Trong những năm qua Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về xóa đói giảm nghèo, được các tổ chức quốc tế và các nước đánh giá cao về sự quyết tâm chống nghèo đói của Chính Phủ Việ
Trang 1BÀI TIỂU LUẬN
Môn học: KINH TẾ HỌC PHÁT TRIỂN
Giảng viên hướng dẫn: TS LÊ KIÊN CƯỜNG
Sinh viên thực hiện: HỒ THỊ HỒNG PHÚC
Trang 2TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2021
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Em tên là: HỒ THỊ HỒNG PHÚC – MSSV :030135190446
Cam đoan bài tiểu luận cá nhân: “NGHÈO ĐÓI ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ”
Giảng viên hướng dẫn: TS LÊ KIÊN CƯỜNG
Bài tiểu luận này là sản phẩm của riêng em, các kết quả phân tích có tính chất độc lập riêng, không sao chép bất kỳ tài liệu nào và chưa được công bố toàn bộ nội
dung này ở bất kỳ đâu; các số liệu, các nguồn trích dẫn trong bài tiểu luận được chú
thích nguồn gốc rõ ràng, minh bạch
Em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan danh dự của em
Trang 4TP Hồ Chí Minh, ngày _ tháng _ năm _
Sinh viên thực hiện
(Ký, ghi rõ họ tên)
HỒ THỊ HỒNG PHÚC
Trang 5MỤC LỤC
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
Nghèo đói là một vấn đề xã hội mang tính toàn cầu Những năm gần đây, nhờ những chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nuớc, nền kinh tế nước ta đã có những bước chuyển mình rất quan trọng Đặc biệt trong năm 2006 nước ta đã chisnh thức gia nhập làm tành viên thứ 150 của tổ chức thương mại lớn nhất thế giới WTO Những nhân tố
đó làm cho nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh, đại bộ phận đời sống nhân dân đãđược nâng lên một cách rõ rệt Song, một bộ phận không nhỏ dân cư đặc biệt là dân cư vùng cao, vùng sâu, vùng xa đang chịu cảnh nghèo đói, chưa được đảm bảo những điều kiện tối thiểu của cuộc sống như ăn, ở, đi, mặc chính vì vậy, sự phân hóa giàu nghèo ở nước ta ngày càng diễn ra mạnh mẽ Nó không chỉ là mối quan tâm hàng đầu của những nước có nền kinh tế phát triển trên thế giới, mà đối với nước ta khi nền kinh
tế đang có sự chuyển mình thì vấn đề phân hóa giàu nghèo càng được chú trọng hàng đầu Để có thể hoàn thành mục tiêu quốc gia là xóa đói giảm nghèo thì trước tiên phải rút ngắn sự phân hóa giàu nghèo
Trong những năm qua Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về xóa đói giảm nghèo, được các tổ chức quốc tế và các nước đánh giá cao về sự quyết tâm chống nghèo đói của Chính Phủ Việt Nam, đã cho thấy tính ưu việt của chế độ ta là phấn đấu
vì mục tiêu con người mà Đảng ta đã xác định: Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với thực hiện công bằng xã hội
Nước ta đã đạt được kết quả to lớn như vậy là do đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp trên cơ sở khai thác tốt tiềm năng và thế mạnh trên từng địa bàn Việt Nam đã tập trung giải quyết ba vấn đề lớn đó là: trợ vốn cho xóa đói giảm nghèo; có phương hướngtrợ vốn và các chính sách ưu đãi cho người nghèo Trải qua chặng đường dài, chương trình xóa đói giảm nghèo đã thực sự trở thành một phong trào quần chúng sôi nổi, rộng khắp cả nước, tạo được những chuyển biến tích cực về nhiều mặt, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện và từng bước nâng cao, điều đó đã rút ngắn khoản cách giàu nghèo
Trang 8Tuy nhiên, tình trạng đói nghèo vẫn còn tồn tại ở một số nơi, sự phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, giữa nông thôn và thành thị cũng diễn ra ngày càng gay gắt Vấn đề tìm ra những nguyên nhân dẫn đến đói nghèo có ý nghĩa quan trọng giúp chính quyền địa phương nhận thức rõ nhiệm vụ xóa đói giảm nghèo thực chất là một cuộc chiến chống đói nghèo đô thị, rút ngắn dần khoảng cách giàu nghèo, một trong những tiêu chí quan trọng thúc đảy nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển.
