1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đồ án TNXH Sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học môn Khoa học lớp 45

33 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học môn Khoa học lớp 4-5
Tác giả Trần Quang Vũ
Người hướng dẫn PGS TS Nguyễn Thị Hường
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Khoa học
Thể loại Đồ án
Năm xuất bản 2023
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 362,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐỒ ÁN KẾT THÚC CHUYÊN ĐỀ “DẠY HỌC CÁC MÔN TỰ NHIÊN – XÃ HÔI Ở TIỂU HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH” Tên đề tài: Sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học môn Khoa học lớp 45

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

ĐỒ ÁN KẾT THÚC CHUYÊN ĐỀ

“DẠY HỌC CÁC MÔN TỰ NHIÊN – XÃ HÔI Ở TIỂU HỌC THEO

ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH”

Tên đề tài: Sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột”

trong dạy học môn Khoa học lớp 4-5

Người thực hiện: Trần Quang Vũ

Mã học viên: 228140101100004

Lớp: K30C1 (UD)

Cán bộ giảng dạy: PGS TS Nguyễn Thị Hường

NGHỆ AN - 2023

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập lớp Cao học tiểu học quận Gò Vấp TPHCM lớpK30C1 tại lớp học trực tuyến Đại học Vinh , bản thân em đã có cơ hội được họctập từ đó đã củng cố thêm các kiến thức được học, tìm hiểu thêm các kiến thứcmới, các kiến thức liên quan đến công tác chuyên môn, khả năng phân tích lý luậnvững vàng hơn, hoàn thiện nhiều kỹ năng cần thiết Qua đó, em thấy bản thânmình cần phải rèn luyện, trau dồi kiến thức nhiều hơn nữa để có thể hoàn thành tốtcác nhiệm vụ được giao Có được những kiến thức trên, bên cạnh sự nỗ lực, cốgắng của bản thân là nhờ sự hỗ trợ, giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của Cô giảng dạytrong suốt khóa học

Để hoàn thành được bài đồ án này, em xin chân thành cảm ơn Cô đã nhiệttình hướng dẫn lớp chúng em trong suốt khóa học tại lớp Cao học K30C1 Giáodục tiểu học Quận Gò Vấp TPHCM

Nhìn lại chặng đường học tập mà vừa qua với khoảng thời gian không quádài nhưng cũng không ngắn và đủ để hình ảnh, kiến thức in đậm trong tim Lầnđầu thực hiện đồ án cùng với những giới hạn về thời gian, dung lượng, khuôn khổ

và kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự chỉ dẫn và lời góp ý của Cô để giúp cho bài tiểu luậncủa em được hoàn thiện hơn Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn Cô đã tậntâm hướng dẫn và chia sẻ những kinh nghiệm thực tế để tôi bổ sung và hoàn thiệnkiến thức chuyên môn áp dụng trong công việc và trong cuộc sống Cuối cùngkính chúc quý Cô luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm

vụ được giao Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 4

PHẦN II: NỘI DUNG 5

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN 5

1 Khái niệm của phương pháp “bàn tay nặn bột” 6

2 Ý nghĩa của phương pháp “Bàn tay nặn bột” đối với dạy học TN & XH ở tiểu học 7

3 Các nguyên tắc cơ bản khi áp dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học các môn TN & XH ở tiểu học 7

III THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC Ở TIỂU HỌC 8

1 Thực trạng sử dụng phương pháp dạy học của giáo viên trong môn Khoa học 8

2 Sự hiểu biết về phương pháp “ Bàn tay nặn bột” của giáo viên ở một số trường Tiểu học 9

3 Thực trạng sử dụng đồ dùng dạy học hiện nay của giáo viên 9

4 Chất lượng học tập môn khoa học của học sinh 9

IV NHỮNG KINH NGHIỆM ĐƯỢC ĐÚC RÚT QUA QUÁ TRÌNH GIẢNG DẠY 10

1 Vai trò của giáo viên và học sinh trong việc sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” 10

1.1 Vai trò của giáo viên 10

1.2 Vai trò của học sinh 10

2 Cách sử dụng đồ dùng dạy học trong phương pháp “Bàn tay nặn bột” 11

3 Tiến trình sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học môn Khoa học: 12

4 Cách thức sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” 16

4.1 Lựa chọn kiến thức, chủ đề dạy học 16

4.2 Lựa chọn sử dụng đồ dùng, thiết bị dạy học 17

4.4 Thiết kế hoạt động dạy học phương pháp “Bàn tay nặn bột” 17

5 Các kĩ thuật dạy học và điều kiện cần có để thực hiện phương pháp “Bàn tay nặn bột” 21

5.1.Tổ chức lớp học 21

5.2 Kỹ thuật tổ chức hoạt động thảo luận cho học sinh 22

5.3 Kỹ thuật tổ chức hoạt động nhóm trong phương pháp “Bàn tay nặn bột” 22

5.4 Kỹ thuật đặt câu hỏi của giáo viên 23

Trang 4

5.5 Hướng dẫn học sinh sử dụng vở thí nghiệm 24

5.6 Đánh giá học sinh trong dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” .24

V THIẾT KẾ BÀI DẠY 26

PHẦN III: KẾT LUẬN 31

I KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC: 31

II KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT: 31

TÀI LIỆU THAM KHẢO 33

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

Trang 5

Hiện nay, ở các bậc học nói chung và bậc tiểu học nói riêng đang thực hiệnđổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy học Định hướng đổi mới phương pháp dạyhọc được nghị quyết Trung ương lần 2 Ban chấp hành trung ương khóa VIII khẳngđịnh: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyềnthụ một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụngphương pháp tiên tiến, các phương tiện dạy học hiện đại vào quá trình dạy họcđảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu của học sinh”.

Theo định hướng trên, nhiều phương pháp dạy học tiên tiến, hiện đại trênthế giới như: “phương pháp tự phát hiện tri thức”, “phương pháp dạy học tíchcực”, “phương pháp cùng tham gia”, “phương pháp tương tác”, và gần đây là

“phương pháp bàn tay nặn bột” từng bước được vận dụng vào quá trình dạy học ởTiểu học - bậc học được coi là nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân

Khoa học là môn học chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống các môn học ởTiểu học Đây là môn học tích hợp kiến thức của nhiều ngành khoa học thựcnghiệm như: Vật lí, hóa học, sinh học Vì vậy, môn học này có nhiều thuận lợi đểvận dụng các phương pháp dạy học tiên tiến, hiện đại vào quá trình dạy học từ đóbước đầu hình thành cho học sinh phương pháp học tập mang tính chất tìm tòinghiên cứu, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo

Thực tiễn dạy môn khoa học ở trường Tiểu học cho thấy, giáo viên còn gặpnhiều khó khăn trong việc lựa chọn và sử dụng phương pháp dạy học Các phươngpháp dạy học truyền thống vẫn chiếm ưu thế, học sinh học tập còn thụ động Cácthí nghiệm khoa học trong bài còn mang tính chất minh họa Giáo viên còn tựmình trình bày, biểu diễn các thí nghiệm thực hành để minh họa cho kiến thức bàihọc mà ít tổ chức cho học sinh tham gia hoạt động này để các em chiếm lĩnh trithức khoa học một cách chủ động, thỏa mãn được nhu cầu tìm tòi, ham muốnkhám phá và say mê khoa học của học sinh Tiểu học Vì vậy các giờ học cònmang tính áp đặt, kiến thức mà học sinh chiếm lĩnh trong giờ học chưa cao, họcsinh ít được tham gia vào các hoạt động để tự tìm tòi và phát hiện tri thức

Việc vận dụng những phương pháp tiên tiến vào quá trình dạy học ở tiểuhọc nói chung, môn khoa học nói riêng là vấn đề quan trọng để hình thành cho họcsinh những phương pháp học tập độc lập, sáng tạo, qua đó để nâng cao chất lượngdạy học Một trong những phương pháp có nhiều ưu điểm, đáp ứng được mục tiêutrên và có thể vận dụng tốt vào quá trình dạy học môn khoa học ở tiểu học làphương pháp “Bàn tay nặn bột” Trong những năm gần đây, phương pháp “Bàntay nặn bột” bước đầu được thử nghiệm vào quá trình dạy học môn khoa học ởmột số trường tiểu học Việt Nam Việc nghiên cứu áp dụng phương pháp này vàoquá trình dạy học sao cho phù hợp với điều kiện cụ thể của nhà trường tiểu họcViệt Nam nói chung và các trường tiểu học trong huyện Nghi Lộc nói riêng là vấn

đề hết sức cần thiết để góp phần đổi mới phương pháp dạy học Có như vậy mới

Trang 6

hình thành được cho học sinh phương pháp học tập đúng đắn, giúp các em thực sựtrở thành “ chủ thể” tìm kiếm tri thức.

Từ việc xác định vai trò, vị trí nội dung dạy học môn khoa học cũng như bănkhoăn về việc áp dụng phương pháp bàn tay nặn bột trong dạy học, tôi đã chọn đề

tài “Sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học môn Khoa học lớp 4-5” để nghiên cứu nhằm góp phần tìm ra các biện pháp khắc phục khó khăn cho

bản thân, đồng nghiệp cũng như học sinh lớp 4, giúp các em tự tìm kiến kiến thứcphù hợp trong học tập

PHẦN II: NỘI DUNG

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN.

Môn Khoa học ở cấp Tiểu học nhằm giúp học sinh đạt được một số kiến thức về sự chao đổi chất, nhu cầu dinh dưỡng, cách phòng tránh một số bệnh, ứng dụng của một số chất, một số vật liệu, dạng năng lượng thường gặp để có kĩ năng ứng xử thích hợp trong một số tình huống hay học sinh biết quan sát làm thí

nghiệm thực hành đơn giản rồi phân tích, so sánh rút ra được những dấu hiệu chung và riêng từ đó học sinh sẽ có thái độ tích cực, ham hiểu biết khoa học và biết vận dụng vào đời sống

Như chúng ta đã biết, học sinh tiểu học là lứa tuổi học tập theo hứng thú và chủ yếu là cảm tính Đồng thời lứa tuổi này cũng mang các đặc điểm tâm lý hồn nhiên, ngộ nghĩnh và hiếu động các em thích vui chơi, thích các trò chơi vui nhộn

"Vừa chơi, vừa học" Mặt khác đối với học sinh tiểu học việc ghi nhớ thì rất nhanhnhưng để nhớ một nội dung, một vấn đề nào đó thì lại rất khó cho nên các nhà khoa học đó nhận định rằng lứa tuổi học sinh tiểu học là lứa tuổi "Chóng nhớ, mauquên" Muốn học sinh nhớ được vấn đề nào đó thì ngoài việc thường xuyên phải củng cố, luyện tập về nội dung cần nhớ thì việc tạo cho các em cảm giác hứng thú

và say mê với nội dung cần ghi nhớ , chắc chắn rằng các em sẽ dễ tiếp thu, dễ nhớ

và nhớ lâu hơn Đồng thời lứa tuổi học sinh tiểu học là lứa tuổi mang đặc điểm

nhận thức, tư duy trực quan và cụ thể Các em không những nhận thức tốt các vấn

đề mang tính cụ thể mà còn rất có hứng thú khi khai thác, tìm hiểu các vấn đề mang tính cụ thể, đồng thời các em cũng rất ưa thích các vấn đề trực quan mang tính bắt mắt mà các em có thể quan sát một cách dễ dàng

Trang 7

Các môn học như Khoa học, Lịch sử, Địa lý theo chương trình và sách giáo khoa mới được tích hợp nhiều kiến thức, nhiều nội dung trong một môn học, một bài học: Ví dụ : môn Khoa học được tích hợp các kiến thức như : vật lý, sinh học, hoá học và một số kiến thức của môn sức khoẻ cũ cũng được tích hợp vào môn học này, môn Lịch sử, Địa lý lại được tích hợp các kiến thức của khoa học xã hội như : Văn hoc, địa lý, lịch sử Do đó các nội dung kiến thức của các môn học này mang tính trừu tượng , yêu cầu học sinh phải ghi nhớ Đồng thời đối với học sinh lớp 4 là lớp bản lề của hai giai đoạn : Giai đoạn lớp 1,2,3 và giai đoạn lớp 4,5 Mặtkhác, lớp 4 cũng là lớp học bắt đầu của việc tách môn học "Tự nhiên - Xã hội" thành các môn Khoa học, Lịch sử, Địa lý và cũng là lớp tạo nền tảng cho việc học tập và tìm hiểu kiến thức các môn học này ở lớp 5 và các lớp trên

1 Khái niệm của PHƯƠNG PHÁP “BÀN TAY NẶN BỘT”

- "Bàn tay nặn bột" (tiếng Pháp: "Lamain à la pâte" ; tiếng Anh: Hand on) là một phương pháp dạy học tích cực dựa trên thí nghiệm nghiên cứu, áp dụng

cho việc giảng dạy các môn khoa học tự nhiên "Bàn tay nặn bột" (BTNB) chú trọng đến việc hình thành kiến thức cho học sinh bằng các thí nghiệm tìm tòi nghiên cứu để chính các em tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra… Với một vấn đề khoa học đặt ra, học sinh có thể đặt ra các câu hỏi, các giả thuyết từ những hiểu biết ban đầu, tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu để kiểm chứng và đưa ra những kết luận phù hợp thông qua thảo luận, so sánh, phân tích, tổng hợp kiến thức

- Cũng như các phương pháp dạy học tích cực khác, phương pháp “Bàn tay nặn bột” luôn coi học sinh là trung tâm của quá trình nhận thức, chính các em là người tìm ra câu trả lời và lĩnh hội kiến thức dưới sự giúp đỡ của giáo viên Mục tiêu của phương pháp “Bàn tay nặn bột” là tạo nên tính tò mò, ham muốn khám phá, yêu và say mê khoa học của học sinh Ngoài việc chú trọng đến kiến thức khoa học, phương pháp “Bàn tay nặn bột” còn chú ý nhiều đến việc rèn luyện kỹ năng diễn đạt thông qua ngôn ngữ nói và viết cho học sinh

Trang 8

- Chương trình “Bàn tay nặn bột” là sự quy trình hóa một cách logic phươngpháp dạy học, dẫn dắt học sinh đi từ chưa biết đến biết theo một phương pháp mới

mẻ là để học sinh tiếp xúc với hiện tượng, sau đó giúp các em giải thích bằng cách

tự mình tiến hành quan sát qua thực nghiệm Phương pháp này giúp các em không chỉ nhớ lâu, mà còn hiểu rõ câu trả lời mình tìm được Qua đó, học sinh sẽ hình thành khả năng suy luận theo phương pháp nghiên cứu từ nhỏ và hình thành tác phong, phương pháp làm việc khi trưởng thành

2 Ý nghĩa của PHƯƠNG PHÁP “BÀN TAY NẶN BỘT” đối với dạy học TN

& XH ở tiểu học

- Phương pháp "Bàn tay nặn bột" là một phương pháp dạy học tích cực,

thích hợp cho việc giảng dạy các kiến thức khoa học tự nhiên, đặc biệt là đối với bậc tiểu học và trung học cơ sở, khi học sinh đang ở giai đoạn bắt đầu tìm hiểu mạnh mẽ các kiến thức khoa học, hình thành các khái niệm cơ bản về khoa học Tập trung phát triển khả năng nhận thức của học sinh, giúp các em tìm ra lời giải đáp cho những thắc mắc trẻ thơ bằng cách tự đặt mình vào tình huống thực tế, từ

đó khám phá ra bản chất vấn đề

- Việc tìm hiểu và vận dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học

các môn TN - XH ở tiểu học, có thể phát huy tối đa khả năng tự học và sáng tạo của học sinh nhỏ, giúp các em tự phát hiện và giải quyết vấn đề thông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra Nhờ đó học sinh hình thành khả năng suy luận theo phương pháp nghiên cứu từ nhỏ, góp phần hình thành tác phong và phương pháp làm việc của một nhà khoa học khi các em

trưởng thành

- Phương pháp “Bàn tay nặn bột” là phương pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh, thu hút học sinh vào các hoạt động tìm tòi, khám phá, từ đó hun đúc tình yêu và say mê học tập nghiên cứu cho các em ngay từ nhỏ

3 Các nguyên tắc cơ bản khi áp dụng PHƯƠNG PHÁP “BÀN TAY NẶN BỘT” trong dạy học các môn TN & XH ở tiểu học

Thứ nhất: Học sinh quan sát sự vật, hiện tượng trong thực tế gần gũi với các

em để các em dễ cảm nhận, dễ thực nghiệm trên chúng

Trang 9

Thứ hai: Trong quá trình tự thực nghiệm, học sinh đưa ra ý kiến, nêu thắc

mắc, kết luận riêng và thảo luận trong tập thể (nhóm, cả lớp) từ đó rút ra kiến thức khoa học

Thứ ba: Giáo viên chỉ thực hiện vai trò đề xuất, tổ chức các thực nghiệm

cho học sinh theo một tiến trình sư phạm chặt chẽ Giáo viên không làm sẵn cho học sinh

Thứ tư: Áp dụng phương pháp này cần một thời lượng tối thiểu là 2 giờ/tuần

trong nhiều tuần liền cho một đề tài Tính liên tục của các hoạt động và những phương pháp giáo dục được bảo đảm suốt trong thời gian học tập

Thứ năm: Mỗi học sinh có quyển vở thực hành riêng do chính các em ghi

chép theo ngôn từ và cách thức của riêng mình

Thứ sáu: Mục đích chính của phương pháp này là học sinh tiếp nhận được

các khái niệm khoa học và kĩ thuật thực hành Song song đó là củng cố ngôn ngữ viết và nói của các em

Thứ bảy: Phụ huynh học sinh và tất cả mọi người xung quanh cần được

khuyến khích hỗ trợ những điều mà học sinh, lớp học cần để thực nghiệm

Thứ tám: Các đối tác khoa học (trường ĐH, CĐ, trường nghề, viện nghiên

cứu…) ở địa phương cần giúp các hoạt động của lớp theo khả năng của mình

Thứ chín: Ngành giáo dục, trường sư phạm giúp giáo viên các kinh nghiệm

và phương pháp giảng dạy

Thứ mười: Giáo viên cần chủ động tự học, tự tìm hiểu tài liệu, kiến thức liên

quan; trao đổi với đồng nghiệp, các nhà khoa học… để nâng cao kiến thức Giáo viên là người chịu trách nhiệm giáo dục và đề xuất những hoạt động của lớp mình phụ trách.

III THỰC TRẠNG VIỆC SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

MÔN KHOA HỌC Ở TIỂU HỌC.

1 Thực trạng sử dụng phương pháp dạy học của giáo viên trong môn Khoa học

Qua tìm hiểu, tôi thấy rằng giáo viên chưa nắm vững về mặt lý luận của cácphương pháp dạy học mới Nhưng cũng không ít giáo viên nắm chắc về mặt lýluận các phương pháp dạy học mới nhưng họ ngại sử dụng vì phải chuẩn bị côngphu cả đồ dùng dạy học lẫn thiết kế bài dạy, mất nhiều thời gian Mặt khác, do đồ

Trang 10

dùng thí nghiệm, tài liệu phục vụ cho môn Khoa học ở một số trường chưa đápứng yêu cầu nên cũng phần nào gây khó khăn cho giáo viên khi lựa chọn phươngpháp dạy học Có chăng giáo viên nào sử dụng các phương pháp dạy học tích cựccũng chỉ là đối phó với những giờ dạy thao giảng hoặc ban giám hiệu dự giờ mà

thôi Hầu hết đều sử dụng lối dạy : Cho học sinh đọc bài, tìm hiểu trả lời câu hỏi,

dù sao đây cũng là một phương pháp dạy học mới, giáo viên mới được trảinghiệm, thời gian dành để hội thảo cụm trường hay thăm lớp dự giờ đồng nghiệp

để đúc rút kinh nghiệm cũng chưa được là bao Vì vậy, với giáo viên tiểu họchuyện Nghi Lộc thì đây là một phương pháp dạy học mà đang được nhiều ngườiquan tâm

3 Thực trạng sử dụng đồ dùng dạy học hiện nay của giáo viên.

Qua khảo sát cho thấy giáo viên sử dụng tranh ảnh chiếm tỉ lệ cao trong sốcác tiết dạy có yêu cầu sử dụng đồ dùng dạy học bởi đây là đồ dùng có sẵn ởphòng thiết bị, không mất công tìm kiếm mà cũng dễ sử dụng Còn các tiết dạy cóyêu cầu đồ dùng là vật thật, là dụng cụ thí nghiệm thì giáo viên ít sử dụng bởi phảimất công tìm kiếm, dụng cụ thí nghiệm có khi ở trường không đủ, có thứ lại dễ vỡ,cồng kềnh, có loại phải nghiên cứu trước rồi mới sử dụng thành công,…Do vậy,

có một số giáo viên chỉ “dạy chay” cho hết bài, cho kịp chương trình, học sinh cứviệc học thuộc các kiến thức cần đạt trong bài là đủ Tình trạng sử dụng đồ dùngdạy học chưa đảm bảo yêu cầu đầy đủ chứ chưa nói đến chất lượng, hiệu quả khi

sử dụng

4 Chất lượng học tập môn khoa học của học sinh.

Được dự giờ của một số đồng nghiệp, tôi thấy giờ học Khoa học chưa sinhđộng, tiến trình giờ học diễn ra một cách xuôi chiều, học sinh thiếu sự hợp tác,thiếu sự kiểm nghiệm minh chứng, kiến thức áp đặt Các em có thể trả lời đượccác câu hỏi có liên quan đến nội dung bài học nhưng không thể trả lời được là làmthế nào để biết được điều đó hay vì sao lại thế?

Bởi vậy, kiến thức mà các em học được sau mỗi bài dễ bị quên và để vậndụng những kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống lại càng gặp khó khăn nhiều

Trang 11

IV NHỮNG KINH NGHIỆM ĐƯỢC ĐÚC RÚT QUA QUÁ TRÌNH

GIẢNG DẠY

Muốn sử dụng tốt phương pháp “ Bàn tay nặn bột” vào dạy học môn khoa

học lớp 4 - 5, ngoài sự hiểu biết và nắm chắc lý luận của phương pháp dạy học nàythì người giáo viên cần xác định được:

1 Vai trò của giáo viên và học sinh trong việc sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột”

1.1 Vai trò của giáo viên.

Dạy học theo phương pháp này, người giáo viên không phải truyền thụ kiếnthức dưới dạng thuyết trình, trình bày mà là người giúp học sinh xây dựng kiếnthức bằng cách cùng hành động trong nhóm Vì vậy, giáo viên có vai trò là ngườihướng dẫn, lãnh đạo, tổ chức cho học sinh hoạt động, làm việc để chiếm lĩnh trithức khoa học Giáo viên phải đưa ra những tình huống, các hoạt động, quyết địnhhành động đi liền với những chẩn đoán về sự tiến bộ của học sinh, thu hẹp nhữngcái có thể và chỉ ra các thông tin nếu thấy cần thiết, làm cho học sinh học tập mộtcách tích cực trong giờ học… Giáo viên là người trung gian giữa khoa học và họcsinh, là người đàm phán với học sinh những thay đổi nhận thức liên quan đếnnhững câu hỏi được xử lí, với các thiết bị thực nghiệm thích đáng, với mô hìnhgiải thích hợp lí, phải đảm bảo sự đón trước và giải quyết các xung đột nhận thưchành động với mỗi cá nhân học sinh cũng như với mỗi nhóm học sinh và cả lớp

1.2 Vai trò của học sinh.

Phương pháp dạy học này đặt học sinh vào vị trí của nhà nghiên cứu, tíchcực, chủ động, tự khám phá, phát hiện ra tri thức, chân lí khoa học

Học sinh tiếp cận vấn đề đặt ra qua tình huống (câu hỏi lớn của bài học);nêu các giả thuyết, các nhận định ban đầu của mình, đề xuất và tiến hành các thínghiệm nghiên cứu; đối chiếu các nhận định (giả thuyết đặt ra ban đầu); đối chiếucách làm thí nghiệm và kết quả với các nhóm khác; nếu không phù hợp học sinhphải quay lại điểm xuất phát, tiến hành lại các thí nghiệm như đề xuất của cácnhóm khác để kiểm chứng; rút ra kết luận và giải thích cho vấn đề đặt ra ban đầu.Trong quá trình này, học sinh luôn luôn phải động não, trao đổi với các học sinhkhác trong nhóm, trong lớp, hoạt động tích cực để tìm ra kiến thức

Các em sẽ học cách trả lời và tổ chức hành động để có thể đưa ra câu trả lờithích đáng Công việc này đòi hỏi học sinh mày mò việc nghiên cứu thông tin.Nghiên cứu những phương tiện có sẵn để trả lời, chính nó đã đề cập đến việc tậplàm khoa học

Trước một vấn đề khoa học được nêu ra, dưới sự gợi ý tùy theo mức độ củagiáo viên, học sinh sẽ chia nhóm, đề xuất quan điểm riêng trong nhóm, thảo luận,đưa ra quan điểm, phương án thí nghiệm nhằm lí giải tiên đoán của mình Mỗi họcsinh, mỗi nhóm có một quyển vở để tự phác họa, thiết kế thí nghiệm của mình và

