1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích cơ sở tư tưởng cho sự hình thành và phát triển của nhà nước và pháp luật phong kiến việt nam

19 6 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Cơ Sở Tư Tưởng Cho Sự Hình Thành Và Phát Triển Của Nhà Nước Và Pháp Luật Phong Kiến Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thu Hằng, Nguyễn Chí Hiếu, Lê Minh Hưng, Nguyễn Ngọc Khánh Huyền, Nguyễn Tuấn Minh Khôi, Nguyễn Hoàng Lan, Cao Nguyễn Khánh Linh, Nguyễn Kim Hà Linh
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Lịch Sử Nhà Nước Và Pháp Luật
Thể loại bài tập nhóm
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 606,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể nói, sự kết hợp hài hòa của tư tưởng nho giáo, tư tưởng pháp trị, tư tưởng từ bi hỉ xả của đạo Phật, các tư tưởng truyền thống, đã đặt nền móng vững chắc cho con đường hình thành

Trang 1

BÀI TẬP NHÓM

ĐỀỀ BÀI: 01

Phân tích cơ sở tư tưởng cho sự hình thành và phát triển của

nhà nước và pháp luật phong kiến Việt Nam

L P: 4633 Ớ NHÓM: 2

Trang 2

B Nội dung………2

I Tư tưởng Nho giáo……… 2

II Tư tưởng pháp trị……… 5

III Tư tưởng từ bi hỉ sả của đạo Phật……….9

IV Tư tưởng truyền thống………10

V.Nhận xét và so sánh………12

C Kết luận………13

Tài liệu tham khảo……… 14

Trang 3

A PHẦN THÔNG TIN

Đề bài: Phân tích cơ sở tư tưởng cho sự hình thành và phát triển của nhà nước và

pháp luật phong kiến Việt Nam.

Nhóm: 2 – Lớp: 4633

Thành viên nhóm:

Nguyễn Thu Hằng: 463309 Nguyễn Chí Hiếu: 463310

Lê Minh Hưng: 463311 Nguyễn Ngọc Khánh Huyền: 463312 Nguyễn Tuấn Minh Khôi: 463313 Nguyễn Hoàng Lan: 463314 Cao Nguyễn Khánh Linh: 463315 Nguyễn Kim Hà Linh (nhóm trưởng): 463316

Trang 4

B PHẦN NỘI DUNG

LỜI MỞ ĐẦU

“Nhà nước và pháp luật thời phong kiến Việt Nam” là nguồn đề tài lịch sử lớn được nhiều học giả đặc biệt quan tâm và nghiên cứu Bởi lẽ, để hiểu được một cách thiết thực và chính xác nhất về luật pháp và nhà nước Việt Nam, trước hết ta phải hiểu rõ được về cơ sở tư tưởng trong lịch sử phát triển nhà nước và pháp luật Việt Nam Có thể nói, sự kết hợp hài hòa của tư tưởng nho giáo, tư tưởng pháp trị,

tư tưởng từ bi hỉ xả của đạo Phật, các tư tưởng truyền thống, đã đặt nền móng vững chắc cho con đường hình thành và phát triển lên nhà nước và pháp luật Việt Nam thời kỳ phong kiến Tuy không hoàn toàn giống nhau về mặt nội dung, đường lối và chính sách cai trị trong từng tư tưởng, nhưng nhìn chung các tư tưởng trên chính là

lý luận để xây dựng đất nước, lấy nó làm tư tưởng chính để bảo vệ lợi ích của triều đình, và bảo đảm pháp luật được thực hiện một cách nghiêm chỉnh Dựa vào những

cơ sở tư tưởng nêu trên nhà nước và pháp luật thời kì phong kiến Việt Nam đã hình thành và phát triển

I Tư tưởng Nho giáo

1 Giới thiệu về Nho giáo (*) 1

Nho giáo được truyền bá vào Việt Nam từ những thế kỉ đầu Công nguyên, suốt thời kì Bắc thuộc Qua thời gian, những quan điểm chính trị - pháp lý của Nho giáo trở thành nền tảng để giai cấp thống trị xây dựng các thiết chế về bộ máy chính trị và pháp luật

Nội dung cơ bản của Nho giáo phát triển suốt hơn 2000 năm nay là về Ngũ luân (các quan hệ vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bè bạ) và Ngũ thường

1 Giáo trình Lịch sử Nhà nước và pháp luật Việt Nam 2021, Trường Đại học Luật

Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, tr 65,66,67

Trang 5

(năm đạo ăn ở của con người phải có: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín ) Ngoài ra còn có các quan điểm chính trị - pháp lý cơ bản:

- Đầu tiên, quan điểm Thiên mệnh của Nho giáo trời chọn ra người thông minh, tài đức trong thiên hạ để thay trời cai trị nhân dân, được gọi là Thiên tử (con vua) Quan điểm trên đã thần bí hóa vương quyền, làm cơ sở cho sự kết hợp giữa hai thế lực thần quyền và vương quyền để cai trị nhân dân và cũng là cơ sở để hạn chế quyền lực của nhà vua

nhà vua “Trời không có hai mặt trời, trăm họ không có hai thiên tử” Chính vì vậy, nhà vua có quyền lực tối cao không ai sánh bằng

quyền lực nhà nước: Địa vị đạt được phải xứng đáng, địa vị phải tương xứng với đạo đức, danh nào thì phận nấy

phép cũ của ông cha Chính quan điểm này đã gây ra sự trì trệ, bảo thủ cho bộ máy nhà nước phong kiến Việt Nam do hạn chế đi sự đổi mới trong đường lối cai trị

Từ những quan điểm trên, có thể thấy các triều đại phong kiến Việt Nam chủ trương đường lối Đức trị, đề cao việc tu thân, giáo hóa nhân dân bằng lễ, nhạc

2 Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo vào quá trình hình thành và phát triển nhà nước và pháp luật phong kiến Việt Nam

a Ảnh hưởng của Nho giáo cho quá trình hình thành và phát triển nhà nước phong kiến Việt Nam

Được truyền bá vào Việt Nam từ đầu Công nguyên, tuy va vấp phải sự đối kháng ban đầu, nhưng Nho giáo dần dần được các triều đại phong kiến tiếp nhận theo thời gian, được sử dụng thành công cụ trị nước suốt chiều dài lịch sử cho đến

Trang 6

khi chế độ phong kiến lụi tàn Quá trình tiếp nhận tư tưởng Nho giáo nước ta được chia làm ba thời kỳ

Thời kì đầu khi nước ta dưới thời Bắc thuộc, Nho giáo xâm nhập như một

âm mưu đồng hóa dân ta của tộc Hoa Hạ phương Bắc Do vậy ở thời kì này dân ta tiếp thu Nho giáo rất chậm chạp

Đến giai đoạn từ thế kỉ X đến XV, trước yêu cầu về xây dựng và củng cố nhà nước Đại Việt, lúc này các giai cấp quý tộc phong kiến đã chủ động tiếp thu Nho giáo qua hoạt động giao thương, buôn bán, trao đổi hàng hóa với Trung Hoa nhưng chưa đáng kể mà vẫn còn đậm nét văn hóa truyền thống dân tộc Việt

- Các triều đại Ngô – Đinh – Tiền Lê tồn tại quá ngắn ngủi, không đủ thời gian để thiết lập bộ máy nhà nước vững mạnh, kỉ cương chặt chẽ Nho giáo lúc này vẫn còn mờ nhạt, vẫn chưa thể hiện được sức ảnh hưởng bởi thể chế chính trị và các tập tục của các triều đại này không xây dựng khớp theo mẫu tư tưởng Nho giáo

- Đến thời nhà Lý – Trần, với nhu cầu củng cố nhà nước quân chủ tập quyền và trật tự của xã hội phong kiến, nhu cầu phát triển văn hóa giáo dục Lúc này, Nho giáo với chủ trương tôn quân, đã được các giai cấp thống trị vận dụng triệt

để để vận hành và quản lý đất nước Nhà Trần thi hành nhiều chính sách tuyển chọn người tài qua các kì thi Hương, Hội Tầng lớp Nho gia thời đó trở thành một lực lượng đông đảo trong xã hội Thông qua con đường khoa cử, họ tham gia vào bộ máy nhà nước và hoạt động tích cực trên nhiều lĩnh vực

Ở giai đoạn thứ ba, tương ứng với thời kỳ lịch sử từ thế kỷ XV đến XIX, các triều đại từ nhà Lê đến nhà Nguyễn đã dựa vào tư tưởng Nho giáo để tuyển lựa và chấn chỉnh bộ máy quan lại, dùng cương thường đạo lý, tập quán tông pháp để chuẩn mực hóa hành vi của nhân dân:

- Ở trên, ta đã thấy rõ từng bước phát triển xâm nhập của Nho giáo trong chính trị và đời sống dân tộc ngày một rõ rệt Nhưng phải sang đến triều Lê Sơ, khi

Trang 7

chế độ phong kiến Việt Nam ở giai đoạn cực thịnh Giai cấp cầm quyền đã đề cao Nho giáo hết sức, xem đó là cơ sở lý luận để xây dựng đất nước, lấy nó làm tư tưởng chính để bảo vệ lợi ích của triều đình Nho giáo lúc này đã ăn sâu vào quan niệm về đạo đức, thẩm mỹ, văn hóa, tạo thành nhiều tập quán địa phương,… bao gồm cả pháp luật mà nổi bật là Bộ Quốc triều hình luật

- Ở triều đại cuối cùng của chế độ phong kiến, thế thời nhiều thay đổi Nhà Nguyễn với nhiều biến động, vua quan nhà Nguyễn ra sức phục hồi Nho giáo

để củng cố địa vị của mình Gia Long còn ban hành bộ Hoàng Việt luật lệ tham khảo sát sao từ Thanh quốc làm công cụ để bảo vệ Tam cương, Ngũ thường, trong đó có bao gồm cả tội bất trung Cuối cùng, càng về sau, sự tiếp nhận Nho giáo diễn ra một cách cực đoan hơn, là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự suy tàn cùng với chế độ phong kiến

b Ảnh hưởng của Nho giáo cho quá trình hình thành và phát triển pháp luật phong kiến Việt Nam

Pháp luật truyền thống của Việt Nam có sự tương đồng với các quốc gia đồng văn như Nhật Bản, Hàn Quốc, Triều Tiên do ảnh hưởng lớn từ tư tưởng trị nước của đạo Khổng Pháp luật Khổng giáo chủ yếu trị dân qua lễ và hình Lễ là tiết chế lòng dân, hình là để ngăn chặn điều xấu Các triều đại phong kiến Việt Nam cũng tiếp nhận và sáng tạo dựa trên những yếu tố ấy Tiêu biểu là bộ Quốc Triều hình luật thời Lê Sơ – được coi là công cụ để củng cố nhà nước trung ương tập quyền dựa trên chế độ vương quyền của Nho giáo Bộ Luật này đã thể chế hóa quan điểm chính danh của Nho giáo nhằm răn đe và buộc các quan lại, tướng lĩnh chỉ làm nhiệm vụ phụ tá và thực thi quyền lực nhà vua theo quan niệm Tôn quân được quy định cụ thể ở các điều 102, 103, 125 và 126 Dựa trên cơ sở Tam cương, Ngũ thường, Luật Hồng Đức điều chỉnh tất cả những mối quan hệ nhân thân và tài sản của gia đình, các đạo lý làm chồng, làm vợ và làm con nhằm bảo vệ chế độ tông pháp; coi gia đình là cơ sở quan trọng nhất để tạo lập kỉ cương xã hội Chữ “hiếu”

Trang 8

được đề cao hơn bao giờ hết, không hiếu kính cha mẹ còn bị xét vào Thập ác tội Trong quan hệ vợ chồng có quy định Thất xuất (bảy trường hợp chồng được phép bỏ vợ) và Tam bất khứ (ba trường hợp người chồng không được phép bỏ vợ ) Trong suốt chiều dài lịch sử phát triển pháp luật phong kiến Việt Nam chưa từng có bộ luật nào áp dụng một cách xuất sắc những nguyên tắc trị nước Nho giáo mà sáng tạo và tiến bộ như Luật Hồng Đức Có thể nói, tư tưởng đạo đức Nho giáo thời kì này đã

ăn sâu vào đời sống chính trị, pháp luật Đại Việt

II Tư tưởng pháp trị

1 Khái niệm của pháp trị

Tư tưởng pháp trị ra đời trong thời kì Xuân thu - Chiến quốc Hàn Phi (281 - 233 TCN) được cho là nhà tư tưởng của pháp trị Pháp trị là việc nhà vua có2

quyền ban hành pháp luật, mặc dù pháp luật được mọi người tuân theo một cách tuyệt đối nhưng việc ban hành pháp luật lại dựa trên sự độc đoán của nhà vua Hàn3

Phi cho rằng để pháp luật có thể cai trị đất nước cần phải có ba yếu tố: Pháp, Thế và Thuật

với xã hội, “Cũng theo Hàn Phi, đã đặt ra pháp luật thì từ trên xuống dưới, từ sang đến hèn bất cứ ai cũng phải tuân theo pháp luật, cũng bình đẳng trước pháp luật” 4

quyền lực so cho pháp luật được thi hành

2 ,3TS Nguyễn Sĩ Dũng, Báo Nhân dân, 2018

3

4 ,5Vũ Thị Nga “Luận văn thạc sĩ”, Trường đại học Luật Hà Nội,2000, tr 28,30 ,

Trang 9

- Thuật: Để bảo đảm uy quyền và việc thực thi pháp luật, nhà vua cần

phải có những phương pháp “điều khiển quan lại, buộc họ phải tuân thủ pháp luật, bảo vệ pháp luật, ngăn ngừa quan lạm dụng pháp luật” 5

2 Tư tưởng pháp trị trong việc hình thành và pháp triển của nhà nước và pháp luật phong kiến Việt Nam.

a Tư tưởng pháp trị trong việc hình thành nhà nước

Trải qua hơn 1000 năm dưới ách thống trị của các triều đại Trung Quốc, những tư tưởng pháp trị dần được dân tộc Đại Việt tiếp nhận Tư tưởng pháp trị đã có sức ảnh hưởng lớn ngay từ những năm đầu tiên của các triều đại Ngô -Đinh - Tiền Lê cho đến những năm cuối cùng triều đại nhà Nguyễn trong việc xây dựng và hình thành đất nước

Tiếp thu kiến thức từ các triều đại trước, triều Hậu Lê đã có những nhận thức về tầm quan trọng trong việc hoàn thiện bộ máy nhà nước, đồng thời thấy được vai trò của nhà nước trong việc xây dựng pháp luật, bảo vệ quyền lợi Nhân dân Nhà nước phải đưa ra những chính sách có lợi cho dân Nhà nước phải ý thức được rằng cuộc sống Nhân dân phải đầy đủ, phải được ưu tiên, cần phải có những bảo đảm dân không phải chịu khổ, chịu đói, chịu rét, “Để dân được no ấm, cần bớt

sự trưng thuế và cung ứng” Ngoài ra, thời kì Hậu Lê còn nhận thức được sâu sắc6

vai trò của nhà nước trong việc bảo đảm sự công khai, minh bạch của pháp luật, pháp luật phải phù hợp với đời sống xã hội, phải phù hợp với đạo đức, “Người ta sở

dĩ khác giống cầm thú là vì có lễ để phong giữ Nếu không có lễ thì bừa bãi tình dục, phóng đãng xằng bậy, không gì không làm” Bên cạnh đó, để bảo đảm pháp luật7

5

6 Th.S Hoàng Ngọc Vĩnh, Đại cương lịch sử Triết học, 2004, Trường Đại Học Y Khoa Huế

7 Ngô Sĩ Liên, Sđd, tr.652

Trang 10

được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, vua Lê Thánh Tông đã có những biện pháp

xử lý những hành vi vi phạm pháp luật, ngay cả đối với các quan chức nhà nước,

“Đặt luật là để trừ kẻ gian, sao dung được bọn coi thường pháp luật” 8

Sang triều đại cuối cùng của lịch sử phong kiến Việt Nam, tư tưởng pháp trị được đề cao, kết hợp với tư tưởng đức trị, nhà Nguyễn đã xây dựng một nền quân chủ chuyên chế với trung tâm quyền lực là nhà Vua Tiếp nhận những tinh hoa

từ thời Hậu Lê, triều Nguyễn coi Nhân dân là đối tượng hướng đến của nhà nước, Minh Mệnh đã xác định: “Dân lấy việc ăn làm lớn nhất” , từ đó ông đã có những9

chủ trương cải thiện đời sống dân sinh Xét về mặt hạn chế và kiểm soát quyền lực nhà nước, triều Nguyễn có phần hoàn thiện hơn so với triều Hậu Lê Minh Mệnh đã

có quy định về việc tổ chức, nhiệm vụ, chức năng và quyền hạn của các bộ, cơ quan giúp việc của nhà vua Đặc biệt, ở triều Nguyễn còn có Tam pháp ty (gồm Đại lý tự phụ trách việc xét xử, Đô sát viện phụ trách việc kiểm sát và các bộ) có trụ sở ở Công chính đường, thực hiện chức năng trình đơn và phân bố việc thi hành cho các

cơ quan tương ứng Ngoài những cơ quan trên còn có những cơ quan cấp địa10

phương có vai trò đóng góp, giúp việc cho nhà vua

b Tư tưởng pháp trị trong việc hình thành pháp luật

Dưới sự cai trị của nhà Hậu Lê, triều đại có đời sống pháp lý phong phú nhất Trong cuộc sống, luật đã được phát huy tối đa Hệ thống ban hành văn bản quy phạm pháp luật chiếm một số lượng đáng kể dưới các hình thức khác nhau, bao gồm: Bộ Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức, 1428), bộ Luật thư do Nguyễn Trãi biên soạn (1440), Bộ Lê triều quan chế (1471), Thiên Nam dư hạ tập (1483),

8 Ngô Sĩ Liên, Sđd, tr.622

9 Đại Nam Thực lục chính biên, Sđd, Tập XII, tr 91

10 TS Phan Thị Lan Hương, TS Phạm Thị Duyên Thảo, Tư tưởng đề cao pháp luật

trong các triều đại phong kiến Việt Nam”, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 11

Hồng Đức thiện chính thư (1470), Quốc triều khám tụng điều lệ (1777), cùng hàng trăm văn bản pháp luật đơn hành như chiếu, chỉ, dụ, sắc, lệnh của nhà vua được ban hành11, cùng hàng trăm văn bản luật lệ như ghế, đạo, chỉ, dụ, vua Đến thời Lê sơ sau này, trong đời sống pháp luật đã thực sự trở thành công cụ quản lý đất nước, phương tiện cao nhất bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân và trật tự xã hội

Đó là chỉ tiêu đo lường chất lượng của hệ thống các quan lại triều Lê thi hành công

vụ trên cơ sở nghiêm chỉnh tuân thủ pháp luật Các quy tắc quản lý xã hội và phong tục tập quán của dân tộc thời kỳ này vẫn đang được dung hòa bằng quy luật Tính công khai luôn phải được bảo đảm bởi nhà nước, tính minh bạch của luật pháp, luật pháp phải luôn được xây dựng phù hợp với đạo đức, và nó phải là công cụ để bảo vệ đạo đức Luật Cơ bản Hậu Lê quy định các chức vụ chính thức dưới hai hình thức: một là chức vụ chính thức, hai là trách nhiệm pháp lý Chính trực, siêng năng, công bằng là điều cán bộ luôn phải có trong quá trình thi hành công vụ, đồng thời phải chuẩn bị cho những hậu quả nếu vi phạm pháp luật Đề cao vai trò của nhà nước trong việc tổ chức thực thi pháp luật và bảo vệ lợi ích của nhân dân Vì vậy, các chính sách quốc gia có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến mục tiêu đạt được thịnh vượng và hòa bình cho người dân Vào thời Hậu Lê, tôn trọng luật pháp đã trở thành thói quen và nếp sống của mọi người

Là triều đại cuối cùng trong lịch sử phong kiến Việt Nam, nhà Nguyễn

đã thiết lập một hệ thống chính trị với hệ thống luật pháp quy mô trên tinh thần kế thừa những thành tựu của các triều đại trước Nhà Nguyễn rất coi trọng công tác lập pháp, tiêu biểu có thể kể đến như: Bộ Hoàng Việt luật lệ (1815), Hội điển toát yếu (1833), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (1843-1855), Minh Mệnh chính yếu, Đại

chỉnh các quan hệ xã hội Trong quản lý xã hội chú trọng sự kết hợp giữa khái niệm

Trang 12

nhà nước pháp quyền và nhà nước pháp quyền Theo quan điểm của Vương triều, luật pháp và hệ thống hình phạt của nó không chỉ để "giáo dục kẻ ác" và "loại bỏ lòng tham", mà còn để hạn chế hành vi của quân vương và các quan đại thần12.Trong lĩnh vực quan hệ pháp luật, Bộ luật Gia Long được đánh giá là chưa kế thừa đầy đủ những tiến bộ của Bộ luật Hồng Đức, những tinh thần nhân đạo vẫn được thể hiện

rõ ràng, kết hợp pháp quyền với đạo đức, thuần phong mỹ tục dân tộc.Trong lĩnh vực tố tụng, luật triều Nguyễn chuyên xử lý toàn bộ các vụ án từ thụ lý, điều tra, xem xét, giam giữ, xét xử, thi hành án đều thuộc thẩm quyền của tòa án Làm rõ các thủ tục bắt, giam, xét hỏi, xét xử và thi hành án Nâng cao vai trò của thực thi pháp luật: Để pháp luật thực sự có hiệu lực, pháp luật phải được sử dụng một cách hợp lý,

và người sử dụng pháp luật cần có một mức độ linh hoạt nhất định Đối tượng của hình phạt phải là đúng người phạm tội, và trách nhiệm phải được đặt trực tiếp vào người phạm tội Bảo vệ lợi ích của người dân Trước hết, "Dân là gốc của nước, dân không thương thì hưởng phú quý mãi sao?” Pháp luật là đại lượng cơ bản hạn chế,13

hạn chế và kiểm soát quyền lực nhà nước, so với thời Hậu Lê, việc chế định và thực hiện quyền lực của nhà Nguyễn triệt để hơn, hệ thống hoàn thiện hơn

Qua các triều đại trong lịch sử phong kiến Việt Nam, tuy không hoàn toàn giống nhau trong đường lối và chính sách cai trị nhưng chung quy lại đã ít nhiều đã thể hiện tư tưởng đề cao pháp trị trong việc hình thành và phát triển nhà nước và pháp luật

III Tư tưởng từ bi hỉ xả của đạo Phật

1 Giới thiệu về tư tưởng từ bi hỉ xả của đạo Phật

a Nguồn gốc

13 32 Đại Nam Thực lục chính biên, Sđd, Tập XII, tr 91

Ngày đăng: 23/12/2023, 17:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w