1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một là, tiếp tục kiên trì chủ trương dành ưu tiên cao cho xuất khẩu để thúc đẩy tăng trưởng GDP, phát triển sản xuất, thu hút lao động, có thêm ngoại tệ

18 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Là, Tiếp Tục Kiên Trì Chủ Trương Dành Ưu Tiên Cao Cho Xuất Khẩu Để Thúc Đẩy Tăng Trưởng GDP, Phát Triển Sản Xuất, Thu Hút Lao Động, Có Thêm Ngoại Tệ
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 226,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nỗ lực gia tăng tốc độ tăng trưởng xuất khẩu, góp phần đẩy mạnh CNH-HĐH, tạo công ăn việc làm, thu ngoại tệ; chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, gia tăng s

Trang 1

nỗ lực gia tăng tốc độ tăng trưởng xuất khẩu, góp phần đẩy mạnh CNH-HĐH, tạo công ăn việc làm, thu ngoại tệ; chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, gia tăng sản phẩm chế biến và chế tạo, các loại sản phẩm có hàm lượng công nghệ và chất xám cao, iến tới cân bằng kim ngạch xuất - nhập khẩu;

mở rộng và đa dạng hóa thị trường và phương thức kinh doanh; hội nhập thắng lợi vào kinh tế khu vực và thế giới.

Để đạt các mục tiêu trên, cần nắm vững các quan điểm chỉ đạo sau:

Một là, tiếp tục kiên trì chủ trương dành ưu tiên cao cho xuất khẩu để thúc đẩy tăng trưởng GDP, phát triển sản xuất, thu hút lao động, có thêm ngoại tệ;

Hai là, chủ động hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới trên cơ sở giữ vững độc lập tự chủ và định hướng XHCN, với kế hoạch tổng thể và lộ trình cũng như các bước đi hợp lý, phù hợp với trình độ phát triển của đất nước và quy định của các tổ chức mà ta tham gia;

Ba là, lấy việc phát huy nội lực, đẩy mạnh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cơ chế quản lý; hoàn chỉnh hệ thống luật pháp; nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp cũng như của toàn bộ nền kinh tế làm khâu then chốt,

có ý nghĩa quyết định đối với việc mở rộng kinh doanh xuất - nhập khẩu, hội nhập quốc tế.

Bốn là, gắn kết thị trường trong nước với thị trường ngoài nước; vừa chú trọng thị trường trong nước, vừa ra sức mở rộng và đa dạng hóa thị trường ngoài.

Trang 2

A VỀ QUY MÔ VÀ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG

Yêu cầu tăng nhanh quy mô và tốc độ xuất khẩu là một nhiệm vụ cấp thiết đối với nền kinh tế nước ta Một mặt nó khắc phục nguy cơ tụt hậu không chỉ đối với các nước phát triển trên thế giới mà ngay cả với các nước trong khu vực Mặt khác, nó còn tạo ra nguồn ngoại tệ cân đối nhập khẩu, tăng tích lũy ngoại tệ, tiếp cận nền khoa học công nghệ cao của thế giới phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo công ăn việc làm cho người lao động.

Bộ Thương mại đề xuất phương án phấn đấu tăng trưởng xuất nhập khẩu thời kỳ 2001-2010 như sau:

1 Về xuất khẩu:

a) Xuất khẩu hàng hóa:

- Tốc độ tăng trưởng bình quân trong thời kỳ 2001-2010 là 15%/năm, trong đó thời

kỳ 2001-2005 tăng 16%/năm, thời kỳ 2006-2010 tăng 14%/năm.

- Giá trị tăng từ khoảng 13,5 tỷ USD năm 2000 lên 28,4 tỷ USD vào năm 2005 và 54,6 tỷ USD vào năm 2010, gấp hơn 4 lần 2000.

b) Xuất khẩu dịch vụ:

- Tốc độ tăng trưởng bình quân trong thời kỳ 2001-2010 là 15%/năm.

- Giá trị tăng từ khoảng 2 tỷ USD năm 2000 lên 4 tỷ USD vào năm 2005 và 8,1 tỷ USD vào năm 2010, tức là gấp hơn 4 lần;

c) Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng từ khoảng 15,5 tỷ USD vào năm 2000 lên 32,4 tỷ USD vào năm 2005 và 62,7 tỷ USD vào năm 2010 (hơn 4 lần);

2 Về nhập khẩu:

Trang 3

Do nước ta còn đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trình độ phát triển kinh tế còn thấp nên chưa thể xóa bỏ được ngay tình trạng nhập siêu Tuy nhiên cần phải rất tiết kiệm ngoại tệ trong nhập khẩu, chỉ nhập khẩu những hàng hóa cần thiết, máy móc thiết bị công nghệ mới và sản xuất ra nhiều sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, sản xuất để giảm thiểu nhu cầu nhập khẩu, phải giữ được thế chủ động trong nhập khẩu, kiềm chế được nhập siêu và giảm dần tỷ lệ nhập siêu tiến tới sớm cân bằng xuất nhập và xuất siêu Theo hướng đó dự kiến nhập khẩu như sau:

a) Nhập khẩu hàng hóa:

- Tốc độ tăng trưởng bình quân trong thời kỳ 2001-2010 là 14%/năm, trong đó thời

kỳ 2001-2005 là 15% và thời kỳ 2006-2010 là 13%.

- Giá trị kim ngạch tăng từ khoảng 14,5 tỷ USD năm 2000 lên 29,2 tỷ USD năm

2005 (cả thời kỳ 2001-2005 nhập khẩu 112 tỷ USD) và 53,7 tỷ USD vào năm 2010.

b) Nhập khẩu dịch vụ:

- Tốc độ tăng trưởng bình quân trong thời kỳ 2001-2010 là 11%/năm.

- Giá trị tăng từ khoảng 1,2 tỷ USD năm 2000 lên 2,02 tỷ USD năm 2005 và 3,4 tỷ USD năm 2010.

c) Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ:

Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ tăng từ khoảng 15,7 tỷ USD năm

2000 lên 31,2 tỷ USD năm 2005 và 57,14 tỷ USD năm 2010.

Như vậy, trong 5 năm đầu (2001-2005) nhập siêu về hàng hóa giảm dần, mỗi năm bình quân 900 triệu USD và cả thời kỳ là 4,73 tỷ USD; 5 năm sau (2006-2010) nhập siêu tiếp tục giảm Đến năm 2008 cân bằng xuất nhập hàng hóa phấn đấu xuất siêu khoảng 1 tỷ USD vào năm 2010 Nếu tính cả xuất khẩu dịch vụ thì tới năm

2002 đã cân bằng xuất nhập khẩu và bắt đầu xuất siêu, năm 2010 xuất siêu 5,5 tỷ USD.

Trang 4

Tuy nhiên, như trên đã nói, tình hình kinh tế khu vực và thế giới còn ẩn chứa nhiều nhân tố khó lường; do đó cần đề phòng những tình huống bất trắc nảy sinh.

B.VỀ CƠ CẤU HÀNG HÓA XUẤT - NHẬP KHẨU VÀ CƠ CẤU DỊCH VỤ:

Cơ cấu xuất khẩu hàng hóa trong 10 năm tới cần được chuyển dịch theo hướng chủ yếu sau:

- Trước mắt huy động mọi nguồn lực hiện có thể có để đẩy mạnh xuất khẩu, tạo công ăn việc làm, thu ngoại tệ;

- Đồng thời cần chủ động gia tăng xuất khẩu sản phẩm chế biến và chế tạo với giá trị gia tăng ngày càng cao, chú trọng các sản phẩm có hàm lượng công nghệ và trí thức cao, giảm dần tỷ trọng hàng thô;

- Mặt hàng, chất lượng, mẫu mã cần đáp ứng nhu cầu của từng thị trường;

- Rất chú trọng việc gia tăng các hoạt động dịch vụ.

Tiếc rằng, các mặt hàng xuất nhập khẩu mới được đề cập chủ yếu ở trạng thái

"tĩnh", chưa thể dự báo được những mặt hàng sẽ xuất hiện trong tương lai do thị trường mách bảo và năng lực sản xuất của ta.

Theo các hướng nói trên, chính sách các nhóm hàng có thể hình dung như sau:

1.1 Nhóm nguyên nhiên liệu:

Hiện nay nhóm này, với hai mặt hàng chính là dầu thô và than đá, đang chiếm khoảng trên 20% kim ngạch xuất khẩu của nước ta ới năm 2010 có hai phương án,

tùy thuộc vào lượng khai thác:

- Nếu khai thác 14 - 16 triệu tấn thì sẽ sử dụng trong nước khoảng 12 triệu tấn, xuất khẩu 2 - 4 triệu tấn;

Trang 5

- Nếu khai thác 20 triệu tấn thì có khả năng xuất khẩu khoảng 8 triệu tấn.

Dù theo phương án nào thì kim ngạch dầu thô cũng sẽ giảm đáng kể vào năm 2010 (theo phương án 1 thì tỷ trọng dầu thô trong giá trị xuất khẩu dự kiến sẽ chỉ còn dưới 1% so với 22% hiện nay; theo phương án 2 thì tỷ lệ đó sẽ còn khoảng 3%) Thị trường xuất khẩu chính vẫn là Ô-xtrây-lia, Singgapore, Nhật Bản và Trung Quốc, có thể thêm Hoa Kỳ.

Về than đá, dự kiến nhu cầu nội địa sẽ tăng đáng kể do xây các nhà máy nhiệt điện mới nên dù sản lượng có thể lên tới 15 triệu tấn/năm (hiện nay là 10-12 triệu tấn/năm) xuất khẩu cũng sẽ chỉ dao động ở mức 4 triệu tấn/năm trong 10 năm tới, mang lại kim ngạch mỗi năm khoảng 120-150 triệu USD Khả năng tăng xuất khẩu các loại khoáng sản khác để bù vào thiếu hụt của dầu thô là rất hạn chế Cho đến năm 2010, quặng apatit khai thác ra chỉ có thể đáp ứng một phần cho nhu cầu sản xuất phân bón, chưa có khả năng tham gia xuất khẩu Khả năng sản xuất và xuất khẩu alumin sẽ tùy thuộc vào việc triển khai dự án (nếu có thì chỉ từ sau 2005)

Như vậy, tới năm 2005, nhóm nguyên nhiên liệu có khả năng chỉ còn đóng góp được khoảng 9% kim ngạch xuất khẩu (2,5 tỷ USD) so với trên 20% hiện nay; đến năm 2010, tỷ trọng của nhóm này sẽ giảm xuống còn chưa đầy 1% (dưới 500 triệu USD) hoặc 3,5% (khoảng 1,75 tỷ USD), tùy theo phương án khai thác dầu thô

1.2 Nhóm hàng nông, lâm, thủy sản:

Về gạo, do nhu cầu thế giới tương đối ổn định, khoảng trên 20 triệu tấn/năm, nhiều nước nhập khẩu nay chú trọng an ninh lương thực, thâm canh tăng năng suất cây trồng, gia tăng bảo hộ, giảm nhập khẩu Trong hoàn cảnh đó, dự kiến trong suốt

Trang 6

thời kỳ 2001-2010 nhiều lắm ta sẽ chỉ có thể xuất khẩu được khoảng 4 - 4,5 triệu tấn/năm, thu về mỗi năm khoảng trên 1 tỷ USD

Về nhân điều còn có thể tăng kim ngạch từ 115 triệu USD năm 2000 lên tới khoảng 400 triệu USD hay cao hơn vào năm 2010 vì nhu cầu còn lớn, liên tục tăng (một số dự báo cho thấy nhu cầu sẽ tăng bình quân 7%/năm trong 10 năm tới và sẽ đạt mức 160-200.000 tấn, giá xuất khẩu cũng tăng, từ 3.799 USD/tấn năm 1994 lên 5.984 USD/tấn), vả lại tiềm năng của nước ta còn lớn.

Về các loại rau, hoa và quả khác, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định

số 182/1999/QĐ-TTg ngày 03/9/1999 phê duyệt đề án phát triển đến năm 2010, theo đó kim ngạch xuất khẩu rau, hoa và quả sẽ được đưa lên khoảng 1,2 tỷ USD với thị trường là Nhật, Nga, Trung Quốc, Châu Âu

Về cà-phê, do sản lượng và giá cả phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết nên rất khó dự báo chuẩn xác về khối lượng và giá trị xuất khẩu trong những năm tới FAO dự báo tới năm 2005, sản lượng thế giới sẽ khoảng 7,3 triệu tấn so với 6,3-6,6 triệu tấn hiện nay Nếu thuận lợi, xuất khẩu có thể đạt 750 ngàn tấn vào năm 2010 với kim ngạch khoảng 850 triệu USD, đưa Việt Nam vượt qua Colombia để trở thành nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai trên thế giới

Với hai mặt hàng quan trọng còn lại là cao su và chè, Chính phủ đều đã có đề án phát triển Tuy nhiên, cần tính lại vấn đề phát triển cao su vì nhu cầu của thế giới tăng chậm, chỉ trên 2%/năm, năm 2000 khoảng 7 triệu tấn, giá cả có xu hướng xuống thấp Dự kiến kim ngạch xuất khẩu cao su có thể đạt 500 triệu USD vào năm 2010

Trang 7

Với hai mặt hàng quan trọng còn lại là cao su và chè, Chính phủ đều đã có đề án phát triển Tuy nhiên, cần tính lại vấn đề phát triển cao su vì nhu cầu của thế giới tăng chậm, chỉ trên 2%/năm, năm 2000 khoảng 7 triệu tấn, giá cả có xu hướng xuống thấp Dự kiến kim ngạch xuất khẩu cao su có thể đạt 500 triệu USD vào năm 2010

1.3 Sản phẩm chế biến và chế tạo:

Hiện nay kim ngạch của nhóm này đã đạt trên 4 tỷ USD, tức là trên 30% kim ngạch xuất khẩu Mục tiêu phấn đấu vào năm 2010 là 20-21 tỷ USD, tăng hơn 5 lần so với hiện nay và chiếm khoảng 40% kim ngạch xuất khẩu.

Hạt nhân của nhóm, cho tới năm 2010, vẫn sẽ là hai mặt hàng dệt may và giầy dép,

là những lĩnh vực có thể thu hút nhiều lao động Kim ngạch của mỗi mặt hàng phải đạt khoảng 7-7,5 tỷ USD Như vậy, dệt may sẽ phải tăng bình quân 14%/năm, giày dép tăng bình quân 15-16%/năm.

Thủ công mỹ nghệ: Kim ngạch hiện nay đã đạt xấp xỉ 200 triệu USD Đây là ngành hàng mà ta còn nhiều tiềm năng, dung lượng thị trường thế giới còn lớn Nếu có chính sách đúng đắn để khơi dậy tiềm năng thì có thể nâng kim ngạch lên

800 triệu USD vào năm 2005 và 1,5 tỷ USD vào năm 2010, trong đó hàng gốm sứ chiếm khoảng 60% Thị trường định hướng là EU, Nhật Bản và Hoa Kỳ Các thị trường như Trung Đông, Châu Đại dương cũng là thị trường tiềm tàng, cần nỗ lực phát triển (Bộ Thương mại đã trình Thủ tướng Chính phủ đề án riêng về mặt hàng này).

Sản phẩm gỗ: Với thế mạnh về nhân công và tay nghề, đây là ngành có tiềm năng phát triển ở nước ta Dự kiến đến năm 2005 có thể đạt 600 triệu USD và tới năm

2010 đạt 1,2 tỷ USD Để phát triển ngành này, cần có đầu tư thỏa đáng vào khâu

Trang 8

trồng rừng và đơn giản hóa thủ tục trong xuất khẩu sản phẩm gỗ, nhất là sản phẩm

gỗ rừng tự nhiên.

Hóa phẩm tiêu dùng: Đây là ngành hàng mới xuất hiện trong vài năm gần đây với hạt nhân là bột giặt, chất tẩy rửa, mỹ phẩm Thị trường chính trong thời kỳ

2001-2005 vẫn sẽ là Trung Quốc, Campuchia, các nước ASEAN và một số nước đang phát triển; sang thời kỳ 2006-2010 cố gắng len vào các thị trường khác như EU, Nhật Bản, Nga, Hoa Kỳ.

1.4 Nhóm hàng vật liệu xây dựng Nước ta có nguồn nguyên liệu dồi dào để sản xuất vật liệu xây dựng không những

có thể cung cấp đủ cho nhu cầu trong nước mà còn có khả năng xuất khẩu lớn.

Theo chiến lược phát triển sản xuất xi măng thì các dự án phát triển xi măng trong vài năm tới có khả năng dư thừa hàng năm khoảng từ 2-3 triệu tấn để xuất khẩu (năm 2001 có thể xuất khẩu symbol 177 \f "Symbol" \s 14± 300.000 ngàn tấn.

Do có nguồn nguyên liệu cát tốt để sản xuất kính, theo kế hoạch thì từ nay đến năm

2010 ngành công nghiệp kính sẽ trở thành ngành công nghiệp vật liệu xây dựng mũi nhọn Dự tính năm 2010 năng lực sản xuất đạt 60 triệu m , đáp ứng đủ cho nhu 2 cầu trong nước và xuất khẩu.

1.5 Sản phẩm hàm lượng công nghệ và chất xám cao:

Trang 9

Mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đặt ra cho ngành là 2,5 tỷ USD vào năm 2005 (riêng phần mềm Bộ Khoa học - Công nghệ và môi trường dự kiến là 350 - 500 triệu USD) và 6-7 tỷ USD vào năm 2010 (riêng phần mềm là 1 tỷ USD) Về thị trường thì nhằm vào các nước công nghiệp phát triển (phần mềm) và cả các nước ĐPT (phần cứng) Cần coi đây là khâu đột phá trong 5 năm cuối của kỳ 2001-2010.

2 Cơ cấu dịch vụ xuất khẩu:

Lâu nay ở ta ít chú trọng tới xuất khẩu dịch vụ, thậm chí không có số liệu thống kê một cách có hệ thống Tuy nhiên qua tổng hợp số liệu của các ngành, có thể sơ bộ ước tính thương mại dịch vụ hai chiều của Việt Nam năm 2000 đạt 3,2 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 2,0 tỷ USD và nhập khẩu đạt 1,2 tỷ USD

2.1 Xuất khẩu lao động:

Theo Bộ Lao động Thương binh và Xã hội thì mục tiêu phấn đấu năm 2005 là xuất khẩu 150-200 ngàn lao động và đến năm 2010 là 1 triệu lao động Nếu thực hiện được mục tiêu này, kim ngạch dự kiến sẽ đạt khoảng 1,5 tỷ USD vào năm 2005 và 4,5-6 tỷ USD vào năm 2010.

2.2 Du lịch:

Theo Tổng cục Du lịch, dự kiến năm 2000 sẽ có khoảng 2 triệu khách du lịch quốc

tế tới Việt Nam với doanh thu ngoại tệ khoảng 500 triệu USD Và chiếu lược phát triển của ngành thì tới năm 2005 sẽ phấn đấu thu hút được 3 triệu khách quốc tế với doanh thu xấp xỉ 1 tỷ USD, năm 2010 thu hút 4,5 triệu khách đạt 1,6 tỷ USD.

2.3 Vận tải biển và dịch vụ cảng, giao nhận:

Trang 10

Trong thời gian tới cần tăng cường đầu tư phát triển hệ thống cảng biển, đi đôi với việc gia tăng đội tàu, tận dụng thế mạnh về vị trí địa lý, hạ giá thành vận chuyển để nâng cao kim ngạch xuất khẩu, giảm kim ngạch nhập khẩu tiết kiệm ngoại tệ cho đất nước Nếu cước phí vận tải chỉ chiếm 1% trong tổng kim ngạch hàng hóa Việt Nam xuất khẩu và ngành dịch vụ vận tải nước ta đảm đương được thì kim ngạch xuất khẩu của ngành vận tải biển đã là trên dưới 250 triệu USD năm 2005 và 500 triệu USD năm 2010.

2.4 Các ngành dịch vụ khác (ngân hàng, vận tải hàng không, bưu chính viễn thông, xây dựng, y tế, giáo dục ):

Dự kiến kim ngạch của nhóm này sẽ tăng khoảng 10%/năm thời kỳ 2001-2010, đạt 1,6 tỷ USD năm 2005 và 2,6 tỷ USD năm 2010.

Có thể hình dung, ngành dịch vụ phát triển nhiều nhất vào thời kỳ 2001-2010 sẽ là xuất khẩu lao động, du lịch, bưu chính viễn thông, vận tải và ngân hàng Định hướng phát triển các ngành cụ thể được tóm tắt qua bảng dưới đây:

Ngành dịch vụ Kim ngạch 2005 (triệu

USD)

Kim ngạch 2010 (triệu

USD)

- Một số ngành khác (ngân hàng, bưu chính viễn thông, vận tải )

Trang 11

Tổng kim ngạch XKDV

3 Cơ cấu hàng hóa nhập khẩu:

- Ưu tiên nhập khẩu vật tư, thiết bị và công nghệ tiên tiến phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, năng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước, đẩy mạnh xuất khẩu.

- Cố gắng sử dụng vật tư, thiết bị mà trong nước có thể sản xuất được để tiết kiệm ngoại tệ, nâng cao trình độ sản xuất.

- Hạn chế tới mức tối đa có thể được việc nhập khẩu hàng tiêu dùng.

- Tập trung vào nhập thiết bị hiện đại từ các nước có công nghệ nguồn (Mỹ, Nhật, Tây Âu); giảm nhanh tiến tới hạn chế nhập thiết bị công nghệ lạc hậu hoặc công nghệ trung gian.

Cơ cấu nhập khẩu sẽ chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng máy, thiết bị công nghiệp và công nghệ từ 27% năm 2000 lên 36% 2010, giảm tỷ trọng nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu từ 69% năm 2000 xuống 60% năm 2010,

4 Cơ cấu dịch vụ nhập khẩu

Dự kiến nhập khẩu dịch vụ tăng khoảng 10,5% trong thời kỳ 2001-2010, đạt giá trị 2,02 tỷ USD năm 2005 và 3,4 tỷ USD năm 2010 Tuy nhiên, trong việc hoạch định

Ngày đăng: 23/12/2023, 18:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w