Trang 12

tự rút ra kết luận, có thể diễn đạt bằng những sơ đồ, hình vẽ hay lời văn diễn dải.Quyển vở này sẽ được học sinh lưu lại và học sinh sẽ tự điều chỉnh quan điểm,phương án thực hiện khi tìm được câu trả lời có lí hơn.Thiết bị để làm thí nghiệmcũng có thể do học sinh tự lựa chọn theo ý đồ của riêng mình, của nhóm Có thểchọn một vài thứ trong số đồ dùng thí nghiệm nhưng học sinh cũng có thể tự sưutầm, tự tạo thiết bị thí nghiệm từ các nguyên vật liệu có sẵn trong đời sống Vớicách này, không nhất thiết học sinh chỉ có một phương án thống nhất mà có thểbằng phương án khác để tìm ra kết luận.

Như vậy, việc học tập theo phương pháp này đã phát huy tối đa sự hoạtđộng độc lập nhận thức của học sinh tiểu học

2 Cách sử dụng đồ dùng dạy học trong phương pháp “Bàn tay nặn bột”.

Dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” không đòi hỏi phải sử dụngđến những đồ dùng thí nghiệm phức tạp, hiện đại, đắt tiền mà đồ dùng ở đâykhông quá tốn kém, đa số là các vật dụng rẻ tiền, dễ kiếm, dễ sử dụng; vài loại hoacủa cây cam, cây bưởi , cây hồng,…và một con dao mỏng, các em có thể xác địnhđược các cơ quan sinh sản và sự thụ phấn của cây như thế nào; một ngọn nến, mộtcốc thủy tinh và một chậu nước, các em xác định được các thành phần của khôngkhí; một cái xa - ranh học sinh cũng phát hiện được không khí nén lại hoặc giãn ra;một cục bông, một cái phễu, một vỏ chai nước khoáng các em dễ dàng chứngminh nước có bị ô nhiễm hay không; một nồi nước, một bếp lửa các em có thểhình dung vòng tuần hoàn của nước trong thiên nhiên; rồi que diêm, hạt vừng, conchuột, tấm ni lông,…Miễn là giáo viên biết tận dụng và huy động tất cả các emcùng làm, cùng nghiên cứu Đặc biệt là huy động học sinh tìm kiếm, tự làm đồdùng thí nghiệm

Những dụng cụ thí nghiệm dễ kiếm, dễ làm đồng nghĩa với việc tiến hànhthao tác thí nghiệm cũng hết sức đơn giản, không cần phải có sự hiểu biết kỹ thuật

gì đặc biệt

Khi học sinh thực hiện một số thí nghiệm đơn giản như thử nghiệm nhu cầucủa lá cây bằng cách làm thay đổi các thông số: đất, nước, ánh sáng, nhiệt độ,không khí Bằng cách so sánh và phân tích các kết quả thực nghiệm, các em sẽphát hiện ra rằng: Chỉ cần thay đổi mỗi lần một thông số là có thể kết luận khácnhau Và trong quá trình ấy, học sinh sẽ đặt ra các câu hỏi thắc mắc:

- Tại sao vẫn có những loại cây sống bám trên cây khác mà không cần đếnyếu tố đất?

- Tại sao sự nảy mầm không chỉ xảy ra trong đất mà còn cả trên chất nhựa,nước? như vậy trong hạt có gì?

- Cây trồng có ăn đất không? Tại sao phải bón phân cho cây?

Ở đây chỉ cần vài thao tác là ta có thể chứng minh hiện tượng bằng cách chohạt nảy mầm ở những vị trí khác nhau, điều kiện khác nhau Trong quá trình thựcnghiệm, giáo viên không định hướng các giả thuyết mà để cho các em tự nghĩ ra

Trang 13

các giả thuyết, các thí nghiệm làm sao để các em tự thực hiện được cái mà mình đitìm Sau đó, bằng cuộc tranh luận đầy lý lẽ, các em đi đến kết luận chặt chẽ hơn,thuyết phục hơn.

3 Tiến trình sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học môn Khoa học:

Tiến trình dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột” có 5 bước:

Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề

* Tình huống xuất phát hay tình huống nêu vấn đề là một tình huống dogiáo viên chủ động đưa ra như là một cách dẫn nhập vào bài học Tình huống xuấtphát phải ngắn gọn, gần gũi dễ hiểu đối với học sinh Tình huống xuất phát nhằmlồng ghép câu hỏi nêu vấn đề Tình huống xuất phát càng rõ ràng thì việc dẫn nhậpcho câu hỏi nêu vấn đề càng dễ Tuy nhiên có những trường hợp không nhất thiếtphải có tình huống xuất phát mới đề xuất được câu hỏi nêu vấn đề mà tùy vàotừng kiến thức và từng trường hợp cụ thể

* Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học Câu hỏi nêu vấn đề cầnđảm bảo yêu cầu phù hợp với trình độ, gây mâu thuẫn nhận thức và kích thích tính

tò mò, thích tìm tòi, nghiên cứu của học sinh nhằm chuẩn bị tâm thế cho học sinhtrước khi khám phá, lĩnh hội kiến thức Giáo viên phải dùng câu hỏi mở, tuyệt đốikhông được dùng câu hỏi đóng (trả lời có hoặc không) đối với câu hỏi nêu vấn đề.Câu hỏi nêu vấn đề càng đảm bảo các yêu cầu nêu ra ở trên thì ý đồ dạy học củagiáo viên càng dễ thực hiện thành công

Ví dụ 1: Bài “ Sơ đồ vòng tuần hoàn của nước trong thiên nhiên” (Khoa học

4-Trang 48), giáo viên có thể nêu tình huống như sau: Khi mưa thì có nước rơixuống Vậy tại sao lại có nước ở trên trời?

Ví dụ 2: Bài “Sự chuyển thể của chất” (Khoa học 5-Trang 72), giáo viên có

thể nêu: Ở lớp 4 các em đã biết được sự chuyển thể của nước Vậy các chất khácnhau chúng tồn tại ở những dạng nào, chúng có thể chuyển thể lẫn nhau được haykhông?

Ví dụ 3 : Bài “Năng lượng mặt trời” (Khoa học 5-Trang 84), ta cũng có thể

nêu: Điều gì sẽ xảy ra nếu không có mặt trời?

Bước 2: Bộc lộ biểu tượng ban đầu

Hình thành biểu tượng ban đầu để từ đó hình thành các câu hỏi của học sinh

là bước quan trọng, đặc trưng của phương pháp Bàn tay nặn bột Trong bước này,giáo viên khuyến khích học sinh nêu những suy nghĩ, nhận thức ban đầu của mìnhtrước khi được học kiến thức Khi yêu cầu học sinh trình bày biểu tượng ban đầu,giáo viên có thể yêu cầu nhiều hình thức biểu hiện của học sinh, có thể là bằng lờinói , bằng cách viết hay vẽ để biểu hiện suy nghĩ Quan điểm ban đầu của học sinhthường là các quan niệm hay khái quát chung về sự vật, hiện tượng, có thể sai hoặcchưa chính xác về mặt khoa học Giáo viên nên khuyến khích học sinh trình bày ýkiến của mình; giáo viên phải biết chấp nhận và tôn trọng những quan điểm của

Trang 14

học sinh, tuyệt đối không có bình luận hay nhận xét gì về tính đúng sai sau khi họcsinh trình bày

Khi viết (đối với biểu tượng ban đầu bằng lời), vẽ hay gắn hình vẽ của họcsinh (đối với các biểu tượng ban đầu biểu diễn bằng hình vẽ) lên bảng, giáo viênnên chọn một vị trí thích hợp, dễ nhìn và đảm bảo không ảnh hưởng đến các phầnghi chép khác Giữ nguyên các biểu tượng ban đầu này để đối chiếu và so sánh saukhi hình thành kiến thức cho học sinh ở bước 5 của tiến trình phương pháp

Tùy tình hình thực tế ý kiến phát biểu của học sinh để giáo viên quyết địnhphân nhóm biểu tượng ban đầu

Đôi khi có những quan điểm khác biệt rõ rệt nhưng lại không liên quan đếnkiến thức bài học được học sinh nêu ra thì giáo viên nên khéo léo giải thích chohọc sinh ý kiến đó rất thú vị nhưng trong khuôn khổ kiến thức của lớp mà các emđang học chưa đề cập đến vấn đề đó bằng cách đại loại như: "Ý kiến của em rấtthú vị nhưng trong chương trình học ở lớp 4 của chúng ta chưa đề cập tới Các em

sẽ được tìm hiểu ở các bậc học cao hơn (hay các lớp sau)" Nói như vậy nhưnggiáo viên cũng nên ghi chú lên bảng để khuyến khích học sinh phát biểu ý kiến vàkhông quên đánh dấu đây là câu hỏi tạm thời chưa xét đến ở bài học này

Biểu tượng ban đầu càng đa dạng, phong phú, càng sai lệch với ý kiến đúngthì tiết học càng sôi nổi, thú vị, gây hứng thú cho học sinh Do đó, ý đồ dạy họccủa giáo viên càng dễ thực hiện được

Ví dụ 1: Với bài “ Sơ đồ vòng tuần hoàn của nước trong thiên nhiên” (Khoa

học 4-Trang 48), học sinh có thể đưa ra những hiểu biết, hình thành những biểu

tượng ban đầu của mình về nước có ở trên trời là :

- Do sông, suối có ở trên trời

- Do nhiều mây nặng nên nước rơi xuống

- Do có ông thần ở trên trời phun nước xuống

- Do nước ở sông, ao ,hồ, biển,…nóng rồi bốc hơi lên cao , gặp lạnh hơinước ngưng tụ lại thành những giọt nước nhỏ rồi rơi xuống đất

Hay trong bài “ Sự sinh sản của ếch”(Khoa học 5- trang 116) Giáo viên nêucâu hỏi: Em có thể nêu lên sự hiểu biết của mình về sự sinh sản của ếch? Học sinh

có thể có nhiều ý kiến khác nhau:

Trang 15

Hoặc một số biểu tượng về không khí khi học chủ đề về không khí- Khoahọc 4.

+ Khi các vật chuyển động tạo thành gió

+ Khi quả bóng xì hơi

Trên đây là một số ví dụ về dự kiến mà học sinh có thể bộc lộ biểu tượngban đầu và sẽ phát biểu lên, giáo viên phải biết lắng nghe, biết khêu gợi, tạo điềukiện cho học sinh phát biểu Cũng xuất phát từ những quan niệm hiểu biết ban đầu,giáo viên tổ chức cho học sinh tiến hành các hoạt động và tổng hợp thành một biểutượng hoàn chỉnh về một sự vật hay hiện tượng nào đó Nghĩa là kiến thức đượcthiết lập trên nền tảng là hiểu biết, bộc lộ biểu tượng ban đầu

Bước 3: Đề xuất câu hỏi và phương án thí nghiệm

- Ở bước này giáo viên cần khéo léo, linh hoạt điều khiển học sinh thảo luậnnhằm giúp các em đề xuất các câu hỏi từ những khác biệt và phong phú về biểutượng ban đầu đã có theo ý đồ, mục đích dạy học Chú ý xoáy sâu vào những sựkhác biệt liên quan đến kiến thức trọng tâm của bài (hay mô đun kiến thức) Nhưvậy, nếu việc chọn lựa các biểu tượng ban đầu (bước 2) tốt sẽ thuận lợi cho việc

so sánh và đề xuất câu hỏi của học sinh

- Từ các câu hỏi được đề xuất, giáo viên lựa chọn, tổng hợp thành câu hỏiphù hợp với nội dung bài nhất sau đó đề nghị các em đề xuất thí nghiệm tìm tòi -nghiên cứu để tìm câu trả lời cho các câu hỏi

Trang 16

- Sau khi học sinh đề xuất phương án thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu, giáoviên nêu nhận xét chung và quyết định tiến hành phương án thí nghiệm đã chuẩn

bị sẵn Trường hợp học sinh không đưa ra được phương án thí nghiệm tìm tòi nghiên cứu thích hợp, giáo viên có thể gợi ý hoặc đề xuất cụ thể phương án

-Lưu ý rằng phương án thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu ở đây được hiểu là các phương án để tìm ra câu trả lời Có nhiều phương pháp như quan sát, thực hành - thí nghiệm, nghiên cứu tài liệu…

- Chẳng hạn: Với bài “ Sơ đồ vòng tuần hoàn của nước trong thiên nhiên”(Khoa học 4-Trang 48), học sinh đã đưa ra 4 biểu tượng ban đầu (ở bước 2) thì các

em sẽ dựa vào đó để đề xuất câu hỏi là :

1 Mây và mưa do đâu mà có?

2 Vì sao có mây và mưa do đâu ra?

3 Mây được hình thành như thế nào mưa từ đâu ra?”

Với câu hỏi trên, giáo viên cho học sinh đề xuất phương án thí nghiệm Các

em có thể đưa ra các phương án sau:

1 Xem tranh

2 Thí nghiệm

3 Hỏi người lớn

4 Tìm hiểu qua mạng In ternet

Giáo viên giúp học sinh phân tích và lựa chọn phương án thí nghiệm phùhợp nhất để thực hiện tại lớp là phương án 2( làm thí nghiệm)

Bước 4: Tiến hành thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu

Từ các phương án thí nghiệm tìm tòi - nghiên cứu mà học sinh nêu ra, giáoviên khéo léo cho học sinh nhận xét và lựa chọn thí nghiệm để tiến hành Ưu tiênthực hiện thí nghiệm trực tiếp trên vật thật Một số trường hợp không thể tiến hànhthí nghiệm trên vật thật có thể làm mô hình, hoặc cho học sinh quan sát tranh vẽ

Khi tiến hành thực hiện thí nghiệm, giáo viên nêu rõ yêu cầu và mục đíchthí nghiệm rồi mới phát các dụng cụ và vật liệu thí nghiệm tương ứng với hoạtđộng nhằm tập trung sự chú ý của học sinh Nếu không quản lí tốt khâu này, ý đồdạy học của giáo viên sẽ không đạt kết quả

Tiến hành thí nghiệm tương ứng với môđun kiến thức Làm lần lượt các thínghiệm nếu có nhiều thí nghiệm Mỗi thí nghiệm thực hiện xong nên dừng lại đểhọc sinh rút ra kết luận (tìm thấy câu trả lời cho các vấn đề đặt ra tương ứng) Giáo viên lưu ý học sinh ghi chép vào vở thí nghiệm Phần ghi chép nàygiáo viên để học sinh ghi chép tự do, không nên gò bó và có khuôn mẫu quy định,nhất là đối với những lớp mới làm quen với phương pháp BTNB Đối với các thínghiệm phức tạp và nếu có điều kiện, giáo viên nên thiết kế một mẫu sẵn để học

Ngày đăng: 23/12/2023, 20:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng nhóm. - Đồ án TNXH Sử dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” trong dạy học môn Khoa học lớp 45
Bảng nh óm (Trang 29)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w