1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thảo luận nhóm TMU tìm HIỂU về KHU vực THƯƠNG mại tự DO ASEAN học PHẦN hội NHẬP KINH tế QUỐC tế

32 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tìm Hiểu Về Khu Vực Thương Mại Tự Do ASEAN
Tác giả Trần Thị Kiều Trinh, Nguyễn Thế Tùng, Trần Thị Mai Tuyết, Đỗ Phương Uyên, Hoàng Phương Uyên, Nguyễn Hồng Vân, Trần Thị Thanh Vân, Nguyễn Thị Xim, Nguyễn Hải Yến, Nguyễn Thị Hải Yến
Người hướng dẫn GVHD: Nguyễn Anh Tuấn
Trường học Trường Đại Học Thương Mại
Chuyên ngành Kinh Tế Và Kinh Doanh Quốc Tế
Thể loại thảo luận nhóm
Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 585,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương trình này được bắt đầu thực hiện từ tháng 02/1993: Nội dung của CEPT là trong vòng 10 năm 1993-2003 giảm thuế quan trongthơng mại nội bộ Asean xuống còn từ 0- 5% đối với sáu nớc t

Trang 1

ĐỀ TÀI:

TÌM HIỂU VỀ KHU VỰC THƯƠNG MẠI

TỰ DO ASEAN

HỌC PHẦN: HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

Trang 2

2 Nguyễn Thế Tùng

(Nhóm trưởng)

Trang 3

hội thứ 10 của Đảng đã khẳng định: “Toàn cầu hóa kinh tế tạo ra cơ hội phát triểnnhưng cũng chứa đựng nhiều yếu tố bất bình đẳng, gây khó khăn, thách thức cho cácquốc gia, nhất là các nước đang phát triển” Theo xu thế chung của thế giới, Việt Nam

đã và đang từng bước cố gắng chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

Hòa vào dòng chảy của toàn cầu hóa, Khu vực Thương mại Tự do ASEAN(AFTA) đã và đang là một thị trường tiềm năng lớn mở ra nhiều cơ hội cho thươngmại hàng hóa của Việt Nam Nhận thấy được tính cấp thiết, nhóm 10 chúng em xin lựachọn đề tài thảo : “Tìm hiểu về khu vực thương mại tự do ASEAN” để có cái nhìntổng quát nhất về AFTA

Bài thảo luận hoàn thành dựa trên quý trình tìm hiểu, thu thập thông tin và vậndụng những kiến thức đã học để có những đánh giá khách quan nhất tới vấn đề chínhcủa đề tài

Bài thảo luận của nhóm gồm 3 phần chính:

Chương 1: Quá trình hình thành và phát triển khu vực thương mại tự do

ASEAN

Chương 2: Quá trình tự do hóa thương mại trong khu vực AFTA.

Chương 3: Những cơ hội, thách thức của AFTA tới Việt Nam.

Trang 4

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KHU VỰC THƯƠNG MẠI TỰ DO.

1.1 Hoàn cảnh ra đời của AFTA.

Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN ( AFTA là cụm từ viết tắt của ASEAN FreeTrade Area ) là một hiệp định thương mại tự do (FTA) đa phương giữa các nước trongkhối ASEAN Theo đó, sẽ thực hiện tiến trình giảm dần thuế quan xuống 0-5%, loại

bỏ dần các hàng rào thuế quan đối với đa phần các nhóm hàng và hài hòa hóa thủ tụchải quan giữa các nước

Vào đầu những năm 90, khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, những thay đổi trongmôi trường chính trị, kinh tế quốc tế và khu vực đã đặt kinh tế các nước ASEAN trướcnhững thách thức to lớn không dễ dàng vượt qua nếu không có sự liên kết chặt chẽ và

nỗ lực của toàn hiệp hội, những thách thức đó là:

biệt trong lĩnh vực thương mại, chủ nghĩa bảo hộ truyền thống trong ASEANngày càng mất đi sự ủng hộ của các nhà hoạch định chính sách trong nước cũngnhư quốc tế

vực Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ và Khu vực Mậu dịch Tự do châu Âu của EU,NAFTA sẽ trở thành các khối thương mại khép kín, gây trở ngại cho hàng hoáASEAN khi thâm nhập vào những thị trường này

rãi cho các nhà đầu tư nước ngoài, cùng với những lợi thế so sánh về tàinguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực của các nước Trung Quốc, Việt Nam,Nga và các nước Đông Âu đã trở thành những thị trường đầu tư hấp dẫn hơnASEAN, đòi hỏi ASEAN vừa phải mở rộng về thành viên, vừa phải nâng caohơn nữa tầm hợp tác khu vực

Trang 5

- Để đối phó với những thách thức trên, năm 1992, theo sáng kiến của Thái Lan,

Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN họp tại Singapore đã quyết định thành lập mộtKhu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (gọi tắt là AFTA)

1.2 Quá trình hình thành và phát triển của AFTA.

Sáng kiến thành lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) do thủ tưởngThái Lan đưa ra vào năm 1991, sau đó được thủ tướng Singapore ủng hộ Tháng7/1991, Hội nghị Ngoại trưởng ASEAN tại Kualalumpur (Maylaysia) đã hoan nghênhsáng kiến này mặc dù có nhiều nước còn tỏ ra de dặt Hội nghị Bộ trưởng Kinh tếASEAN lần thứ 23 tháng 10/1991 đã nhất trí thành lập Khu vực mậu dịch tự doASEAN và Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ IV vào ngày 28 tháng 1 năm 1992 họptại Singapore quyết định thành lập AFTA

và Thái Lan Sau đó, từ năm 1995 đến 1998, ASEAN kết nạp thêm 4 nước thành viênmới là Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanmar

tháng 1 năm 1993 và hoàn thành vào năm 2008 Nhưng do yêu cầu đẩy nhanh tốc độphát triển, đầu tháng 7 năm 1994, Hội nghị Bộ trưởng kinh tế lần thứ 26 tháng 9 năm

1994 tại Chiềng Mai quyết định rút thời hạn xuống 10 năm, tức là hoàn thành vào năm

2003

tựu lớn nhất mà ASEAN đạt được trong suốt 25 năm tồn tại đầu tiên là hợp tác tronglĩnh vực chính trị quốc tế và an ninh nội bộ của các nước thành viên Tuy đã có rấtnhiều nỗ lực để thúc đẩy hợp tác kinh tế trong ASEAN, nhưng kết quả của những nỗlực đó không đạt được những mục tiêu mong đợi Chỉ đến năm 1992, khi các nướcthành viên của ASEAN ký kết một Hiệp định về Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN –AFTA thì hợp tác kinh tế các nước ASEAN mới thực sự được đưa lên một tầm mứcmới

ASEAN trong bối cảnh khu vực hoá, toàn cầu hoá Song với tư cách là một tổ chức

Trang 6

hợp tác kinh tế có thể chế, AFTA dường như là một dạng của “mô hình phát triển rútngắn” của kiên kết kinh tế khu vực AFTA hình thành trước tiên chỉ như là một hiệpđịnh khung, có phần hơi đơn giản; còn các nội dung và lịch trình của hiệp định lại chỉđược soạn thảo, sửa đổi và bổ sung đồng thời với tiến trình tổ chức và thực hiệnchúng

quả tất yếu của những chuyển động về hợp tác kinh tế ASEAN và là bước đánh dấu sựchú trọng trở lại với các kế hoạch phát triển kinh tế mà các lĩnh vực ưu tiên chủ yếu làsản xuất và cung ứng các hàng hoá cơ bản, phát triển các xí nghiệp công nghiệp lớn,thực hiện các thoả thuận thương mại ưu đãi và phát triển các quan hệ kinh tế đốingoại Việc thành lập AFTA sẽ mở ra một thị trường tự do rộng lớn và dồi dào tiềmnăng ở khu vực Đông Nam Á Tham gia AFTA, các nước ASEAN sẽ liên kết với nhau

để phát triển kinh tế chặt chẽ hơn và rút ngắn khoảng cách về sự phát triển giữa cácquốc gia thành viên, nâng cao vai trò của ASEAN trong khu vực và trên thế giới

lực chung (CEPT) Để biến ASEAN thành khu vực mậu dịch tự do và thực hiện cácmục tiêu của AFTA thì các nớc thành viên đã kí kết CEPT, đây là động lực quan trọngnhất Chương trình này được bắt đầu thực hiện từ tháng 02/1993:

Nội dung của CEPT là trong vòng 10 năm (1993-2003) giảm thuế quan trongthơng mại nội bộ Asean xuống còn từ 0- 5% đối với sáu nớc thành viên cũ Asean, vàonăm 2006 đối với Việt Nam và muộn hơn với Lào, Campuchia đồng thời loại bỏ tất cảcác hạn chế về định lượng và các hàng rào phi thuế quan

Bên cạnh việc cắt giảm thuế quan, CEPT còn quy định việc xoá bỏ hạn chế về

số lượng nhập khẩu, các rào cản phi thuế quan khác và lĩnh vực hợp tác trong lĩnh vựchải quan Hiệp định CEPT áp dụng mọi sản phẩm chế tạo kể cả sản phẩm nông sản

1.3 Mục tiêu chính của AFTA.

Trang 7

Tăng cường trao đổi buôn bán trong nội bộ khối bằng việc loại bỏ các hàng rào thuế quan và phi thuế quan giữa các nước ASEAN

Đây là mục tiêu quan trọng nhất của AFTA Bởi lẽ các nước thành viênASEAN đều có nền kinh tế hướng ngoại dựa vào xuất khẩu với tỉ trọng mậu dịch vớicác nước ngoài khối khoảng 77% trong đó Mỹ chiếm khoảng 20%, Nhật 14% và EU15% trong khi đó tỉ trọng mậu dịch nội bộ khối chỉ chiếm khoảng 23% theo số liệuthống kê trung bình từ năm 1993 là năm bắt đầu thực hiện Hiệp định CEPT đến năm

1998 Thêm vào đó cơ cấu hàng hoá xuất nhập khẩu của các nước ASEAN tương đốigiống nhau vì các nền kinh tế ASEAN chủ yếu đều là các nền kinh tế đang phát triển

có các điều kiện và nhu cầu xuất nhập khẩu tương đối giống nhau Vì vậy kim ngạchthương mại chịu ảnh hưởng trực tiếp của AFTA sẽ không lớn Về mặt này, AFTA sẽkhông thể so được với các thoả thuận thương mại khu vực khác như EU hay NAFTAtrong đó có sự liên kết giữa các nền kinh tế rất phát triển với những nền kinh tế kémphát triển hơn như trường hợp của Mỹ và Mexico Tuy nhiên mục tiêu này nhằm thúcđẩy sự hợp tác kinh tế trong nội bộ ASEAN Thông qua AFTA, tạo ra một thị trườngchung ASEAN mà trong đó các nước thành viên được hưởng ưu đãi hơn so với cácnước không thuộc Hiệp hội Từng bước, tiến tới xoá bỏ về cơ bản thuế nhập khẩuhàng hoá thuộc các nước thành viên ASEAN với nhau, nhưng vẫn giữ nguyên thuếnhập khẩu đối với hàng hoá của các nước khác

Như vậy, với mục tiêu thúc đẩy buôn bán giữa các nước trong khu vực thôngqua chế độ ưu đãi thuế quan, AFTA sẽ tăng sức cạnh tranh của hàng hoá ASEAN trênthương trường thế giới

Thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào khu vực bằng việc đưa ra một khối thị trường thống nhất – xây dựng khu vực đầu tư ASEAN (AIA)

Mục tiêu của AFTA là biến các nước ASEAN thành khu vực hợp tác kinh tếthông qua việc thực hiện các chương trình kinh tế mà quan trọng nhất là chương trình

ưu đãi thuế quan (CEPT) Mục tiêu trung tâm này góp phần làm tăng cường năng lựckinh tế của các nước thành viên ASEAN nhằm tạo ra sức mạnh để tự bảo vệ mình và

Trang 8

vươn lên trong sự cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn của nền kinh tế Thế giới, tăng sứchấp dẫn của môi trường đầu tư nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài.

Mục tiêu của AIA là xây dựng một khu vực đầu tư ASEAN thông thoáng, rõràng và hấp dẫn nhất nhằm đẩy mạnh đầu tư vào ASEAN từ cả các nguồn trong vàngoài Hiệp hội Tinh thần của AIA là muốn các nước thành viên “mở cửa ngay lậptức” các ngành nghề và “dành ngay lập tức” chế độ đối xử quốc gia

Đầu tư trực tiếp vào các nước ASEAN sẽ tăng vì kết quả trao đổi mậu dịch giữacác quốc gia này sẽ tăng theo AFTA và do đó, sẽ kích thích các công ty Nhật, Mỹ, EU

và NIEs đầu tư nhiều hơn để giữ thị trường này thay vì trước đây họ thường cung ứng

từ các cơ sở sản xuất ngoài ASEAN Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào ASEAN

sẽ tăng nhờ sự lớn mạnh của chính thị trường khu vực ASEAN và theo đó, sẽ ngàycàng có nhiều dự án đầu tư trực tiếp nhằm cung cấp sản phẩm cho các thị trường này.Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này, các thành viên ASEAN còn phải nỗ lực cải thiệnmôi trường đầu tư và thông qua AFTA làm cho các môi trường đầu tư của ASEAN trởnên hấp dẫn hơn so với các khu vực khác Vấn đề đáng lưu ý là ASEAN cần phải đónbắt được các dòng đầu tư quốc tế đang trong xu hướng chuyển mạnh từ các khu vực

Âu, Mỹ trở lại châu Á Dĩ nhiên, đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ASEAN không phải

là một hiện tượng mới, song những tác động của tiến trình AFTA sẽ nâng cao và thúcđẩy chúng khởi sắc Với định hướng phát triển ra ngoài khu vực trên cơ sở liên kết thịtrường bên trong AFTA, ASEAN hoàn toàn có thể hy vọng tới khả năng đẩy mạnh thếthương lượng cạnh tranh về thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài

Hướng ASEAN thích nghi với những điều kiện kinh tế quốc tế đặc biệt là xu thế

tự do hoá thương mại thế giới

Chương trình CEPT là sẽ đưa ASEAN AFTA trở thành một khu vực mở và là

sự phản ứng đáp lại với các mô hình bảo hộ mậu dịch ở cả trong và ngoài khu vực.Hay nói cách khác mục tiêu này liên quan đến sự đáp ứng của ASEAN đối với xuhướng đang gia tăng của chủ nghĩa khu vực trên thế giới Trước những biến động củabối cảnh quốc tế, AFTA buộc phải đẩy nhanh tiến độ thực hiện và tương lai có thểkhông chỉ dừng lại ở một khu vực mậu dịch hay liên minh quan thuế mà sẽ tiếp tục

Trang 9

được phát triển thành một liên minh tiền tệ, một liên minh kinh tế Nhờ tăng buôn bántrong và ngoài khu vực, AFTA sẽ trợ giúp cho các quốc gia thành viên ASEAN thíchứng được với chế độ thương mại đa biên đang tăng lên ngày càng nhanh chóng, hoànhập với xu thế thương mại chung của thế giới.

1.4 Các nội dung chính của AFTA.

Mục tiêu chiến lược của Hiệp định AFTA là tăng cường năng lực sản xuất vàkhả năng cạnh tranh của ASEAN, thúc đẩy hiệu quả kinh tế trong một thị trường và cơ

sở sản xuất đơn nhất Trên cơ sở đó, nội dung cơ bản của AFTA là Chương trình ưuđãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) với ba vấn đề chủ yếu, không tách rời là cắtgiảm thuế, loại bỏ các hàng rào phi thuế và hài hòa các thủ tục hải quan

1.4.1 Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung – CEPT

Về thuế quan, ban đầu, các nước thống nhất sẽ cắt giảm thuế quan trong nội bộASEAN xuống mức từ 0-5% trong giai đoạn 15 năm, tức là hoàn thành vào năm 2008.Tuy nhiên, vào tháng 9 năm 1994, tại Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN lần thứ 26,các nước ASEAN quyết định đẩy tiến độ thực hiện AFTA sớm hơn 5 năm Theo đó,sáu nước thành viên cũ là Bru-nây, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Phi-líp-pin, Xinh-ga-po

và Thái Lan sẽ hoàn thành CEPT vào ngày 1 tháng 1 năm 2003 Bốn nước tham giaAFTA sau là Cam – pu – chia, Lào, Mi – an – ma và Việt Nam sẽ có thời hạn hoànthành CEPT muộn hơn

Cũng xuất phát từ hoàn cảnh đặc biệt của từng quốc gia thành viên mà CEPTcòn quy định danh mục các sản phẩm tạm thời chưa tham gia giảm thuế (còn gọi làdanh mục loại trừ tạm thời) để tạo điều kiện thuận lợi cho các nước này Các sản phẩmtrong danh mục này sẽ không được hưởng nhượng bộ từ các nước thành viên và chỉtồn tại mang tính chất tạm thời, nghĩa là sau 5 năm, chúng sẽ buộc phải chuyển sangdanh mục giảm thuế theo hai kênh đồng tuyến đã định Do đó, kể từ 1/1/1996 đến1/1/2000, danh mục loại trừ tạm thời sẽ phải chuyển sang danh mục giảm thuế theoCEPT bình quân 20% mỗi năm Dĩ nhiên, loại danh mục này không nhiều, chỉ chiếmkhoảng 8% tổng số các danh mục tham gia giảm thuế

Trang 10

Xét một cách tổng quát, cấu trúc CEPT bao gồm 3 danh mục chính: danh mụcgiảm thuế, danh mục các sản phẩm tạm thời chưa giảm thuế và danh mục các sảnphẩm nông nghiệp chưa qua chế biến Tuy nhiên, để vận dụng đúng hơn về CEPT, cácthành viên ASEAN đã thống nhất xây dựng một danh mục loại trừ hoàn toàn một sốsản phẩm ra khỏi lịch trình giảm thuế theo CEPT, tức là việc cắt giảm thuế đối vớinhững sản phẩm này sẽ không được áp dụng theo các quy định của CEPT Đó lànhững sản phẩm có ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, đạo đức xã hội, cuộc sống và sứckhoẻ con người, đến việc bảo tồn các giá trị văn hoá nghệ thuật, các di tích lịch sử,khảo cổ …

Khi vận dụng CEPT, không được quên một điều kiện bổ sung cho cơ chế giảmthuế theo CEPT, đó là những nhượng bộ trao đổi giữa các quốc gia ASEAN khi thựchiện CEPT trên các nguyên tắc có đi có lại Nguyên tắc này bắt buộc các nước thànhviên để được hưởng ưu đãi về thuế quan của nhau khi xuất khẩu theo CEPT cần đảmbảo đúng các yêu cầu sau đây: thứ nhất, sản phẩm đó phải nằm trong danh mục cắtgiảm thuế của cả nước xuất khẩu và nước nhập khẩu và phải có mức thuế quan tối đa

là 20%; thứ hai, sản phẩm đó phải có chương trình giảm thuế được Hội đồng AFTAthông qua và thứ ba, sản phẩm đó phải là những sản phẩm có hàm lượng xuất xứ từcác nước thành viên ASEAN với ít nhất là 40% Nếu một sản phẩm đảm bảo được bayêu cầu đó, chúng sẽ được hưởng ưu đãi hoàn toàn từ phía các quốc gia nhập khẩu Đểxác định các sản phẩm có đủ điều kiện hưởng thuế quan ưu đãi theo chương trìnhCEPT hay không, mỗi nước thành viên hàng năm phải công bố “tài liệu trao đổi ưuđãi CEPT” trong đó cần thể hiện được mức thuế quan của các sản phẩm theo CEPT vàcác sản phẩm có đủ điều kiện ưu đãi

1.4.2 Huỷ bỏ hạn chế về định lượng hàng rào phi quan thuế

Đây là cơ chế quan trọng thứ hai được tiến hành đồng thời với thực hiệnchương trình CEPT Các nước thành viên ASEAN sẽ xoá bỏ tất cả các hạn chế về sốlượng đối với các sản phẩm CEPT trên cơ sở chế độ ưu đãi thuế quan được áp dụngcho các sản phẩm đó Các hàng rào phi quan thuế khác cũng sẽ được xoá bỏ dần dầntrong vòng 5 năm sau khi sản phẩm được hưởng ưu đãi Đây là sự hỗ trợ cực kỳ quantrọng cho tiến trình AFTA vì lẽ cắt giảm thuế là biện pháp cần thiết, đầu tiên song đó

Trang 11

không phải là biện pháp duy nhất để thực hiện tự do hoá thương mại Các khía cạnhnhư: các kênh giảm thuế đồng tuyến, danh mục loại trừ tạm thời, danh mục hàng nôngnghiệp chưa qua chế biến… tạo nên tính kỹ thuật của chính sách tự do hoá thươngmại, còn cấu thành nên sự tác động có tính chất hành chính, pháp lý giữa các quốc giatrong tiến trình chu chuyển thương mại đó là các biện pháp về giấy phép xuất nhậpkhẩu, hạn ngạch, các hạn chế về tỷ giá hối đoái, các biện pháp về tiêu chuẩn kỹ thuậthàng hoá… Đây là những rào cản trong thực tiễn hoạt động thương mại, nó gắn chặtvới các chính sách bảo hộ mậu dịch nặng nề và theo đó, việc loại bỏ chúng sẽ không

dễ dàng nếu không có sự cải cách toàn diện ở tầm vĩ mô nền kinh tế của từng nước.Hơn nữa, hiện nay, những biện pháp này còn rất không đồng nhất giữa các nước thànhviên ASEAN

1.4.3 Sự phối hợp trong ngành hải quan

Việc đảm bảo thông thoáng, minh bạch các thủ tục hải quan, tạo thuận lợi chothương mại cũng là một nội dung cần thực hiện khi thiết lập khu vực thương mại tự doASEAN Để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sản xuất và xuất nhập khẩu ASEANtiến hành buôn bán trong nội bộ khu vực và để các cơ quan Hải quan các nước dễdàng xác định mức thuế cho các mặt hàng, ASEAN đã thống nhất một biểu thuế quanchung (AHTN) trên cơ sở Hệ thống hài hoà (HS) của Cơ quan hải quan thế giới(WCO) Biểu AHTN này được sửa đổi 5 năm một lần nhằm rà soát, cập nhật chínhxác các mặt hàng đang được trao đổi, buôn bán trong khu vực ASEAN đã xây dựngBiểu AHTN 2012 để bắt đầu chính thức áp dụng từ đầu năm 2012 Mẫu tờ khai hảiquan chung của khu vực đối với các hàng hóa thuộc diện được hưởng thuế suất CEPTcũng đã được thống nhất; các thủ tục hải quan được đơn giản và minh bạch hóa đểviệc trao đổi thương mại diễn ra nhanh chóng, thuận tiện

Trên cơ sở thực hiện Hiệp định CEPT với các nước ASEAN, thời gian vừa quaViệt Nam đã đạt được nhiều thuận lợi về thương mại với các nước ASEAN, điều dótạo điều kiện để kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam tăng nhanh chóng Khu vựccác nước ASEAN đã và sẽ ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong mối quan hệthương mại với Việt Nam

Trang 12

CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH TỰ DO HÓA THƯƠNG MẠI TRONG KHU VỰC AFTA.

2.1 Chương trình hợp tác thương mại.

2.1.1 Thoả thuận ưu đãi thương mại (PTA)

Chương trình đầu tiên nhằm tự do hoá và đẩy mạnh thương mại nội bộ ASEAN

là Thoả thuận Ưu đãi Thương mại (PTA) được đưa vào thực hiện từ năm 1977.Chương trình này mới chỉ mang lại một số kết quả hạn chế trong việc thúc đẩy thươngmại giữa các nước ASEAN vì nó chỉ quy định giảm thuế thương mại trong nội bộ khuvực ở một mức độ nhất định chứ chưa thực hiện xoá bỏ gần như hoàn toàn các hàngrào thuế quan cũng như phi thuế cản trở thương mại

2.1.1 Chương trình Ưu đãi Thuế quan có Hiệu lực chung (CEPT):

Khung thời gian thực hiện: Theo quy định của Hiệp định, các nước thành viênASEAN sẽ thực hiện lịch trình cắt giảm thuế nhập khẩu hàng hoá của mình xuống 0-5% trong vòng 15 năm, bắt đầu từ 1/1/1993 và hoàn thành vào 1/1/2008

Tuy nhiên, trước xu hướng tự do hoá thương mại toàn cầu đang được thúc đẩymạnh mẽ, tháng 9/1994 ASEAN đã quyết định đẩy nhanh quá trình tự do hoá thươngmại trong khu vực bằng việc rút ngắn thời hạn hoàn thành AFTA xuống còn 10 năm,tức là vào năm 2003

Đối với Việt Nam, vì tham gia thực hiện Chương trình CEPT chậm hơn cácnước thành viên khác 3 năm (bắt đầu từ 1/1/1996), thời hạn hoàn thành là 2006 Cácthành viên mới là Lào và Myanmar bắt đầu thực hiện chương trình từ 1/1/1998 và sẽkết thúc vào 1/1/2008

Hiện nay trong ASEAN có xu hướng thúc đẩy nhanh hơn nữa việc hoàn thànhAFTA vào năm 2000 để thúc đẩy thương mại trong nội bộ khối nhằm đáp lại tháchthức của các khu vực kinh tế khác

Trang 13

Ban đầu, Chương trình CEPT chỉ được áp dụng đối với các sản phẩm côngnghiệp chế biến, tư liệu sản xuất và nông sản đã chế biến, loại trừ nông sản chưa chếbiến là những mặt hàng nhạy cảm của các nước ASEAN và các sản phẩm mà các nướccho là cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ đạo đức xã hội, bảo vệ sức khoẻ vàcuộc sống của con người và động thực vật, bảo vệ các tác phẩm có giá trị nghệ thuật,lịch sử và khảo cổ học Tuy nhiên, Hội nghị các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN (AEM)lần thứ 26 (9/1994) đã quyết định đưa nông sản chưa chế biến vào thực hiện Chươngtrình CEPT với những quy định đặc biệt riêng về thời hạn bắt đầu và kết thúc cắt giảmthuế, mức thuế suất bắt đầu và khi hoàn thành cắt giảm,

Để thực hiện Chương trình CEPT, các nước thành viên phân loại các sản phẩm trongdanh mục biểu thuế thành 4 danh mục:

giảm)

và Danh mục nông sản chưa chế biến nhạy cảm cao (gọi tắt là Danh mục nhạycảm cao), và Danh mục loại trừ hoàn toàn là danh mục các sản phẩm sẽ khôngđược đưa vào tham gia AFTA vì các lý do bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ đạođức xã hội, bảo vệ sức khoẻ và cuộc sống của con người và động thực vật, bảo

vệ các tác phẩm có giá trị nghệ thuật, lịch sử và khảo cổ học Danh mục cắtgiảm ngay gồm các sản phẩm mà các nước thành viên đã sẵn sàng cắt giảmthuế Việc cắt giảm thuế của các sản phẩm thuộc Danh mục này được chiathành 2 lộ trình: lộ trình cắt giảm bình thường và lộ trình cắt giảm nhanh

Lộ trình cắt giảm bình thường: Việc cắt giảm thuế xuống 0-5% sẽ được thực

hiện trong vòng 10 năm Đối với các sản phẩm có thuế suất lớn hơn 20%, trong vòng

5 năm đầu thuế suất phải được giảm xuống 20%, mỗi năm cắt giảm một lượng nhưnhau, để từ đó cắt giảm xuống 0-5% trong 5 năm còn lại

Trang 14

Lộ trình cắt giảm nhanh: Hội nghị Thượng đỉnh lần thứ tư đã xác định 15

nhóm mặt hàng cần cắt giảm thuế nhanh trong vòng 7 năm, đó là: dầu thực vật, hoáchất, phân bón, sản phẩm cao su, giấy và bột giấy, đồ gỗ và song mây, đá quý và đồtrang sức, xi-măng, dược phẩm, chất dẻo, các sản phẩm bằng da, hàng dệt, các sảnphẩm gốm và thuỷ tinh, điện cực đồng, hàng điện tử Việt nam không tham gia lộ trìnhcắt giảm nhanh

Danh mục loại trừ tạm thời là danh mục gồm các sản phẩm mà các nước chưasẵn sàng cắt giảm thuế ngay Trong vòng 5 năm, kể từ 1/1/1996 (đối với Việt Nam là1/1/1999), mỗi năm 20% số sản phẩm trong Danh mục này phải được chuyển vàodanh mục cắt giảm thuế Đối với các sản phẩm có thuế suất trên 20% và được chuyểnsang Danh mục cắt giảm trước 1/1/1998, đến 1/1/1998 thuế suất phải được giảmxuống 20% Đối với các sản phẩm được chuyển sang Danh mục cắt giảm sau1/1/1998, thuế suất khi đưa vào phải được giảm xuống dưới 20%, để từ đó giảm tiếpxuống 0-5% Việc đưa các mặt hàng nông sản chưa chế biến loại trừ tạm thời vào cắtgiảm thuế được bắt đầu từ 1/1/1997 (đối với Việt Nam là 1/1/2000)

Danh mục nhạy cảm gồm các mặt hàng nông sản chưa chế biến mà từng nướccho là nhạy cảm đối với nền kinh tế của mình, không đưa vào diện cắt giảm thuế ngay.Các mặt hàng này lại được chia thành 2 loại: nhạy cảm và nhạy cảm cao Theo quyếtđịnh của Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế ASEAN lần thứ 26, việc cắt giảm thuế và loại bỏhàng rào phi thuế đối với các mặt hàng này được thực hiện theo quy chế đặc biệt: thuếsuất cuối cùng cũng sẽ là 0-5%, thời hạn đưa vào cắt giảm thuế sẽ bắt đầu từ 1/1/2001(đối với Việt Nam là 1/1/2004) Thời hạn hoàn thành giảm thuế xuống 0-5% là1/1/2010 (đối với Việt Nam là 1/1/2013) Hiện nay các nước ASEAN đang tiến hàngthảo luận để xác định mức thuế khi bắt đầu tiến hành cắt giảm Các nước đang cânnhắc giữa 2 lựa chọn:thuế suất hiện tại đang áp dụng hay là thuế suất giới hạn trầncam kết tại Tổ chức Thương mại Thế giới

Danh mục nhạy cảm cao chủ yếu gồm các mặt hàng gạo và đường Các nướcđược linh hoạt xác định lộ trình cắt giảm và thuế suất cuối cùng cho các mặt hàng này.Việt Nam không có Danh mục này

Trang 15

Nguyên tắc hưởng ưu đãi có đi có lại:

Để được hưởng những ưu đãi về thuế nhập khẩu theo Chương trình CEPT, cácsản phẩm cần phải thoả mãn nguyên tắc có đi có lại, tức là: một sản phẩm muốn đượchưởng ưu đãi thuế nhập khẩu phải là sản phẩm đồng thời có trong danh mục cắt giảmthuế của cả nước xuất khẩu và nhập khẩu, và sản phẩm đó phải có thuế suất dưới 20%.Đồng thời, để được hưởng ưu đãi sản phẩm đó phải thoả mãn quy chế xuất xứASEAN, tức là sản phẩm đó phải có ít nhất 40% thành phần của nó có xuất xứ từ cácnước ASEAN

Loại bỏ hàng rào phi quan thuế:

Ngay sau khi một sản phẩm được hưởng ưu đãi thuế quan theo như quy địnhnói trên, các quy định hạn chế định lượng như hạn ngạch số lượng, hạn ngạch giá trịnhập khẩu, giấy phép nhập khẩu có tác dụng hạn chế định lượng, đối với sản phẩm đó

sẽ được loại bỏ hoàn toàn 5 năm sau khi một sản phẩm được hưởng ưu đãi thuế quan,các biện pháp phi thuế khác (NTBs) cũng sẽ được loại bỏ Tuy nhiên, thời hạn muộnnhất là 2003 (đối với Việt Nam là 2006)

Hợp tác để thống nhất các tiêu chuẩn và sự phù hợp:

Cũng là một nội dung quan trọng góp phần thúc đẩy thương mại giữa các nước.Các nước ASEAN tăng cường minh bạch hoá các tiêu chuẩn và sự phù hợp của cácsản phẩm và theo các tiêu chuẩn quốc tế, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho việccông nhận lẫn nhau các tiêu chuẩn và sự phù hợp trên cơ sở song biên hoặc nhiều bên

2.2 Chương trình hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp

Hợp tác ASEAN trong lĩnh vực nông nghiệp bắt đầu từ năm 1968, với hợp tácsản xuất và cung cấp lương thực và mục tiêu chủ yếu là đảm bảo nguồn cung cấp thựcphẩm giữa các nước trong nội khối Năm 1977, phạm vi hợp tác được mở rộng baogồm cả khu vực nông nghiệp và lâm nghiệp lớn hơn do nhu cầu ngày càng tăng Tạithời điểm này, tất cả các hoạt động được điều phối bởi Ủy ban Lương thực, Nôngnghiệp và Lâm nghiệp (COFAF) Tuy nhiên, cùng với bốn ủy ban kinh tế khác,COFAF đã bị giải thể và nhiệm vụ của nó được chuyển giao cho SEOM

Trang 16

Với việc thông qua hiệp định về Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) vàonăm 1992, hợp tác ASEAN trong lĩnh vực lương thực, nông nghiệp và lâm nghiệp đãhướng tới việc tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện thương mại nội khối ASEANđối với các sản phẩm nông nghiệp chưa qua chế biến.

Đến nay, các chương trình hợp tác trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp vàlương thực thực phẩm bao gồm các chương trình về các lĩnh vực:

nhằm giúp đỡ nhau khi xảy ra tình hình cấp bách

Với mục tiêu xây dựng và triển khai các hoạt động hợp tác khu vực nhằm nângcao khả năng cạnh tranh quốc tế của các sản phẩm lương thực, nông, lâm sản củaASEAN cũng như tăng cường hơn nữa thỏa thuận an ninh lương thực của khu vực và

vị thế chung trên các diễn đàn quốc tế, các kế hoạch Chiến lược về hợp tác ASEANtrong lĩnh vực lương thực và nông nghiệp sẽ tuân thủ chặt chẽ các lĩnh vực hợp tác ưutiên được xác định trong Thỏa thuận cấp Bộ trưởng năm 1993 về Hợp tác ASEAN vềLương thực, Nông nghiệp và Lâm nghiệp, nhưng chú trọng nhiều hơn vào việc tăngcường các thỏa thuận an ninh lương thực trong khu vực, nâng cao tính quốc tế nănglực cạnh tranh của lĩnh vực nông nghiệp và thực phẩm và tăng cường vị thế chung củaASEAN trên các diễn đàn quốc tế Hợp tác nông nghiệp, thực phẩm, nông nghiệpđược điều hành bởi Hội Nghị Bộtrưởng Nông nghiệp và Lâm Nghiệp ASEAN(ASEAN Ministers on Agriculture and Forestry - AMAF) Ngoài ra, còn có sự trợgiúp của SOM, và các tiểu ban phụ như Hội nghị, Nhóm thư kí, Ban điều hành đểsoạn thảo các chính sách và thực hiện các hoạt đông được ra trong khung thời giancho phép Trong một số năm gần đây, AMAF còn được tổ chức dưới hình thức AMAF+3, nhằm đẩy mạnh hợp tác ngoài khu vực với các đối tác khác

Ngày đăng: 23/12/2023, 18:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm