1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thảo luận nhóm TMU phân tích tư tưởng của hồ chí minh về đạo đức liên hệ tới quá trình tu dưỡng đạo đức của sinh viên trường đại học thương mại hiện nay

28 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích tư tưởng của Hồ Chí Minh về đạo đức liên hệ tới quá trình tu dưỡng đạo đức của sinh viên trường đại học thương mại hiện nay
Người hướng dẫn Ngô Thị Huyền Trang
Trường học Trường đại học thương mại
Chuyên ngành Marketing
Thể loại Bài thảo luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 605,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện đoàn kết quốc tế nhằm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo sức mạnh tổng hợp cho cách mạng Sức mạnh dân tộc là sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và ý thức tự lực,

Trang 1

-BÀI THẢO LUẬN

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Đề tài chính: : Phân tích tư tưởng của Hồ Chí Minh về đạo đức? Liên hệ tới

quá trình tu dưỡng đạo đức của sinh viên trường Đại học Thương mại hiện nay?

Đề tài phụ: Phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế và sự vận

dụng trong giai đoạn hiện nay.

Giáo viên hướng dẫn: Ngô Thị Huyền Trang Nhóm: 09

Lớp HP: 2158HCMI0111

Hà Nội, 2021

Trang 2

B Nội dung 5

I Cơ sở lý luận 5

1 Sự cần thiết phải đoàn kết quốc tế 5

a Thực hiện đoàn kết quốc tế nhằm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo sức mạnh tổng hợp cho cách mạng 5

b Thực hiện đoàn kết quốc tế nhằm góp phần cùng nhân dân thế giới thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng của thời đại 5

2 Lực lượng đoàn kết quốc tế và hình thức tổ chức 6

a Các lực lượng cần đoàn kết 6

b Hình thức tổ chức 6

3 Nguyên tắc đoàn kết quốc tế 7

a Đoàn kết trên cơ sở thống nhất mục tiêu và lợi ích; có lý; có tình 7

b Đoàn kết trên cơ sở độc lập, tự chủ 7

II Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế 7

1 Thực trạng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc kế hiện nay 7

2 Cơ hội và thách thức trong vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế 8

a Cơ hội 8

b Thách thức 8

3 Đề xuất vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế 8

C Kết luận 9

Đề tài 2: Phân tích Tư tưởng của Hồ Chí Minh về đạo đức? Liên hệ tới quá trình tu dưỡng đạo đức của sinh viên trường Đại học Thương mại hiện nay? 9

A Phần mở đầu 9

B Nội dung 10

I Cơ sở lý luận 10

1 Đạo đức là gốc, là nền tảng của tinh thần xã hội, của người cách mạng 10

2 Quan điểm về những chuẩn mực đạo đức cách mạng 12

a Trung với nước, hiếu với dân 12

b Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư 14

Trang 3

d Tinh thần quốc tế trong sáng 17

3 Quan điểm về những nguyên tắc xây dựng đạo đức cách mạng 17

a Nói đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức 17

b Xây đi đôi với chống 19

c Tư tưởng đạo đức suốt đời 20

II Liên hệ sinh viên đại học Thương mại 22

1 Thực trạng áp dụng tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh của sinh viên Đại học Thương mại 22

2 Đề xuất phát triển tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong đời sống và học tập của sinh viên đại học Thương mại 24

C Kết luận 26

Trang 4

Đề tài 1: Phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế và sự vận dụng trong giai đoạn hiện nay.

A Phần mở đầu

Là một người bôn ba khắp năm châu bốn bể, mỗi nơi chủ tịch Hồ Chí Minh đặtchân đến đều được coi là một ngôi nhà mới Bất kì nơi đâu, Người cũng đều có ngườithân, bạn bè Vì vậy, Người đã lĩnh hội được rất nhiều điều từ bạn bè quốc tế Đối vớiNgười, muốn nhanh giành được thắng lợi, nhanh được giải phóng dân tộc thì một đấtnước nhỏ bé như Việt Nam chúng ta đơn phương hoạt động là vô cùng khó khăn Tưtưởng của Người về đoàn kết, hợp tác quốc tế là định hướng chiến lược quan trọng chođường lối, chính sách đối ngoại nói riêng, cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốcViệt Nam nói chung Lịch sử đã chứng minh rằng, đoàn kết quốc tế đã tạo nên động lựccách mạng, sức mạnh tổng hợp, đưa nước ta, dân tộc ta cùng các nước anh em vượt quamọi khó khăn, thách thức, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳtích vẻ vang Hay trong thời đại ngày nay, khi quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóangày càng phát triển, đoàn hết quốc tế sẽ thúc đẩy nền kinh tế, văn hóa của thế giới biếnđổi theo chiều hướng đi lên Đặc biệt trong bối cảnh đại dịch Covid-19 đang phức tạp,các nước chung tay, giúp đỡ lẫn nhau sẽ tạo tiền đề đẩy lùi dịch bệnh, khôi phục và pháttriển nền kinh tế thế giới

B Nội dung

I Cơ sở lý luận

1 Sự cần thiết phải đoàn kết quốc tế

a Thực hiện đoàn kết quốc tế nhằm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo sức mạnh tổng hợp cho cách mạng

Sức mạnh dân tộc là sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và ý thức tự lực, tự cường

dân tộc, là sức mạnh của tinh thần đoàn kết và ý chí đấu tranh anh dũng, bất khuất chođộc lập, tự do

Sức mạnh thời đại là sức mạnh của phong trào cách mạng thế giới, đó còn là sức

mạnh của chủ nghĩa Mác – Lênin được xác lập bởi thắng lợi của Cách mạng tháng MườiNga năm 1917

Trang 5

b Thực hiện đoàn kết quốc tế nhằm góp phần cùng nhân dân thế giới thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng của thời đại

Hồ Chí Minh khẳng định thực hiện đoàn kết quốc tế không chỉ vì thắng lợi của cáchmạng mỗi nước mà còn vì sự nghiệp chung của nhân loại tiến bộ

Hồ Chí Minh đã hoạt động không mệt mỏi để phá vỡ thế đơn độc của cách mạngViệt Nam, gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới: phát huy triệt để sức mạnhchủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc trong đấu tranh giành độc lập dân tộc; đấu tranh

để củng cố và tăng cường đoàn kết giữa các lực lượng cách mạng trên thế giới đấu tranhcho mục tiêu chung

Theo Hồ Chí Minh, muốn tăng cường đoàn kết quốc tế trong cuộc đấu tranh vì mụctiêu chung, các Đảng cộng sản trên thế giới phải tiến hành hiệu quả giáo dục chủ nghĩayêu nước chân chính kết hợp với chủ nghĩa quốc tế vô sản cho nhân dân

2 Lực lượng đoàn kết quốc tế và hình thức tổ chức

a Các lực lượng cần đoàn kết

Lực lượng đoàn kết quốc tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm: phong trào cộngsản và công nhân quốc tế; phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc và phong trào hoàbình, dân chủ thế giới

Đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Hồ Chí Minh cho rằng sự đoàn

kết giữa giai cấp công nhân quốc tế là một bảo đảm vững chắc cho thắng lợi của chủnghĩa cộng sản Theo Hồ Chí Minh, để đối mặt với chủ nghĩa tư bản, cần kết hợp sứcmạnh đoàn kết, sự đồng tình và ủng hộ lẫn nhau của lao động toàn thế giới

Đối với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy

âm mưu chia rẽ dân tộc của các nước đế quốc Người lưu ý Quốc tế Cộng sản về nhữngbiện pháp nhằm làm các dân tộc thuộc địa phải hiểu biết và đoàn kết với nhau, đặt cơ sởcho liên minh phương Đông tương lai Người còn đề nghị Quốc tế Cộng sản phải làm chođội quân tiên phong của lao động thuộc địa tiếp xúc mật thiết với giai cấp vô sản phươngTây, dọn đường cho sự hợp tác sau này

Đối với các lực lượng tiến bộ, những người yêu chuộng hòa bình, dân chủ, tự do và công lý, Hồ Chí Minh thực hiện đoàn kết quốc tế bằng cách gắn cuộc đấu tranh vì độc lập

ở Việt Nam với mục tiêu bảo vệ hòa bình, tự do, công lý và bình đẳng để tập hợp và tranhthủ sự ủng hộ của lực lượng tiến bộ trên thế giới

Trang 6

b Hình thức tổ chức

Năm 1921, tại Paris (Pháp), Nguyễn Ái Quốc thành lập ra “Hội Liên

hiệp các dân tộc thuộc địa”, mục đích đoàn kết các lực lượng cách

mạng chống chủ nghĩa thực dân, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin đếncác dân tộc thuộc địa

Từ năm 1924, Hồ Chí Minh đã đưa ra quan điểm về thành lập “Mặt

trận thống nhất của nhân dân chính quốc và thuộc địa” chống chủ

nghĩa đế quốc

Năm 1925, khi được Quốc tế Cộng sản cử hoạt động tại TrungQuốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với các đồng chí của mình sáng lập

Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức.

Năm 1941, Đảng quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập

đồng minh (gọi tắt là Việt Minh).

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ,

Hồ Chí Minh đã chỉ đạo việc hình thành Mặt trận nhân dân ba nước

Đông Dương: Mặt trận đoàn kết Việt – Miên – Lào.

Hồ Chí Minh đã định hướng cho việc hình thành bốn tầng mặt trận:Mặt trận đại đoàn kết dân tộc; Mặt trận đoàn kết Việt Nam – Lào –Campuchia; Mặt trận nhân dân Á – Phi đoàn kết với Việt Nam; Mặt trậnnhân dân thế giới đoàn kết với Việt Nam chống đế quốc xâm lược

3 Nguyên tắc đoàn kết quốc tế

a Đoàn kết trên cơ sở thống nhất mục tiêu và lợi ích; có lý; có tình

Đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Hồ Chí Minh

giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, thựchiện đoàn kết thống nhất trên nền tảng của chủ nghĩa Mác-Lênin vàchủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình

Đối với các dân tộc trên thế giới, Hồ Chí Minh giương cao ngọn cờ

do và quyền bình đẳng giữa các dân tộc

Trang 7

Đối với các lực lượng tiến bộ trên thế giới, Hồ Chí Minh giương cao

ngọn cờ hòa bình, chống chiến tranh xâm lược

b Đoàn kết trên cơ sở độc lập, tự chủ

Để đoàn kết tốt phải có nội lực tốt Hồ Chí Minh luôn nêu cao khẩuhiệu “dựa vào sức mình” trong các cuộc đấu tranh cách mạng, trải quahai thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Mỹ và cả ngay trong quan hệ vớibạn bè quốc tế

Hồ Chí Minh chỉ rõ, muốn tranh thủ được sự ủng hộ quốc tế, Đảngphải có đường lối độc lập, tự chủ và đúng đắn Chính quan niệm tự lập

tự chủ đó đã giúp đất nước chúng ta giành thắng lợi cách mạng trongkháng chiến chống Pháp và tranh thủ được sự ủng hộ của phong tràonhân dân thế giới trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược

1.Thực trạng vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc

kế hiện nay

- Việt Nam đã xác lập mối quan hệ thương mại với trên 200 quốc gia và vùng lãnhthổ trên thế giới, là đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với gần 30 quốc gia, bao gồmcác nước lớn và 5 uy viên thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, là đối tác toàndiện với tất cả các nước trong cộng đồng ASEAN Là thành viên của WTO, Việt Nam đãtham gia và đang đàm phán ký kết 16 hiệp định thương mại tự do FTA với 59 đối tác trêntoàn thế giới

- Việt Nam ngày càng chủ động, sáng tạo hơn trong triển khai hợp tác quốc tế, hộinhập quốc tế, góp phần phục vụ tốt lợi ích quốc gia, dân tộc Tính đến nay, Việt Namđược 71 nước công nhận là quốc gia có nền kinh tế thị trường và hiện trong “top” đầu củaASEAN về mức độ hội nhập và độ mở của nền kinh tế

- Sau 5 năm bắt đầu tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, ViệtNam đã cử 90 sĩ quan tham gia sứ mệnh quốc tế cao cả này Có thể xem đây là sự thểhiện mức độ tham gia ngày càng sâu hơn, đóng góp ngày càng tích cực hơn của Việt Namvới tư cách là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế

- Trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là trong năm 2021 có thể cho ta thấy rõ được sựđoàn kết quốc tế thông qua đại dịch Covid toàn cầu

Trang 8

2 Cơ hội và thách thức trong vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế

a Cơ hội

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, phát huy sự ủng hộ quốc tế là cơ sở quan trọng

để Đảng Cộng sản Việt Nam hoạch định chủ trương, đường lối đối ngoại và giải quyếtcác vấn đề quốc tế:

- Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế là cơ sở lý luận quan trọng để ĐảngCộng sản Việt Nam xác định đường lối đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóaquan hệ quốc tế trong bối cảnh mới

- Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế để tạo ra môi trường quốc tếhòa bình, ổn định, hữu nghị với các nước láng giềng, các nước trong khu vực, các nướclớn để tập trung mọi nguồn lực phát triển đất nước

b Thách thức

- Tình hình quốc tế, khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường Cạnhtranh chiến lược giữa các nước lớn và tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo giữa cácnước trong khu vực diễn ra gay gắt, tiềm ẩn nguy cơ xung đột, mất ổn định

- Xu hướng dân chủ hóa đời sống chính trị quốc tế, các vấn đề liênquan đến độc lập, tự chủ của các nước, nhất là với những nước nhỏ,đang phát triển

3.Đề xuất vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế

- Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và pháttriển, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại

- Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản củaHiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi

- Trong đó, mục tiêu bao trùm là giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, thuận lợicho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện các nhiệm vụ chiến lược về pháttriển kinh tế - xã hội; đồng thời kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền

và các lợi ích chính đáng của ta theo luật pháp quốc tế

- Trong việc bảo đảm môi trường hoà bình thì một trong những yêu cầu then chốt làphải luôn kiên trì, bình tĩnh, sáng suốt xử lý đúng đắn mọi vấn đề phức tạp trong đốingoại, trong đó có vấn đề chủ quyền, lãnh thổ

C Kết luận

Trang 9

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết quốc tế chứa đựng nhiều nội dung phongphú, rộng lớn; được thể hiện một cách rõ ràng, nhất quán, kiên định qua nhận thức, quanđiểm và hành động của Người.

Hồ Chí Minh là người đầu tiên và duy nhất xác định rõ ràng nền tảng, nhân tốquan trọng cho cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam là đoàn kết, hội nhập với thếgiới

Ngày nay, trong bối cảnh thế giới có nhiều biến đổi, vấn đề đoàn kết đấu tranhcủa phong trào cộng sản và công nhân quốc tế có những thuận lợi và khó khăn mới Tưtưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết, phát huy sự ủng hộ quốc tế là cơ sở lý luận vững chắc,lâu dài, quan trọng để Đảng Cộng sản Việt Nam hoạch định chủ trương, đường lối đốingoại và giải quyết các vấn đề quốc tế

Cùng với kinh tế, Việt Nam ngày càng chủ động, sáng tạo hơn trong triển khaihợp tác quốc tế, hội nhập quốc tế, góp phần phục vụ tốt lợi ích quốc gia, dân tộc Qua đó,tạo cục diện thuận lợi để Việt Nam giữ nước từ xa

Đề tài 2: Phân tích Tư tưởng của Hồ Chí Minh về đạo đức? Liên

hệ tới quá trình tu dưỡng đạo đức của sinh viên trường Đại học Thương mại hiện nay?

là thực dân xâm lược nước ta cũng đều phải cảm thán khâm phục Đối với Hồ Chí Minh,một người thành công không chỉ nhờ vào tài năng và trí tuệ mà còn phải xem xét cái đức

mà người đó đối xử với mọi người: “Người có tài mà không có đức là người vô dụng”

Tư tưởng của Hồ Chí Minh về đạo đức chính là nòng cốt, là tiêu chí cho những người cán

bộ cách mạng học tập và noi theo bởi đạo đức cách mạng là chỗ dựa giúp con người vữngvàng trong mọi thử thách Và đương nhiên, tư tưởng về đạo đức của Người không chỉ ảnhhưởng đến thế hệ chiến sĩ cách mạng lúc bấy giờ mà đến hiện tại, đó vẫn là nét đẹptruyền thống của dân tộc ta, là “tượng đài” đạo đức cho mỗi người dân noi theo Tư

Trang 10

tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức luôn là vấn đề quan trọng và cần thiết để tìm hiểu và học

tập Thông qua đề tài “Phân tích tư tưởng của Hồ Chí Minh về đạo đức? Liên hệ tới quá

trình tu dưỡng đạo đức của sinh viên trường Đại học Thương mại hiện nay?”, chúng ta

có thể hiểu rõ về những giá trị của tư tưởng này đối với công cuộc đấu tranh bảo vệ đấtnước cũng như đối với xã hội hiện tại

B Nội dung

I Cơ sở lý luận

1 Đạo đức là gốc, là nền tảng của tinh thần xã hội, của người cách mạng

Hồ Chí Minh là một trong những nhà tư tưởng, một lãnh tụ cách mạng thế giới đãbàn nhiều về vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh rất sâusắc, phong phú, cả về lý luận và thực tiễn, đã trở thành một bộ phận vô giá của văn hoádân tộc và nhân loại, một sức mạnh to lớn làm nên mọi thắng lợi của cách mạng ViệtNam

Khi đánh giá vai trò của đạo đức trong đời sống, từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã khẳngđịnh đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người, như gốc của cây, ngọn nguồncủa sông suối – “cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn.Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định đạo đức là

gốc, là nền tảng, sức mạnh, tiêu chuẩn hàng đầu là là của người cách mạng Người cáchmạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo đượcnhân dân” Người cho rằng, làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một

sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề “Sức có mạnh mớigánh được nặng và đi được xa Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nềntảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”

Người nói, cán bộ, Đảng viên muốn cho dân tin, dân phục thì không phải cứ “viếtlên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ mến yêu Quần chúng chỉ quý mến những người

có tư cách, đạo đức” “Vì muốn giải phóng cho dân tộc, giải phóng cho loài người là mộtcông việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không có căn bản, tự mình đã hủy hủ hoá,xấu xa thì còn làm nổi việc gì?”

Đạo đức trở thành nhân tố quyết định của sự thành bại của mọi công việc,phẩm chất mỗi con người Bởi vì, có đạo đức cách mạng trong sáng mới làm được nhữngviệc cao cả, vẻ vang Người quan niệm, “Việc nước lấy Đoàn thể làm cốt cán Việc Đoàn

Trang 11

thể lấy cán bộ làm cốt cán Cán bộ lấy đạo đức làm cốt cán” Theo Hồ Chí Minh, “Đại đa

số chiến sĩ cách mạng là người có đạo đức: Cả đời hết lòng hết sức phục vụ nhân dân,sinh hoạt ngày thường thì làm gương mẫu: gian khổ, chất phác, kính trọng của công Đạo đức ấy có ảnh hưởng lớn đến sự nghiệp đổi xã hội cũ thành xã hội mới và xây dựng

mỹ tục thuần phong” Theo Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng là chỗ dựa giúp cho conngười vững vàng trong mọi thử thách Bên cạnh đó, giữ vững tinh thần gian khổ, chấtphác, khiêm tốn thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại, người Đảng viên sẽ không rụt

rè, lùi bước Hay trong mọi thời khắc thuận lợi, thành công vẫn “lo trước thiên hạ, vui sauthiên hạ” Đấy chính là biểu hiện của đạo đức cách mạng

Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Người trăn trở với nguy cơ Đảng xa rời cuộcsống, xa rời quần chúng, rơi vào thoái hoá, biến chất Vì vậy, Hồ Chí Minh yêu cầu Đảngphải “là đạo đức, là văn minh” Người nhắc lại ý của Lênin: “Đảng cộng sản phải tiêubiểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại.” Trong Di chúc, Người căndặn: “Mỗi Đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần -kiệm - liêm - chính, chí công vô tư Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng

là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”

Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là đạo đức trong hành động, lấy hiệu quả thực tếlàm thước đo Chính vì vậy, Hồ Chí Minh luôn đặt đạo đức bên cạnh tài năng, gắn đứcvới tài, lời nói đi đôi với hành động và hiệu quả trên thực tế Người nói: “Phải lấy kết quảthiết thực đã góp sức bao nhiêu cho sản xuất và lãnh đạo sản xuất mà đo ý chí cách mạngcủa mình Hãy kiên quyết chống bệnh nói suông, thói phô trương hình thức, lối làm việckhông nhằm mục đích nâng cao sản xuất”

Người đặc biệt nhấn mạnh đức và tài phải là những phẩm chất thống nhất của conngười “Có tài mà không có đức là người vô dụng Có đức mà không có tài thì làm việc

gì cũng khó.” Hồ Chí Minh cũng từng phân tích: “Người có đức mà không có tài thì cũngchẳng khác gì ông bụt ngồi trong chùa, không làm hại ai, nhưng cũng chẳng có ích gì choloài người Ngược lại, nếu người có tài mà không có đức, thì cũng chẳng khác gì một anhlàm kinh doanh giỏi, nhưng lãng phí, tham ô, ăn cắp của công, như vậy, chỉ có hại chodân cho nước, còn sự nghiệp của bản thân thì sớm muộn cũng đổ vỡ.”

Như vậy, ở tư tưởng Hồ Chí Minh, đức và tài, hồng và chuyên, phẩm chất và nănglực thống nhất làm một Đức là gốc, nhưng đức và tài, hồng và chuyên phải song hành,phẩm chất và năng lực hợp nhất trong một, không thể chỉ có mặt này mà bỏ mặc mặt kia

Trang 12

“Đức là nền tảng của tài, định hướng cho tài phát triển.” Ngược lại, “tài” là thành tố gópphần tạo nên “đức”, hoàn thiện “đức” Chính vì vậy, cả hai phẩm chất này là điều kiệncần có nơi người cán bộ.

Những nhận định ấy đã chứng minh tính đúng đắn mang tính thời đại, rằng ngườithực sự có đức thì bao giờ cũng cố gắng học tập, nâng cao trình độ, cải thiện năng lực,trau dồi tài năng để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao Nếu đã nhận thấy sức khôngvươn lên được, thì đối với ai có tài hơn mình, cần sẵn sàng tinh thần học tập, ủng hộ Ýnghĩa “đức là gốc” chính là ở chỗ đó

Vai trò của đạo đức còn thể hiện là thước đo lòng cao thượng của con người Trongbài “Đạo đức cách mạng (1955), Hồ Chí Minh có viết: “Tuy năng lực và công việc củamỗi người khác nhau, người làm việc to, người làm việc nhỏ, nhưng ai giữ được đạo đứcđều là người cao thượng” Thực hành tốt đạo đức cá nhân không chỉ có tác dụng tôn vinhnâng cao giá trị của mình mà còn tạo ra sức mạnh nội sinh giúp ta vượt qua mọi thửthách

Tấm gương đạo đức trong sáng của một nhân cách vĩ đại, song cũng rất đời thườngcủa Hồ Chí Minh chẳng những có sức hấp dẫn lớn lao, mạnh mẽ với nhân dân Việt Nam

mà còn cả với nhân dân thế giới Tấm gương đó từ lâu là nguồn cổ vũ động viên tinh thầnquan trọng đối với nhân dân ta và nhân loại tiến bộ đoàn kết đấu tranh vì hoà bình, độclập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội

Thật vậy, sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội vẫn luôn là sự nghiệp tolớn, khó khăn và nặng nề; con đường đi đến độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là conđường dài, không phải là một đại lộ thẳng tắp Do đó, nó đòi hỏi sự phấn đấu khôngngừng ở mỗi cá nhân, mỗi thế hệ, và còn của nhiều thế hệ nối tiếp nhau

2.Quan điểm về những chuẩn mực đạo đức cách mạng a.Trung với nước, hiếu với dân

Trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất đạo đức bao trùm quan trọng nhất và chiphối các phẩm chất khác

“Trung” và “hiếu” là những khái niệm cũ trong tư tưởng đạo đức truyền thống ViệtNam và phương Đông Hồ Chí Minh đã mượn khái niệm “trung, hiếu” trong tư tưởng đạođức truyền thống dân tộc và đưa vào đó một nội dung mới, rộng lớn: “Trung với nước,hiếu với dân”, tạo nên một cuộc cách mạng trong quan niệm về đạo đức Người nói:

Trang 13

“Đạo đức cũ như người đầu ngược xuống đất chân chống lên trời Đạo đức mới nhưngười hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngửng lên trời” Đầu năm 1946, Người chỉrõ: “Đạo đức, ngày trước thì chỉ trung với vua, hiếu với cha mẹ Ngày nay, thời đại mới,đạo đức cũng phải mới Phải trung với nước Phải hiếu với toàn dân, với đồng bào.”

Tư tưởng “trung với nước, hiếu với dân” của Hồ Chí Minh không những kế thừa giátrị yêu nước truyền thống dân tộc, mà còn vượt qua những hạn chế của truyền thống đó

Hồ Chí Minh cho rằng, trung với nước phải gắn liền hiếu với dân Vì nước là nước củadân, còn dân lại là chủ nhân của nước; bao nhiêu quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân,bao nhiêu lợi ích đều vì dân, cán bộ là “đầy tớ nhân dân” chứ không phải là “quan nhândân để đè đầu cưỡi cổ nhân dân”

Trung với nước, là tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, suốt đời phấn đấu cho Đảng,cho cách mạng, phải làm sao cho “dân giàu, nước mạnh” Hiếu với dân là phải thươngdân, tin dân, thân dân, học hỏi dân, lấy trí tuệ ở dân, kính trọng dân, lấy dân làm gốc, “hếtlòng hết sức phục vụ nhân dân Phải yêu kính nhân dân Phải thật sự tôn trọng quyền làmchủ của nhân dân, tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng” ra lệnh ra oai”

Bác Hồ chỉ rõ: “Trung là trung với tổ quốc, hiếu là hiếu với nhân dân” Và cũngchính Người là biểu tượng cao đẹp thể hiện phẩm chất này Suốt cuộc đời vì dân, vì nước.Đến khi chuẩn bị vĩnh biệt thế giới này Bác cũng tính toán sao cho khỏi tốn kém thì giờ

và tiền bạc của nhân dân đối với việc riêng của mình Bác khẳng định: “Bất kỳ bao giờ,bất kỳ ở đâu, tôi cũng chỉ theo đuổi một mục đích là làm cho ích nước, lợi dân”

Còn “hiếu với dân” được Bác cụ thể hóa bằng chủ trương “Đảng và Chính phủ làđầy tớ của Nhân dân”, “chính quyền phải có trách nhiệm lo cho dân: Làm cho dân có ăn,làm cho dân có mặc, làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân có học hành” Bác còn chỉ rõ:

“Chính sách của Đảng và Chính phủ phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân.Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dândốt, Đảng và chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng ta và Chính phủ có lỗi Vì vậy, cán bộĐảng và chính quyền từ trên xuống dưới, đều phải hết sức quan tâm đến đời sống củanhân dân” Bác dạy rằng cán bộ các cấp đều là “công bộc của dân, nghĩa là gánh vác việcchung cho dân” Và, “việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dânphải hết sức tránh” Phẩm chất trung với nước, hiếu với dân được coi là hạt nhân cơ bảncủa tư tưởng Hồ Chí Minh

Trang 14

b Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư

Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư là nội dung cốt lõi của đạo đức cách mạng,đây là phẩm chất đạo đức gắn liền với hoạt động hằng ngày của mỗi người Hồ Chí Minh

đề cập phẩm chất này nhiều nhất, thường xuyên nhất, phản ánh ngay từ cuốn “Đườngcách mệnh” đến bản Di chúc cuối đời

Hồ Chí Minh chỉ ra rằng “Bọn phong kiến ngày xưa nêu ra cần, kiệm, liêm, chính,nhưng không bao giờ thực hiện mà lại bắt nhân dân tuân theo để phụng sự quyền lợi chochúng Ngày nay, ta đề ra cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ thực hiện làm gương chonhân dân theo là để đem lại hạnh phúc cho dân” Với ý nghĩa như vậy, cần, kiệm, liêm,chính, chí công vô tư cũng là một biểu hiện cụ thể, một nội dung của phẩm chất “trungvới nước, hiếu với dân”

Cũng như khái niệm “trung, hiếu”, “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” cũng lànhững khái niệm cũ trong đạo đức truyền thống dân tộc, được Hồ Chí Minh lọc bỏ nhữngnội dung không phù hợp và đưa vào những nội dung mới đáp ứng yêu cầu của cáchmạng

Cần là siêng năng, chăm chỉ; lao động có kế hoạch, sáng tạo, có hiệu quả, có năngsuất cao với tinh thần tự lực cánh sinh Phải thấy rõ “Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, lànguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta.”

Kiệm là tiết kiệm (tiết kiệm thời gian, tiết kiệm công sức, tiết kiệm của cải) củanước, của dân; “không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi”, không phô trương hìnhthức, không liên hoan, chè chén lu bù “ “Cần” với “Kiệm” phải đi đôi với nhau như haichân của con người.”

Liêm là “trong sạch, không tham lam”, luôn tôn trọng của công và của dân “Chữ

“Liêm” phải đi đôi với chữ “Kiệm” Cũng như “Kiệm” phải đi đôi với “Cần” Có “Kiệm”thì mới “Liêm” được.”

Chính là “thẳng thắn, đứng đắn” Người đưa ra một số yêu cầu: Đối với mình –không được tự cao, tự đại, tự phụ, phải khiêm tốn học hỏi, phát triển cái hay, sửa chữa cái

dở của mình Đối với người – không nịnh người trên, không khinh người dưới, thật thà,không dối trá Đối với việc – phải để việc công lên trên, lên trước, việc thiện nhỏ mấycũng làm, việc ác nhỏ mấy cũng tránh

Ngày đăng: 23/12/2023, 18:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w