Trang 9CHƯƠNG 1: ĐÓI NGHÈO VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐÓI NGHÈO
I Các khái niệm liên quan đến đói nghèo
1 Khái niệm:
1.1 Khái niệm về nghèo, đói
- Nghèo là tình trạng một bộ phận cư dân chior có khả năng thỏa mãn một phần các nhu cầu cơ bản của con người và có mức sống ngang bằng với mức sống tối thiếu của cộng đồng xét trên mọi phương diện
- Đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mước tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống
- Xóa đói giảm nghèo là một chiến lược của Chính phủ Việt Nam nhằm giải quyết vấn đề đói nghèo và phát triển kinh tế tại Việt Nam Đói nghèo là vấn đề ảnh hưởng đếm sự phát triển bền vững, đồng thời là vấn đề xã hội nhạy cảm nhất
Không thể lãng quên nhóm cộng đồng yếu thế, ít cơ hội theo kịp tiến trình phát triển mà Chính phủ với việc cải cách, sửa đổi những khiếm khuyết của thể chế kinh tế để nhóm nghèo đói tự vươn lên xóa đói giảm nghèo
1.2 Cách xác định chuẩn nghèo đói của Việt Nam
Có 3 căn cứ quan trọng để xác định chuẩn nghèo đói:
- Căn cứ vào nhu cầu toois thiểu, nhu cầu này được lượng hóa bằng mức chi tiêu
về lương thực, thực phẩm thiết yếu để duy trì cuộc sống với nhiệt lượng tiêu dùng từ 2100-2300 Kcal/người/ngày
- Căn cứ vào mức thu nhập bình quân đàu người /tháng Trong đó đặc biệt quan tâm đến thu nhập bình quân đầu người/tháng của nhóm có thu nhập thấp (20% sốhộ)
- Căn cứ vào nguồn lực thực tế của quốc gia, của từng địa phương đã được cụ thể hóa bằng mục tiêu chương trình quốc gia xóa đói giảm nghèo và chương trình của từng địa phương để thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo
Trang 10Từ 3 căn cứ trên cho thấy:
+ Xác định chuẩn nghèo đói phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng quốc gia, từng địa phuơng, song trong đó có 1 phàn yếu tố chủ quan của các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách
+ Chuẩn nghèo phục thuộc vào yếu tố khách quan trong đó có 1 phần yếu tố chủ quan
2 Việt Nam là một nước nghèo.
Trong tất cả các mục tiêu thiên niên kỉ ( MDG) Việt Nam đạt được những thành tựu đặc biệt trong mục tiêu 1, giảm nghèo Việt Nam đã giảm được 75% tỉ lệ nghèo, từ 58,1% năm 1990 xuống còn 14,5% năm 2008 Tỉ lệ thiếu đói giảm 2/3, từ 24,9% năm
1993 xuống còn 6,9 năm 2008 Thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt 1.168 USD, Việt Nam trở thành nước có thu nhập thấp, tuy nhiên vẫn được đánh giá là một nước nghèo Theo kết quả của Tổng điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo trong cả nước theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội công
bố ngày 30/5/2011, cả nước có 3.055.566 hộ nghèo và 1.612.381 hộ cận nghèo
Trang 11Hình 1 Tỷ lệ nghèo qua các năm ( đơn vị %)
0 2 4 6 8 10 12 14 16 18 20
Chart Title
Hình 1: Tỷ lệ nghèo qua các năm (đơn vị %)
Tỷ lệ hộ nghèo từ 18,1% (năm 2006) xuống còn 14,75% (năm 2007) và 12,1% (năm2008), 11% (năm 2009), và 9,45% (năm 2010) Trong tổng số 63 tỉnh, thành phố, có 5 tỉnh, thành phố tỷ lệ hộ nghèo dưới 5% là TP.HCM (0,01%); Bình Dương (0,05%);
