Tất cả những giá trị văn hóa đó được tái hiện thông qua các hiện vật trưng bày, từ các chủ đề về lịch sử hình thành phát triển, về lịch sử chiến tranh, về các nền văn hóa độc đáo của các
Trang 1Nguyễn Hoàng Hưng
NGHỆ THUẬT TRƯNG BÀY BẢO TÀNG Ở VIỆT NAM (NGHIÊN CỨU: BẢO TÀNG LỊCH SỬ QUỐC GIA, BẢO TÀNG LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM, BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT
Hà Nội - 2022
Trang 2Nguyễn Hoàng Hưng
NGHỆ THUẬT TRƯNG BÀY BẢO TÀNG Ở VIỆT NAM (NGHIÊN CỨU: BẢO TÀNG LỊCH SỬ QUỐC GIA, BẢO TÀNG LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM, BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM)
Ngành: Lý luận và lịch sử mỹ thuật
Mã số: 9210101
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS Trương Quốc Bình
Hà Nội – 2022
Trang 3Việt Nam, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam) là công trình nghiên cứu do tôi viết
Các trích dẫn, kết quả nghiên cứu nêu trong luận án này là trung thực và có xuất xứ rõ ràng
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Hà Nội, ngày tháng năm 2022
Tác giả luận án
Nguyễn Hoàng Hưng
Trang 4
DANH MỤC CÁC HÌNH TRONG LUẬN ÁN iv
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 10
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 10
1.2 Cơ sở lý luận của đề tài 24
1.3 Khái quát về nghệ thuật trưng bày bảo tàng trên thế giới và ở Việt Nam 59
Tiểu kết 65
Chương 2 HÌNH THỨC BIỂU HIỆN CỦA NGHỆ THUẬT TRƯNG BÀY Ở BẢO TÀNG LỊCH SỬ QUỐC GIA, BẢO TÀNG LỊCH SỬ QUÂN SỰ VIỆT NAM, BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VIỆT NAM 67
2.1 Nghệ thuật trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử Quốc gia 67
2.2 Nghệ thuật trưng bày ở Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam 87
2.3 Nghệ thuật trưng bày ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam 99
Tiểu kết 67
Chương 3 NHỮNG BÀN LUẬN VÀ XU HƯỚNG NGHỆ THUẬT TRƯNG BÀY BẢO TÀNG Ở VIỆT NAM 116
3.1 Bàn luận về trưng bày bảo tàng Việt Nam và những vấn đề đặt ra cho nghệ thuật trưng bày bảo tàng ở Việt Nam 116
3.2 Bàn luận về vai trò của nghệ thuật trưng bày trong bảo tàng 127
3.3 Xu hướng của nghệ thuật trưng bày bảo tàng ở Việt Nam 133
Tiểu kết 164
KẾT LUẬN 167
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 172
TÀI LIỆU THAM KHẢO 173
Trang 5BTLSQG : Bảo tàng Lịch sử Quốc gia
Trang 6h.2 Mặt bằng nối với nhau liên tục bằng hành lang 42
h.3 Mặt bằng nối với nhau bằng hành lang nhà cầu 43
h.4 Mặt bằng có cấu trúc nhiều sảnh 44
h.5 Mặt bằng có cấu trúc một phòng trung tâm 44
h.6 Mặt bằng có cấu trúc không có hành lang 45
h.7 Mặt bằng có cấu trúc bê tông hình xoáy ốc 45
Trang 7hình thức và quy mô xây dựng khác nhau do nhu cầu của xã hội của từng quốc gia Bảo tàng được ra đời xuất phát từ nhu cầu của cuộc sống và phục vụ rất đắc lực cho cuộc sống của con người Bảo tàng là một thiết chế văn hóa được quan tâm chú trọng phát triển nhằm quảng bá lịch sử và văn hóa, là niềm tự hào của mỗi một quốc gia trên thế giới Hệ thống bảo tàng ở Việt Nam hình thành từ sớm, phong phú và có số lượng bảo tàng khá nhiều so với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, theo thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đăng trên cổng thông tin điện tử ngày 08 tháng 02 năm 2019, Việt Nam có 162 bảo tàng, trong đó có 126 bảo tàng công lập và 36 bảo tàng ngoài công lập Mặc dù có nhiều bảo tàng, nhưng có ít bảo tàng có NTTB hiện đại, vẫn thiếu sự hấp dẫn, thu hút với khách tham quan Do đó việc nâng cấp các bảo tàng, phát triển đổi mới trong trưng bày bào tàng ở nước ta hiện nay cả về lượng và chất là một nhu cầu cần thiết
1.2 Vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trong những năm gần đây được các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu khoa học đặc biệt quan tâm và chú trọng hơn Di sản văn hóa là cội rễ của bản sắc văn hóa, là tài sản vô giá của mỗi dân tộc mỗi quốc gia chính vì vậy việc bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi văn hóa được xem là nguồn lực nội sinh quan trọng trong quá trình phát triển bền vững đất nước Nói về vấn đề này Giáo sư Trương Quốc Bình thành viên Hội đồng Di sản Văn hóa quốc gia đã nhận định “Việc bảo tồn các di sản văn hóa là một trong những hoạt động gắn liền với việc bảo
vệ và phát huy bản sắc dân tộc - tạo dựng sự phát triển của tương lai của mỗi dân tộc từ những mối liên kết đặc thù của quá khứ và hiện tại” [27, tr.33]
Trang 8quả nhất, vậy muốn truyền tải được bản sắc văn hóa và các nội dung của bảo tàng đó đến với công chúng trong nước và thế giới, hoạt động sáng tác NTTB sẽ
là phương tiền truyền tải, là cầu nối giữa hiện vật nội dung của bảo tàng tới đông
đảo quần chúng, hay nói theo cách khác NTTB là ngôn ngữ đặc trưng của bảo
tàng, tác giả Đặng Văn Bài, nguyên Cục trưởng Cục Di sản Văn hóa cho rằng
“trưng bày là ngôn ngữ đặc trưng của bảo tàng” [3]
1.3 Thông qua hiện vật trưng bày, là những vật chứng, chứng tích còn lưu lại và đang được giữ gìn tại các bảo tàng, đây là cơ sở để công chúng hiểu sâu sắc hơn về lịch sử và cội nguồn, từ đó giúp công chúng có ý thức nhiều hơn việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc Trên thế giới, mỗi dân tộc, mỗi quốc gia đều có lịch sử phát triển của riêng mình, Việt Nam một đất nước gắn liền với lịch sử chống giặc ngoại xâm, từ thời vua Hùng dựng nước giữ nước, trải qua rất nhiều biến cố với hơn một nghìn năm Bắc thuộc, chiến đấu với quân đội phương Bắc, rồi các cuộc kháng chiến trường kì trong thế kỷ XX… Bên cạnh đó văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất trong đa dạng với những sáng tạo độc đáo của 54 dân tộc Tất cả những giá trị văn hóa đó được tái hiện thông qua các hiện vật trưng bày, từ các chủ đề về lịch
sử hình thành phát triển, về lịch sử chiến tranh, về các nền văn hóa độc đáo của các dân tộc trên đất nước Việt Nam đã được giới thiệu và trưng bày cụ thể trong ba bảo tàng lớn là BTLSQG, BTLSQSVN, BTDTHVN thông qua NTTB được truyền tải đến công chúng một cách rất sinh động, đây là ba bảo tàng mang tính quốc gia thuộc loại hình bảo tàng lịch sử xã hội, mỗi một bảo tàng có đặc điểm và nội dung riêng nhưng đều là những bảo tàng hàng đầu có hệ thống trưng bày đặc trưng và rất tiêu biểu cho ba lĩnh vực là lịch sử hình thành
Trang 9quan trọng nhằm tạo ra sức hấp dẫn đối với công chúng, NTTB bảo tàng cũng như các loại hình nghệ thuật khác, đòi hỏi người họa sỹ thiết kế phải có sự sáng tạo, biết áp dụng phương pháp và giải pháp nghệ thuật, tổ chức không gian trưng bày một cách hợp lý và khoa học cho từng loại hình bảo tàng nhằm chuyển tải được ý tưởng nghệ thuật cũng như nội dung trưng bày của bảo tàng Trong những năm gần đây, vấn đề NTTB bảo tàng mới được đề cập đến nhiều, tuy nhiên chưa có công trình nào có những đánh giá, tổng kết từ đó đưa
ra được những giải pháp có tính lý luận, với loại hình nghệ thuật này Do đó cần hình thành một công trình khoa học đầy đủ, cụ thể và khách quan về các biểu hiện, đặc trưng về NTTB, để góp phần vào việc hoàn thiện các hoạt động của bảo tàng Việt Nam hiện nay
1.5 Với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ngành bảo tàng Việt Nam cũng cần có một sức sống mới, một mô hình trưng bày mới, vấn đề này cũng đưa ra nhiều thách thức với hệ thống bảo tàng Việt Nam Nếu không cập nhật những cái mới, những công nghệ mới của các nước tiên tiến trên thế giới thì bảo tàng tại Việt Nam sẽ tụt hậu, không đáp ứng đưoc sự phát triển chung của xã hội, nhu cầu hưởng thụ văn hóa với trình độ dân trí cao của số đông công chúng tham quan Chính vì vậy việc nắm bắt, nghiên cứu sáng tác NTTB bảo tàng tại Việt Nam là vấn đề có tính cấp thiết và có ý nghĩa thực tiễn to lớn Do đặc thù công việc liên quan đến thiết kế và thi công các công trình văn hóa, NCS là một họa sỹ thiết kế nội thất đã trực tiếp thiết
kế trưng bày một số bảo tàng trong nước, bản thân luôn học hỏi tìm hiểu
những phong cách trưng bày mới, những xu hướng trưng bày mới, NCS nhận thấy tầm quan trọng của hoạt động sáng tác NTTB và sự cần thiết nghiên cứu
xu hướng thiết kế mới của thế giới ứng dụng vào NTTB bảo tàng ở nước ta
Trang 10bình mỹ thuật lĩnh vực NTTB bảo tàng ở Việt Nam nhìn chung chưa được đề cập đến nhiều Vì vậy nhiệm vụ đặt ra là cần phải hướng tới những tiếp cận mang tính khoa học, áp dụng những thành tựu mới của các nước trên thế giới
để nâng cao chất lượng thẩm mỹ cho NTTB tại các bảo tàng ở Việt Nam
Theo những vấn đề được đặt ra như đã nêu ở trên, nhằm hệ thống một cách cụ thể và rõ ràng, mang tính khoa học qua góc nhìn của nghệ thuật và mỹ
thuật tạo hình không gian trong NTTB bảo tàng, NCS đã lựa chọn đề tài Nghệ
thuật trưng bày bảo tàng ở Việt Nam (Nghiên cứu: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam), để
làm luận án Tiến sĩ ngành Lý luận và lịch sử mỹ thuật trên cơ sở kế thừa những thành quả của các nhà nghiên cứu đi trước, từ những bài học kinh nghiệm thực tế về trưng bày bảo tàng để làm rõ hình thức biểu hiện và vai trò của NTTB trong bảo tàng ở Việt Nam
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu hình thức biểu hiện của NTTB bảo tàng ở Việt Nam Từ đó làm rõ giá trị thẩm mỹ NTTB của BTLSQG, BTLSQSVN, BTDTHVN và xu hướng phát triển thẩm mỹ của NTTB bảo tàng
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các khái niệm và thuật ngữ liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Vận dụng cơ sở lý thuyết để nhận diện hình thức biểu hiện của NTTB bảo tàng ở Việt Nam, làm rõ hình thức biểu hiện NTTB ở BTLSQG, BTLSQSVN, BTDTHVN thông qua các yếu tố cấu thành: cấu trúc mặt bằng, tạo hình nghệ thuật, ánh sáng, hiện vật trưng bày và kỹ thuật công nghệ
Trang 11- Dự đoán xu hướng phát triển của NTTB bảo tàng ở Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là NTTB ở BTLSQG, BTLSQSVN, BTDTHVN
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về không gian: Nghiên cứu NTTB ở các không gian bảo tàng:
BTLSQG, BTLSQSVN, BTDTHVN Đây là ba bào tàng mang tính quốc gia,
có lịch sử lâu đời và không gian trưng bày độc đáo riêng biệt ở Việt Nam Ngoài ra luận còn mở rộng đề cập so sánh NTTB ở một số bảo tàng trên thế giời và Việt Nam để thấy được sự tương đồng và khác biệt trong NTTB
Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu các đối tượng trên từ năm 2011 đến
năm 2020 Ngày 26/09/2011 BTLSQG được thành lập theo Quyết định số 1674/QĐ-TTg ngày của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam trên cơ sở sát nhập Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Bảo tàng Cách mạng Việt Nam NCS nhận thấy sự ra đời của BTLSQG có sự ảnh hưởng lớn đến NTTB, là giai đoạn có nhiều biến chuyển trong NTTB bảo tàng ở Việt Nam Năm 2020, cùng với Quyết định số 156/2005/QĐ-TTg ngày 23/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Quy hoạch tổng thể hệ thống bảo tàng Việt Nam đến năm 2020, đây
là một văn bản pháp lý quan trọng có tính định hướng cho sự phát triển của ngành bảo tàng Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu và phương pháp tiếp cận
4.1 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu thứ cấp: Phân tích, tổng hợp
các tài liệu thứ cấp là các công trình khoa học liên quan đến nội dung đề tài
Trang 12nghiên cứu trong sự vận động và phát triển Bên cạnh đó nhận diện các hình thức biểu hiện nghệ thuật, chỉ ra hạn chế và rút ra các bài học kinh nghiệm
Phương pháp điền dã: Qua điền dã thực địa tại các bảo tàng lớn hệ
thống trưng bày đặc trưng trên cả nước, đặc biệt là ba bảo tàng tiêu biểu của bảo tàng lịch sử và xã hội: BTLSQG, BTLSQSVN, BTDTHVN Phương pháp này giúp NCS thu thập xác minh các dữ liệu thực tế, quay phim, chụp hình tại các bảo tàng này, phân tích và nhận định hình thức biểu hiện của NTTB
Phương pháp thống kê, phân loại: Áp dụng phương pháp thống kê,
phân loại trong quá trình nghiên cứu đề tài luận án để xác định các không gian trưng bày bảo tàng tiêu biểu từ năm 2011 đến năm 2020, cụ thể là ba bảo tàng BTLSQG, BTLSQSVN, BTDTHVN để đánh giá về giá trị NTTB
Phương pháp so sánh: So sánh giữa các hình thức biểu hiện khác nhau
của NTTB tại các bảo tàng khác nhau ở Việt Nam và trên thế giới, sự khác nhau về ngôn ngữ thiết kế, tạo hình nghệ thuật, ứng dụng vật liệu, ánh sáng,
về công nghệ, từ đó có cơ sở khoa học để đưa ra các nhận định về NTTB
4.2 Phương pháp tiếp cận
Phương pháp tiếp cận liên ngành: Luận án vận dụng phương pháp tiếp
cận liên ngành để có góc nhìn bao quát với đối tượng nghiên cứu Trên cơ sở
sử dụng kết quả nghiên cứu của lĩnh vực nghệ thuật học, lịch sử và văn hóa học Sử dụng phương pháp phân tích mỹ thuật học xác định và nhận định về đặc trưng, về các biểu hiện nghệ thuật thị giác trong tạo hình của NTTB bảo tàng thông qua các nguyên lý mỹ thuật học, nguyên lý design Nghiên cứu luận án tiếp cận lịch sử để NCS có cái nhìn tổng quan về NTTB bảo tàng thông qua ba bảo tàng tiêu biểu là BTLSQG, BTLSQSVN, BTDTHVN ở Việt
Trang 13Câu hỏi 1: NTTB bảo tàng ở Việt Nam có những vấn đề gì? Nó được
biểu hiện thông qua phương tiện biểu hiện nghệ thuật nào?
Câu hỏi 2: Hình thức biểu hiện NTTB ở BTLSQG, BTLSQSVN,
BTDTHVN trong giai đoạn hiện nay được biểu hiện như thế nào?
Câu hỏi 3: Hiệu quả và vai trò của NTTB trong bảo tàng ở Việt Nam?
Xu hướng phát triển thẩm mỹ của NTTB bảo tàng trong xu thế hội nhập và phát triển của đất nước hiện nay?
6 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết thứ nhất: NTTB bảo tàng ở Việt Nam là một loại hình nghệ
thuật thuộc lĩnh vực mỹ thuật ứng dụng NTTB bảo tàng ở Việt Nam được biểu hiện trong nội dung ý tưởng và hình thức thể hiện, thông qua các yếu tố thị giác tác động đến thị giác, đến cảm xúc của người xem Với giả thuyết này, mục tiêu của NCS nhằm xác định và nhận diện các yếu tố cấu thành nghệ thuật NTTB tại các bảo tàng và làm rõ các vấn đề liên quan đến trưng bày bảo tàng với tính khoa học và đặc thù rất riêng biệt Một không gian trưng bày đẹp, có bố cục khoa học và hợp lý, với sự kết hợp của nhiều loại hình nghệ thuật khác hỗ trợ, nó tác động và tạo nên một sự cuốn hút, lôi cuốn, ấn tượng và gây nên một cảm xúc mạnh mẽ cho người xem
Giả thuyết thứ hai: NTTB ở BTLSQG, BTLSQSVN, BTDTHVN được
biểu hiện rất khác nhau trong các không gian trưng bày của mỗi bảo tàng Mỗi một bảo tàng đều có một giá trị thẩm mỹ riêng do quy mô trưng bày, loại hình, tính chất và nội dung của các bảo tàng khác nhau Với giả thuyết này, mục tiêu của NCS là tìm hiểu bản chất thẩm mỹ của đối tượng nghiên cứu Nhận định và phân tích những nét riêng, những ưu điểm và hạn chế của hình
Trang 14riêng có dấu ấn bản sắc riêng Bên cạnh đó bảo tàng Việt Nam cùng với sự tác động mạnh mẽ của nền khoa học và công nghệ phát triển của các nước trên thế giới vì vậy xuất hiện nhiều hạn chế và bất cập trong NTTB bảo tàng Với giả thuyết này, mục tiêu của NCS là nhìn nhận được những giá trị thẩm mỹ, ưu và nhược điểm của NTTB bảo tàng ở Việt Nam trong quá trình phát triển của đất nước, để thấy rõ thực trạng của NTTB bảo tàng ở Việt Nam từ đó đề cập đến vấn đề đổi mới hoạt động NTTB bảo tàng Qua đó thấy được vai trò quan trọng của NTTB với sự hoàn thiện của một bảo tàng Với sự phát triển của khoa học và công nghệ như hiện nay đã mang đến những xu hướng phát triển thẩm mỹ mới cho hình thức nghệ thuật này qua đó xác định được vai trò của công nghệ hiện đại với NTTB bảo tàng Và cuối cùng ngoài việc ứng dụng những xu hướng trưng bày mời hiện đại, NCS mong muốn xây dựng NTTB
bảo tàng ở Việt Nam với tiêu chí “tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
7.1 Ý nghĩa khoa học
Luận án là một công trình nghiên cứu khoa học về NTTB bảo tàng, thông qua nghiên cứu tiếp thu từ hệ thống trưng bày của các bảo tàng trên thế giới, kết quả đã góp phần vào xây dựng cơ sở lý luận cho trưng bày bảo tàng nhằm nâng cao chất lượng thẩm mỹ cho NTTB của các bảo tàng Việt Nam
Luận án từ kết quả nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng NTTB
ở BTLSQG, BTLSQSVN, BTDTHVN một cách khách quan, đưa ra một số nhận định về NTTB bảo tàng nhằm góp phần vào việc kiện toàn và quá trình đổi mới hệ thống NTTB bảo tàng ở Việt Nam hiện nay
Luận án góp phần nâng cao nhận thức về vai trò và vị trí của NTTB trong việc tổ chức thành công một công trình bảo tàng, nghiên cứu đã khẳng
Trang 15định NTTB bảo tàng là một ngành hoạt động văn hóa và khoa học kỹ thuật, là một bộ phận có vai trò quan trọng trong sự phát triển của ngành bảo tàng và của chuyên ngành mỹ thuật ứng dụng hiện đại
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên về NTTB bảo tàng, góp phần giải quyết các vấn đề tồn tại trong hoạt NTTB bảo tàng ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu này có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo và ứng dụng vào thực tiễn về NTTB bảo tàng cho các công ty thiết kế về mỹ thuật, các họa sỹ thiết
kế trưng bày, các cán bộ chuyên môn phụ trách trưng bày bảo tàng Kết quả nghiên cứu còn có ý nghĩa định hướng nhằm đưa hoạt động NTTB bảo tàng ở Việt Nam ngày càng có sự ảnh hưởng cao trong khu vực và trên thế giới
Luận án góp phần bổ sung cho cơ sở khoa học, tài liệu tham khảo trong đào tạo chuyên ngành thiết kế nội ngoại thất phục vụ cho công việc giảng dạy thiết kế nội ngoại thất nói riêng và thiết kế đồ án trưng bày bảo tàng nói chung ở một số trường đại học đào tạo về lĩnh vực mỹ thuật ứng dụng
8 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu (9 trang), Kết luận (5 trang), Tài liệu tham khảo (11 trang) và Phụ lục (78 trang), nội dung của luận án được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát
về đối tượng nghiên cứu (56 trang)
Chương 2: Hình thức biểu hiện của nghệ thuật trưng bày bảo tàng ở Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam (48 trang)
Chương 3: Những bàn luận và xu hướng nghệ thuật trưng bày bảo tàng
ở Việt Nam (50 trang)
Trang 16Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ
KHÁI QUÁT VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Với mục đích và những nhiệm vụ cụ thể của luận án, NCS rất có ý thức rằng ngoài việc xác định rõ đối tượng nghiên cứu, hệ thống lý thuyết áp dụng, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu thì việc hệ thống các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến nghệ thuật NTTB bảo tàng, các khía cạnh của mỹ thuật ứng dụng, đây là một bước đi quan trọng trong việc nghiên cứu đối với luận án của mình Qua quá trình tìm hiểu tham khảo và tập hợp tư liệu của các công trình đã công bố, NCS đã khai thác và kế thừa những thành tựu đạt được của các công trình đó có liên quan đến đề tài luận án Sau khi phân tích và có những khoảng trống trong nghiên cứu đó, NCS đã áp dụng những phương pháp biện luận và đưa ra những cách tiếp cận phù hợp nhất, mang lại hiệu quả cao trong quá trình nghiên cứu luận án Trên cơ sở hệ thống các tài liệu liên quan, NCS đã phân chia những công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan
đến luận án của NCS thành ba nhóm như sau: thứ nhất là nhóm Những công
trình liên quan đến mỹ học và hình thái học nghệ thuật; thứ hai là nhóm Những công trình liên quan đến mỹ thuật học và mỹ thuật ứng dụng; thứ ba là
nhóm Những công trình liên quan đến NTTB bảo tàng
1.1.1 Những công trình liên quan đến mỹ học và hình thái học nghệ thuật
Năm 1996, cuốn Mỹ học với tư cách là một nhà khoa học [60] của Đỗ
Huy, Nxb Chính trị quốc gia Ấn phẩm này cho thấy sự hình thành và phát triển của khoa học mỹ học, những nguyên lý, phạm trù cơ bản của biện chứng
về: cái đẹp, cái bi, cái hài, cái cao cả… trong quan điểm Mác - xít
Năm 2002, cuốn Mỹ học [36] của Denis Huisman, do Huyền Giang
dịch, Nxb Thế giới, đã đưa ra một cách nhìn tổng quan về toàn bộ hệ thống
Trang 17mỹ học thế giới từ giai đoạn đầu cho đến thời hiện đại Tác giả Denis Huisman đưa ra tập hợp các cách tiếp cận về mỹ học, triết học, tâm lý học và
xã hội học, cách tiếp cận đó đề cập đến bản chất, tiêu chuẩn và các giá trị của nghệ thuật Hình thái học nghệ thuật đã được nhiều nhà mỹ học Mác - xít nghiên cứu gắn với truyền thống mỹ học châu Âu Các nghiên cứu về nghệ thuật tĩnh, nghệ thuật động, nghệ thuật từ ngữ, nghệ thuật miêu tả, nghệ thuật ứng dụng của những nhà mỹ học Mác - xít đã đạt được khá nhiều thành tựu quan trọng trong việc làm sáng tỏ các loại hình lớn, loại hình con, loại thể nghệ thuật Mấu chốt của những nghiên cứu này là cần kết hợp các giá trị mỹ học truyền thông với các giá trị hiện đại Mỹ học Mác - xít coi hình thái học
và nghệ thuật không có ranh giới siêu hình Nguyên tắc tính thống nhất của phương pháp logich và phương pháp lịch sử trong nghiên cứu hình thái học nghệ thuật có ý nghĩa to lớn
Năm 2004, cuốn Hình thái học của nghệ thuật [79] của M.Cagan, do
Phan Ngọc biên dịch Trong lĩnh vực mỹ học, cuốn sách hình thái học nghệ thuật (Morfologia Iskusjtva) của M.Cagan, Giáo sư Mỹ học trường đại học S.Pêtébua là một tác phẩm chuyên khảo đầu tiên một cách có hệ thống heo quan điểm Mác-xít về cơ cấu nội tại của thế giới nghệ thuật Hình thái học nghệ thuật là một tác phẩm lớn nghiên cứu cơ cấu toàn bộ thế giới của nghệ thuật, tác giả chú ý đến phát hiện tất cả những cấp độ căn bản của sự phân chia hoạt động sáng tạo nghệ thuật “Hình thái nghệ thuật học là khoa học nhận thức những quy luật tổ chức bên trong của thế giới nghệ thuật với tư cách
là một hệ thống những lớp, những nhóm, những loại hình (loại hình lớn, loại hình con) và các thể của nó” [79, tr.7] Các luận điểm này, giúp NCS lý giải về cách thức phân định đồng thời nêu ra bản chất giao biến giữa các loại hình, loại thể của nghệ thuật nói chung và của loại hình NTTB bảo tàng nói riêng
Trang 18Đối với một người làm công tác nghiên cứu, ngoài các vấn đề chính là
lý thuyết nghiên cứu, xác định tính mới trong đề tài nghiên cứu, việc nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài là một cơ sở khoa học, là nền tảng vững chắc cho luận án
1.1.2 Những công trình liên quan đến mỹ thuật học và mỹ thuật ứng dụng
1.1.2.1 Mỹ thuật học
Năm 2006, cuốn Văn học và các loại hình nghệ thuật [87] của Lê Lưu
Oanh, Nxb Đại học sư phạm Cuốn sách giới thiệu về một số vấn đề cơ bản của nghệ thuật có liên quan chặt chẽ với các nội dung cần hiểu biết về lí luận luận văn học như đối tượng nối dung, nguồn gốc sáng tạo và chức năng xã hội thẩm mỹ của của nghệ thuật, cuốn sách cũng giới thiệu một số đặc trưng thẩm
mỹ của nghệ thuật Việt Nam… Ấn phẩm này giúp cho NCS có một cái nhìn
về chức năng thẩm mỹ của nghệ thuật để NCS có thể biện luận các luận điểm của mình trong quá trình nghiên cứu
Năm 2011, cuốn Nghệ thuật học [71] của Đỗ Văn Khang chủ biên, Nxb
Thông tin và truyền thông Cuốn sách đã phân tích các học thuyết cũ về nguồn gốc nghệ thuật, các thành tựu cơ bản của nghệ thuật phương Tây, nghệ thuật phương Đông, nghệ thuật hiện đại, đề cập đến bản chất và phương pháp sáng tác cơ bản của nghệ thuật, với một chương phân tích về tác phẩm và hình tượng
là cơ sở để khám phá, sáng tạo và thưởng thức nghệ thuật, nội dung này ghi rõ:
Nghệ thuật khác với các hình thái xã hội khác, nó được coi là hình thái đặc thù Vì trong nghệ thuật, nghệ sĩ và người thưởng thức đều
đắm mình trong khâu trung gian, đó là vì hình tượng nghệ thuật
Nghệ sĩ dùng hình tượng để gửi thông điệp đến công chúng Công chúng thưởng thức nghệ thuật là thưởng thức các hình tượng nghệ thuật do nghệ sĩ sáng tạo ra [71, tr.228]
Trang 19NCS rất đồng thuận với quan niệm này, trong NTTB bảo tàng việc người họa sĩ thiết kế phải đưa ra được hình tượng nghệ thuật trong không gian trưng bày là gì qua đó sẽ truyền tải đến người tham quan một cách tích cực nhất Ấn phẩm cũng đã phân tích cách thưởng thức nghệ thuật thông qua các loại hình loại thể, thưởng thức nghệ thuật là thưởng thức các tác phẩm nghệ thuật cụ thể Qua đó giúp NCS có cái nhìn tổng thể về nguồn gốc và hình tượng nghệ thuật thông qua các loại hình nghệ thuật thị giác
1.1.2.2 Mỹ thuật ứng dụng
Trong lĩnh vực thiết kế mỹ thuật ứng dụng, có nhiều tác giả đã nghiên cứu về những hệ thống lý thuyết về chuyên ngành thiết kế, phương pháp luận design, về tạo hình, nguyên lý thị giác… đây là những cuốn tài liệu chuyên biệt dành cho lĩnh vực mỹ thuật công nghiệp Sau đây là một vài tài liệu tiêu biểu
mà NCS thấy liên quan nhiều đến quá trình nghiên cứu luận án của mình:
Năm 1996, cuốn Thiết kế nội thất [43] của tác giả Francis D.K.Chinh,
được biên dịch từ nhóm dịch giả Thái Hoàng, Văn Đoàn, Nguyễn Thanh Nguyên, hiệu đính Nguyễn Kim Chi thiên về những nguyên lý thiết kế và những mối quan hệ thiết kế về công năng, cấu trúc, chất lượng thẩm mỹ có vai trò quyết định trong không gian nội thất, nghiên cứu hiển thị về bản chất
và thiết kế những bố cục nội thất hàm chứa nội dung và hình thức sinh động
Năm 2000, cuốn Ecgônômi trong thiết kế và sản xuất [83] của tác giả
Nguyễn Bạch Ngọc, tác giả đã nêu ra các nguyên tắc quy chuẩn Ecgônômi trong thiết kế nội thất, các chỉ số về nhân trắc học theo tiêu chuẩn của người Việt Nam được áp dụng vào không gian và trang thiết bị nội thất phục vụ con người Đây là một trong những cuốn sách mà NCS nhận thấy rất gần và quan trọng trong việc làm thiết kế nội thất, tất cả các sản phẩm mỹ thuật ứng dụng trong đó có NTTB bảo tàng sinh ra đều được phục vụ cho con người, vậy thì
Trang 20điều đầu tiên những sản phẩm đó phải đảm bảo công năng và các tiêu chí đảm bảo phục vụ con người một cách tốt nhất
Năm 2003, cuốn Cơ sở phương pháp luận Design [108] được xuất bản lần đầu vào năm 2003 và tái bản năm 2012 của tác giả Lê Huy Văn biên soạn
và đưa ra những kiến thức về phương pháp luận Design Ấn phẩm viết:
Tạo dáng công nghiệp nằm trong quá trình chuẩn bị và phát triển của sản phẩm và hệ thống sản phẩm mà trong đó yếu tố thẩm mỹ là một thành phần thống nhất gắn bó hữu cơ với các thành phần khác như khoa học, công nghệ, thiết kế… nhằm tối ưu hóa về giá trị sử dụng, thỏa mãn các nhu cầu về văn hóa - thẩm mỹ của chế độ xã hội thích hợp với những điều kiện của nền sản xuất công nghiệp phát triển [108, tr.7]
Qua đó NCS có thể sử dụng khái niệm tạo dáng một cách rộng rãi cho các sản phẩm được sản xuất bằng phương pháp công nghiệp, liên hệ với luận
án của NCS với NTTB bảo tàng, thì yếu tố tạo hình yếu tố thẩm mỹ là rất quan trọng nó có phù hợp với thị hiếu của công chúng và xã hội hay không,
có phù hợp về văn hóa đặc thù của nền văn hóa Việt nam hay không… với cơ
sở này sẽ giải quyết được phương pháp thiết kế trưng bày và thi công thích hợp cho từng bảo tàng
Năm 2006, cuốn Những nền tảng của mỹ thuật - Lý thuyết và thực hành
[88] của Ocvirk, Stinson, Wigg, Bone, Cayton, Lê Thành dịch, Nxb Mỹ thuật Nội dung cuốn sách này trình bầy đầy đủ các yếu tố hình thành cơ bản của ngành mỹ thuật và cả một chặng đường phát triển, từ bố cục, đường nét, sắc
độ, hình dạng, màu sắc, đến cấu trúc cơ bản, rồi không gian của nghệ thuật chiều thứ ba và cả nội dung, phong cách… rất chi tiết Ấn phẩm này đã cung cấp đầy đủ chi tiết các thành tố cấu thành của một nghệ thuật, giúp cho NCS nắm vững những thành tố cấu thành tố đó ứng dụng vào việc trưng bày bảo
Trang 21tàng, với các tỷ lệ, bố cục, màu sắc, ánh sáng, hình dạng… thông qua nghệ thuật thị giá truyền tải đến người xem, đây là một trong những điều kiện rất căn bản cho một họa sĩ sáng tác thiết kế các công trình mỹ thuật ứng dụng
Năm 2012, cuốn Nguyên lý design thị giác [63] của Nguyễn Hồng
Hưng, Nxb Đại học Quốc gia Cuốn sách đề cập tới mối quan hệ của thị giác, ánh sáng, hình thể, màu sắc, trong phạm vi thiết kế, đây là nền tảng cơ bản, bước đầu chuẩn bị cho các nhà họa sĩ thiết kế thao tác những khác biệt những sáng tạo của nhận thức cái đẹp trong lĩnh vực mỹ thuật ứng dụng Ấn phẩm có giá trị cho luận án với những đánh giá thực tiễn của các bảo tàng với ngôn ngữ tạo hình đối với NTTB bảo tàng, trong trưng bày bảo tàng thì ngôn ngữ tạo hình là một trong những thành tố quan trọng quyết định cho một không gian trưng bày có hấp dẫn hay không có thu hút người xem hay không
Năm 2016, cuốn Cơ sở tạo hình [64] của Đỗ Trọng Hưng, Nxb Mỹ
thuật Nghệ thuật tạo hình tác động đến đời sống hằng ngày cho dù chúng ta
có phải là ngoài am tường hay tham tham gia trực tiếp vào nghệ thuật này hay không Những bức tranh hội họa, những tác phẩm điêu khắc mang lại sự hứng khởi và khiến ta suy tưởng Những ngôi nhà chúng ta ở, những công sở, bảo tàng, công trình văn hóa to sinh hoạt trong đó cho cảm giác dễ chịu và tiện nghi hay không… Tất cả những sản phẩm này đều gắn với nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật thị giác Ấn phẩm với bảy chương gồm hệ thống lý thuyết và bài thực hành, cuốn sách này đã hệ thống một cách căn bản lý thuyết và thực hành nhằm tìm hiểu hiểu về nghệ thuật tạo hình cho các họa sĩ thiết kế, cuốn sách xác nhận những yếu tố căn bản làm nên một tác phẩm, một sản phẩm mang chất tạo hình, giúp nhận dạng cơ chế, cấu trúc của hình thể trong mối tương quan nội tại và với môi trường xung quanh
Năm 2017, cuốn Hình, Không gian và cách nhìn [46] của Graham Collier, Vương Tử Lâm, Phạm Long dịch, Phạm Văn Thiều hiệu đính, Nxb
Trang 22Mỹ thuật Ấn phẩm là một trong những tài liệu đầu tiên được dùng cho các khóa học căn bản về vẽ và thiết kế, cuốn sách đã giới thiệu những phương pháp cơ bản để tạo hình một cách sinh động và sau nữa là nhằm kích thích tư duy cảm xúc như một đáp ứng cá nhân Một yếu tố nữa mà NCS rất đồng quan điểm trong cuốn sách nữa là cuốn sách không chỉ rèn luyện tính khách
quan trong cách nhìn và trong thực tế tạo hình của bức vẽ mà nó còn khuyến
khích người học mạnh dạn áp dụng những kiến thức này vẽ theo phản ứng chủ quan của mình Đây là điểm rất thú vị của cuốn sách, tiếp tục lý giải tinh
tế tế hơn cái gọi là nhân tố sáng tạo đó là những cách thức mà trí tưởng tượng
của người nghệ sĩ biến những trải nghiệm thị giá thành những dạng thức mới
thì ta gọi là nghệ thuật Sự sáng tạo trong nghệ thuật, trong công trình mỹ
thuật ứng dụng là điều rất quan trọng cho người họa sĩ thiết kế, nó quyết định thành bại của công trình đó, nên với ý nghĩa của cuốn sách này là điều không thể thiếu trong sáng tác NTTB bảo tàng
1.1.3 Những công trình liên quan đến nghệ thuật trưng bày bảo tàng
Đây là nhóm những tài liệu liên quan trực tiếp đến đề tài của luận án, vì vậy NCS đã chia ra theo từng thời gian cụ thể như sau:
Năm 1963, cuốn Nghệ thuật trang trí triển lãm và bảo tàng [73] của
Ngô Lao, do Trần Công Tả dịch, Nxb Văn hóa - Nghệ thuật Nội dung cuốn sách đã đề cập đên các vấn đề trong công tác trưng bày nghệ thuật của triển lãm và bảo tàng Trong đó nêu rõ trình tự của công việc thiết kế, các giải pháp thực tiễn trong việc bố trí trong các phòng trưng bày, cách sử dụng ánh sáng, màu sắc, minh họa… trong trang trí Đây là một cuốn sách cẩm nang về các vấn đề lý luận thực tiễn trang trí triển lãm và bảo tàng trong một giai đoạn nhất định, mặc dù sách đã ra đời từ rất lâu, nhưng giá trị về những nền tảng của trang trí trưng bày bảo tàng vẫn rất giá trị và có nhiều nội dung giúp cho
Trang 23NCS đã vận dụng để tham khảo và cơ bản nhất các vấn đề liên quan đến thiết
kế trang trí trưng bày bảo tàng
Năm 1980, cuốn Sổ tay công tác bảo tàng [107] của Lâm Đình Trường, Mai Khắc Ứng, Phạm Xanh, Đặng Văn Bài, Nxb Văn Hóa, cũng nêu rất rõ về
các bước triển khai tổ chức trưng bảo tàng:
Công tác trưng bày là khâu chủ yếu trong toàn bộ các mặt hoạt động của một bảo tàng Chưa có trưng bày cũng có thể coi như chưa có bảo tàng Nhờ có công tác trưng bày các bảo tàng mới có
cơ sở liên hệ với quần chúng Và chỉ qua công tác trưng bày, các bảo tàng mới thể hiện được nội dung và quan điểm của nó một các đầy đủ nhất Cũng trên cơ sở, hiện vật được đem ra trưng bày một cách lô gích các bảo tàng mới làm trọng nhiệm vụ tuyên truyền đại chúng [107, tr.130]
Năm 1999, cuốn Phương pháp viết chú thích trưng bày [30] của
Christine Mullen Kreamer, đây là tài liệu tập huấn cho cán bộ BTDTHVN Theo Christine Mullen Kreamer, một giám tuyển của Bảo tàng Nghệ thuật châu Phi của Mỹ, cho rằng thước đo để đánh giá sự thành công của một bảo tàng là cảm giác thoải mái và sự hứng thú do bảo tàng đem lại cho người xem khi đi lại và quan sát các hiện vật, cuộc trưng bày lý tưởng phải thỏa mãn những điều kiện dưới đây:
Trưng bày được tổ chức tốt; Khách tham quan cảm thấy thoải mái, dễ chịu; Khách tham quan có thể dễ dàng thưởng thức; Trưng bày mang lại nhiều kinh nghiệm bổ ích cho khách tham quan; Đảm bảo không làm cho khách tham quan bị choáng ngợp hoặc thờ ơ; Hướng vào thỏa mãn kiến thức và các mối quan tâm của khách tham quan [30, tr.39]
Năm 2000, cuốn Cơ sở bảo tàng [101] của Timothy Ambrose và
Crispin Paine do Lê Thúy Hoàn dịch, hiệu đính PGS.TS Phạm Mai Hùng và
Trang 24Triệu Văn Hiển Cuốn sách đã chỉ ra những cách thức, các bước triển khai của toàn bộ bảo tàng trong đó có công tác thiết kế trưng bày bảo tàng, một trong những nội dung quan trọng của bảo tàng Tác giả đã nêu rõ “những quá trình khác nhau mà quá trình dàn dựng và thiết kế buộc phải thực hiện, và những
kỹ năng khác nhau mà quá trình đó sẽ cần đến khi thực hiện công việc” [101, tr.207] Các quá trình đó sơ bộ gồm các giai đoạn như sau: một là lập kế hoạch, hai là thiết kế sơ bộ, ba là giai đoạn thiết kế cuối cùng, bốn là các bản hợp đồng, năm là dàn dựng và trưng bày, sáu là trưng bày các hiện vật vào tủ, bẩy là mở cửa đón công chúng và quảng cáo cho bảo tàng, tám là sau khi mở cửa bảo tàng Đó là các giai đoạn để tiến hành cho công việc thiết kế trưng bày, các bước được tiến hành một cách chặt chẽ và rất khoa học do vậy việc lập dự án cho quy trình này một cách cẩn thận và hợp lý là điều rất cần thiết cho các họa sĩ thiết kế và các cán bộ chuyên môn của bảo tàng
Năm 2001, cuốn Cẩm nang bảo tàng [44] của Gary Edson và David
Dean Đã chỉ rõ những cách thức, các bước triển khai của toàn bộ bảo tàng trong đó có công tác trưng bày bảo tàng, một trong những nội dung quan trọng của bảo tàng
Năm 2002, cuốn Sổ tay công tác trưng bày bảo tàng [97] của Nguyễn
Thịnh biên soạn, Nxb Văn hóa Thông tin, đã đề cập đến lý thuyết về bảo tàng
và chức năng nghiên cứu khoa học của bảo tàng, sự hình thành và phát triển
hệ thống bảo tàng khảo cứu địa phương ở nước ta, nội dung và phương pháp trưng bày trong bảo tàng khảo cứu địa phương
Năm 2006, cuốn Sự nghiệp bảo tàng nước Nga [67] của Kaulen M.E
chủ biên, Cục Di sản văn hoá đã cho xuất bản tài liệu - tiếng Nga ra tiếng Việt
và xuất bản Bảo tàng học Nga, vốn rất gần gũi, gắn bó mật thiết và có những ảnh hưởng lớn đối với quá trình hình thành và phát triển của các bảo tàng ở Việt Nam [67, tr.6] Tác giả đã viết “Công tác nghiên cứu khoa học là nền
Trang 25tảng của hoạt động chức năng, là một trong những hướng đi hàng đầu trong hoạt động của bất kỳ bảo tàng nào…” [67, tr.257] Công tác nghiên cứu khoa học trong các bảo tàng phát triển theo hai khuynh hướng: hướng thứ nhất là
nghiên cứu sưu tập bảo tàng và những di sản văn hóa, hướng thứ hai là nghiên cứu bảo tàng học Những nghiên cứu khoa học chia thành những
nhóm sau: nghiên cứu cơ bản (nền tàng); nghiên cứu ứng dụng; nghiên cứu khoa học Mỗi hướng nghiên cứu đều có những cấu phần nghiên cứu sau: Bổ sung sưu tập; Công tác kho - khoa học; Công tác trưng bày - triển lãm; Hoạt
động giáo dục - văn hóa [67, tr.263] NCS đề cập đến vấn đề Công tác trưng
bày - triển lãm trong bảo tàng, hướng nghiên cứu này là tạo lập tài liệu khoa
học cho các cuộc triển lãm hay trưng bày bao gồm: Quan điểm khoa học; Cơ cấu đề tài; Kế hoạch trưng bày chuyên đề; Kịch bản [67, tr.265] Như vậy công tác trưng bày bảo tàng là công việc thiết kế khoa học, với đề tài của NCS là NTTB là một trong những công tác thiết kế khoa học này và là một hoạt động nghiên cứu khoa học của bảo tàng Cuốn sách viết về lịch sử phát triển công tác bảo tàng ở nước Nga và định nghĩa bảo tàng học cấu thành nên
cơ sở lý luận của hoạt động bảo tàng
Năm 2006, cuốn Nguyên lý thiết kế bảo tàng [113] của Tạ Trường
Xuân, Nxb Xây dựng, đã giới thiệu những nét cơ bản cần thiết để thiết kế, để xây dựng một nhà bảo tàng Cuốn sách gồm có 04 chương đi từ khái quát chung về bảo tàng, các bộ phận của bảo tàng, bố cục hình khối của bảo tàng đến những vấn đề liên quan đến kỹ thuật trang thiết bị đồ đạc trong nội ngoại thất và các vấn đề liên quan đến kinh tế, an toàn trong bảo tàng, NCS nhận thấy đây là một tài liệu liên quan nhiều đến luận án trong việc xác định về mặt
bố cục cấu trúc không gian trong bảo tàng để từ đó có những định hướng cho NTTB bảo tàng
Trang 26Năm 2006, Luận án tiến sĩ Bảo tàng Việt Nam thực trạng và những giải
pháp chính nhằm kiện toàn hệ thống bảo tàng trong phạm vi cả nước [78] của
tác giả Lê Thị Minh Lý hoàn thành năm 2006, Luận án tiến sĩ Văn hóa học Nội dung luận án có tính hệ thống toàn diện về bảo tàng Việt Nam, đánh giá một cách tổng quát nhiều hoạt động bảo tàng, góp phần nhận thức sâu sắc hơn
về vai trò và vị trí của bảo tàng và hoạt động bảo tàng để ghóp phần khẳng định bảo tàng học là một khoa học Luận án đã nhận định rõ đổi mới và phát triển bảo tàng nước ta vừa là một nhu cầu vừa là tất yếu trong chiến lược công nghiệp hóa và hiện đại hóa Với tính thực tiễn của luận án thể hiện ở việc khảo sát và đánh giá thực trạng ở các bảo tàng ở Việt Nam, góp phần giải quyết các yếu kém bất cập trong hoạt động bảo tàng hiện nay, luận án cũng đã
đề xuất được giải pháp chính về quản lý nhằm kiện toàn và phát triển hệ thống bảo tàng Qua đó NCS cũng tiếp nhận và tiếp thu nhiều những phân tích đóng góp của luận án một cách chi tiết và cụ thể về thực trạng bảo tàng Việt Nam
Năm 2008, Luận án tiến sĩ Các bảo tàng quốc gia Lào với nhiệm vụ
giáo dục truyền thống Lịch sử - Văn hóa [91] của tác giả Sỉ Thon
ChănThaVông hoàn thành năm 2008, Luận án tiến sĩ Văn hóa học Nội dung luận án đã nêu lịch sử hình thành và phát triển của các bảo tàng quốc gia Lào bao gồm: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Lào, Bảo tàng Quân đội Nhân dân Lào, Bảo tàng Cay-Sỏn Phôn Vi Hản, đây là những bảo tàng quốc gia hàng đầu của đất nước bạn Lào, tác giả đã phân tích sự hình thành phát triển, hệ thống trưng bày, thực trạng hoạt động giáo dục truyền thống lịch sử - văn hóa và đưa ra các giải pháp để nâng cao hoạt động giáo dục của các bảo tàng này Đây là luận án là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu hệ thống về lịch sử hình thành và phát triển của các Bảo tàng quốc gia Lào Thông qua luận án này, NCS có thêm dữ liệu và cơ sở để phân tích và so sánh các nội dụng nghiên cứu về thực trạng về trưng bày bảo tàng của Việt Nam với Lào, luận án của
Trang 27NCS cũng nghiên cứu các bảo tàng mang tính chất quốc gia thuộc lĩnh vực Lịch sử và Văn hóa của Việt Nam, rất gần với tính chất của những bảo tàng quốc gia Lào
Năm 2008, cuốn Cơ sở bảo tàng học [54] của Nguyễn Thị Huệ (chủ
biên), Phan Khanh, Nguyễn Thịnh, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Ấn phẩm
là một cuốn giáo trình để phục vụ cho công tác giảng dậy và nghiên cứu học tập của các sinh viên ngành bảo tàng trong các trường đại học, cao đẳng và các trường văn hóa nghệ thuật Nội dung của giáo trình được chia thành 05 chương: Chương I, Bảo tàng học - một bộ môn khoa học, chương này đã khẳng định bảo tàng học là một bộ môn khoa học có một hệ thống lý thuyết, các yếu tố hợp thành, có đối tượng và phương pháp nghiên cứu riêng; Chương
II, Khái quát lịch sử bảo tàng trên thế giới và Việt Nam: chương này đề cập đến nguồn gốc và sự ra đời quá trình hình thành và phát triển bảo tàng trên thế giới qua các thời kỳ lịch sử; Chương III, Bảo tàng - Đặc trưng và chức năng: chương này đề cập đến các khái niệm về bảo tàng của một số nước trên thế giới, của ICOM và của Việt Nam, phân tích đặc trưng và chứng năng riêng của bảo tàng; Chương IV, Hiện vật bảo tàng và hiện vật trưng bày của bảo tàng: chương này hệ thống các lý thuyết về hiện vật gốc, hiện vật bảo tàng, nhấn mạnh vai trò của hiện vật trong nghiên cứu khoa học trong trưng bày và trong toàn bộ hoạt động của bảo tàng; Chương V, Phân loại bảo tàng: trình bày khái niệm, mục đích, cơ sở phân loại bảo tàng, giới thiệu các loại hình bảo tàng Tóm lại cuốn sách đã hệ thống những kiến thức cơ bản nhất về lý luận bảo tàng học, là nguồn tư liệu rất quan trọng trong công tác nghiên cứu đối tượng khoa học của NCS
Năm 2008, cuốn Cơ sở bảo tàng học Trung Quốc [90] của Vương
Hoàng Quân chủ biên, Nxb Thế Giới Đây là cuốn sách chuyên ngành có giá trị về lịch sử bảo tàng học, lý luận và thực tiễn từ những công việc nghiệp vụ của bảo tàng Cuốn sách là bức tranh tổng thể về sự ra đời, tổ chức và hoạt
Trang 28động của các bảo tàng ở Trung Quốc cũng như nhiều nước trên thế giới Với bảo tàng tại Việt Nam đặc biệt có nhiều ảnh hưởng về NTTB rất tương đồng với nhau Cuốn sách có 24 chương đã viết đầy đủ các hoạt động liên quan đến các công tác bảo tàng của Trung Quốc, trong đó có 03 chương trong phần công tác chuyên môn bảo tàng có đề cập và phân tích rõ liên quan đến các hoạt động NTTB bảo tàng Cuốn sách có nội dung rất căn bản có liên quan trực tiếp luận án của NCS
Năm 2009, công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ do tác giả Võ Thị
Thu Thủy chủ trì nghiệm thu năm 2009 với đề tài Nghiên cứu phong cách
Việt Nam trong thiết kế nội thất [100] Đây là công trình khoa học đề cập đến
những vấn đề yếu tố truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa Việt khi được ứng dụng trong thiết kế nội thất Với đề tài của luận án, NCS nhận thấy các công trình trưng bày bảo tàng, với thời đại 4.0 có rất nhiều xu hướng mới được du nhập từ nước ngoài vào Việt Nam, chính vì vậy yếu tố “thuần Việt”, phong cách Việt cần được phát huy mạnh mẽ hơn, để giao lưu học hỏi những kinh nghiệm những cái mới cái tốt, khoa học công nghệ, nhưng không đánh mất tinh thần Việt… Đặc biệt, phong cách Việt cần được đề cao hơn trong NTTB bảo tàng, vì các bảo tàng ngoài phục vụ công chúng người dân Việt Nam còn phục vụ số lượng lớn các du khách trên thế giới đến Việt Nam thăm quan đi du lịch, thông qua bảo tàng để nói lên phong cách thiết kế của chúng
ta khác với phương Tây chính là phong cách Việt, đó chính là đậm đà, bản
sắc, dân tộc đây là cái nét riêng trong NTTB bảo tàng của mỗi một quốc gia
Năm 2012, cuốn Thiết kế trưng bày di sản - Lý thuyết và thực hành [99]
của Nguyễn Thịnh, Nxb Xây dựng Cuốn sách này gồm 5 chương: Chương I, Những vấn đề về lý thuyết trong bày; Chương II, Thiết kế nội dung trưng bày; Chương III, Nghiên cứu và thiết kế hình thức nghệ thuật trưng bày; Chương
IV, Dự án trưng bày; Chương IV, Thi công trưng bày và đánh giá trưng bày
Trang 29sản thành công, từ lý thuyết đến thực hành bằng những ví dụ cụ thể Tác giả
đã chọn cách giải quyết bằng cách, đi từ lý thuyết trưng bày với những khái niệm, phương pháp và đặc biệt nhấn mạnh mục tiêu cần quan tâm hàng đầu là hướng tới công chúng, đến những vấn đề cụ thể về quá trình thiết kế là thiết
kế nội dung và thiết kế hình thức nghệ thuật Trong ấn phẩm này, tác giả cũng nêu rõ những kinh nghiệm của công tác trưng bày của các bảo tàng trên thế giới Ấn phẩm một tài liệu rất đáng quý và quan trọng trong quá trình nghiên cứu của NCS
Năm 2017, cuốn Để có một bảo tàng sống động [103] của Võ Quang
Trọng, Nguyễn Duy Thiệu đồng chủ biên, Nxb Thế Giới Ấn phẩm đã có những chia sẽ về các lĩnh vực trưng bày, công việc liên quan đến xây dựng bảo tàng, tìm kiếm sưu tầm hiện vật, bảo quản hiện vật, thiết kế trưng bày Các bài viết khá chi tiết, khiến cho người đọc hiểu được các giai đoạn để kiến tạo nên một BTDTHVN như ngày nay Đồng thời từ đó cũng nhận ra được tầm quan trọng của từng công đoạn tìm kiếm hiện vật, xây dựng nội dung trưng bày, thi công trưng bày NTTB theo lối truyền thống và theo xu hướng hiện đại
Năm 2019, Luận án tiến sĩ Nghệ thuật trưng bày tại các triển lãm
thương mại “Vietnam Motor Show” từ năm 2012 đến năm 2017 [81] của tác
giả Hồ Nam, hoàn thành năm 2019, Luận án tiến sĩ Lý luận và lịch sử mỹ thuật Nội dung luận án đã nêu rõ về những hình thức biểu hiện của nghệ thuật trưng bày tại các triển lãm thương mại, một đề tài rất gần với đề tài của NCS có mối tương đồng và liên quan trực tiếp đến NTTB bảo tàng, tác giả đã nhận định “Nghệ thuật trưng bày tại các triển lãm thương mại Vietnam Motor Show là những tác phẩm nghệ thuật tạo hình toàn vẹn có tính chiếm lĩnh không gian Nó có nội dung hàm chứa và các hình thức biểu hiện đa dạng, sinh động theo quy luật mỹ học và nghệ thuật học” [81, tr.149] NCS đồng tình với quan điểm trên của tác giả Hồ Nam, NTTB bảo tàng cũng là những
Trang 30tác phẩm nghệ thuật tạo hình, có tính chiếm lĩnh không gian bởi những hiện vật có thể khối lớn, nó làm cho bảo tàng có linh hồn có sự sống và là cầu nối đến với công chúng Với luận án này, NCS vận dụng những nghiên cứu liên quan đến NTTB vào đề tài của mình một cách có chọn lọc
Luật Di sản văn hóa quy định trong điều 51 về việc xếp hạng bảo tàng
căn cứ vào các tiêu chuẩn sau đây:
+ Số lượng và giá trị các sưu tập + Chất lượng bảo quản và trưng bày sưu tập + Cơ sở vật chất và trang thiết bị kỹ thuật + Mức độ chuẩn hóa đội ngũ các bộ chuyên môn, nghiệp vụ [76, tr.33] NCS nhận thấy một trong những tiêu chi đánh giá xếp hạng bảo tàng, thì phần trưng bày bảo tàng là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá và xếp hạng bảo tàng Có thể khẳng định, với các nội dung phong phú và chi tiết của các cuốn sách trên đã được đông đảo các cán bộ, cán bộ quản lý bảo tàng, các họa sĩ thiết kế của Việt Nam, các giảng viên, sinh viên các trường đào tạo về bảo tàng, về mỹ thuật ứng dụng, tham khảo, vận dụng và học tập Qua đó NCS cũng vận dụng nhiều lý thuyết về trưng bày, để áp dụng cho các nghiên cứu trong luận án, có nhiều ấn phẩm đã có cách đây nhiều năm về trước tuy không mang được giá trị của thời đại ngày nay, nhưng có giá trị trong việc biện luận hình thức biểu hiện của loai hình nghệ thuật này
1.2 Cơ sở lý luận của đề tài
1.2.1 Một số thuật ngữ và khái niệm liên quan
1.2.1.1 Nhóm khái niệm, thuật ngữ về nghệ thuật và thiết kế Nghệ thuật
Khái niệm Nghệ thuật, theo Từ điển Mỹ thuật: “Theo nghĩa rộng nhất
thì nghệ thuật là tất cả phương pháp tiến hành và sản phẩm của tài khéo, trí tưởng tượng và sự sáng tạo của con người; ngược lại với tự nhiên” [74, tr.61]
Trang 31hình thái đặc thù của ý thức xã hội và của hoạt động con người; phản ánh hiện thực dưới những hình tượng nghệ thuật; là một trong những phương pháp quan trọng nhất để nắm bắt thế giới bằng thẩm mỹ” [85, tr.380]
Thiết kế
Theo Từ điển mỹ thuật phổ thông, thì động từ thiết kế là “sáng tạo ra mẫu đồ vật theo ý tưởng của các nhà mĩ học bằng bản vẽ, phác thảo, phác
họa, mô hình nhằm đạt tới mức hoàn thiện để có thể áp dụng vào sản xuất
công nghiệp Thiết kế tiếng Anh là design” [82, tr.130] Theo cuốn Lịch sử
Design xuất bản năm 2012, tác giả Lê Huy Văn đã viết “Danh từ Design có
xuất xứ từ gốc chữ Latinh disegno, có từ thời Phục hưng, có nghĩa là phác
thảo, thuật vẽ (drawing), thiết kế, bản vẽ, là cơ sở của mọi nghệ thuật thị giác, công việc của sáng tạo” [110, tr.8]
1.2.1.2 Nhóm khái niệm, thuật ngữ về Bảo tàng
Quá trình nghiên cứu và giải thích về nguồn gốc của bảo tàng cho đến nay vẫn tồn tại nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau, một số học giả giải thích nguồn gốc bảo tàng theo lối duy danh, dựa vào ngôn ngữ học (thành ngữ), các học giả này cho rằng:
Bảo tàng bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ Museion nghĩa là miếu thờ,
đó Nữ thần Muse Muse là Nữ thần bảo vệ cho Nghệ thuật, văn học
và Thơ ca của thời Hy Lạp cổ đại Ở Hy Lạp thời kỳ này con người
đã sưu tầm thu thập các bức tượng tranh thờ và nhiều thế kỷ sau, người Hy Lạp vẫn sưu tầm tìm kiếm các tác phẩm nghệ thuật để gìn
giữ bảo quản tại các Kho báu vật của mình Các miếu, đền này đã
được xây dựng trên ngọn đồi Hêlicon ở Athena Vì vậy, nhiều nước
ở châu Âu người thời sau dã bắt chước thời cổ đại dùng từ Muse để chỉ nơi gìn giữ các tác phẩm nghệ thuật là bảo tàng [54, tr.64]
Trang 32Đó là nguồn gốc ra đời bảo tàng của các nước châu Âu, còn các nước ở châu Á quan niệm như sau:
Còn các nước ở phương Đông, tên gọi bảo tàng có khác nhau như Trung Quốc và Nhật Bản gọi “Bảo tàng” là “Bác Vật quán”; ở Việt Nam dùng từ Bảo tàng, “Bảo” có nghĩa là bảo vật, những vật báu,
“tàng” có nghĩa là kho, nơi bảo quản Hiểu theo nghĩa thông thường bảo tàng là nơi giữ gìn bảo quản những báu vật [54, tr.65]
Như vậy ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, hay theo quan niệm khác nhau của các nước phương Tây và phương Đông thì có một dấu hiệu chung không thay đổi, bảo tàng là nơi giữ gìn bảo quản những hiện vật gốc, sưu tập
hiện vật gốc có giá trị bảo tàng Có rất nhiều khái niệm về bảo tàng, Hội đồng bảo tàng quốc tế (gọi tắt là ICOM) lần đầu tiên các nhà bảo tàng học quốc tế
đã thống nhất một định nghĩa chung về bảo tàng, định nghĩa này ra đời trong bối cảnh lịch sử của thời kỳ sau Chiến tranh gới lần thứ hai “Thuật ngữ bảo tàng bao gồm tất cả các sưu tập trưng bày phục vụ công chúng: các hiện vật
về nghệ thuật, kỹ thuật, khoa học, lịch sử, khảo cổ học và kể cả những vườn thú, vườn thực vật, không tính đến thư viện, ngoại trừ những thư viện có
phòng trưng bày thường trực” [116, tr.43]
Nhiều hơn hai thập kỷ qua, Hội đồng bảo tàng quốc tế định nghĩa này được ICOM sửa đổi và mở rộng hơn về nhiều mặt để phù hợp với nhiều quốc gia trên thế giới, đây là định nghĩa mang tính chính thống về bảo tàng của ICOM trong 10 năm từ 1995 đến 2004:
Bảo tàng là một thiết chế phi lợi nhuận hoạt động lâu dài phục vụ cho xã hội, mở cửa cho công chúng đến xem, có chức năng sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu, giới thiệu và trưng bày các bằng chứng vật chất về con người và môi trường của con người vì mục đích nghiên cứu, giáo dục và thưởng thức [123, tr.3]
Trang 33Và gần đây Hội đồng bảo tàng quốc tế trong điều lệ sửa đổi mới nhất được thông qua định nghĩa trên lại được thay đổi để phù hợp với đối tượng nghiên cứu và yêu cầu chức năng mới của bảo tàng như sau:
Bảo tàng là một thiết chế phi lợi nhuận, hoạt động thường xuyên
mở cửa cho công chúng đến xem, phục vụ cho xã hội và cho sự phát triển của xã hội Bảo tàng có chức năng sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu, thông tin và trưng bày các bằng chứng vật thể và phi vật thể về con người và môi trường sống của con người vì mục đích nghiên cứu, giáo dục và thưởng thức [125, tr.4]
Cùng với các định nghĩa trên, Liên hiệp Hội Bảo tàng Anh đã định nghĩa: “Bảo tàng là một cơ quan thu nhận, lập hồ sơ (tư liệu), bảo tồn, trưng bày và giới thiệu những bằng chứng vật chất và những thông tin đi kèm với
nó vì lợi ích của xã hội” [101, tr.30]
Hiệp hội các Bảo tàng Mỹ định nghĩa đã nhấn mạnh đến tính tập thể vì công chúng và sự phát triển của bảo tàng:
Bảo tàng là một thiết chế được thành lập hoạt động lâu dài, phi lợi nhuận được miễn thuế thu nhập quốc gia, không chỉ tồn tại vì công chúng và hoạt động theo hướng quan tâm của công chúng, vì mục đích bảo quản và gìn giữ, nghiên cứu, thu thập, trưng bày và giới thiệu vì nhu cầu thưởng thức của công chúng Hiện vật trưng bày phải là hiện vật, mẫu vật có giá trị văn hóa và giáo dục, những hiện vật về nghệ thuật và khoa học (cả những hiện vật sống và vô tri), tư liệu lịch sử và kỹ thuật [120, tr.16]
Và cuối cùng tại nước ta đã kế thừa tham khảo các định nghĩa của các
nước trên thế giới, Luật Di sản văn hóa của Việt Nam định nghĩa “Bảo tàng là
nơi bảo quản và trưng bày sưu tập về lịch sử tự nhiên và xã hội nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu, giáo dục, tham quan và hưởng thụ văn hóa của nhân dân”
Trang 34[76, tr.29] Theo NCS đây là cách định nghĩa ngắn gọn, dễ hiểu và phản ánh đầy đủ bản chất và nhiệm vụ của bảo tàng, đối tượng nghiên cứu tổ chức hoạt động và phục vụ bảo tàng
1.2.1.3 Nhóm khái niệm về trưng bày bảo tàng
Ấn phẩm Lập kế hoạch cho thiết kế bảo tàng của Kathleen Mc Lean
năm 2001, tác giả đã nhấn mạnh vai trò của ý tưởng cùng với hệ thống trưng bày nghiêm túc nhằm tạo ra một bảo tàng thu hút người xem và gần gũi như một ngôi nhà của mỗi người dân “Bảo tàng của con người không nên chỉ là một ngôi nhà chứa đầy hiện vật trong những tủ kính trưng bày Nó phải là một ngôi nhà với đầy ắp ý tưởng, được dàn dựng với sự chú trọng nghiêm túc nhất đối với hệ thống trưng bày” [128, tr.57]
Trước hết chúng ta cần tìm hiểu từ trưng bày, theo cuốn Sự nghiệp bảo
tàng của nước Nga đã khái niệm,“Từ trưng bày được xuất phát từ tiếng
Latinh “expsitio” nghĩa là “xếp đặt”, về nghĩa rộng là tổng thể bất kỳ những hiện vật, được xếp đặt một cách đặc biệt để chiêm ngưỡng” [67, tr.312] Từ
đó các nhà bảo tàng Nga trình bày tiếp khái nhiệm về trưng bày bảo tàng
“trưng bày bảo tàng là hệ thống đối tượng - không gian tổng thể trong đó hiện vật bảo tàng và những tài liệu trưng bày khác được kết hợp lại bởi ý tưởng
khái niệm (khoa học và nghệ thuật)” [67, tr.312]
Cuốn Cơ sở Bảo tàng học Trung Quốc, các chuyên gia bảo tàng đã khái
niệm cụ thể như sau: “Trưng bày bảo tàng là quần thể hiện vật trưng bày được sắp xếp theo chủ đề, trình tự và hình thức nghệ thuật nhất định, trong một không gian nhất định nhằm giáo dục một cách trực quan, truyền bá những thông tin văn
hóa, khoa học và đáp ứng nhu cầu thưởng thức thẩm mỹ” [90, tr.341] Tác giả
Vương Hoàng Quân chủ biên tiếp tục nhận định:
Thiết kế trưng bày do thiết kế nội dung trưng bày và thiết kế hình thức trưng bày tổ hợp thành Thiết kế hình thức trưng bày còn gọi là
Trang 35thiết kế nghệ thuật, là khâu công tác quan trọng không được coi thường trong toàn bộ quá trình thiết kế trưng bày…
Thiết kế nội dung và thiết kế hình thức của bảo tàng, tuy có sự khác biệt do nội dung có các ngành khoa học khác nhau, nhưng đều mang đặc điểm chung của bảo tàng Nếu nói, thiết kế nội dung trưng bày là một hoạt động nghiên cứu khoa học, thì thiết kế nghệ thuật trưng bày
là hoạt động sáng tạo nghệ thuật có đặc trưng riêng trên cơ sở nghiên cứu khoa học Hoạt động sáng tạo nghệ thuật này vừa tuân theo quy luật sáng tác nghệ thuật thông thường, lại vừa phải phù hợp với quy luật đặc thù của thiết kế nghệ thuật trưng bày [90, tr.364]
Cuốn Sổ tay công tác bảo tàng xuất bản năm 1980 của nhóm tác giả
Lâm Bình Tường - Mai Khắc Ứng - Phạm Xanh - Đặng Văn Bài, đã viết:
“trưng bày của bảo tàng là sự thể hiện nội dung bảo tàng vốn ở dạng những khái niệm trừu tượng bằng trực quan sinh động Người xem tiếp thu nội dung
đó bằng sự tổng hợp của các giác quan: thính giác và thị giác Chủ yếu là thị giác” [107, tr.131]
Thông tư 18/2010/TT-BVHTTDL ngày 31/12/2010 của Bộ trưởng Bộ
Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc quy định tổ chức và hoạt động bảo tàng,
Điều 9 đã nêu như sau:
Trưng bày tài liệu, hiện vật và giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể của bảo tàng phải bảo đảm:
- Phù hợp với phạm vi, đối tượng, nội dung hoạt động của bảo tàng;
- Chú trọng trưng bày tài liệu, hiện vật gốc;
- Việc giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể phải gắn với tài liệu, hiện vật, nội dung trưng bày của bảo tàng, góp phần bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể;
Trang 36- Thuyết minh trưng bày cung cấp đầy đủ, rõ ràng, chính xác thông tin về tài liệu, hiện vật và phù hợp với đối tượng khách tham quan;
- Bản phục dựng, bản sao tài liệu, hiện vật phải chính xác, khoa học
và được ghi chú rõ ràng;
- Thuận lợi cho việc tham quan và giữ gìn an ninh, an toàn cho tài liệu, hiện vật, khách tham quan [28]
Mục tiêu của trưng bày bảo tàng là biến đổi một số điểm trong sở thích,
sự quan tâm, thái độ hoặc hệ giá trị của khách tham quan một cách gây xúc động, thông qua sự khám phá một mức độ ý nghĩa nào đó trong các hiện vật trưng bày, khám phá được khơi dậy và duy trì bởi lòng tin của khách tham quan vào tính xác thực của hiện vật trưng bày đó Công tác trưng bày là khâu chủ yếu trong toàn bộ các mặt hoạt động của một bảo tàng Chưa có trưng bày cũng có thể coi như chưa có bảo tàng Nhờ có công tác trưng bày các bảo tàng mới có cơ sở liên hệ với quần chúng Như các nhà bảo tàng học người Nga nhận định vai trò của trưng bày “Trưng bày là phương thức chủ yếu để bảo tàng thực hiện chức năng xã hội của mình Trưng bày là ngôn ngữ riêng của bảo tàng” [90, tr.341]
Đến đây, NCS nêu ra nhận định về NTTB: là sự sáng tạo trên cơ sở nội
dung của bảo tàng, là cách bố trí mặt bằng một cách khoa học, cách sử dụng
tạo hình nghệ thuật, cách sử dụng ánh sáng, trưng bày hiện vật và sử dụng kỹ
thuật công nghệ một cách hợp lý nhất nhằm làm sáng tỏ nội dung và tính chất của bảo tàng trước công chúng
1.2.2 Lý thuyết nghiên cứu
1.2.2.1 Lý thuyết Hình thái học của nghệ thuật của M.Cagan
M.Cagan cho rằng, sự phân loại các nghệ thuật phải dựa vào hai tiêu
chuẩn: tiêu chuẩn bản thể học và tiêu chuẩn ký hiệu học [79, tr.8] Từ hai tiêu
Trang 37của Mỹ thuật nói chung gồm: “Một là Các nghệ thuật thời gian: các nghệ thuật âm thanh, Hai là các nghệ thuật không gian: các nghệ thuật tạo hình, Ba
là các nghệ thuật thời gian và không gian: các nghệ thuật biểu hiện tình cảm [79, tr.87], theo quan điểm đó NCS nhận định rằng NTTB thuộc nghệ thuật không gian, nghệ thuật tạo hình
Nghiên cứu loại hình từ ba nhóm trên, tác giả đã trình bày sơ bộ “Nghệ thuật với tính chất một hệ thống của loại hình” Đây là một trong những cách tiếp cận hình thái học mà M.Cagan tập trung phân tích, theo ông nhận định:
“Lớp nghệ thuật không gian thuộc kiểu không miêu tả có các loại hình của sáng tạo kiến trúc tính Riêng nghệ thuật ứng dụng có các loại hình con sau đây: nghệ thuật quần áo, đồ dùng được cấu tạo có nghệ thuật, đồ đạc được cấu tạo có nghệ thuật trong nội thất” [79, tr.15]
Với đề tài của luận án là NTTB, thì các đồ dùng đồ đạc cấu thành nội thất như tủ kệ, đai vách được sử dụng rất nhiều trong bảo tàng Và khi nói đến tính chất động của mối quan hệ qua lại giữa kiểu miêu tả và kiểu không miêu
tả của sự sáng tạo trọng nghệ thuật không gian M.Cagan cho rằng:
Như chúng ta đã nhận thấy, kiến trúc, các nghệ thuật ứng dụng, bản
thiết kế (design), khác hội họa, đồ họa điêu khắc, chụp ảnh nghệ
thuật đều không phải là những nghệ thuật miêu tả, bởi vì ngôi nhà,
cái bình, cái ghế tựa và nhất là cái máy không miêu tả cái gì hết trong thế giới vật chất… Vì vậy chúng tôi đề nghị một cách gọi
khác đối với nhóm nghệ thuật không gian này là những nghệ thuật
kiến trúc tính [79, tr.399]
Và khi nói đến ưu điểm nghệ thuật kiến trúc tính này M.Cagan tiếp tục
nhận định:
Thứ nhất nó bộc lộ cái nguyên lý cấu tạo hình thức làm cơ sở của
chúng, yếu tố chủ đạo về mặt cấu trức của ngôn ngữ nghệ thuật của
Trang 38chúng là giá trị mỹ học của mối tương quan của những yếu tố tạo hình từ đó hình tượng nghệ thuật được tạo nên Thứ hai danh từ này nhấn mạnh mối quan hệ họ hàng của các nghệ thuật ứng dụng và của bản thiết kế với kiến trúc một cách rõ rệt hơn cả, và có thể nói
là nghệ thuật tiêu biểu của nhóm này [79, tr.399]
Lý thuyết về Hình thái học của nghệ thuật sẽ hỗ trợ cho luận án những cơ
sở lý luận cơ bản về NTTB thông qua bản chất, cấu trúc nội tại và sự vận động
của loại hình này
1.2.2.2 Lý thuyết Hậu hiện đại
Trong cuốn Chủ nghĩa hậu hiện đại - Các vấn đề nhận thức luận [93]
của xuất bản năm 2011, Trần Quang Thái đã làm rõ thêm về chủ nghĩa Hậu hiện đại với một cách nhìn tổng thể về các nhận thức của các nhà triết gia chủ nghĩa Hậu hiện đại là Jean F.Lyotard và Jacqes Derrida Đáng lưu ý là những thành tựu khoa học công nghệ, truyền thông đa phương tiện, công nghệ thực tại ảo xâm nhập ngày càng gia tăng và các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật [93, tr.11] Trần Quang Thái đã nhận định rằng “tính đồng nhất, cứng nhắc, hàn lâm, đơn điệu trước đây của những hoạt động văn hóa nghệ thuật đang nhường chỗ cho sự ra đời của những loại hình văn hóa nghệ thuật đề cao sự sáng tạo cá nhân, tính giải trí và tính quần chúng” [93, tr.11]
Các quan điểm mỹ học Hậu hiện đại thông qua nhiều hình thức biểu hiện của các loại hình nghệ thuật mới và nó có đặc trưng là ứng dụng rộng rãi các thành tựu khoa học và công nghệ ví dụ như: truyền thông đa phương tiện (Multimedia), nghệ thuật số (Digital Art), nghệ thuật tương tác NTTB bảo tàng hiện nay, thì các hình thức nghệ thuật trên được sử dụng rất nhiều, vơi xu hướng trưng bày mới đang hình thành và bắt đầu ứng dụng đó là bảo tàng ảo,
và động đây là hình thức trưng bày được sử dụng rất nhiều trong các bảo tàng
Trang 39hiện vật bảo tàng, nó có thể tạo ra một không gian trưng bày khác biệt hoàn toàn với những không gian thuần túy như trước đây, gây ra sự thích thú và cuốn hút người tham quan NCS dựa vào những yếu tố đó để phân tích đánh giá cũng như áp dụng vào nghiên cứu đối tượng cũng như xác định xu hướng NTTB bảo tàng trong thời gian tới
1.2.2.3 Lý thuyết tiếp biến văn hóa
Lý thuyết lan toả của Franz Boas và Ruth Benedict được NCS tiếp thu
và vận dụng trong nghiên cứu luận án của mình Với ấn phẩm Văn hóa học -
Những phương pháp nghiên cứu văn hóa xuất bản năm 2016 của nhiều tác
giả đã viết, Boas là người học thuyết lan tỏa, theo đó “các hình thái văn hóa
có thể di chuyển từ nơi này đến nơi khác, sau đó hội nhập, tiếp biến với các
nền văn hóa khác” [86, tr.533] Lý thuyết này giúp NCS lý giải sự biến chuyển và hội nhập của NTTB bảo tàng thông qua tiến trình: di chuyển, hội
nhập và tiếp biến Qua đó giúp NCS phát hiện và kế thừa những giá trị bản sắc của nghệ thuật và xu hướng NTTB bảo tàng của các nước phát triển được
tiếp nhận như thế nào đến NTTB của các bảo tàng ở Việt Nam
1.2.3 Cơ sở lý thuyết về trưng bày bảo tàng
Cơ sở lý thuyết chung về NTTB bảo tàng ở Việt Nam theo NCS có các
nội dung: Loại hình bảo tàng, Hình thức không gian trưng bày bảo tàng, Hình
nghệ thuật thức trưng bày bảo tàng, Hình thức biểu hiện của nghệ thuật trưng
bày bảo tàng, trong từng tiểu mục NCS sẽ phân định các biểu hiện đó
1.2.3.1 Loại hình bảo tàng
Theo ấn phẩm Cơ sở bảo tàng học [54] của Nguyễn Thị Huệ, xuất bản
năm 2008, theo ấn phẩm đã viết có nhiều cách phân loại bảo tàng, nếu xét
dưới góc độ quản lý hệ thống bảo tàng ở Việt Nam được phân chia thành: các
bảo tàng quốc gia, các bảo tàng chuyên ngành, các bảo tàng địa phương, các bảo tàng tư nhân Hay căn cứ vào chức năng xã hội của bảo tàng thì bảo tàng
Trang 40được chia thành: bảo tàng công cộng, bảo tàng nghiên cứu khoa học, bảo học
đường
NCS cho rằng việc xác định loại hình cho từng bảo tàng nhằm mục đích giúp cho người xem, người nghiên cứu nhận thức rõ nội dung nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và trong NTTB việc xác định loại hình nhằm tìm ra phong cách thể hiện NTTB phù hợp Vì vậy NCS cho rằng cách phân loại bảo tàng theo loại hình là rõ tính chất và nội dung của bảo tàng, ở Việt Nam có các loại hình bảo tàng như sau:
Nhóm bảo tàng loại hình lịch sử xã hội là những bảo tàng tương ứng với
các ngành khoa học có đối tượng nghiên cứu là các lĩnh vực khác nhau trong
sự phát triển của xã hội
Nhóm bảo tàng loại hình nghệ thuật là những bảo tàng sưu tầm, bảo
quản, nghiên cứu, trưng bày tuyên truyền giới thiệu các di sản nghệ thuật, giới thiệu tiểu sử, những hoạt động nghệ thuật đặc biệt của các nghệ sĩ, cá nhân, tập thể, trường phái và các khuynh hướng nghệ thuật nhằm giáo dục thẩm
mỹ cho quần chúng nhân dân
Nhóm bảo tàng loại hình khoa học - kỹ thuật là những bảo tàng sưu tập,
bảo quản, trưng bày các sưu tập hiện vật gốc với sự ra đời của các ngành khoa học - nghệ thuật và công nghệ, nhằm giới thiệu một quy trình kỹ thuật - công nghệ của từng ngành khoa học - kỹ thuật cụ thể
Nhóm bảo tàng loại hình lịch sử tự nhiên - khoa học tự nhiên là những
bảo tàng sưu tập, bảo quản, trưng bày các mẫu vật về thế giới tự nhiên, để nói lên lịch sử phát triển của chúng, các tài nguyên thiên nhiên phong phú của đất nước
1.2.3.2 Hình thức không gian trưng bày bảo tàng
Với sơ đồ dưới, chúng ta có thể thấy được nhiệm vụ quan trọng của không gian trưng bày trong bảo tàng, bảo tàng cung cấp thông tin nội dung