Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân chứ không phải việc của một vài người...13 Đề tài 2: Phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức.. - Những quan điểm cơ bản nhất về đường lối
Trang 1
BÀI THẢO LUẬN
Đề tài: Phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, liên hệ tới vấn đề tu dưỡng đạo đức của sinh viên trường Đại học Thương Mại hiện nay.
Giảng viên hướng dẫn: Ngô Thị Huyền Trang Nhóm thực hiện: 09
Mã lớp học phần: 2237HCMI0111
Trang 2Mục 1+2
82 Hoàng Thị Quỳnh 20D180039 Phần A chương II
Mục 1 + chương III mục 2
Phần I Mục 1 + Kết luận
83 Lê Thị Quỳnh 20D290042 Phần A chương III
90 Trần Thị Mai Quỳnh 20D180180 Phần B chương I+II Phần I Mục 3
Trang 3- Phân công nhiệm vụ đề tài 1.
- Tổng kết nội dung cần làm và gia hạn nộp bài
Trang 4Trường Đại học Thương Mại Cộng hoà xã hội Chủ nghĩa Việt Nam Lớp học phần: 2237HCMI0111 Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
- Phân công nhiệm vụ đề tài 2.
- Tổng kết nội dung cần làm và gia hạn nộp bài.
MỤC LỤ
Trang 5Đề tài 1: Phân tích các thời kỳ hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, đâu là thời kỳ hình
thành những nội dung cơ bản về cách mạng Việt Nam, tại sao? 7
A Các thời kỳ hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh 7
I. Thời kỳ trước năm 1911: Hình thành tư tưởng yêu nước và có chí hướng tìm con đường cứu nước mới 7
II Thời kỳ 1911 - 1920: Hình thành tư tưởng cứu nước, giải phóng dân tộc Việt Nam theo con đường cách mạng vô sản 7
III Thời kỳ 1920 - 1930: Hình thành những nội dung cơ bản tư tưởng về cách mạng Việt Nam 8
IV Thời kỳ 1930-1941: Vượt qua thử thách, giữ vững đường lối, phương pháp Cách mạng Việt Nam đúng đắn, sáng tạo 10
V Thời kỳ 1941 – 1969: Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển, soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta 11
B - Thời kỳ hình thành những nội dung cơ bản về cách mạng Việt Nam là thời kỳ 1920 -1930 12
I- Chủ nghĩa thực dân là kẻ thù chung của các dân tộc thuộc địa 12
II- Khẳng định mối quan hệ mật thiết giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc 12
III Cách mạng muốn thành công trước hết cần phải có Đảng lãnh đạo 13
IV Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân chứ không phải việc của một vài người 13
Đề tài 2: Phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức Liên hệ tới quá trình tu dưỡng đạo đức của sinh viên trường Đại học Thương mại hiện nay 14
A Lời mở đầu: 14
B Nội dung: 15
I Phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức: 15
1 Đạo đức là gốc, là nền tảng tinh thần của xã hội, của người cách mạng 15
2 Quan điểm về những chuẩn mực đạo đức cách mạng 17
2.1 Trung với nước, hiếu với dân 18
2.2 Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư: 19
2.4 Tinh thần quốc tế trong sáng: 21
Trang 63 Quan điểm về những nguyên tắc xây dựng đạo đức cách mạng 22
3.1 Nói đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức 22
3.2 Xây đi đôi với chống 24
3.3 Tu dưỡng đạo đức suốt đời 25
II Liên hệ tới quá trình tu dưỡng đạo đức của sinh viên trường Đại học Thương mại hiện nay 26
1 Thực trạng quá trình tu dưỡng đạo đức của sinh viên trường Đại học Thương mại 26
1.1 Về mặt tích cực 26
1.2 Về mặt tiêu cực 28
2 Định hướng của của sinh viên trường Đại học Thương mại về việc nâng cao, tu dưỡng đạo đức 29
3 Đề xuất giải pháp về việc nâng cao, tu dưỡng đạo đức của sinh viên trường Đại học Thương mại 30
C Kết luận 33
Tài liệu tham khảo 34
Trang 7Đề tài 1:
Phân tích các thời kỳ hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, đâu là thời kỳ hình thành những nội dung cơ bản về cách mạng Việt Nam, tại sao?
A Các thời kỳ hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
I Thời kỳ trước năm 1911: Hình thành tư tưởng yêu nước và có chí hướng tìm con
đường cứu nước mới.
1 Gia đình
a Gia đình nhà Nho yêu nước với tư tưởng tiến bộ
b Những tư tưởng thân dân, lấy dân làm gốc
c Chủ nghĩa yêu nước
II Thời kỳ 1911 - 1920: Hình thành tư tưởng cứu nước, giải phóng dân tộc Việt Nam theo con đường cách mạng vô sản
1.4 Cuối năm 1917, Nguyễn Ái Quốc từ Anh trở lại Pháp.
Trang 82 Giai đoạn 1917-1919 :
2.1 Đầu năm 1919, Nguyễn Ái Quốc gia nhập Đảng Xã hội Pháp 2.2 Tháng 8/1919, Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị Véc-xây bản Yêu sách của nhân dân An Nam
Ngày 18-6-1919, thay mặt Hội những người yêu nước Việt Nam tại Pháp, Nguyễn Tất Thành cùng Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường thảo ra bản Yêu sách của nhân dân An Nam gửi tới Hội nghị Vécxây
3.2 Ngày 30/12/1920, Nguyễn Ái Quốc biểu quyết tán thành quốc tế cộng sản, trở thành người cộng sản đầu tiên của Việt Nam.
Sự kiện đánh dấu sự phát triển vượt bậc thế giới quan của Hồ Chí Minh từ giác ngộ chủ nghĩa dân tộc đến giác ngộ chủ nghĩa Mác-Lênin, từ chiến sĩ chống thực dân trở thành chiến
1.2 Từ tháng 7/1923-10/1924, Nguyễn Ái Quốc sang Liên Xô, tích cực hoạt động trong phong trào cộng sản quốc tế.
Với sự hoạt động năng nổ Bác đã được bầu vào Hội đồng quốc tế Nông dân và Ban Phương Đông của Quốc tế Cộng sản.
Trang 91.3 Tháng 11/1924, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô về Quảng Châu (Trung Quốc) Người tiếp tục đẩy mạnh hoạt động lý luận chính trị, tổ chức chuẩn bị thành lập Đảng cộng sản Việt Nam trên các phương diện về chính trị, tư tưởng, tổ chức Ngoài ra, Bác còn
mở các lớp huấn luyện đào tạo cán bộ cách mạng.
1.4 Mùa hè năm 1927, Nguyễn Ái Quốc rời Trung Quốc, bí mật hoạt động ở nhiều nước 1.5 Từ ngày 6/1-7/2/1930 tại Hương Cảng, Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Sự kiện này có ý nghĩa vô cùng to lớn, nó chấm dứt sự khủng hoảng đường lối và tổ chức lãnh đạo Việt Nam
2 N hững tác phẩm lý luận tiêu biểu :
2.1 Bản án chế độ thực dân Pháp (1925)
“Bản án chế độ thực dân Pháp” (Le Procès de la Colonisation Française) là tác phẩm của Hồ Chủ tịch viết bằng tiếng Pháp trong khoảng những năm 1921-1925 tố cáo thực dân Pháp đã gây được tiếng vang lớn ngay từ khi ra đời.
2.2 Đường Kách Mệnh (1927) Cuốn sách “Đường Kách Mệnh” có ý nghĩa và vai trò như kim chỉ nam cho đường lối của cách mạng Việt Nam Tác phẩm là tư liệu tham khảo đặc biệt quan trọng và cơ sở lý luận
để Đảng ta xây dựng phương pháp cách mạng phù hợp với tình hình đất nước.
2.3 Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930) Cương lĩnh đã xác định rõ về đường lối, nhiệm vụ, lực lượng và mối quan hệ của cách mạng Việt Nam trong bối cảnh sau khi thành lập Đảng Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng là một cương lĩnh đúng đắn và sáng tạo theo con đường cách mạng Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại mới, đáp ứng yêu cầu khách quan của lịch sử, nhuần nhuyễn quan điểm giai cấp và thấm nhuần tinh thần dân tộc.
2.4 Báo Người cùng khổ - Le Paria Báo Người cùng khổ đã trở thành vũ khí chiến đấu, là diễn đàn để Nguyễn Ái Quốc
và Hội liên hiệp thuộc địa tuyên truyền, tổ chức nhân dân thuộc địa đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc Với vai trò là chủ bút kiêm chủ nhiệm, thủ quỹ, xuất bản và liên lạc, Nguyễn
Ái Quốc xứng đáng là linh hồn của báo và Hội liên hiệp thuộc địa
2.5 Tác phẩm “Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ” (1924)
Trang 10Tác phẩm Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ thể hiện sự am hiểu sâu sắc của
Nguyễn Ái Quốc về lý luận và thực tiễn, cũng như khả năng vận dụng sáng tạo những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác vào thực tiễn Việt Nam Tác phẩm đã đặt cơ sở cho
sự hình thành đường lối và phương pháp của cách mạng Việt Nam.
IV Thời kỳ 1930-1941: Vượt qua thử thách, giữ vững đường lối, phương pháp Cách mạng Việt Nam đúng đắn, sáng tạo.
1 Những khó khăn mà Nguyễn Ái Quốc gặp phải : 1.1 Từ phía quốc tế cộng sản:
- Một số người trong quốc tế cộng sản có những nhìn nhận sai lầm về Nguyễn Ái Quốc do chịu do chịu ảnh hưởng của quan niệm giáo điều tả khuynh xuất hiện trong đại hội VI của quốc tế cộng sản Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc không được hiểu và chấp thuận mà còn bị phê phán bị coi là “hữu khuynh”, “dân tộc chủ nghĩa”.
2 Nguyễn Ái Quốc tiếp tục giữ vững lập trường, kiên nhẫn chịu đựn g.
2.1 Những năm 1934-1938, Nguyễn Ái Quốc rời Thượng Hải đi Liên Xô.
- Ngày 6/6/1938, Nguyễn Ái Quốc gửi thư cho một lãnh đạo quốc tế cộng sản, đề nghị cho phép trở về nước hoạt động và được chấp thuận.
- Tháng 10/1938, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô đi qua Trung Quốc để trở về VN
2.2 Ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc trở về tổ quốc trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam
- Tháng 5-1941, tại Pác Bó (huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng), với tư cách cán bộ Quốc tế Cộng sản, Người chủ trì Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng
- Những quan điểm cơ bản nhất về đường lối cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam của
Hồ Chí Minh được Đảng khẳng định đưa vào thực tiễn tổ chức nhân dân biến thành các phong trào cách mạng để dẫn tới thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Trang 11V Thời kỳ 1941 – 1969: Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển, soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta
1 Giai đoạn 1941 – 1945:
1.1 Hội nghị Trung ương 8 của Đảng Cộng sản Đông Dương (tháng 5 – 1941) Hội nghị xác định: Nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ bức thiết nhất của cách mạng Đông Dương Nhiệm vụ trước hết của cách mạng Việt Nam lúc này là phải giành cho được độc lập dân tộc và tự do, hạnh phúc cho đồng bào.
1.2 Năm 1942, Nguyễn Ái Quốc lấy tên mới là Hồ Chí Minh sang Trung Quốc.
1.3 Ngày 22-12-1944, theo Chỉ thị của đồng chí Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân được thành lập.
Đây là đội quân chủ lực đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng và là tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay.
1.4 Ngày 18/8/1945 Hồ Chí Minh viết Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa gửi quốc dân, đồng bào Cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước thành công.
1.5 Ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
3.1 Hồ Chí Minh là linh hồn của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
3.2 Hoàn thiện lý luận cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và hình thành tư tưởng về xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Xuất phát từ đặc điểm nước ta tạm thời bị chia cắt làm 2 miền, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã chủ trương đưa miền Bắc chuyển sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa và xác định đường lối cách mạng của cả nước trong tình hình mới: giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
4 Giai đoạn 1954 – 1969:
Trang 124.1 Xác định và lãnh đạo đường lối cùng một lúc thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược ở 2 miền.
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta tiếp tục tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, kết hợp chặt chẽ 2 nhiệm vụ đó với nhau nhằm thực hiện một mục tiêu chung: hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thực hiện thống nhất nước nhà, mở đường đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
4.2 Bổ sung, hoàn thiện hệ thống quan điểm cơ bản của cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa, đạo đức và đối ngoại.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm tất yếu của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới, là ngọn cờ thắng lợi của dân tộc Việt Nam trong đấu tranh vì độc lập tự do và giải phóng dân tộc, đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội
B - Thời kỳ hình thành những nội dung cơ bản về cách mạng Việt Nam là thời kỳ 1920 -1930
I- Chủ nghĩa thực dân là kẻ thù chung của các dân tộc thuộc địa.
Trong quá trình tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã đi nhiều nước thuộc địa cũng như nhiều nước tư bản chủ nghĩa Người đã đưa ra kết luận quan trọng: Ở đâu, dù ở các nước thuộc địa, phụ thuộc hay chính quốc, những người lao động đều bị bóc lột, áp bức nặng nề, ở đâu bọn đế quốc thực dân cũng tàn bạo độc ác Từ kết luận trên, Người nêu lên: thực dân đế quốc là kẻ thù chung của nhân dân thuộc địa và cũng là kẻ thù của nhân dân lao động chính quốc Bởi vậy, đòi hỏi sự đoàn kết liên minh nhân dân lao động ở thuộc địa và chính quốc để chống lại kẻ thù chung.
II- Khẳng định mối quan hệ mật thiết giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc
Theo Hồ Chí Minh, giữa cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa và CM vô sản ở chính quốc có mối liên hệ mật thiết với nhau, có tác động qua lại lẫn nhau trong cuộc đấu tranh chống kể thù chung là chủ nghĩa đế quốc Đó là mối liên hệ bình đẳng chứ không phải là mối liên hệ lệ thuộc Người khẳng định: Cách mạng thuộc địa không những không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc mà có thể giành thắng lợi trước.
Trang 13Thực tiễn thắng lợi của cách mạng Việt Nam và sự sụp đổ của hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc đã chứng minh quan điểm của Hồ Chí Minh là hoàn toàn đúng đắn
III Cách mạng muốn thành công trước hết cần phải có Đảng lãnh đạo.
1 Sự lãnh đạo của Đảng đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc
Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản là nhân tố hàng đầu, quyết định mọi thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa Nói cách khác, cuộc cách mạng của giai cấp vô sản thành công hay thất bại, trước hết là phụ thuộc vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Với cương lĩnh, đường lối và các nghị quyết của Đảng, mọi hoạt động của cách mạng diễn ra một cách thống nhất, đồng bộ và có hiệu quả.
2 Sự lãnh đạo của Đảng đáp ứng yêu cầu bảo vệ độc lập dân tộc và phát triển đất nước Sau thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng Cộng sản là lực lượng duy nhất có thể tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân để bảo vệ thành quả cách mạng Có được khả năng đó là do Đảng gồm những người tiên tiến nhất của giai cấp và dân tộc trung thành, kiên định với lợi ích của dân tộc, luôn đi đầu, sẵn sàng hy sinh vì nền độc lập dân tộc nên được nhân dân tin và đi theo.
IV Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân chứ không phải việc của một vài người
Kế thừa tư tưởng: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân: quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo ra lịch sử” của chủ nghĩa Mác-Lênin Hồ Chí Minh khẳng định:
“cách mệnh là việc chung của cả dân chúng chứ không phải việc một hai người” Vậy nên phải tập hợp đoàn kết thì cách mạng mới thành công.
Năm 1930, trong “ Sách lược vắn tắt của Đảng” Hồ Chí Minh xác định lực lượng cách mạng bao gồm toàn dân Cách mạng giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng nhân dân lao động, giải phóng giai cấp công nhân, giải phóng con người.
Trang 14
Với những lý lẽ trên, nhóm 9 thực hiện nghiên cứu đề tài: “Phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh
về đạo đức Liên hệ với quá trình tu dưỡng đạo đức của sinh viên trường Đại học Thương Mại hiện nay”.
Trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi xảy ra thiếu sót, rất mong nhận được sự góp
ý từ cô và các bạn để nhóm có thể hoàn thiện hơn bài thảo luận của mình.
Trang 15B. Nội dung :
I Phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức:
1 Đạo đức là gốc, là nền tảng tinh thần của xã hội, của người cách mạng
Hồ Chí Minh là người bàn nhiều về đạo đức, nhất là đạo đức cách mạng "Đức là gốc"
là quan điểm cơ bản, xuyên suốt và nhất quán trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh Theo
Hồ Chí Minh, đạo đức không chỉ là "gốc", là nền tảng, là nhân tố chủ chốt của người cách mạng, mà còn là thước đo của lòng cao thượng của con người.
Vấn đề Đạo đức được Hồ Chí Minh đặt ra và xem xét một cách toàn diện trong tất cả mọi lĩnh vực hoạt động của con người, từ việc tự đến việc công, từ lao động sản xuất ở hậu phương đến chiến đấu ngoài mặt trận, từ học tập, công tác đến sinh hoạt hàng ngày Hồ Chí Minh cũng bàn đến đạo đức ở mọi phạm vi từ gia đình tới xã hội, từ giai cấp đến dân tộc, từ quốc gia đến quốc tế Việc Hồ Chí Minh xem xét vấn đề đạo đức một cách toàn diện là một cách nhìn mang tính khách quan, phù hợp với hoạt động phong phú đa dạng của đời sống xã hội và của mỗi con người Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh vừa là đạo đức Việt Nam vừa là đạo đức cộng sản, vừa mang cốt cách của văn hóa đạo đức phương Đông vừa mang dáng dấp của đạo đức phương Tây Chính sự kết hợp độc đáo đó đã làm nên phong cách đạo đức
Hồ Chí Minh sáng ngời làm nền tảng tinh thần cho xây dựng nền đạo đức mới trong hiện tại
và tương lai ở Việt Nam.
Sinh gia trong gia đình có truyền thống Nho giáo Hồ Chí Minh đã sớm được tiếp thu tư tưởng của Nho giáo thấu hiểu chữ đạo - đức, song Người cũng nhận biết được những điểm tốt và hạn chế của Nho giáo để đưa ra những nhận định mới về đạo đức dựa trên quan điểm của Nho giáo Nếu như đạo đức trong Nho giáo bao gồm chữ Đạo trong đạo làm người đề cập đến mối quan hệ: Vua-tôi, cha-con, chồng-vợ, anh - em, bè bạn dựa vào năm cái Đức thông thường đó là: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín Quan niệm về đạo đức của Nho giáo phần nhiều ảnh hưởng bởi tư tưởng trọng nam khinh nữ đa phần là nhắc về đạo làm người của bậc quân
tử và không đề cao đạo đức ứng xử với cá nhân Tư tưởng Hồ Chí Minh lại mới ở chỗ người
kế thừa giá trị của chủ nghĩa yêu nước và hiểu nghĩa của Nho giáo và mở rộng ra thành tư tưởng đạo đức mới đó là trung với Nước hiếu với dân Hồ Chí Minh cũng tập trung bàn nhiều về đạo đức theo nghĩa hẹn với 3 mối quan hệ cơ bản của con người: với mình, với người và với việc Như vậy, Hồ Chí Minh đã đề ra chuẩn mực đạo đức ứng xử với cá nhân
Trang 16mà mỗi người phải rèn luyện không phải là ngũ thường như Nho giáo xưa nữa mà là những phẩm chất của người cách mạng nói riêng và nhân dân nói chung đó là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
Quan điểm “Đức là gốc” của con người đã xuất hiện từ xa xưa trong học thuyết “đức trị” của Nho giáo Rõ ràng, quan điểm “đức là gốc” của Nho giáo chứa đựng những yếu tố hợp
lý nhất định “Đức là gốc” trong tư tưởng Hồ Chí Minh là đạo đức mới, đạo đức cách mạng mang bản chất giai cấp công nhân, kết hợp truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc và những tinh hoa của đạo đức nhân loại.
Quan điểm “Đức là gốc” của Hồ Chí Minh được xây dựng trên những nội dung cơ bản như sau:
Thứ nhất, Đạo đức là “gốc”, là nền tảng của người cách mạng, giống như cây phải có gốc,
sông, suối phải có nguồn, người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng thì mới hoàn thành được sự nghiệp cách mạng cực kỳ gian khổ khó khăn Không phải ngẫu nhiên
mà khi Lênin mất, Hồ Chí Minh đã viết những dòng đầy xúc động trước tấm gương đạo đức trong sáng mẫu mực của người thầy vĩ đại :“ Không phải chỉ thiên tài của Người, mà chính
là tính coi khinh sự xa hoa, tinh thần yêu lao động, đời tư trong sáng, nếp sống giản dị, tóm lại là đạo đức vĩ đại và cao đẹp của người thầy, đã ảnh hưởng lớn lao tới các dân tộc châu Á
và đã khiến cho trái tim của họ hướng về người, không gì ngăn cản nổi ” Còn trong
“Đường Cách mệnh” tác phẩm “gối đầu giường” của những người cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã giành chương đầu tiên để bàn về tư cách người cách mạng, sau đó mới nói về
lý luận và đường lối cách mạng Với Hồ Chí Minh, “Đức là gốc” cho nên, đạo đức cách mạng không chỉ giúp cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới mà còn giúp người cách mạng không ngừng cầu tiến bộ và hoàn thiện bản thân mình Người có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn gian khổ, thất bại tạm thời cũng không rụt rè lùi bước, khi gặp thuận lợi và thành công, vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, khiêm tốn, chất phác, không công thần, địa vị, kèn cựa hưởng thụ, thật sự trở thành người “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ” Vì “Đức là gốc” cho nên đạo đức cách mạng là thước đo lòng cao thượng của con người Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, trong đời sống xã hội cũng như trong hoạt động cách mạng, mỗi người có công việc, tài năng, vị trí khác nhau, người làm việc to, người làm việc nhỏ, nhưng bất cứ ai giữ được đạo đức cách mạng đều là người cao thượng.
Trang 17Thứ hai, Trong mối quan hệ giữa Đức và Tài thì “Đức là gốc” nhưng đức và tài phải đi đôi
với nhau, không thể có mặt này mà thiếu mặt kia được Hồ Chí Minh yêu cầu: Tài lớn thì Đức càng phải cao, vì khi đã có trí thì cái đức chính là cái đảm bảo cho người cách mạng giữ vững được chủ nghĩa mà mình đã giác ngộ, đã chấp nhận và lựa chọn tin theo Hồ Chí Minh khẳng định: “Cũng như sống thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” “Đức là gốc” vì trong đức đã
có tài, có cái đức sẽ đi đến cái trí Bởi người thật sự có đức thì bao giờ cũng cố gắng học tập, nâng cao trình độ, rèn luyện năng lực để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao Và khi đã thấy sức không vươn lên được thì sẵn sàng nhường bước, học tập và ủng hộ người tài đức hơn mình, để họ gánh vác việc nước việc dân Như vậy, “Đức là gốc” ở đây phải là “Đức lớn” - đức tận tâm, tận lực phấn đấu hy sinh vì cách mạng, vì nước vì dân, nó không đồng nhất với những phẩm chất đạo đức thông thường cụ thể, như hiền lành, ngoan ngoãn, tốt bụng trong đời sống hàng ngày.
Thứ ba: "Đức là gốc" trong xây dựng Đảng Phát triển tư tưởng của Mác, Ăngghen, Lênin
về Đảng của giai cấp công nhân, trong bài phát biểu tại lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng, Hồ Chí Minh đã đưa ra một hình tượng về Đảng kiểu mới của giai cấp vô sản:
" Đảng ta vĩ đại như biển rộng, như núi cao, Ba mươi năm phấn đấu và thắng lợi biết bao nhiêu tình Đảng ta là đạo đức, là văn minh " Như vậy, theo Hồ Chí Minh, Đảng phải "là đạo đức, là văn minh" trong đó đạo đức là "gốc", vẫn là vấn đề được Hồ Chí Minh đặt lên trên hết, trước hết Bởi Đảng cộng sản muốn đóng được vai trò tiên phong thì trước hết phải
là một đảng tiêu biểu cho đạo đức cách mạng, tận tâm, tận lực phụng sự tổ quốc và nhân dân.
Đạo đức chính là nhân tố tạo nên sức hấp dẫn của chủ nghĩa xã hội Sức hấp dẫn đó nằm
ở những giá trị đạo đức cao đẹp, nhân văn, phẩm chất của những người cộng sản ưu tú, bằng hành động của mình chiến đấu cho lý tưởng cộng sản Hồ Chí Minh cho rằng, phong trào cộng sản công nhân quốc tế trở thành lực lượng quyết định vận mệnh của loài người không chỉ do chiến lược và sách lược thiên tài của cách mạng vô sản, mà còn do những phẩm chất đạo đức cao quý làm chủ nghĩa cộng sản trở thành một sức mạnh vô địch.
2 Quan điểm về những chuẩn mực đạo đức cách mạng