Đồng Nai (1,45%); Bà Rịa - Vũng Tàu (4,35%); Hà Nội (4,97%) Đây cũng là những địa phương đã ban hành chuẩn nghèo riêng, cao hơn chuẩn nghèo quốc gia Điện Biên
là địa phương có tỷ lệ nghèo lớn nhất cả nước (trên 50%) Ngoài ra, còn có 81 huyện thuộc 25 tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo trên 50%, trong đó bao gồm 54 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a của Chính phủ
Kết quả công bố cũng cho thấy có 14 tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo từ 5% đến dưới 10%; 18tỉnh tỷ lệ hộ nghèo từ 10% đến dưới 20%; 16 tỉnh tỷ lệ hộ nghèo từ 20% đến dưới 30%; 6 tỉnh tỷ lệ hộ nghèo từ 30% đến dưới 40%; 3 tỉnh tỷ lệ hộ nghèo từ trên 40% đến
Trang 12dưới 50%, là: Lai Châu, Lào Cai và Hà Giang Xét về tỷ trọng số người nghèo ở từng vùng so với tổng số hộ nghèo trên cả nước, với 77.802 hộ nghèo, chiếm tỷ trọng 2,55%, khu vực Đông Nam bộ là khu vực có số lượng hộ nghèo thấp nhất Khu vực Đông Bắc có số lượng hộ nghèo lớn nhất cả nước với 581.560 hộ, chiếm 19,03%.
Bảng 1 Tỷ lệ hộ nghèo chia theo khi vực( đơn vị %)
Năm Thành thị Nông thônNăm 2002 10,6 26,9
Có thể thấy rằng tỷ lệ hộ nghèo giữa thành thị và nông thôn chênh lệch khá nhiều cho thấy hiện tượng phân hóa giàu nghèo Hệ số Gini (mức độ bất bình đẳng trong phânphối thu nhập giữa các tầng lớp dân cư hay mức độ chênh lệch giàu nghèo) năm 2002 (0,420), 2006 (0,424) , 2010 (0,433) cho thấy ko mức độ chênh lệch giàu nghèo không
có nhiều khác biệt qua các năm Xét về tỷ lệ nghèo theo vùng ta có bảng số liệu sau:
Bảng 2 Tỷ lệ theo vùng( đơn vị %)
Vùng 2004 2006 2008 2010 Tây Bắc 46,1 39,4 35,9 39,4
Đông Bắ 23,2 22,2 20,1 24,2
Đồng bằng sông Hồng
15,3 13 11,4 12,6
Trang 13Tỷ lệ nghèo cao ở những nơi có địa hình đồi núi hiểm trở, đất đai kém màu mỡ và cách xa thành phố nà ngược lại những vùng miền có điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội thuận lợi tỷ lệ nghèo thấp hơn Ở Việt Nam, những người nghèo 7 nhất sống tại cácvùng núi, nơi các xã nghèo chiếm tỉ lệ lớn trên toàn quốc Trong khi đó, một số lượng lớn người nghèo lại sống bên cạnh những người khá giả tại hai vùng đồng bằng và ven biển Chính sách xóa đói giảm nghèo của Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng
kể tuy nhiên nó không bền vững, bởi tỷ lệ tái nghèo cao, số hộ nghèo giảm song không chắc chắn số người nghèo trong xã hội cũng giảm mà thậm chí còn tăng do tác động của lạm phát
Chương trình 135: " Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc miền núi, biên giới và vùng sâu, vùng xa" - chương trình Xoá đói giảm nghèo đặc biệt của Chính phủ - do ủy ban Dân tộc và Miền núi là cơ quan thườngtrực, theo các Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg ngày 31 tháng 7 năm 1998 và số 138/2000/QĐ-TTg ngày 29 tháng 11 năm 2000 của Thủ tướng Chính phủ, song thử nhìn nhận tỷ lệ hộ nghèo qua các năm
3 Đánh giá về mức độ nghèo đói
Chuẩn nghèo là công cụ để đo tỷ lệ nghèo trong xã hội – một chỉ số quan trọng phảnánh mức sống của xã hội về mặt thu nhập cá nhân Tỷ lệ nghèo là tỷ lệ số hộ có thu nhập dưới hoặc bằng chuẩn nghèo đối với toàn bộ số hộ trong quốc gia Các cải cách kinh tế-xã hội như phúc lợi xã hội và bảo hiểm thất nghiệp được tiến hành dựa trên những phản ánh của các chỉ số như chuẩn nghèo và tỷ lệ nghèo
Một loạt các chỉ tiêu về nghèo đói và phát triển xã hội hiện đang được sử dụng ở Việt Nam Bộ Lao động Thương binh Xã hội dung phương pháp dựa trên thu nhập của
hộ Các hộ được xếp vào dạng nghèo hoặc cận nghèo nếu thu nhập đầu người của họ dưới mức được xác định, mức này cũng khác nhau tuỳ vào khu vực thạnh thị hay nông
Trang 14thôn Ban hành chuẩn nghèo, chuẩn cận nghèo áp dụng cho các giai đoạn khác nhau như sau:
:
Giai đoạn 1993-1995
- Hộ đói ở nông thôn dưới 08kg gạo/người/tháng, ở đô thị là 13kg gạo
- Hộ nghèo ở nông thôn dưới 15kg gạo/người/tháng, ở đô thị là 20kg
Giai đoạn 1996-2000:
- Hộ đói mọi vùng là dưới 13kg gạo /người/ tháng, quy ra tiền là 45.000đồng; hộ nghèo ở vùng núi, hải đảo dưới 15kg gạo, ứng với 55.000 đồng; dưới 20kg ứng với 70.000 đồng ở nông thôn đồng bằng, dưới 25kg gạo, ứng với 90.000đồng ở đô thị
- Nông thôn là 230.000đồng/ người/ tháng, cả nước có 17,1% dân số nghèo
Tháng 9/2011, Thủ tướng nước ta vừa ban hành Quyết định số 09/ 2011/ QĐ-TTg vềchuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 Quyết định có hiệu lực thi hành từ ngày 1/ 1/ 2011
Theo quyết định, hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000đồng/ tháng/ người (từ 4,8 triệu đồng/ người/ năm) trở xuống
- Hộ nghèo ở thành thị có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/ người/ tháng (từ 6 triệu đồng/ người/ năm) trở xuống
-Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000đồng đến 520.000đồng/ người / tháng
Trang 15-Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000đồng đến 650.000đồng/ người/ tháng.
Mức chuẩn nghèo quy định nêu trên là căn cứ để thực hiện chính sách an sinh xã hội và chính sách kinh tế- xã hội khác "Chuẩn" nghèo được quy định của Chính phủ
VN dựa trên một số quy tắc về chuẩn nghèo của Liên Hợp Quốc (UN): Giai đoạn 2000-2006, hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn miền núi, hải đảo từ 80.000 ĐVN/người/tháng trở xuống là hộ nghèo, nông thôn đồng bằng
4 Nguyên nhân dẫn đến đói nghèo
Có nhiều quan điểm về nguyên nhân gây ra nghèo đói ở Việt Nam nhưng nói chung nghèo đói ở Việt Nam có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan như sau:
4.1 Nguyên nhân lịch sử, khách quan:
Việt Nam là một nước nông nghiệp còn khá lạc hậu vừa trải qua một cuộc chiến tranh lâu dài và gian khổ, cơ sở hạ tầng bị tàn phá, ruộng đồng bị bỏ hoang, bom mìn, nguồn nhân lực chính của các hộ gia đình bị sút giảm do mất mát trong chiến tranh, thương tật, hoặc phải xa gia đình để tham gia chiến tranh, học tập cải tạo trong một thờigian dài
Chính sách nhà nước thất bại: sau khi thống nhất đất nước việc áp dụng chính sách tập thể hóa nông nghiệp, cải tạo công thương nghiệp và chính sách giá - lương - tiền đã
Trang 16đem lại kết quả xấu cho nền kinh tế vốn đã ốm yếu của Việt Nam, làm suy kiệt toàn bộ nguồn lực của đất nước và hộ gia đình ở nông thôn cũng như thành thị, lạm phát tăng cao có lúc lên đến 700% năm.
Hình thức sở hữu: việc áp dụng chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước và tập thể của các tư liệu sản xuất chủ yếu trong một thời gian dài đã làm thui chột động lực sản xuất
Việc huy động nguồn lực nông dân quá mức, ngăn sông cấm chợ đã làm cắt rời sản xuất với thị trường, sản xuất nông nghiệp đơn điệu, công nghiệp thiếu hiệu quả, thươngnghiệp tư nhân lụi tàn, thương nghiệp quốc doanh thiếu hàng hàng hóa làm thu nhập đa
số bộ phận giảm sút trong khi dân số tăng cao
Lao động dư thừa ở nông thôn không được khuyến khích ra thành thị lao động, không được đào tạo để chuyển sang khu vực công nghiệp, chính sách quản lý bằng hộ khẩu đã dùng biện pháp hành chính để ngăn cản nông dân di cư, nhập cư vào thành phố
Thất nghiệp tăng cao trong một thời gian dài trước thời kỳ đổi mới do nguồn vốn đầu tư thấp và thiếu hiệu quả vào các công trình thâm dụng vốn của Nhà nước
4.2 Nguyên nhân chủ quan:
Sau 20 năm đổi mới đến năm 2005 kinh tế đã đạt được một số thành tựu nhưng số lượng người nghèo vẫn còn đông, có thể lên đến 26% (4,6 triệu hộ) do các nguyên nhân khác như sau:
Sai lệch thống kê: do điều chỉnh chuẩn nghèo của Chính phủ lên cho gần với chuẩn nghèo của thế giới (1USD/ngày) cho các nước đang phát triển làm tỷ lệ nghèo tăng lên.Việt Nam là nước nông nghiệp đến năm 2004 vẫn còn 74,1% dân sống ở nông thôn trong khi tỷ lệ đóng góp của nông nghiệp trong tổng sản phẩm quốc gia thấp Hệ số Gini là 0,42 và hệ số chênh lệch là 8,1 nên bất bình đẳng cao trong khi thu nhập bình quân trên đầu người còn thấp
Trang 17Bảng 3 Số dân phân bố ở thành thị và nông thôn( triệu người)
Năm 2005 2007 2009 2011 2013 2015Nông
thôn
60,1 60,4 60,4 60,1 60,9 60,6
Thành thị
22,3 23,7 25,6 27,7 28,9 31,1
Từ những năm 2005 đến nay, nhìn chung số dân thàng thị có xu hướng ngày càng gia tăng và biến dộng không ngừng từ 22,3 triệu người( năm 2005) đến 31,1 triệu người( năm 2015)
Người dân còn chịu nhiều rủi ro trong cuộc sống, sản xuất vẫn chưa có các thiết chế phòng ngừa hữu hiệu, dễ tái nghèo trở lại như: thiên tai, dịch bệnh, sâu hại, tai nạn lao động, tai nạn giao thông, thất nghiệp, rủi ro về giá sản phẩm đầu vào và đầu ra do biến động của thị trường thế giới và khu vực như khủng hoảng về dầu mỏ làm tăng giá đầu vào, rủi ro về chính sách thay đổi không lường trước được, rủi ro do hệ thống hành chính kém minh bạch, quan liêu, tham nhũng
Nền kinh tế phát triển không bền vững, tăng trưởng tuy khá nhưng chủ yếu là do nguồn vốn đầu tư trực tiếp, vốn ODA, kiều hối, thu nhập từ dầu mỏ trong khi nguồn vốn đầu tư trong nước còn thấp Tín dụng chưa thay đổi kịp thời, vẫn còn ưu tiên cho vay các doanh nghiệp nhà nước có hiệu quả thấp, không thế chấp, môi trường sớm bị hủy hoại, đầu tư vào con người ở mức cao nhưng hiệu quả còn hạn chế, số lượng lao động được đào tạo đáp ứng nhu cầu thị trường còn thấp, nông dân khó tiếp cận tín dụng ngân hàng nhà nước Tuy vậy nhưng mật độ dân số nước ta lại rất cao so với các nước khác và tăng dần qua các năm: