo Luật Đất đai 2013 số 45/2013/QH13, đưa ra một số khái niệm sau: Nhà nước thu hồi đất: Là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền s
Trang 1TRẦN NGỌC KHẨN
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BỒI
THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ CỦA MỘT SỐ
DỰ ÁN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU GIAI ĐOẠN 2014 -2018
`
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Thái Nguyên - Năm 2021
Trang 2TRẦN NGỌC KHẨN
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BỒI
THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ CỦA MỘT SỐ
DỰ ÁN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHONG THỔ TỈNH LAI CHÂU GIAI ĐOẠN 2014 -2018
Ngành : Quản lý Đất đai
`
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thu Thùy
Thái Nguyên - Năm 2021
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Trần Ngọc Khẩn
Trang 4Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo, Khoa Quản lý Tài nguyên đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo UBND huyện Phong Thổ, Phòng Tài nguyên
và Môi trường, Trung tâm phát triển quỹ đất huyện huyện Phong Thổ đã giúp đỡ, tạo điều kiện và cung cấp những số liệu, tài liệu cần thiết để nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thu Thùy người đã dành nhiều thời gian tâm huyết, trực tiếp hướng dẫn tận tình, chỉ bảo và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài và hoàn chỉnh bản Luận văn thạc sĩ khoa học chuyên ngành Quản lý đất đai
Qua đây, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, khích lệ, sẻ chia, giúp đỡ và đồng hành cùng tôi trong cuộc sống và trong quá trình học tập, nghiên cứu!
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 9 năm 2021
Tác giả
Trần Ngọc Khẩn
Trang 5ADB : Ngân hàng phát triển châu Á
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Ý nghĩa của đề tài 2
3.1 Ý nghĩa khoa học 2
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến giải phóng mặt bằng 3
1.1.2 Những quy định về thu hồi đất 3
1.1.3 Những quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất 6
1.1.4 Những quy định về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất 6
1.1.5 Những quy định về tái định cư, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 15 1.2 Cơ sở pháp lý của đề tài 16
1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài 18
1.3.1 Sơ lược về công tác giải phóng mặt bằng 1 số quốc gia trên thế giới 19
1.3.2 Tình hình bồi thường, giải phóng mặt bằng ở Việt Nam 25
1.4 Đánh giá chung 34
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 35
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 35
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 35
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 35
2.2.1 Thời gian nghiên cứu 35
Trang 72.2.2 Địa điểm nghiên cứu 35
2.3 Nội dung nghiên cứu 36
2.3.1 Thực trạng công tác quản lý và sử dụng đất tại huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu 36
2.3.2 Đánh giá việc thực hiện bồi thường GPMB của 03 dự án nghiên cứu 36
2.3.3 Đánh giá công tác bồi thường GPMB của 03 dự án qua ý kiến của người dân và cán bộ xã 36
2.3.4 Thuận lợi, khó khăn và giải pháp nâng cao hiệu quả về công tác bồi thường GPMB khi Nhà nước thu hồi đất trên địa huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu 36
2.4 Phương pháp nghiên cứu 37
2.4.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu thứ cấp 37
2.4.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu sơ cấp 37
2.4.3 Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp số liệu và xử lý số liệu điều tra 38
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39
3.1 Thực trạng quản lý và sử dụng đất tại huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu 39
3.1.1 Hiện trạng sử dụng đất 39
3.1.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất tại huyện Phong Thổ 41
3.1.3 Khái quát về 03 dựa án GPMB tại huyện Phong Thổ và các chính sách liên quan đến thực hiện bồi thường GPMB khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu 42
3.1.4 Trình tự thực hiện theo quy định bồi thường giải phóng mặt bằng của huyện Phong Thổ 44
3.1.5 Các văn bản pháp lý có liên quan đến 03 dự án, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu 53 3.2 Đánh giá việc thực hiện GPMB các dự án trên địa bàn huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu 54
3.2.1 Xác định đối tượng và điều kiện để được bồi thường 54
3.2.2 Kết quả điều tra, xác định các đối tượng và điều kiện được bồi thường tại 03 dự án tại huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu 55
3.2.3 Loại đất, diện tích thu hồi của 03 dự án nghiên cứu 55
3.2.4 Bồi thường, hỗ trợ thiệt hại về đất và tài sản trên đất 56
Trang 83.2.5 Đánh giá tiến độ thực hiện bồi thường GPMB của 03 dự án nghiên cứu
qua ý kiến người dân 57
3.3 Đánh giá công tác bồi thường GPMB của 03 dự án qua ý kiến của người dân và cán bộ xã 58
3.3.1 Ý kiến của cán bộ xã 58
3.3.2.Ý kiến người dân về mức bồi thường 59
3.3.3 Ảnh hưởng của việc thực hiện chính sách thu hồi, bồi thường đất đến đời sống của người dân 60
3.4 Thuận lợi, khó khăn và giải pháp nâng cao hiệu quả về công tác bồi thường GPMB khi Nhà nước thu hồi đất trên địa huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu 64
3.4.1 Thuận lợi 64
3.4.2 Khó khăn, tồn tại 65
3.4.3 Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác bồi thường, GPMB, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Phong Thổ 65
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
1.Kết luận 68
2 Kiến nghị 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1 Hiện trạng sử dụng đất huyện Phong Thổ năm 2018 39
Bảng 3.2 Quy mô của 03 dự án 43
Bảng 3.3: Tổng hợp đối tượng được bồi thường, hỗ trợ của 03 dự án 55
Bảng 3.4: Bảng tổng hợp diện tích, loại đất thu hồi của 03 dự án 56
Bảng 3.5: Kinh phí bồi thường GPMB của 03 dự án nghiên cứu 57
Bảng 3.6: Tiến độ thực hiện bồi thường BPMB của 03 dự án nghiên cứu 57
Bảng 3.7: Tổng hợp ý kiến cán bộ xã về mức bồi thường GPMB 58
Bảng 3.8: Tổng hợp ý kiến của người dân về mức bồi thường GPMB 59
Bảng 3.9: Kết quả phỏng vấn chi tiết về thu hồi đất nông nghiệp và bồi thường
hỗ trợ của các hộ dân tại 03 dự án 61
Bảng 3.10: Phương thức sử dụng tiền các hộ dân tại 03 dự án nghiên cứu 61
Bảng 3.11: Trình độ văn hoá, chuyên môn của số người trong độ tuổi lao động
tại 03 dự án nghiên cứu 62
Bảng 3.12: Tình hình lao động, việc làm của các hộ thuộc khu vực bồi thường GPMB 03 dự án nghiên cứu 63
Bảng 3.13: Thu nhập bình quân của người dân trước và sau thu hồi đất 63
tại 03 dự án nghiên cứu 63
Bảng 3.14: Đánh giá của người dân về cơ sở hạ tầng, phúc lợi xã hội
sau khi thu hồi đất 64
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn nội lực, nguồn vốn to lớn của đất nước, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội,
an ninh và quốc phòng Cho nên việc bảo vệ nguồn tài nguyên đất đai là một vấn đề hết sức quan trọng
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập và trên đà phát triển mạnh về kinh tế với mục tiêu đến năm 2020 tầm nhìn đến 2030 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại; cùng với tốc độ đô thị hóa ngày càng tăng, nhu cầu đất cho xây dựng cơ sở hạ tầng, nhà ở ngày càng lớn Do đó nhu cầu về mặt bằng cấp thiết đã yêu cầu công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng trở thành một yếu tố quan trọng để triển khai thực hiện dự án có hiệu quả
Công tác giải phóng mặt bằng mang tính quyết định tiến độ của các dự án, là khâu đầu tiên thực hiện dự án Công việc làm này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước, của chủ đầu tư, mà còn ảnh hưởng đến đời sống vật chất cũng như tinh thần của nhiều người dân, có đất bị thu hồi
Huyện Phong Thổ được tỉnh xác định là vùng kinh tế động lực về phát triển kinh tế của tỉnh Lai Châu là một huyện có Cửa khẩu quốc gia Ma Lù Thàng đây là những thế mạnh mà không phải huyện nào cũng có Tuy nhiên Phong Thổ là huyện mới chia tách thành lập, do vậy công tác xây dựng cơ sở hạ tầng đang được quan tâm đầu tư rất nhiều công trình, dự án Vì thế công tác giải phóng mặt bằng được xác định là một trong nhiệm vụ cấp thiết để phục vụ phát triển kinh tế xã hội cũng phát sinh nhiều vấn đề cần tháo gỡ Trong đó công tác bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng và tái định cư gặp rất nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân và một trong những nguyên nhân chủ yếu nhất đó là đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất chính, làm ảnh hưởng nhiều đến sản xuất và đời sống của nhân dân, đất ở và nhà cửa cũng như vật kiến trúc, hoa màu trên đất là tài sản rất lớn của người dân nơi đây Việc bồi thường, hỗ trợ chưa đáp ứng được nguyện vọng của người có đất bị thu hồi đã gây
ra nhiều khó khăn bức xúc trong nhân dân, từ đó đã có không ít trường hợp người
Trang 11dân không nhận tiền bồi thường, hỗ trợ dẫn đến khiếu nại, khiếu kiện kéo dài, làm ảnh hưởng đến việc phát triển kinh tế-xã hội của địa phương
Xuất phát từ thực tiễn trên tôi chọn đề tài: “Đánh giá thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của một số dự án trên địa bàn huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu giai đoạn 2014-2018” Để tiến hành phân tích, đánh giá những
thuận lợi, khó khăn vướng mắc, từ đó đề ra những giải pháp khả thi nhất để làm tốt công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng trên địa bàn huyện Phong Thổ
2 Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất tại một số dự án trên địa bàn huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu
- Đánh giá việc thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo ý kiến của người dân khi nhà nước thu hồi đất tại một số dự án trên địa bàn huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu
- Đề xuất các giải pháp và kiến nghị góp phần đẩy nhanh tiến độ bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh
tế - xã hội của huyện Phong Thổ
3 Ý nghĩa của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Những kết quả khoa học thu được thông qua thực hiện đề tài sẽ bổ sung cơ
sở thực tiễn để đánh giá tình hình đời sống, việc làm của người dân trước và sau khi Nhà nước thu hồi đất đồng thời làm rõ các quy định của pháp luật hiện hành trong công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, thực trạng và tồn tại trong lĩnh vực trên nhằm đề xuất các giải pháp phù hợp
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài sẽ đóng góp để giải quyết vấn đề thực tiễn bức xúc đang đặt ra hiện nay khi thực hiện công tác GPMB trên địa bàn huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu; ngoài ra kết quả nghiên cứu còn là tài liệu tham khảo cho các địa phương
có cùng điều kiện tương tự
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến giải phóng mặt bằng
Theo Luật Đất đai 2013 số 45/2013/QH13, đưa ra một số khái niệm sau: Nhà nước thu hồi đất: Là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất
Giải phóng mặt bằng là quá trình tổ chức thực hiện các công việc liên quan đến di dời nhà cửa, cây cối và các công trình xây dựng trên đất tại một vị trí nhất định để cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng một công trình mới trên đó
Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng là việc cơ quan có chức năng làm công tác giải phóng mặt bằng và tái định cư tiến hành các bước theo trình tự, thủ tục quy định phát luật do Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành, để thực hiện thu hồi đất, lên phương án bồi thường, hỗ trợ tài sản, cây cối hoa màu trên
và tái định cư cho người có đất bị thu hồi, tất cả các thủ tục trên phải hoàn thiện trước khi bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư
1.1.2 Những quy định về thu hồi đất
1.1.2.1 Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh
Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh trong các trường hợp sau đây:
- Làm nơi đóng quân, trụ sở làm việc;
Trang 13- Xây dựng căn cứ quân sự;
- Xây dựng công trình phòng thủ quốc gia, trận địa và công trình đặc biệt về quốc phòng, an ninh;
- Xây dựng ga, cảng quân sự;
- Xây dựng công trình công nghiệp, khoa học và công nghệ, văn hóa, thể thao phục vụ trực tiếp cho quốc phòng, an ninh;
- Xây dựng kho tàng của lực lượng vũ trang nhân dân;
- Làm trường bắn, thao trường, bãi thử vũ khí, bãi hủy vũ khí;
- Xây dựng cơ sở đào tạo, trung tâm huấn luyện, bệnh viện, nhà an dưỡng của lực lượng vũ trang nhân dân;
- Xây dựng nhà công vụ của lực lượng vũ trang nhân dân;
- Xây dựng cơ sở giam giữ, cơ sở giáo dục do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quản lý (Luật Đất đai, năm 2013)
1.1.2.2 Thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng trong các trường hợp sau đây:
- Thực hiện các dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư mà phải thu hồi đất;
- Thực hiện các dự án do Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư
mà phải thu hồi đất, bao gồm:
+ Dự án xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế; khu đô thị mới, dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA);
+ Dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị
- xã hội ở trung ương; trụ sở của tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp quốc gia; + Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật cấp quốc gia gồm giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc; hệ thống dẫn, chứa xăng dầu, khí đốt; kho dự trữ quốc gia; công trình thu gom, xử lý chất thải;
Trang 14- Thực hiện các dự án do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh chấp thuận mà phải thu hồi đất bao gồm:
+ Dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị
- xã hội; công trình di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp địa phương;
+ Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật của địa phương gồm giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc, chiếu sáng đô thị; công trình thu gom, xử lý chất thải;
+ Dự án xây dựng công trình phục vụ sinh hoạt chung của cộng đồng dân cư;
dự án tái định cư, nhà ở cho sinh viên, nhà ở xã hội, nhà ở công vụ; xây dựng công trình của cơ sở tôn giáo; khu văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí phục vụ công cộng; chợ; nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng;
+ Dự án xây dựng khu đô thị mới, khu dân cư nông thôn mới; chỉnh trang đô thị, khu dân cư nông thôn; cụm công nghiệp; khu sản xuất, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, hải sản tập trung; dự án phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; + Dự án khai thác khoáng sản được cơ quan có thẩm quyền cấp phép, trừ trường hợp khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, than bùn, khoáng sản tại các khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ và khai thác tận thu khoáng sản (Luật Đất đai, năm 2013)
1.1.2.3 Căn cứ thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng
Việc thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng phải dựa trên các căn cứ sau đây:
- Dự án thuộc các trường hợp thu hồi đất quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Luật Đất đai năm 2013;
- Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;
- Tiến độ sử dụng đất thực hiện dự án (Luật Đất đai, năm 2013)
Trang 151.1.2.4 Thẩm quyền thu hồi đất
- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây: + Thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
+ Thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn
- Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây: Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư; Thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam
- Trường hợp trong khu vực thu hồi đất có cả đối tượng quy định thuộc thẩm quyền UBND cấp tỉnh và UBND cấp huyện thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất
1.1.3 Những quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất
Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được thực hiện theo quy định của Luật đất đai năm 2013, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Chính sách tái định cư do UBND cấp tỉnh có trách nhiệm lập và thực hiện các
dự án tái định cư để bảo đảm phục vụ tái định cư cho người bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở; khu tái định cư phải được xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ đảm bảo
đủ điều kiện cho người sử dụng tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ; việc bố trí tái định cư phải gắn với tạo việc làm và chuyển đổi nghề nghiệp Trường hợp không có khu tái định cư thì người bị thu hồi đất được bồi thường bằng tiền và được ưu tiên mua hoặc thuê nhà ở thuộc sở hữu của Nhà nước đối với khu vực đô thị, bồi thường bằng đất ở đối với khu vực nông thôn
1.1.4 Những quy định về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Theo quy định của Luật đất đai người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định của Luật đất đai còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ;
Việc hỗ trợ phải bảo đảm khách quan, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật
Trang 16- Các khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm:
+ Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất;
+ Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp; thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ của hộ gia đình, cá nhân mà phải di chuyển chỗ ở;
+ Hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở;
+ Hỗ trợ khác ( Luật Đất đai năm, 2013) Chính sách hỗ trợ người sử dụng đất khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lai Châu được quy định chi tiết đối với từng khoản hỗ trợ như: Hỗ trợ ổn định đời sống, hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, hỗ trợ di chuyển chỗ ở được quy định cụ thể:
- Hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất khi Nhà nước thu hồi đất + Thu hồi từ 30% đến 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được
hỗ trợ trong thời gian 06 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian
12 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các xã có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
(theo quy định của Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ) thì thời gian hỗ trợ là 24 tháng
Đối với trường hợp thu hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ trong thời gian 12 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 24 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các xã
có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt
khó khăn (theo quy định của Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ) thì thời gian hỗ
trợ là 36 tháng;
+Mức hỗ trợ cho một nhân khẩu được tính bằng tiền, cụ thể như sau:
Mức hỗ trợ bằng (=) (số nhân khẩu) x (30kg gạo/tháng) x (đơn giá gạo) x (thời gian hỗ trợ) Trong đó: Đơn giá gạo được áp dụng theo giá gạo tẻ thường tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường và lấy theo báo cáo giá hàng tháng của Sở Tài chính
Trang 17+ Thời gian chi trả hỗ trợ được tính một lần cùng với thời gian chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ
- Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp Nhà
nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp
Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp đủ điều kiện được bồi thường thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền đối với diện tích đất thu hồi còn được hỗ trợ bằng tiền theo quy định như sau:
+ Mức hỗ trợ: Đối với đất trồng lúa nước 02 vụ trở lên thì hỗ trợ bằng 4,0 lần giá đất cùng loại, cùng vị trí, cùng khu vực trong bảng giá đất do Ủy ban Nhân dân tỉnh ban hành tại thời điểm bồi thường;
Đối với đất trồng lúa nước 01 vụ thì hỗ trợ bằng 3,5 lần giá đất cùng loại, cùng
vị trí, cùng khu vực trong bảng giá đất do Ủy ban Nhân dân tỉnh ban hành tại thời điểm bồi thường;
Đối với đất trồng cây hàng năm, đất nương rẫy, đất trồng cây hàng năm khác, đất nuôi trồng thủy sản, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất thì hỗ trợ bằng 3,0 lần giá đất cùng loại, cùng vị trí, cùng khu vực trong bảng giá đất do Ủy ban Nhân dân tỉnh ban hành tại thời điểm bồi thường
- Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp Nhà nước thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh, dịch vụ của hộ gia đình, cá nhân mà
phải di chuyển chỗ ở
+ Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ mà nguồn
thu nhập chính là từ hoạt động kinh doanh dịch vụ (người trực tiếp sản xuất, kinh doanh dịch vụ không có ngành nghề nào khác), khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm bằng 10% giá trị của thửa đất ở bị thu hồi tính bằng tiền đối với phần diện tích đất ở thực
tế bị thu hồi nhưng không vượt quá hạn mức giao đất ở do Ủy ban Nhân dân tỉnh quy định tại thời điểm bồi thường
- Hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân,
người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở
Trang 18Trường hợp hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài tự lo chỗ ở thì ngoài việc được bồi thường về đất còn được nhận khoản tiền hỗ trợ tái định cư như sau:
+ Đất ở bị thu hồi có diện tích bằng hoặc lớn hơn diện tích suất tái định cư tối
thiểu thì được hỗ trợ bằng 20% suất tái định cư tối thiểu tính bằng tiền;
+ Đất ở thu hồi có diện tích nhỏ hơn diện tích suất tái định cư tối thiểu thì được hỗ trợ bằng 15% suất tái định cư tối thiểu tính bằng tiền;
+ Suất tái định cư tối thiểu được quy định bằng đất ở có diện tích bằng diện tích tối thiểu được tách thửa đối với đất ở theo quy định: Đối với đất ở tại đô thị là
80 m2 (chiều rộng tối thiểu 4m) Đối với đất ở tại nông thôn là 120 m2 (chiều rộng tối thiểu 5m)
- Hỗ trợ người đang thuê nhà ở không thuộc sở hữu Nhà nước
Hộ gia đình, cá nhân đang thuê nhà ở không phải là nhà ở thuộc sở hữu nhà nước khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì được hỗ trợ chi phí di chuyển tài sản như sau:
+ Trường hợp phải phá dỡ nhà, phải di chuyển chỗ ở thì người đang thuê nhà được hỗ trợ chi phí di chuyển bằng 30% mức bồi thường
+ Trường hợp hộ sản xuất, kinh doanh có đăng ký kinh doanh và làm đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước, đang thuê nhà ở phải phá dỡ nhà, phải di chuyển chỗ ở mà
bị ngừng sản xuất, kinh doanh, thì được hỗ trợ ổn định đời sống và ổn định sản xuất một lần bằng 30% một năm thu nhập sau thuế theo mức thu nhập bình quân của 03 năm liền kề trước đó (căn cứ vào hóa đơn hoặc biên lai thuế để xác định)
- Hỗ trợ khi thu hồi đất công ích của xã, phường, thị trấn + Đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích do Ủy ban Nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý thì không được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, nhưng được
hỗ trợ bằng 100% mức giá đất cụ thể tại thời điểm thu hồi đất do Ủy ban Nhân dân tỉnh quyết định; tiền hỗ trợ do Uỷ ban Nhân dân xã, phường, thị trấn trực tiếp ký nhận, nộp vào Ngân sách Nhà nước và được đưa vào dự toán ngân sách hàng năm của xã, phường, thị trấn; tiền hỗ trợ chỉ được sử dụng để đầu tư xây dựng các công
Trang 19trình hạ tầng, sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn nơi bị thu hồi đất theo đúng quy định
+ Hộ gia đình, cá nhân thuê đất, nhận đấu thầu sử dụng đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn khi Nhà nước thu hồi đất thì không được bồi thường về đất, chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại (nếu có)
- Bồi thường, hỗ trợ khác + Hỗ trợ gia đình chính sách
Hộ gia đình có người hoạt động cách mạng trước 01/01/1945; anh hùng lực lượng vũ trang; anh hùng lao động; bà mẹ Việt Nam anh hùng; thương binh, bệnh binh, người hưởng chính sách như thương binh, bệnh binh có tỷ lệ thương tật từ 81% trở lên; người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học có tỷ lệ suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; thân nhân liệt sỹ (được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ) đang hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng; người hoạt động cách mạng từ 01/01/1945 đến trước tổng khởi nghĩa 19/8/1945, phải phá dỡ nhà ở để thực hiện giải phóng mặt bằng, được hỗ trợ 3.000.000,0 đồng/hộ
+ Hộ gia đình có người là thương binh, bệnh binh và người hưởng chính sách như thương binh, bệnh binh mất sức từ 21% - 80%, người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, gia đình có công với cách mạng đang hưởng trợ cấp hàng tháng, phải phá dỡ nhà ở để giải phóng mặt bằng, được hỗ trợ 2.000.000,0 đồng/hộ + Hộ gia đình có người được hưởng trợ cấp xã hội khác của Nhà nước phải di chuyển hoặc phải phá dỡ nhà ở để thực hiện giải phóng mặt bằng được hỗ trợ 1.000.000 đồng/hộ
+ Hộ gia đình có nhiều đối tượng hưởng chính sách xã hội, quy định tại khoản này thì được hưởng một trong các mức hỗ trợ cao nhất
- Người có đất ở bị thu hồi thì ngoài việc được bồi thường theo quy định, còn được hỗ trợ kinh phí làm thủ tục rời nhà cũ lên nhà mới một lần là 500.000 (năm trăm nghìn) đồng/hộ
- Thưởng di chuyển đúng tiến độ
Trang 20+ Người sử dụng đất nông nghiệp đủ điều kiện bồi thường, khi Nhà nước thu hồi đất, mà bàn giao mặt bằng (đất sạch) đúng tiến độ (theo thời hạn phải bàn giao) thì được thưởng 300 (ba trăm) đồng/m2
+ Người có đất, tài sản trên đất bị thu hồi phải phá dỡ toàn bộ nhà ở, công trình, mà bàn giao mặt bằng (đất sạch) cho Trung tâm Phát triển quỹ đất thì được thưởng di chuyển như sau: 4.000.000 (bốn triệu) đồng/hộ, nếu di chuyển trước thời hạn 30 ngày; 3.000.000 (ba triệu) đồng/hộ, nếu di chuyển trước thời hạn từ 15 ngày đến dưới 30 ngày; 2.000.000 (hai triệu) đồng/hộ, nếu di chuyển trước thời hạn từ 05 ngày đến dưới 15 ngày; 1.000.000 (một triệu) đồng/hộ, nếu di chuyển đúng thời hạn + Người sử dụng đất ở phải phá dỡ một phần nhà chính (không phải di chuyển chỗ ở) bàn giao mặt bằng (đất sạch) trước thời hạn cho Trung tâm Phát triển quỹ đất thì được thưởng bằng 1.000.000 (một triệu) đồng/hộ
+ Tại thời điểm lập dự toán bồi thường, Trung tâm Phát triển quỹ đất phải xác định cụ thể thời hạn phải di chuyển thì mới tính thưởng di chuyển
- Người có đất, tài sản trên đất bị thu hồi trực tiếp sản suất nông nghiệp có nguồn sống chính từ sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp đang sử dụng mà không đủ điều kiện để được bồi thường theo quy định tại Điều 75 của Luật Đất đai năm 2013 thì được hỗ trợ bằng 80% giá đất nông nghiệp của thửa đất bị thu hồi; diện tích được hỗ trợ là diện tích đất thực tế bị thu hồi nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp theo quy định của Ủy ban Nhân dân tỉnh tại thời điểm bồi thường
- Bồi thường, hỗ trợ đối với trường hợp đặc biệt + Trường hợp diện tích đất còn lại của thửa đất sau khi bị thu hồi không đảm bảo diện tích tối thiểu theo quy định của Ủy ban Nhân dân tỉnh thì được bồi thường toàn bộ phần diện tích đất, tài sản gắn liền với đất đó (người bị thu hồi đất phải có đơn đề nghị thu hồi), chủ đầu tư có trách nhiệm chi trả Phần diện tích đất này giao cho Ủy ban Nhân dân cấp xã hoặc giao cho Trung tâm Phát triển quỹ đất quản lý hoặc gộp với các thửa đất còn lại thành thửa đất mới để giao cho người có nhu cầu
sử dụng
Trang 21+ Trường hợp diện tích đất còn lại của thửa đất sau khi bị thu hồi và các thửa đất, tài sản trên đất nằm ngoài phạm vi thu hồi đất nhưng bị ảnh hưởng khi thực hiện dự án thì được bồi thường công cải tạo đất và bằng 30% giá trị thu hồi của phần diện tích đất thực tế bị ảnh hưởng để tiếp tục sử dụng theo mục đích cũ Trường hợp không thể cải tạo để tiếp tục sử dụng theo mục đích cũ mà phải chuyển sang để sử dụng vào mục đích khác (việc chuyển mục đích sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất) có giá trị thấp hơn thì được bồi thường bằng 50% giá trị bồi thường của diện tích đất thực tế bị ảnh hưởng theo loại đất trước khi chuyển mục đích Giá trị thu hồi, bồi thường nêu trên được tính theo diện tích đất thực tế bị ảnh hưởng nhân với giá đất tại thời điểm thu hồi, bồi thường + Người có đất, tài sản trên đất bị thu hồi mà không còn chỗ ở nào khác thì được hỗ trợ tiền thuê nhà, thời gian tính hỗ trợ từ ngày bàn giao đất đến thời điểm
có thông báo của cơ quan có thẩm quyền về giao nhận đất tái định cư cộng với 05 tháng xây dựng nhà ở, mức hỗ trợ cho hộ có một nhân khẩu là 800.000 (tám trăm nghìn) đồng/hộ; hộ có từ 02 nhân khẩu đến 4 nhân khẩu là 1.500.000 (một triệu năm trăm nghìn) đồng/hộ/tháng; hộ có từ 5 nhân khẩu trở lên là 1.800.000 (một triệu tám trăm nghìn) đồng/hộ/tháng
Trường hợp hộ gia đình nhận được thông báo nhận đất tại khu tái định cư
mà không nhận đất tái định cư, thì thời gian kéo dài kể từ ngày nhận được thông báo đến khi nhận đất tái định cư không được tính hỗ trợ tiền thuê nhà
- Hỗ trợ nhà, công trình không đủ điều kiện bồi thường + Nhà, công trình khác xây dựng trên đất không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại Điều 75 của Luật Đất đai năm 2013, nhưng tại thời điểm xây dựng
mà chưa có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch điểm dân cư nông thôn được cấp có thẩm quyền công bố hoặc xây dựng phù hợp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch điểm dân cư nông thôn được cấp có thẩm quyền công bố, không vi phạm hành lang bảo
vệ công trình thì được hỗ trợ tối đa bằng 80% mức bồi thường theo quy định
+ Nhà, công trình khác xây dựng trước ngày thông báo thu hồi đất thực hiện
dự án trên đất không đủ điều kiện bồi thường theo quy định tại Điều 75 của Luật
Trang 22Đất đai năm 2013 mà khi xây dựng vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố và cắm mốc hoặc vi phạm hành lang bảo vệ công trình đã được cắm mốc thì không được bồi thường, không được hỗ trợ
+ Nhà, công trình khác không được phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng, nhưng xây dựng trên đất có đủ điều kiện bồi thường về đất và xây dựng trước thời điểm kế hoạch sử dụng đất hàng năm được phê duyệt thì được bồi thường theo quy định tại Khoản 1 Điều 11 của Quy định này; nếu xây dựng sau ngày kế hoạch sử dụng đất hàng năm được phê duyệt, xây dựng không đúng với mục đích sử dụng đất theo quy định của pháp luật thì không được bồi thường, không được hỗ trợ Trường hợp đặc biệt công trình xây dựng là công trình thiết yếu phục vụ nhu cầu sinh hoạt tối thiểu hàng ngày của nhân dân, hộ gia đình là đối tượng chính sách, hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn, hộ nghèo theo chuẩn nghèo thì được hỗ trợ bằng 50% mức bồi thường theo quy định
+ Trường hợp các hộ gia đình, cá nhân đồng bào dân tộc thiểu số có tập quán làm nhà nương (lán nương) xa nơi ở để sử dụng làm nơi sinh hoạt ăn ở trên nương, kho chứa sản phẩm, chuồng trại chăn nuôi; được xây dựng từ trước ngày kế hoạch
sử dụng đất hàng năm được phê duyệt, hiện tại đang sử dụng đất ổn định không tranh chấp và được Ủy ban Nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi xác nhận thì được bồi thường về giá trị tài sản theo quy định của Ủy ban Nhân dân tỉnh tại thời điểm bồi thường
Trường hợp nhà nương (lán nương) được xây dựng từ trước ngày kế hoạch sử dụng đất hàng năm được phê duyệt, nhưng xây dựng vi phạm quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất, vi phạm hành lang bảo vệ công trình đã được công bố công khai và cắm mốc mà những vi phạm đó chưa có văn bản ngăn chặn của cấp có thẩm quyền thì không được bồi thường nhưng được hỗ trợ; mức hỗ trợ bằng 80% đơn giá bồi thường về tài sản theo quy định của Ủy ban Nhân dân tỉnh tại thời điểm bồi thường Trường hợp nhà nương (lán nương) được xây dựng sau ngày thông báo thu hồi đất thực hiện dự án thì không được bồi thường, không được hỗ trợ
- Trường hợp nhà ở, công trình của tổ chức, hộ gia đình cá nhân hợp pháp không bị thu hồi đất, không bị phá dỡ công trình mà công trình vẫn đang sử dụng,
Trang 23do thực hiện dự án làm ảnh hưởng đến cốt nhà, công trình (theo hướng chính của nhà, công trình) thì được xem xét bồi thường như sau:
+ Cốt đường, công trình của nhà nước cao hoặc thấp hơn cốt nền nhà từ 0,75m đến 1,5m thì được bồi thường phần ảnh hưởng đến nhà ở, công trình đó tiếp tục được sử dụng bình thường Mức bồi thường như sau:
Nếu nhà ở, công trình cách chỉ giới xây dựng công trình của nhà nước nhỏ hơn hoặc bằng 3,0m thì mức bồi thường bằng 50% đơn giá bồi thường
Nếu nhà ở, công trình cách chỉ giới xây dựng công trình của Nhà nước trên 3,0m đến 5,0m thì mức bồi thường bằng 30% đơn giá bồi thường về nhà, công trình + Cốt đường, công trình của nhà nước cao hoặc thấp hơn cốt nền nhà từ trên 1,5m đến 2,5m so với hiện trạng trước khi xây dựng công trình nhà nước thì được bồi thường phần ảnh hưởng đến nhà ở, công trình đó tiếp tục được sử dụng bình thường Mức bồi thường như sau:
Trường hợp nhà ở, công trình bị ảnh hưởng cách chỉ giới xây dựng công trình của nhà nước từ 0,0m đến 3,0m thì mức bồi thường bằng 80% đơn giá bồi thường Trường hợp nhà ở, công trình bị ảnh hưởng cách chỉ giới xây dựng công trình của nhà nước từ trên 3,0m đến 5,0m thì mức bồi thường bằng 60% đơn giá bồi thường
- Trường hợp cốt đường, công trình của nhà nước cao hoặc thấp hơn cốt nền nhà trên 2,5m và khoảng cách đến cốt xây dựng công trình của nhà nước từ 0,0m đến 5,0m thì được bồi thường bằng 100% đơn giá bồi thường
+ Đối với nhà ở, công trình của đối tượng có đất, tài sản trên đất bị thu hồi có thể tháo dời và di chuyển đến chỗ ở mới thì chỉ bồi thường các chi phí tháo dời, vận chuyển, lắp đặt và vật liệu bị hao hụt, hư hỏng do tháo dời, vận chuyển, lắp đặt theo quy mô tương đương với công trình cũ thì hỗ trợ bằng 30% đơn giá bồi thường
- Hỗ trợ làm đường nước 2.000.000 (hai triệu) đồng/hộ; nơi không có công trình nước tập trung thì hỗ trợ đào giếng 3.000.000 (ba triệu) đồng/hộ; hỗ trợ lắp đặt điện thoại, truyền hình 1.000.000 (một triệu) đồng/hộ; hỗ trợ lắp điện chiếu sáng là 1.000.000 (một triệu) đồng/hộ
- Trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất theo quy định tại Khoản 2 Điều
5 của Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT, bị thu hồi đất dưới 30% diện tích đất nông
Trang 24nghiệp đang sử dụng mà việc thu hồi đất ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất của người bị thu hồi đất, thì được hỗ trợ một lần bằng 30% giá trị của thửa đất bị thu hồi Việc xác định mức độ ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất của người thu hồi đất trong trường hợp này phải được Ủy ban Nhân dân cấp xã nơi có đất thu hồi và nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của người bị thu hồi đất xác nhận mới tính hỗ trợ
- Trường hợp hộ gia đình vừa có nhân khẩu là cán bộ, công chức, viên chức và vừa có nhân khẩu không phải là cán bộ, công chức, viên chức theo quy định tại Khoản 2 Điều 6 của Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình đó thì nhân khẩu không phải là cán bộ, công chức, viên chức được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất
- Hộ gia đình bị thu hồi đất có mức sống thuộc diện hộ nghèo (có sổ công nhận hộ nghèo) theo quy định thì được hỗ trợ 3.000.000 đồng/hộ ( Quyết định số 33 UBND tỉnh Lai Châu, năm 2014)
1.1.5 Những quy định về tái định cư, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Theo quy định của Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn, Chính sách tái định cư do UBND cấp tỉnh có trách nhiệm lập và thực hiện các dự án tái định cư để bảo đảm phục vụ tái định cư cho người bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở; khu tái định cư phải được xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ đảm bảo đủ điều kiện cho người
sử dụng tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ; việc bố trí tái định cư phải gắn với tạo việc làm
và chuyển đổi nghề nghiệp Trường hợp không có khu tái định cư thì người bị thu hồi đất được bồi thường bằng tiền và được ưu tiên mua hoặc thuê nhà ở thuộc sở hữu của Nhà nước đối với khu vực đô thị, bồi thường bằng đất ở đối với khu vực nông thôn
Trình tự tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất: Được quy định rất cụ thể, chi tiết trong Luật đất đai năm 2013 và các văn bản dưới luật mà thể hiện vấn đề đổi mới quan trọng đó là: trước khi bị thu hồi đất ít nhất 90 ngày đối với đất nông nghiệp và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp người sử dụng đất phải được thông báo chủ trương thu hồi đất từ đó có đủ thời gian để tìm hiểu chính sách pháp luật để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình; trong quá trình thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì người bị thu hồi đất đều
Trang 25được tham gia trực tiếp hoặc thông qua người đại diện; phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải được công khai (Thông tư số 37,2014)
Đối với việc Tái định cư thực hiện trên địa bàn tỉnh Lai Châu được áp dựng theo Quyết định số 33/2014/QĐ-UBND ngày 05/11/2014 của UBND tỉnh Lai Châu quy định một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; trình tự, thủ tục thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên địa bàn tỉnh Lai Châu, cụ thể:
Suất tái định cư tối thiểu theo quy định tại Khoản 4 Điều 86 của Luật Đất đai năm 2013 và Khoản 1 Điều 27 Nghị định 47/2014/NĐ-CP trên địa bàn tỉnh Lai Châu được quy định bằng đất ở hoặc bằng tiền để phù hợp với việc lựa chọn của người được bố trí tái định cư
- Suất tái định cư tối thiểu được quy định bằng đất ở có diện tích bằng diện tích tối thiểu được tách thửa đối với đất ở theo quy định của Ủy ban Nhân dân tỉnh,
cụ thể như sau:
+ Đối với đất ở tại đô thị là 80 m2 (chiều rộng tối thiểu 4m)
+ Đối với đất ở tại nông thôn là 120 m2 (chiều rộng tối thiểu 5m)
+ Suất tái định cư tối thiểu được tính bằng tiền thì khoản tiền cho suất tái định cư tối thiểu được xác định theo diện tích suất tái định cư tối thiểu nhân với giá đất ở cụ thể tại nơi bố trí tái định cư của hộ gia đình, cá nhân
1.2 Cơ sở pháp lý của đề tài
- Luật Đất đai 2013 số 45/2013/QH13 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2013 ( Luật đất đai, năm 2013)
- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai ( Nghị định số 43, năm 2014)
- Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ về sửa đổi
bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành luật đất đai ( Nghị định số 01, năm 2017)
- Căn cứ Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất; Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/06/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định
Trang 26chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất ( Nghị định số 47, năm 2014)
- Thông tư 37/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (Thông tư số 37, năm 2014)
- Thông tư 02/2015/TT-BTNMT Quy định chi tiết một số điều của nghị định số 43/2014/NĐ-CP và nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm
2014 về đất đai của chính phủ ( Thông tư 02, năm 2014)
- Căn cứ Quyết định số 33/2014/QĐ-UBND ngày 05/11/2014 của UBND tỉnh Lai Châu V/v Ban hành Quy định một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; trình tự, thủ tục thực hiện bồi thường, hỗ trợ; tái định cư trên địa bàn tỉnh,Lai Châu; Quyết định số 34/2014/QĐ-UBND ngày 05/11/2014 của UBND tỉnh Lai Châu V/v Ban hành Quy định về trình tự thực hiện thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Lai Châu (Quyết định UBND tỉnh Lai Châu, 2014)
- Căn cứ Quyết định số 43/2014/QĐ-UBND ngày 19/12/2014 của UBND tỉnh Lai Châu V/v Ban hành giá đất trên địa bàn tỉnh Lai Châu (Quyết định UBND tỉnh Lai Châu, 2014)
- Căn cứ Quyết định số 30/2017/QĐ-UBND ngày 14/8/2017 V/v ban hành đơn giá bồi thường về nhà, công trình xây dựng trên đất, cây trồng, vật nuôi và tài sản khác gắn liền với đất khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lai Châu; (Quyết định UBND tỉnh Lai Châu, 2014)
- Căn cứ Quyết định số 39/2016/QĐ-UBND ngày 28/10/2016 của UBND tỉnh Lai Châu ban hành Quy định mức trích, nội dung chi và mức chi cho công tác
tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh; Quyết định số 19/2017/QĐ-UBND ngày 17/7/2017 của UBND tỉnh Lai Châu V/v Sửa đổi, bổ sung Khoản 2, Điều 3 của Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 39/2016/QĐ-UBND ngày 28/10/2016 của UBND tỉnh Quy định mức trích, nội dung chi và mức chi cho công tác tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái
Trang 27định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh; (Quyết định UBND tỉnh Lai Châu, 2014)
- Căn cứ Quyết định số 77/2017/QĐ-UBND ngày 29/12/2017 của UBND tỉnh Lai Châu V/v Ủy quyền cho Ủy ban nhân dân các huyện, thành phố thực hiện thông báo thu hồi đất; quyết định thu hồi đất; phê duyệt và thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với trường hợp thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân tỉnh theo quy định tại Khoản 3; Điều 66, Luật Đất đai; (Quyết định UBND tỉnh Lai Châu, 2014)
- Căn cứ Quyết định số 1676/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 của UBND tỉnh Lai Châu phê duyệt kế hoạch sử dụng đất năm 2019 của huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu; (Quyết định UBND tỉnh Lai Châu, 2014)
- Căn cứ Bản đồ trích đo, hồ sơ địa chính và số liệu, tài liệu điều tra phục vụ cho việc lập phương án bồi thường (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lai Châu
2014,2015)
1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài
Công tác GPMB góp phần đẩy nhanh tốc độ đầu tư, khai thác các nguồn lực từ đất đai cho đầu tư phát triển, các cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội ở nước ta Trong thời gian qua Đảng và Nhà nước đã quan tâm đầu tư hầu khắp các vùng, miền trên cả nước, đặc biệt tại các vùng kinh tế động lực đã đóng góp vào sự thành công bước đầu của công cuộc “Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, thúc đẩy kinh tế phát triển, đáp ứng nhu cầu vật chất, tinh thần của nhân dân Đạt được kết quả nêu trên công tác bồi thường giải phóng mặt bằng đóng vai trò không nhỏ để triển khai thực hiện các dự án phát huy được hiệu quả
Công tác GPMB thực hiện đúng tiến độ sẽ tiết kiệm được thời gian, chi phí và sớm đưa dự án vào sử dụng mang lại hiệu quả kinh tế xã hội Ngược lại, công tác GPMB kéo dài sẽ làm chậm tiến độ thực hiện dự án, lãng phí thời gian, tăng chi phí, giảm hiệu quả dự án, làm mất cơ hội thu hút các nhà đầu tư có thế mạnh về tài chính Làm tốt công tác GPMB sẽ góp phần giảm chi phí đầu tư, có điều kiện tập chung vốn cho mở rộng đầu tư Ngược lại, chi phí bồi thường lớn, không kịp hoàn thành tiến độ dự án dẫn đến quay vòng vốn chậm gây khó khăn cho các nhà đầu tư
Trang 28Đối với các dự án đầu tư sản xuất kinh doanh nếu không đáp ứng được tiến độ đầu
tư thì mất cơ hội kinh doanh, hiệu quả kinh doanh thấp Đối với dự án đầu tư không kinh doanh, thời gian thi công kéo dài, tiến độ thi công bị ngắt quãng làm tăng chi phí và ảnh hưởng tới chất lượng công trình
Đảng và Nhà nước ta đã ban hành các chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư qua các thời kỳ thể hiện tính đúng đắn là đảm bảo mọi công dân Việt Nam đều có quyền lợi chính đáng khi có nhà ở, đất ở bị thu hồi Trong quá trình phát triển các chính sách bồi thường, hỗ trợ do yếu tố khách quan đã chưa thể hiện được tính toàn diện tuy nhiên đã phần nào đáp ứng được quyền lợi cho người bị thu hồi dất Việc triển khai thực hiện xây dựng các công trình đường xá, trụ sở, khu trung tâm, cụm công nghiệp được mở rộng thể hiện rõ chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của chúng ta đã đáp ứng được lợi ích, mong mỏi của đa số người dân Cuộc sống của người dân có đất bị thu hồi được ổn định, tình hình an ninh, chính trị được giữ vững, thể hiện tính đúng đắn trong công cuộc đổi mới
Để đáp ứng thực tế khách quan tốc độ CNH-HĐH nhanh đòi hỏi chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của chúng ta phải luôn hoàn thiện cơ sở pháp lý để
đáp ứng với thực tiễn của thị trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2012)
1.3.1 Sơ lược về công tác giải phóng mặt bằng 1 số quốc gia trên thế giới
1.3.1.1 Ở Trung Quốc
Việc lựa chọn Trung Quốc để so sánh bởi lẽ chính sách pháp luật đất đai của Trung Quốc có nhiều nét tương đồng với pháp luật đất đai của Việt Nam Tuy nhiên xét về tổng thể thì việc ý thức chấp hành pháp luật của người Trung Quốc luôn cao hơn ở Việt Nam Việc sử dụng đất đai tại Trung Quốc thực sự tiết kiệm, Nhà nước Trung Quốc hoàn toàn cấm việc mua bán chuyển nhượng đất đai Do vậy thị trường đất đai gần như không tồn tại mà chỉ có thị trường nhà cửa
Với Trung Quốc, chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư luôn hạn chế đến mức tối đa việc thu hồi đất, giải tỏa mặt bằng, cũng như số lượng người bị ảnh hưởng bởi việc thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư
Về trình tự, thủ tục thu hồi đất: Nhà nước thông báo cho người sử dụng đất biết trước việc họ sẽ bị thu hồi đất trong thời hạn một năm
Trang 29Về phương thức bồi thường, người dân có quyền lựa chọn các hình thức bồi thường bằng tiền hoặc bằng nhà tại khu ở mới Người dân thường lựa chọn bồi thường thiệt hại bằng tiền và tự tìm chỗ ở mới phù hợp với nơi làm việc của mình
Về giá bồi thường lấy tiêu chuẩn là giá thị trường, mức giá này cũng được Nhà nước quy định cho từng khu vực và chất lượng nhà Đối với nhà ở của người dân thành phố, nhà nước bồi thường bằng tiền là chính, với mức giá do thị trường bất động sản quyết định qua các tổ chức trung gian để đánh giá, xác định giá Với người dân nông thôn, nhà nước thực hiện theo những cách thức rất linh hoạt, theo
đó, mỗi đối tượng khác nhau sẽ có cách bồi thường khác nhau: tiền bồi thường sử dụng đất đai; tiền bồi thường hoa màu; bồi thường tài sản tập thể
Về TĐC, thực hiện nguyên tắc chỗ ở mới tốt hơn chỗ ở cũ, các khu TĐC được quy hoạch tổng thể với nhiều hạng mục hạ tầng nhà ở, trường học …, bố trí hệ thống giao thông động và tĩnh Nhà ở được xây dựng đồng bộ và kịp thời đáp ứng nhu cầu nhiều loại căn hộ với các nhu cầu sử dụng khác nhau Các chủ sử dụng phải
di chuyển đều được chính quyền quan tâm tạo điều kiện về việc làm, đối với các đối tượng chính sách xã hội được Nhà nước có chính sách ưu tiên đặc biệt
Khi thực hiện việc bồi thường GPMB phải xây dựng các biện pháp xử lý theo phương thức trước tiên là dựa vào trọng tài, sau đó là khiếu tố
Bên cạnh những thành công, chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC của Trung Quốc cũng bộc lộ những tồn tại nhất định mà chủ yếu là vấn đề việc làm; tốc độ tái định cư chậm, thiếu đồng bộ, thực hiện GPMB trước khi xây xong nhà TĐC
Ở một đất nước nhỏ bé, chật chội và đông đúc như Singapore, “một tấc đất là một tấc vàng”, quốc gia này đã làm thế nào để giải phóng mặt bằng (GPMB), thu hồi đất để xây dựng những công trình giao thông hiện đại và thông minh xứng tầm thế giới như hiện nay?
Tính đến năm 2016, Singapore (với diện tích 719km2) có mật độ dân số chật chội nhất khu vực Đông Nam Á và đứng thứ ba trên thế giới với hơn 8 nghìn người/km2 Trong một chỉ số khác, Công ty Tư vấn và Thiết kế toàn cầu về tài sản
tự nhiên và xây dựng Arcadis thống kê cho thấy, Singapore là nước sinh lời từ các
Trang 30tài sản xây dựng (như hạ tầng giao thông, hạ tầng dân sinh)/người cao nhất trong khu vực châu Á (khoảng 35,9 nghìn USD/người) Chỉ số này được coi là công cụ để
đo lường hiệu quả hoạt động kinh tế của đất nước, cho thấy, những tài sản xây dựng giúp phát triển kinh tế và đóng góp vào việc phát triển kinh tế bền vững và mạnh
mẽ của quốc gia như thế nào
Qua chỉ số trên, các chuyên gia nhấn mạnh, để có thể phát triển bền vững, các nước trong khu vực châu Á cần học hỏi Singapore về cách đầu tư xây dựng các tài sản như hạ tầng dân sinh, liên lạc, đặc biệt là giao thông Từ hai chỉ số này, câu hỏi đặt ra, với một đất nước “đói đất” như Singapore, Chính phủ nước này phải làm thế nào để GPMB, thu hồi đất để xây dựng hạ tầng, đặc biệt là công trình giao thông (đường sá, sân bay… )?
Công tác GPMB, thu hồi đất phải được Chính phủ và các thành viên Nội các Singapore thông qua, sau khi đã thảo luận và tham khảo ý kiến cộng đồng Việc thu hồi đất được tiến hành theo từng bước chặt chẽ và thông báo trước cho người dân 2
- 3 năm Cuối năm ngoái, dư luận Singapore ồn ào việc Chính phủ quyết định quy hoạch và di dời hơn 5 nghìn trong tổng số 100 nghìn ngôi mộ của Nghĩa trang Bukit Brown đã 90 tuổi, di sản lâu đời và cũng là nơi yên nghỉ của hàng trăm nghìn linh hồn, trong đó có không ít quan chức cấp cao Singapore; để làm đường, giúp giảm ách tắc giao thông tuyến đường vành đai Lornie
Nhằm giảm thiểu tối đa tranh chấp, Singapore thực hiện di dời một cách thận trọng Đó là chưa kể đất nước Đông Nam Á này đang đối mặt cảnh vô cùng khan hiếm đất chôn cất Đề án được đưa ra từ tháng 9/2011, nhưng công tác giải tỏa gặp phải nhiều vấn đề gây tranh cãi khiến đến tháng 8/2015 (gần 4 năm), họ mới giải tỏa được hơn 3.700 ngôi mộ Tháng 10/2015, Singapore thành lập Ủy ban Thu thập
dữ liệu và nghiên cứu lịch sử của các ngôi mộ bị ảnh hưởng Sau đó, giới chức liên
hệ tới thân nhân của những người đã nằm xuống nghĩa trang này và đàm phán, sắp xếp việc di dời thỏa đáng Cuối cùng dư luận cũng nguôi ngoai và chấp nhận kế hoạch của Chính phủ
Dân có thể thuê tổ chức tư nhân định giá đất Đối với thu hồi nhà ở, Luật Thu hồi đất tại Singapore quy định mức bồi thường thiệt hại khi thu hồi đất sẽ căn cứ
Trang 31vào giá trị thị trường của bất động sản; chi phí tháo dỡ, di chuyển chỗ ở; chi phí mua nguyên vật liệu xây dựng nhà ở mới… Nếu chủ sở hữu đất không tán thành với phương án bồi thường do Nhà nước xác định, họ có thể thuê một tổ chức định giá tư nhân để tiến hành định giá lại thiệt hại Chi phí định giá lại sẽ do Nhà nước chi trả
Trước đây, Singapore từng áp quy định: Trong trường hợp Chính phủ chỉ thu hồi một phần đất, nếu giá trị phần đất còn lại của chủ sở hữu tăng cao nhờ dự án xây dựng đó (chẳng hạn như tàu điện ngầm) thì người bị thu hồi sẽ phải trả “thuế gia tăng giá trị tự nhiên” Quy định này nảy sinh khi Singapore xây dựng nhà ga tàu điện ngầm Circle Line MRT và phải thu hồi khoảng 220km2 của khu chung cư Chuan Park vào năm 2003 Nhà ga mới nằm cách khu chung cư chỉ khoảng 50m
Các nhà định giá xác định giá trị của chung cư Chuan Park sẽ tăng khoảng
18 triệu USD vì gần nhà ga Ngoài ra, các nhà cố vấn và phân tích bất động sản cũng nhận định đất gần khu vực nhà ga tàu điện ngầm sẽ tăng 5-10% vì ưu thế di chuyển thuận tiện Do đó, Chính phủ đã đưa thêm quy định “thuế gia tăng giá trị tự nhiên” vào Luật Thu hồi đất
Sau đó, quy định này đã được dỡ bỏ trong lần sửa đổi bổ sung năm 2014 Bộ trưởng Tư pháp Singapore thời điểm đó là bà Indranee Rajah lý giải: Khi dỡ bỏ thuế này, chủ sở hữu đất sẽ được nhận bồi thường tương đương giá trị thị trường đầy đủ của đất bị thu hồi, qua đó, “người dân sẵn sàng trao đất để thực hiện dự án”, đẩy nhanh tiến độ thi công
Nghiên cứu của Trung tâm Các thành phố đáng sống (Singapore) cho thấy, trong vài năm gần đây, khoảng 94% trường hợp thu hồi đất hoàn thiện toàn bộ tiến trình thu hồi được thực hiện trong vòng 2,5 năm từ ngày thông báo và không xảy ra kháng cáo
Trang 32Bước 2: Khi thảo luận không có kết quả thì cơ chế chiếm giữ đất đai bắt buộc được vận hành bằng thông báo chính thức của Nhà nước về việc sử dụng đất
đó vào mục đích công cộng trên Công báo của Chính phủ Bang;
Bước 3: Chủ đất cũ bắt đầu thực hiện thủ tục đòi bồi thường về đất;
Bước 4: Các thủ tục định giá đất theo thị trường được tiến hành;
Bước 5: Chủ đất cũ có thể yêu cầu Trọng tài hoặc Tòa án để giải quyết tranh chấp về giá bồi thường
Quốc hội của bang và vùng lãnh thổ có quyền ban hành luật nhằm sung công bất động sản
Theo Hiến pháp Australia, chính quyền liên bang (Chính phủ) “Có quyền ban hành các luật từ việc thu hồi bất động sản, theo những điều khoản chính đáng từ bất kỳ bang hoặc cá nhân nào mà Quốc hội có quyền ban hành luật”
Cơ quan chức trách có thể thu hồi lại đất đai bằng hai cách: thoả thuận tự nguyện và cưỡng bức (bắt buộc)
Về bồi thường, luật quy định chủ sở hữu sẽ được bồi thường thiệt hại do việc thu hồi đất Mỗi bang đều có một Cục quản lý đất đai và một Cục định giá Trước đây, các cục này đều là cơ quan hành chính của Bang Sau đó, các cơ quan này được chuyển dần sang thành các cơ quan dịch vụ công, thực hiện các dịch vụ về quản lý đất đai và định giá theo yêu cầu của nhà nước cũng như của thị trường
Giá tính mức bồi thường là giá thị trường; được xác định là số tiền mà tài sản
đó có thể bán được một cách tự nguyện, sẵn sàng ở một thời điểm nhất định Nguyên tắc chung khi thực hiện bồi thường là phải thực hiện đàm phán, thỏa thuận
về giá vào giai đoạn một; khi không đạt được thỏa thuận giữa tổ chức có thẩm quyền và người có đất thì tổ chức có thẩm quyền áp dụng cơ chế chiếm giữ đất đai bắt buộc vào giai đoạn hai
Nguyên tắc bồi thường bao gồm:
- Giá thị trường mảnh đất của chủ sở hữu;
- Giá trị đặc biệt dành cho chủ sở hữu cao hơn hoặc trên giá trị thị trường của mảnh đất;
- Những thiệt hại gây ra khi thu hồi đất;
Trang 33- Thiệt hại về việc gây phiền hà;
- Các khoản chi phí về luật pháp và thẩm định giá;
Bất cứ người nào có quyền lợi trên mảnh đất đó đều có thể khiếu nại về bồi thường Quy định mức bồi thường: khi tính toán mức bồi thường cần xem xét 6 yếu
tố sau:
- Giá trị thị trường của mảnh đất;
- Sự chia cắt đất đai;
- Những phiền nhiễu;
- Các khoản chi phí về chuyên môn hoặc pháp lý hợp lý;
- Người đi thuê, có thể khiếu nại mức bồi thường cho bất cứ tài sản nào bị ảnh hưởng theo hợp đồng cho thuê;
- Tiền bồi thường về mặt tinh thần;
- Thanh toán khoản bồi thường gồm thanh toán ứng trước và thanh toán cuối cùng
* Bài học kinh nghiệm rút ra từ các nước về bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư cho Việt Nam:
Qua nghiên cứu chính sách bồi thường, hỗ trợ GPMB và tái định cư của một
số nước, Việt Nam chúng ta cần học hỏi các kinh nghiệm để tiếp tục hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ GPMB ở một số điểm sau:
- Quan tâm hơn nữa đối với việc lập quy hoạch và xây dựng các khu tái định cư; các chế độ chính sách của những người bị thu hồi đất; giá cả bồi thường phải sát với giá thị trường; xử lý hài hoà lợi ích và quyền lợi của người bị thu hồi đất, chủ đầu tư với Nhà nước
- Công khai hoá đầy đủ các thông tin liên quan về dự án cũng như chính sách BT,HT&TĐC cho các hộ dân bị thu hồi được biết, được bàn và kiểm tra
- Cần phải xác định các trường hợp áp dụng biện pháp Nhà nước thu hồi đất: Cần phải làm rõ quy định “ Nhà nước thu hồi đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng ” là những trường hợp nào; Cần xác định chỉ áp dụng biện pháp Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển
Trang 34kinh tế trong trường hợp dự án đó được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước theo như kinh nghiệm các nước
- Tăng cường vai trò của cơ quan hành chính nhà nước trong trường hợp chủ đầu tư tự thỏa thuận với người dân để có đất thực hiện dự án đầu tư: Thực tế trong quá trình thương lượng, thỏa thuận với người dân, nhà đầu tư thường gặp khó khăn trong việc tìm được tiếng nói đồng thuận tuyệt đối mà luôn có một bộ phận người không muốn hợp tác với nhà đầu tư để chuyển nhượng quyền sử dụng đất của họ Từ
đó, dẫn đến tình trạng dự án không triển khai được, phá vỡ quy hoạch đã được duyệt Đối với trường hợp này có thể áp dụng bài học từ các nước, sau khi đã thỏa thuận được với đa số người dân thì đối với trường hợp còn lại sẽ bị cưỡng chế thu hồi đất
và áp dụng giá bồi thường đã thỏa thuận được với đa số
- Cần ưu tiên áp dụng cơ chế tham vấn cộng đồng nhằm tạo sự đồng thuận cao từ phía người sử dụng đất, hạn chế các trường hợp thu hồi đất phải sử dụng biện pháp cưỡng chế Cơ chế tham vấn sẽ giúp Nhà nước và người sử dụng đất trao đổi, chia sẻ ý kiến, quan điểm của nhau để tìm ra tiếng nói chung trong việc xác định chính sách bồi thường, GPMB
1.3.2 Tình hình bồi thường, giải phóng mặt bằng ở Việt Nam
1.3.2.1 Chính sách bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất qua các thời kỳ ở Việt Nam
* Trước khi có Luật Đất đai năm 1993:
Kể từ sau khi cách mạng tháng 8 thành công, chúng ta tiến hành xóa bỏ chiếm hữu ruộng đất của địa chủ, thiết lập quyền sở hữu ruộng đất cho nhân dân và ban hành Hiến pháp năm 1959 thì Nghị định số 151/TTg ngày 15 tháng 04 năm
1959 của Hội đồng Chính phủ quy định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất trong đó có quy định về bồi thường thiệt hại về đất Để hướng dẫn thực hiện Nghị định số 151/TTg, Liên bộ Uỷ ban kế hoạch Nhà nước và Nội vụ đã ban hành Thông
tư liên bộ số 1424/TT-LB ngày 06 tháng 7 năm 1959 đã quy định cụ thể về bồi thường khi Nhà nước trưng dụng ruộng đất như sau:
- Về nguyên tắc thu hồi, trưng dụng ruộng đất:
Trang 35+ Đảm bảo kịp thời và đủ diện tích cần thiết cho công trình xây dựng đồng thời chiếu cố đúng mức quyền lợi và đời sống của người có ruộng đất
+ Chỉ được trưng dụng số ruộng đất thật cần thiết, không được trưng dụng thừa, hết sức tiết kiệm ruộng đất cày cấy, trồng trọt; tận dụng những đất hoang để không phải trưng dụng hoặc chỉ trưng dụng ít ruộng đất của nhân dân
+ Tránh những nơi dân cư đông đúc, nghĩa trang liệt sĩ, nhà thờ, chùa
- Về nguyên tắc bồi thường:
+ Bồi thường bằng đất (là cách tốt nhất và là chủ yếu): Vận động nông dân điều chỉnh hoặc nhường ruộng đất cho người có đất bị thu hồi
+ Bằng tiền: Giá bồi thường căn cứ vào sản lượng đã dùng để tính thuế nông nghiệp và tình hình thực tế tại địa phương (đời sống của nhân dân cao hay thấp, ruộng ít hay nhiều, tốt hay xấu) để bồi thường cho thích đáng Giá bồi thường tương ứng bằng 1- 4 năm sản lượng thường niên
+ Chỉ bồi thường cho những người có chứng thư hợp pháp
Ngày 11 tháng 01 năm 1970, Thủ tướng Chính phủ ban hành Thông tư số 1792/TTg quy định một số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai và cây cối lâu năm, hoa màu cho nhân dân xây dựng vùng kinh tế mới, mở rộng thành phố trên nguyên tắc: "Phải đảm bảo thỏa đáng quyền lợi hợp pháp của Hợp tác xã và của nhân dân"
Hiến pháp năm 1980 quy định về đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất, quản lý Điều 19 Hiến pháp 1980 quy định: “Đất đai, rừng núi, sông hồ, hầm mỏ, tài nguyên thiên nhiên trong lòng đất, ở vùng biển và thềm lục địa… cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước - đều thuộc sở hữu toàn dân” Ngày 01 tháng 07 năm 1980 Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 201/CP về việc "Không được phát canh, thu tô, cho thuê, cầm cố hoặc bán nhượng đất dưới bất
cứ hình thức nào, không được dùng để thu những khoản lợi không do thu nhập mà
có, trừ trường hợp do Nhà nước quy định" Trong thời kỳ này, những quan hệ đất đai chỉ đơn thuần là quan hệ “Giao - thu” giữa Nhà nước và người sử dụng (Phạm Phương Nam, 2014)
Trang 36Luật Đất đai năm 1988 không nêu cụ thể việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, mà chỉ nêu tại phần nghĩa vụ của người sử dụng đất (Điều 48): "Bồi thườngthiệt hại cho người sử dụng đất để giao cho mình bồi hoàn thành quả lao động và kết quả đầu tư đã làm tăng giá trị của đất đó theo quy định của pháp luật "
Sau khi Luật Đất đai năm 1988 được ban hành, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 186/HĐ-BT ngày 31 tháng 5 năm 1990 quy định về việc bồi thường đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang mục đích khác: Mọi tổ chức,
cá nhân được giao đất nông nghiệp, đất có rừng để sử dụng vào mục đích khác phải bồi thường về đất nông nghiệp, đất có rừng cho Nhà nước Người có đất bị thu hồi chỉ được bồi thường tài sản trên đất
* Thời kỳ 1993-2003:
Luật Đất đai năm 1993 có hiệu lực từ ngày 15/10/1993 thay thế cho Luật Đất đai năm 1988 Đây là văn bản pháp luật quan trọng nhất đối với việc thu hồi đất và bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất Tại Điều 27 quy định: “Trong trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người thu hồi đất được bồi thường thiệt hại”
Sau khi Luật Đất đai năm 1993 được ban hành, Nhà nước đã ban hành rất nhiều các văn bản dưới luật nhằm cụ thể hoá các điều luật cụ thể:
- Nghị định 90/CP ngày 17 tháng 8 năm 1994 của Chính phủ quy định cụ thể các chính sách và phân biệt chủ thể sử dụng đất, cơ sở pháp lý để xem xét tính hợp pháp của thửa đất để lập kế hoạch bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy định khi Nhà nước thu hồi đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích Quốc gia, lợi ích công cộng
- Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 1998 của Chính phủ quy định về việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích Quốc gia, lợi ích công cộng thay thế Nghị định số 90/CP Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 1998 quy định chi tiết hơn, hoàn chỉnh hơn, toàn diện hơn, tiến bộ hơn và hợp lý hơn Nghị định 90/CP về thu hồi đất và phạm vi được bồi thường cho người bị thu hồi đất Giá đất để tính bồi thường được tính trên cơ sở giá đất của địa phương ban hành theo quy định của Chính phủ nhân
Trang 37với hệ số K Ngoài ra, Nghị định số 22/NĐ-CP quy định thêm một số chính sách hỗ trợ cũng như một số điều khoản mới về việc lập khu TĐC cho các hộ phải di chuyển
- Thông tư số 145/1998/TT-BTC ngày 04 tháng 11 năm 1998 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định 22/1998/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 1998 quy định phương pháp hệ số K để định giá đất bồi thường, lập lại phương án bồi thường và bổ sung thêm một số nội dung như: Điều kiện bồi thường về đất, nhà, công trình kiến trúc, bồi thường cho người thuê nhà thuộc quyền sở hữu của Nhà nước, bồi thường cho doanh nghiệp (DN), đơn vị hành chính sự nghiệp Điểm cần lưu ý trong Thông tư này là giao trách nhiệm cho chủ đầu tư là thành viên của Hội đồng GPMB xem xét, thẩm định Trên cơ sở đó trình UBND tỉnh phê duyệt hoặc Hội đồng thẩm định để UBND cấp huyện phê duyệt
- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai ngày 29/6/2001 quy định cụ thể hơn về việc bồi thường thiệt hại và giải phóng mặt bằng
* Thời kỳ thực hiện Luật Đất đai năm 2003:
Luật Đất đai 2003 bao gồm 7 chương 146 điều trong đó có 7 điều (từ Điều
38 đến Điều 44) quy định về cơ chế, chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi nhà nước thu hồi đất Luật Đất đai năm 2003 có rất nhiều nội dung mới trong đó có vấn
đề BT,HT&TĐC như: Nhà nước hạn chế thu hồi đất mà khuyến khích các nhà đầu
tư tự thỏa thuận nhận chuyển nhượng QSDĐ để xin chuyển mục đích sử dụng đất, giảm áp lực cho chính quyền địa phương trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai Nhà nước chỉ thực hiện thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế
Sau khi Luật Đất đai 2003 được ban hành, Nhà nước đã ban hành nhiều các văn bản dưới luật như Nghị định, Thông tư cụ thể hoá các điều luật về giá đất, bồi thường, hỗ trợ thu hồi đất, cụ thể:
- Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003
- Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 của Chính phủ
về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất
Trang 38- Thông tư số 114/2004/TT-BTC ngày 26 tháng 11 năm 2004 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm
2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ quy định
về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất, có 7 chương 51 điều
- Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27/01/2006 của Chính phủ về sửa đổi
bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần
- Nghị định số 17/2006/NĐ-CP có 7 điều: trong đó, điều 4 của Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 197/NĐ-CP có liên quan đến cơ chế chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất
- Thông tư số 116/TT-BTC ngày 07 tháng 12 năm 2004 của Bộ Tài chính về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất
- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai, có 68 điều trong đó có 16 điều (điều 33 đến điều 48) sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị đinh 197/2004/NĐ-CP và Nghị định số 17/2006/NĐ-CP liên quan đến cơ chế, chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất
- Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 15 tháng 6 năm 2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai
- Nghị định số 123/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2007 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 về phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất
Trang 39- Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 8 năm 2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi, bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất, có 41 điều trong đó có 14 điều sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 197/2004/NĐ-CP và Nghị định số 17/2006/NĐ-CP; Nghị định số 84/2007/NĐ-CP liên quan đến cơ chế chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi nhà nước thu hồi đất
- Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, TĐC và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất
* Thời kỳ thực hiện Luật Đất đai năm 2013:
Ngày 29 tháng 11 năm 2013, tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa VIII, Quốc hội
đã biểu quyết thông qua Luật Đất đai năm 2013 Luật Đất đai năm 2013 có 14 chương với 212 điều trong đó có 14 điều (từ Điều 74 đến Điều 87) quy định về chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi nhà nước thu hồi đất Luật Đất đai năm 2013 quy định cụ thể và đầy đủ từ việc thu hồi đất, BT,HT&TĐC đảm bảo một cách công khai, minh bạch và quyền lợi của người có đất thu hồi nhằm khắc phục, loại bỏ những ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người sử dụng đất và những trường hợp thu hồi đất
mà không đưa vào sử dụng, gây lãng phí, tạo dư luận xấu trong xã hội
Về thu hồi đất, BT,HT&TĐC, luật quy định: "Nhà nước chỉ thu hồi đất với các dự án đã được Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư; Dự án được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, quyết định đầu tư và một số trường hợp được HĐND cấp tỉnh xem xét qua chủ trương thu hồi đất"
Luật Đất đai năm 2013 cũng quy định chế tài mạnh để xử lý các trường hợp không đưa đất đã được giao, cho thuê vào sử dụng hoặc chậm sử dụng;
Quy định đầy đủ, rõ ràng về trường hợp thật cần thiết mà Nhà nước phải thu hồi; quy định giá đất bồi thường không áp dụng theo bảng giá đất mà áp dụng giá đất cụ thể do UBND cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất
Sau khi Luật Đất đai 2013 được ban hành, Nhà nước đã ban hành nhiều các văn bản dưới luật như Nghị định, Thông tư cụ thể hoá các điều luật về giá đất, bồi thường, hỗ trợ thu hồi đất, cụ thể:
Trang 40- Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ
về thi hành Luật Đất đai
- Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ
về giá đất
- Nghị định số 96/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 12 năm 2019 của Chính phủ
về quy định về khung giá đất
- Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2014 của Chính phủ
về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
- Thông tư số 30/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 quy định về
hồ sơ giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất
- Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2014 quy định chi tiết về BT, HT&TĐC khi Nhà nước thu hồi đất
- Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số nghị định quy định chi tiết thi hành luật đất đai
1.3.2.3 Tình hình thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lai Châu
* Các văn bản pháp quy của tỉnh Lai Châu:
Công tác bồi thường, hỗ trợ và TĐC khi Nhà nước thu hồi đất được các cấp
ủy Đảng, chính quyền hết sức quan tâm chỉ đạo tổ chức thực hiện; UBND tỉnh đã ban hành các văn bản:
- Quyết định số 33/2014/QĐ-UBND ngày 05/11/2014 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Lai Châu về việc Quy định một số nội dung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; trình tự, thủ tục thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên địa bàn tỉnh Lai Châu;
- Quyết định số 34/2014/QĐ-UBND ngày 05/11/2014 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Lai Châu về việc Quy định trình tự thực hiện thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Lai Châu;
- Quyết định số 35/2014/QĐ-UBND ngày 05/11/2014 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Lai Châu về việc Quy định Hạn mức giao đất, hạn mức công nhận đất ở; kích thước, diện tích đất tối thiểu được tách thửa; hạn mức giao đất trống, đồi núi trọc, đất có mặt nước thuộc nhóm đất chưa sử dụng, đất xây dựng trụ sở cơ quan, đơn vị
sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Lai Châu;