5 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC SỬ DỤNG KỸ THUẬT MẢNH GHÉP TRONG GIỜ THỰC HÀNH RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LẬP LUẬN TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH LỚP 11 .... Thực trạng sử dụng kỹ thuậ
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Khóa luận này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của PGS TS Lê Thị Phượng giảng viên khoa khoa học xã hội trương Đại học Hồng Đức
Tôi xin cam đoan mọi kết quả trình bày trong khóa luận này là hoàn toàn trung thực, không trùng lặp với các khóa luận, luận văn, luận án và các công trình nghiên cứu đã công bố
Người cam đoan
Nguyễn Thị Hoài
Trang 2MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Giả thiết nghiên cứu 3
4 Đối tượng nghiên cứu 3
5 Phạm vi nghiên cứu 3
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
7 Phương pháp điều tra 4
8 Đóng góp của đề tài nghiên cứu 4
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC SỬ DỤNG KỸ THUẬT MẢNH GHÉP TRONG GIỜ THỰC HÀNH RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LẬP LUẬN TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH LỚP 11 5
1.1 Những vấn đề chung về kỹ thuật mảnh ghép 5
1.1.1 Khái niệm 5
1.1.2 Đặc điểm 6
1.1.3 Vai trò và tác dụng của kỹ thuật mảnh ghép 7
1.2 Văn nghị luận và đặc trưng của văn Nghị luận 9
1.2.1 Khái niệm 9
1.2.2 Đặc trưng 9
1.2.3 Đặc điểm 11
1.2.4 Văn nghị luận trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 11 12
1.3 Thực trạng sử dụng kỹ thuật dạy học tích cực – kỹ thuật mảnh ghép trong giờ thực hành rèn luyện kỹ năng lập luận trong bài văn nghị luận cho học sinh lớp 11 14
Trang 3CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP, QUY TRÌNH SỬ DỤNG KỸ THUẬT MẢNH GHÉP TRONG GIỜ THỰC HÀNH RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LẬP LUẬN
TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN CHO HS LỚP 11, THPT 16
2.1 Quy trình sử dụng kỹ thuật mảnh ghép trong giờ thực hành rèn luyện kỹ năng lập luận cho học sinh lớp 11 16
2.2 Biện pháp thực hiện 19
2.2.1 Sử dụng kỹ thuật mảnh ghép vào trong giờ thực hành rèn luyện kỹ năng lập luận trong bài văn nghị luận Cụ thể tiết: “Luyện tập thao tác lập luận phân tích” 19
2.2.2 Sử dụng kỹ thuật mảnh ghép vào trong giờ thực hành rèn luyện kỹ năng lập luận trong bài văn nghị luận Cụ thể tiết: “ luyện tập thao tác lập luận bình luận” 24
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SỬ DỤNG KỸ THUẬT MẢNH GHÉP TRONG GIỜ THỰC HÀNH RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LẬP LUẬN TRONG VĂN NGHỊ LUẬN CHO HS LỚP 11, THPT 40
3.1 Những vấn đề chung của thực nghiệm 40
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 40
3.1.2 Nội dung thực nghiệm 40
3.1.3 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 40
3.1.4 Cách tiến hành thực nghiệm 40
3.2 Giáo án thực nghiệm và giáo án đối chứng 40
3.2.1 Giáo án thực nghiệm 40
3.2.2 So sánh mô hình giáo án thực nghiệm và giáo án đối chứng 63
3.3 Kết quả dạy học thực nghiệm và dạy học đối chứng 67
3.4 Đánh giá dạy học thực nghiệm 69
3.4.1 Ưu điểm 69
3.4.2 Những khó khăn bất cập 69
Kết luận thực nghiệm 70
PHẦN KẾT LUẬN 71
KIẾN NGHỊ 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
PHỤ LỤC 74
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
- Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học
Dạy học là hoạt động đặc trưng, chủ yếu và có vai trò quyết định chất lượng đào tạo của trường phổ thông Cùng với sự phất triển cảu kinh tế, xã hội, khoa học kĩ thuật hoạt động dạy học dần dần thay đổi từ dạy học lấy người giáo viên làm trung tâm chuyển sang dạy học lấy học sinh làm trung tâm, đồng thời chuyển dần từ học tập thụ động sang học tập chủ động, tích cực
Trong nhiều thập kỉ qua, ở nước ta phương pháp dạy học bị ảnh hưởng nặng nề của cách dạy học truyền thống, với phương pháp độc thoại, truyền thụ kiến thức một chiều, người dạy chú trọng giảng giải minh họa, thông báo kiến thức, học sinh chăm chú nghe, ghi chép, lĩnh hội kiến thức một cách thụ động Kết quả đêm lại là học sinh chỉ biết vâng lời, làm theo, bắt chước, kiểu học vẹt, nắm lí thuyết suông, không có sự năng động, sáng tạo, không đấp ứng yếu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trước tình hình đó thì Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến giáo dục
phổ thông: Luật giáo dục công bố 2005, điều 28.2 đã ghi “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với từng đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dựng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh”
Đổi mới phương pháp dạy học cần phải đáp ứng được mục tiêu giáo dục mới đó là không chỉ nằm trang bị cho học sinh những kiến thức, kĩ năng
đã có của nhân loại mà chú trọng tới vận dụng kiến thúc, kĩ năng vào cuộc sống đặc biệt quan tâm tới phát triển năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề phù hợp với hoàn cảnh Điều đó có nghĩa là dạy học không phải chủ yếu truyền đạt, cung cấp thông tin mà chủ yếu rèn khả năng tìm kiếm kiến thức và chiếm lĩnh kiến thức
Trang 6- Xuất phát từ thực tiễn dạy học bộ môn
Đặc thù của môn Ngữ văn là môn khoa học - nghệ thuật vì thế cần phải tạo hứng thú trong việc học văn, bồi dưỡng lòng yêu mến, thật sự thoải mái khi tiếp cận, gần gũi con người, phục vụ nhu cầu tâm hồn văn chương nghệ thuật cho con người Không những thế bộ môn Ngữ văn còn là môn khoa học – nghệ thuật
vì thế cần phải tạo hứng thú trong việc học văn, bồi dưỡng lòng yêu mến, thật sự thoải mái khi tiếp cận, gần gũi con người, phục vụ nhu cầu tâm hồn văn chương nghệ thuật cho con người
Sách giáo khoa Ngữ văn được biên soạn theo chương trình mới phát huy tính tích cực học tập của học sinh, và tính sáng tạo của học sinh Nội dung sách có nhiều đổi mới tạo điều kiện cho giáo viên và học sinh áp dụng những phương pháp, kĩ thuật dạy học mới, đem lại hiệu quả cao trong học hoạt động dạy và học
- Xuất phát từ vai trò của kỹ thuật mảnh ghép trong dạy học
Khi dạy và học môn Ngữ văn, đặc biệt là phân môn Làm văn nói chung và dạy học văn Nghị luận nói riêng thì việc sử dụng kỹ thuật mảnh ghép có thể phát huy được năng lực cá nhân, nhóm và kết hợp các nhóm để tìm hiểu những yêu cầu của phân môn Làm văn nói chung và dạy học văn Nghị luận nói riêng
Nghị luận là một trong những kiểu văn có lịch sử lâu đời Ở mỗi giai đoạn cải cách giáo dục, văn Nghị luận đều có những thay đổi căn bản về quan điểm
và nội dung dạy học nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục của thời đại Nếu như ở chương trình, SGK Làm văn trước dây phân chia kiểu bài nghị luận theo thao tác tư duy đơn lẻ thì bây giờ chương trình SGK Ngữ văn THPT hiện hành đổi mới quan niệm phân chia kiểu văn bản theo phương thức biểu đạt và các TTLL trong tạo lập văn bản và trong văn Nghị luận
Và kỹ thật mảnh ghép là một trong những kỹ thuật dạy học sẽ tạo ra những hoạt động sáng tạo, đa dạng, phong phú, các em học sinh có thể tham gia vào các hoạt động với nhiệm vụ khác nhau cùng với những mức độ yêu cầu khác nhau Sử dụng kỹ thuật mảnh ghép khiến cho học sinh chủ động sáng tạo, tích
Trang 7cực, nỗ lực tham gia và bị cuốn hút vào các hoạt động để hoàn thành nhiệm vụ, vai trò của mỗi cá nhân
Thông qua đó học sinh sẽ dần hình thành tính tự chủ động, linh hoạt, năng động, sáng tạo, có tinh thần trách nhiệm cao trong học tập đối với bản thân và các bạn trong lớp Qua đó hình thành cho học sinh những kỹ năng giao tiếp, trình bày, hợp tác, giải quyết vấn đề
Với những lí do trên tôi chọn đề tài: “Sử dụng kỹ thuật mảnh ghép trong giờ thực hành rèn luyện kỹ năng lập luận trong văn nghị luận cho học sinh lớp 11, THPT”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này nhằm đề xuất được các biện pháp, cách thức sử dụng
kỹ thuật mảnh ghép trong giờ thực hành rèn luyện kỹ năng lập luận trong văn nghị luận cho học sinh lớp 11, THPT
3 Giả thiết nghiên cứu
Nếu như sử dụng hợp lí, khoa học kỹ thuật mảnh ghép tổ chức các hoạt động dạy học trong giờ thực hành rèn luyện kỹ năng xây dựng lập luận trong văn nghị luận sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học phân môn Làm văn nói chung và dạy học văn Nghị luận nói riêng
4 Đối tƣợng nghiên cứu
Sử dụng kỹ thật mảnh ghép trong giờ thực hành rèn luyện kỹ năng lập luận trong văn nghị luận cho học sinh lớp 11
5 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu vận dụng kỹ thuật mảnh ghép trong giờ thực hành rèn luyện kỹ năng lập luận trong văn nghị luận cho học sinh lớp 11, THPT
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu cơ sở khoa học của việc sử dụng kỹ thuật mảnh ghép trong giờ thực hành rèn luyện kỹ năng lập luận trong bài văn nghị luận cho học sinh lớp 11
Trang 86.2 Điều tra thực trạng về tình hình sử dụng kỹ thuật mảnh ghép trong dạy học phân môn Làm văn nói chung và trong dạy học văn Nghị luận nói riêng 6.3 Biện pháp, quy trình sử dụng kỹ thuật mảnh ghép trong giờ thực hành rèn luyện kỹ năng lập luận trong bài văn nghị luận cho học sinh lớp 11, THPT 6.4 Soạn giáo án có sử dụng kỹ thuật mảnh ghép trong giờ thực hành rèn luyện kỹ năng lập luận trong bài văn nghị luận
6.5 Lấy ý kiến đánh giá về chất lượng bài đã sử dụng kỹ thuật mảnh ghép
7 Phương pháp điều tra
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu các tài liệu về kĩ thuật mảnh ghép, các lí luận văn học, sách giáo khoa và các tài liệu liên quan đến đề tài
7.2 Phương pháp điều tra
Thông qua các phiếu điều tra, dự giờ, thăm dò ý kiến của giáo viên sử dụng
kỹ thuật mảnh ghép trong dạy học hiện nay
8 Đóng góp của đề tài nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở khoa học của việc sử dụng kỹ thuật mảnh ghép Đồng thời đề xuất các biện pháp, cách thức sử dụng kỹ thuật mảnh ghép trong các tiết dạy thực hành rèn luyện kỹ năng lập luận trong bài văn nghị luận
Trang 9NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC SỬ DỤNG KỸ THUẬT MẢNH GHÉP TRONG GIỜ THỰC HÀNH RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LẬP LUẬN TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH LỚP 11 1.1 Những vấn đề chung về kỹ thuật mảnh ghép
1.1.1 Khái niệm
Cùng với sự phát triển của các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực thì kỹ thuật mảnh ghép cũng đang ngày càng được biết đến và sử dụng vào trong dạy học GV có thể biết đến kỹ thuật mảnh ghép từ sách, báo, internet, các chương trình tập huấn hoặc từ đồng nghiệp, sinh viên các ngành sư phạm có thể đượchoặc kỹ thuật mảnh ghép trong phương pháp vag kỹ thuật dạy học tích cực
Đã có các bài báo viết về kỹ thuật này như: Phương pháp dùng các “mảnh ghép” là cách dạy học tốt của giảng viên Trần Thị Dung đăng trên trang dantri.com.vn; Sử dụng kỹ thuật mảnh ghép trong dạy học hợp tác theo nhóm thông qua môn Ngữ văn nhằm tích cực và nâng cao hiệu quả hoạt động học tập của học sinh của tác giả Phạm Thị Bình, Đặng Thị Oanh, Nguyễn Thị Ngát –
Đại học sư phạm Hà Nội Bên cạnh đó còn có một số luận văn viết về kỹ thuật mảnh ghép này như: Sử dụng kỹ thuật: KWL, khăn phủ bàn và các mảnh ghép trong dạy học phân môn Tiếng Việt lớp 8 (2012) – luận văn thạc sĩ của tác giả
Lê Thị Thanh Tỵ - Đại học sư phạm Thái Nguyên
Kỹ thuật dạy học là các biện pháp , cách thức hành động của giáo viên và học sinh trong các tình hướng hoạt động nhằm thực hiện, giải quyết một nhiệm
vụ nội dung cụ thể Các kỹ thuật dạy học là những đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy học Có những kỹ thuật dạy học chung, có những kỹ thuật dạy học đặc yhuf của từng phương pháp dạy học Ngày nay con người chú trọng phát triển và
sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học như
“động não”, “tia chớp”, “bể cá”, XYZ, Bản đồ tư duy
Trang 10Trong số các kỹ thuật dạy học tích cực thì tôi nhận thấy khi sử dụng kỹ thuật mảnh ghép vào các tiết thực hành rèn luyện kỹ năng lập luận trong văn nghị luận thì các tiết dạy học sẽ tăng thêm phần hứng thú, bản thân người học tự giác động não, không tiếp thu kiến thức một cách thụ động kiến thức
Vậy kỹ thuật các mảnh ghép là kĩ thuật dạy học mang tính hợp tác, kết hợp
giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm giải quyết một nhiệm vụ phức hợp, kích thích sự tham gia tích cực cũng như nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác
1.1.2 Đặc điểm
Kỹ thuật mảnh ghép là kỹ thuật hoạt động tổ chức hợp tác kết hợp giữa các
cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm
Thông qua các hoạt động tổ chức đó thì học sinh gẫn gũi nhau, đoàn kết, rèn luyện được tính chủ động của cá nhân, tự giác và năng động hơn
Là hình thức học tập hợp tác kết hợp giữa cá nhân, nhóm và liên kết giữa các nhóm nhằm:
- Giải quyết một nhiệm vụ phức hợp (có nhiều chủ đề)
- Kích thích sự tham gia tích cực của HS:
- Nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác (Không chỉ hoàn thành nhiệm vụ ở Vòng 1 mà còn phải truyền đạt lại kết quả vòng 1 và hoàn thành nhiệm vụ ở Vòng 2)
Trang 11 Khi thảo luận nhóm phải đảm bảo mỗi thành viên trong từng nhóm đều trả lời được tất cả các câu hỏi trong nhiệm vụ được giao và trở thành “chuyên gia” của lĩnh vực đã tìm hiểu và có khả năng trình bày lại câu trả lời của nhóm ở vòng 2
Khi mọi thành viên trong nhóm mới đều hiểu được tất cả nội dung ở vòng
1 thì nhiệm vụ mới sẽ được giao cho các nhóm để giải quyết
Các nhóm mới thực hiện nhiệm vụ, trình bày và chia sẻ kết quả
Kỹ thuật này áp dụng cho hoạt động nhóm với nhiều chủ đề nhỏ trong tiết học, học sinh được chia nhóm ở vòng 1 (chuyên gia) cùng nghiên cứu một chủ đề Phiếu học tập mỗi chủ đề nên sử dụng trên giấy cùng màu có đánh số 1, 2, 3 , n (nếu không có giấy màu có thể đánh thêm kí tự A, B, C, Ví dụ A1, A2, A3, An, B1, B2, B3, ,Bn)
Sau khi các nhóm ở vòng 1 hoàn tất công việc giáo viên hình thành nhóm mới (mảnh ghép) theo số đã đánh, có thể có nhiều số trong một nhóm mới Bước này phải tiến hành một cách cẩn thận tránh làm cho học sinh bước nhầm nhóm
Và trong điều kiện phòng học hiện nay việc ghép nhóm vòng 2 sẽ gây mất trật tự
1.1.3 Vai trò và tác dụng của kỹ thuật mảnh ghép
Trang 12* Vai trò: Kỹ thuật mảnh ghép có vai trò rất quan trọng đối với việc dạy và học của giáo viên và học sinh Áp dụng kỹ thuật mảnh ghép vào tổ chức dạy và học giúp cho:
Học sinh có thể giải quyết một nhiệm vụ phức hợp
Kích thích sự tham gia tích cực của học sinh trong hoạt động nhóm
Nâng cao vai trò của cá nhân trong quá trình hợp tác (không chỉ nhận thức hoàn thành nhiệm vụ, học tập cá nhân mà còn phải trình bày, truyền đạt lại kết quả và thực hiện tiếp nhiệm vụ ở mức độ cao hơn)
Tăng cường tính độc lập, trách nhiệm học tập của mỗi cá nhân
Học sinh phát triển được kỹ năng trình bày, giao tiếp hợp tác
Học sinh thể hiện khả năng/ năng lực của cá nhân
Tăng cường hiệu quả học tập
=> Kỹ thuật mảnh ghép tạo ra hoạt động đa dạng, phong phú, học sinh được tham gia vào các hoạt động nhiệm vụ khác nhau và các mức độ yêu cầu khác nhau Trong kỹ thuật mảnh ghép khiến học sinh chủ động tích cực, nỗ lực tham gia và bị cuốn hút vào các hoạt động để hoàn thành vai trò trách nhiệm của mỗi cá nhân
* Tác dụng: Kỹ thuật dạy học mảnh ghép là một kỹ thuật dạy học thể hiện
quan điểm, chiến lược dạy học hợp tác, trong đó có kết hợp giữa hoạt động cá nhân, hoạt động nhóm và liên kết giữa các nhóm Cách thức tiến hành kỹ thuật
này như sau: Học sinh được phân thành các nhóm, sau đó giáo viên phân công
cho mỗi nhóm thảo luận, tìm hiểu sâu về một vấn đề của bài học Các nhóm này được gọi là nhóm chuyên sâu Chẳng hạn: nhóm 1- thảo luận vấn đề A, nhóm 2- thảo luận vấn đề B, nhóm 3- thảo luận vấn đề C, nhóm 4- thảo luận thảo luận vấn đề D,… Sau đó, mỗi thành viên của các nhóm chuyên sâu sẽ được tập hợp lại thành các nhóm mới – còn gọi là “nhóm mảnh ghép” Như vậy trong mỗi nhóm mảnh ghép sẽ có đủ các “chuyên gia” về vấn đề A, B, C, D, và mỗi “ chuyên gia” về từng vấn đề sẽ có trách nhiệm trao đổi lại với cả nhóm mới về vấn đề mà em đã có cơ hội tìm hiểu ở nhóm chuyên sâu
Trang 13Chính vì vậy mà kỹ thuật mảnh ghép đóng vai trò to lớn trong việc dạy và học thì kỹ thuật mảnh ghép còn có những tác dụng như:
Kích thích tư duy sáng tạo và tính chủ động cảu học sinh
Phát huy sự năng động của học sinh và rèn luyện cho các em có tinh thần làm việc cá nhân, làm việc tập thể, kỹ năng trình bày kiến thức trước nhóm, hình thành kỹ năng giao tiếp và trình bày trước nhóm
Học sinh hiểu rõ và nắm được nội dung kiến thức
1.2 Văn nghị luận và đặc trƣng của văn Nghị luận
1.2.1 Khái niệm
Văn nghị luận là thể loại văn: “Viết về những vấn đề nóng bỏng thuộc nhiều lĩnh vực đời sống khác nhau: chính trị, kinh tế, triết học, văn hóa… Mục đích của văn nghị luận là bàn bạc, thảo luận, phê phán hay truyền bá tức thời một tư tưởng, một quan điểm nào đó nhằm phục vụ trực tiếp cho lợi ích của một tầng lớp, một giai cấp nhất định
Về cơ bản văn nghị luận là sản phẩm của tư duy lôgíc Nhưng vẻ đẹp của một áng văn nghị luận không chỉ thể hiện ở những tư tưởng đúng đắn, sâu sắc,
nó còn thể hiện ở hình thức lập luận phong phú, lý lẽ đanh thép, giọng điệu thuyết phục cùng sự cuốn hút bởi nhiệt tình và thái độ của mỗi tác giả trước vấn
đề nghị luận
1.2.2 Đặc trưng
Đặc trưng cơ bản của văn nghị luận là tính chất luận thuyết – khác với văn học nghệ thuật, văn chương nghị luận trình bày tư tưởng và thuyết phục người đọc chủ yếu bằng lập luận, lý lẽ…(Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên) - Từ điển thuật ngữ Văn học – NXB Đại học Quốc gia, 4, 1999) Trước đây do quan niệm phiến diện về văn học nên nhiều người cho rằng văn chương chỉ bao gồm những sáng tác bằng tưởng tượng, hư cấu mà ít nghĩ đến văn nghị luận Hoặc có nghĩ đến thì lại cho rằng đây là thể loại thường đề cập đến những tư tưởng cao siêu, trừu tượng, lập luận khó, diễn đạt khô nên không hấp dẫn Do vậy mà văn chương nghị luận rất ít được đưa vào chương
Trang 14trình phổ thông Chỉ có một vài tác phẩm nghị luận trung đại (Sông núi nước Nam, Hịch Tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo) và rất ít tác phẩm nghị luận hiện đại (Tuyên ngôn Độc lập) được đưa vào dạy trong chương trình THCS và cả THPT (theo quan điểm đồng tâm mở rộng) Mảng văn chương nghị luận này còn rất nghèo về đề tài, chưa phong phú về thể loại Trong quá trình dạy, giáo viên lại thường chỉ chú ý khai thác nội dung làm toát nên những quan điểm tư tưởng các các tác giả mà ít chú ý đến vẻ đẹp về hình thức nghệ thuật của các tác phẩm Vì thế việc dạy học các tác phẩm nghị luận thường khô, không hấp dẫn đối với học sinh nên dẫn đến tình trạng học sinh chán học cũng là dễ hiểu Trên thực tế cả ở thế giới và Việt Nam văn chương nghị luận có lịch sử từ rất lâu đời, nó không chỉ có ý nghĩa đối với những vấn đề lớn lao của đất nước, thời đại như công cuộc dựng nước, giữ nước, canh tân đất nước, mà còn rất gần gũi và có ý nghĩa trong đời sống công dân hiện nay Vì thế cụm văn bản nghị luận được tuyển chọn dạy trong chương trình Ngữ văn phổ thông hiện nay (chương trình Ngữ văn THCS hiện hành và chương trình Ngữ văn THPT thí điểm) rất phong phú về
đề tài và đa dạng về thể loại: Có tác phẩm nói về những vấn đề lớn lao của dân tộc, thời đại như tinh thần, ý chí của cha ông trong công cuộc chống ngoại xâm giữ nước (Sông núi nước Nam, Hịch Tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo, Tuyên ngôn Độc lập) Có tác phẩm phản ánh khát vọng của dân tộc về việc xây dựng một quốc gia hùng cường độc lập (Chiếu dời đô, Văn bia khắc ở Văn miếu - Quốc
Tử Giám…) hoặc có tác phẩm phản ánh nhận thức thẩm mỹ của dân tộc và nhân loại, phản ánh về văn chương nghệ thuật bằng những bài nghị luận văn học súc tích, tài hoa, uyên bác (Tựa Trích Diễm thi tập, Một thời đại trong thi ca, Tiếng nói của văn nghệ, Nhận đường, GBốp và Nghệ thuật…), lại có những tác phẩm bàn luận về các vấn đề hết sức gần gũi trong đời sống hàng ngày như luận về phép học (La Sơn Phu Tử), Đi bộ ngao du (Ru xô), Về luân lý xã hội ở nước ta (Phan Châu Trinh), Bàn về đọc sách (Chu Quang Tiềm – Trung Quốc), Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới (Phó Thủ tướng Vũ Khoan)… Như vậy chương trình Ngữ văn ở phổ thông hiện nay đã phản ánh rõ sự chuyển biến nhận thức về vị
Trang 15trí, vai trò của văn chương nghị luận trong đời sống con người Điều quan trọng
là chúng ta dạy những tác phẩm nghị luận như thế nào để trả lại vẻ hấp dẫn thẩm
mỹ đích thực của chúng?
Có thể nói càng ngày văn nghị luận càng phát triển mạnh mẽ, càng trở nên
đa dạng và phong phú Tuy nhiên nếu nhìn từ nội dung đề tài, ta có thể chia văn nghị luận làm hai loại lớn: nghị luận xã hội và nghị luận văn học Nghị luận xã hội là những bài văn bàn về các vấn đề xã hội- nhân sinh: một tư tưởng đạo lí, một lối sống cao đẹp; một hiện tượng tích cực hoặc tiêu cực của đời sống; một vấn đề về thiên nhiên môi trường Nghị luận văn học là những bài văn bàn về các vấn đề văn chương - nghệ thuật: phân tích, bàn luận về vẻ đẹp của tác phẩm văn học, trao đổi về một vấn đề lí luận văn học, hoặc làm sáng tỏ một vấn đề văn học sử Nhìn chung cả hai loại đều nhằm phát biểu tư tưởng, tình cảm, thái
độ, quan điểm của người viết một cách trực tiếp về văn học hoặc chính trị, đạo đức, lối sống bằng một thứ ngôn ngữ trong sáng, hùng hồn, với những lập luận chặt chẽ, mạch lạc giàu sức thuyết phục
* Các yếu tố của lập luận :
- Luận điểm : là ý kiến xác đáng của người viết về vấn đề được đặt ra
Vd : Tác phẩm Chí Phèo xây dựng thành công nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình
Để thuyết minh cho luận điểm lớn, người ta thường đề xuất các luận điểm nhỏ Các luận điểm ấy liên kết với nhau để soi sáng, thuyết minh cho luận điểm lớn của toàn bài
Trang 16- Luận cứ : là những lý lẽ và dc dùng để thuyết minh cho luận điểm
- Luận chứng : là sự phối hợp, tổ chức các lý lẽ và dc để thuyết minh cho luận điểm
Luận chứng phải chặt chẽ, tránh cực đoan, một chiều, phải biết lật đi lật lại vấn đề để xem xét cho cạn lý hết lẽ
* Một số cách luận chứng :
- Diễn dịch : từ một chân lý chung, quy luật chung mà suy ra các hệ luận, các biểu hiện cụ thể
- Quy nạp : từ những chứng cứ cụ thể mà rút ra những nhận định khái quát
- Phối hợp diễn dịch với quy nạp : mô hình cấu tạo của toàn bài văn : tổng - phân - hợp
- Nêu phản đề : lật ngược vấn đề
Nêu luận điểm giả định và phát triển đến tận cùng để chứng tỏ là luận điểm sai Từ đó khẳng định luận điểm của mình
- So sánh :
+ So sánh tương đồng : từ một chân lý đã biết suy ra một chân lý tương tự
có chung lôgích bên trong
+ So sánh tương phản : đối chiếu các mặt trái ngược nhau để làm nổi bật luận điểm
- Phân tích nhân quả :
+ Trình bày nguyên nhân trước, chỉ ra kết quả sau
+ Chỉ ra kết quả trước, trình bày nguyên nhân sau
+ Trình bày hàng loạt sự việc theo quan hệ nhân quả liên hoàn
- Vấn đáp : Nêu câu hỏi rồi trả lời hoặc để người đọc tự trả lời
1.2.4 Văn nghị luận trong chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 11
* Vị trí:
Đây là một nội dung quan trọng để giúp cho các em rèn luyện kỹ năng xây dựng lập luận, đưa các lí thuyết được học vào trong giờ thực hành, để các em có thể củng cố lại những kiến thức đã học, bên cạnh đó ở tiết học này các em sẽ có
Trang 17những bước khởi đầu xây dựng lập luận cho các đoạn văn, bài văn nghị luận, giúp cho học sinh có thể đưa các lý thuyết đi vào thực tiễn
Trên cơ sở nắm vững kiến thức thế nào là lập luận, và cách xây dựng lập luận cũng như các phương pháp lập luận phù hợp từ đó các em học sinh có thể
áp dụng vào xây dựng lập luận trong các bài văn nghị luận
* Nội dung:
Chương trình sách giáo khoa lớp 9, lớp 10, lớp 11, lớp 12:
Lập luận trong bài văn nghị luận văn học:
Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ
Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học
Nghị luận về một tác phẩm, đoạn trích văn xuôi
Nghị luận về một tình huống truyện
Nghị luận về một nhân vật, nhóm nhân vật trong truyện
Nghị luận về giá trị của tác phẩm văn xuôi
Lập luận trong bài văn nghị luận xã hội:
Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí
Nghị luận về một hiện tượng xã hội
Nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học
Lớp 10:
Bài: Luyện tập viết đoạn văn nghị luận
Lớp 11:
Bài: Luyện tập thao tác lập luận phân tích
Bài: Luyện tập thao tác lập luận so sánh
Bài: Luyện tập vận dụng thao tác lập luận phân tích và so sánh
Bài: Luyện tập thao tác lập luận bác bỏ
Bài: Luyện tập thao tác lập luận bình luận
Trang 18
Giúp cho các em học sinh có thể củng cố lại kiến thức về cách viết đoạn văn, bài văn nghị luận
Giúp cho học sinh rèn luyện kỹ năng xây dựng lập luận trong bài văn nghị luận
Giúp cho học sinh có thể xác định được luận điểm, tìm luận cứ và sử dụng các phương pháp lập luận
1.3 Thực trạng sử dụng kỹ thuật dạy học tích cực – kỹ thuật mảnh ghép trong giờ thực hành rèn luyện kỹ năng lập luận trong bài văn nghị luận cho học sinh lớp 11
Việc sử dụng kỹ thuật dạy học tích cực – kỹ thuật mảnh ghép trong giờ thực hành rèn luyện kỹ năng lập luận trong bài văn nghị luận cho học sinh lớp 11, THPT là vô cùng cần thiết để nâng cao chất lượng học tập của các em học sinh
Việc rèn luyện kỹ năng lập luận trong văn nghị luận là vô cùng quan trọng Nhưng qua điều tra về thực trạng sử dụng kỹ thuật dạy học tích cực – kỹ thuật mảnh ghép trong giờ thực hành rèn luyện kỹ năng lập luận trong văn nghị luận cho học sinh lớp 11 ở trường trung học phổ thông dựa trên các phiếu điều tra và qua quá trình trao đổi, dự giờ giáo viên, nghiên cứu các tài liệu đánh giá về thực trạng giảng dạy ở trường THPT Tôi rút ra được một số kết luận như sau:
* Về phương pháp: Đa số các giáo viên dạy bằng phương pháp vấn đáp kết hợp với phương pháp trực quan (bảng phụ, máy chiếu hình ảnh) nhưng chỉ để minh họa cho lời giảng dạy của giáo viên chứ chưa thực sự coi phương pháp trực quan như một nguồn thông tin để học sinh tiếp nhận kiến thức, chưa kích thích học sinh tư duy sáng tạo
Trang 19những kỹ thuật dạy học tích cực nhưng với quen lối cũ nên không áp dụng kỹ thuật mảnh ghép, khăn trải bàn vào trong những giờ thực hành
+ Bên cạnh đó học sinh khi được học những bài có áp dụng kỹ thuật mảnh ghép thì rất hứng thú và mức độ tiếp thu bài tốt hơn tuy nhiên còn một số vấn đề
là lớp mất trật tự, ồn ào trong quá trình thảo luận nhóm, một số học sinh chưa chủ động tích cực trong học tập, chưa nghiêm túc tham gia thảo luận nhóm
* Nguyên nhân dẫn tới thực trạng trên là:
- Nguyên nhân chủ quan:
+ Do nhiều giáo viên còn ngại khó, sợ mất trật tự lớp, sợ mất thời gian, ngại suy nghĩ đầu tư cho chuyên môn của mình
+ Bên cạnh đó, còn do nhiều giáo viên chưa được trang bị kiến thức về các
lý thuyết dạy học tích cực cũng như kỹ thuật mảnh ghép trong dạy học
- Nguyên nhân khách quan:
+ Do học sinh thiếu tự giác, chưa chủ động trong việc học tập
+ Do học sinh đã quen với việc thuộc nội dung trong sách giáo khoa mà chưa chú ý đến việc phân tích, sâu chuỗi và hệ thống hóa kiến thức
+ Do học sinh ngại học môn văn, các em theo khối A, B, là nhiều, văn chương dài nên các em ngại học và không muốn học văn, một số em còn tỏ ra khinh thường môn văn
Trang 20CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP, QUY TRÌNH SỬ DỤNG KỸ THUẬT MẢNH GHÉP TRONG GIỜ THỰC HÀNH RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LẬP LUẬN TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN CHO HS LỚP 11, THPT 2.1 Quy trình sử dụng kỹ thuật mảnh ghép trong giờ thực hành rèn luyện kỹ năng lập luận cho học sinh lớp 11
Bước 1: Xác định mục tiêu bài học
Những yêu cầu đặt ra đối với học sinh khi thực hiện bài học
Đối tượng được chọn ở đây là những tiết thực hành rèn luyện kỹ năng lập luận trong bài văn nghị luận cho học sinh lớp 11, THPT
Nội dung 1:Giáo viên phải trao đổi và chia sẻ với các em học sinh trong
lớp về kỹ thuật dạy học mảnh ghép, đồng thời giáo viên phải tổ chức hoạt động theo kỹ thuật mảnh ghép, ở mỗi nhóm “chuyên sâu”, “mảnh ghép” và di chuển luân phiên đầy đủ các nhóm
Nội dung 2: chuẩn bị nội dung, phương tiện dạy học
Nội dung 3: trong thời gian thực hành, giáo viên quan sát các hoạt động
học tập, hưởng ứng của các em học sinh
Nội dung 4: Sau thời gian cho các em học sinh thục hành ở vòng 1, sẽ cho
các em bước vào vòng 2 để hoàn chỉnh bài
Bước 3: Áp dụng kĩ thuật mảnh ghép
Trang 21Khi đã xác định được kiến thức chủ chốt trong bài thì chúng ta sẽ áp dụng
kĩ thuật mảnh ghép để giải quyết các nhiệm vụ đó bằng việc phân nhóm chuyên sâu Mỗi nhóm sẽ giải quyết các nội dung kiến thức đó
Để kết quả hoàn chỉnh và chính xác thì giáo viên có thể chia lớp thành các nhóm học tập với 2 vòng kiến thức
Vòng 1: “nhóm chuyên sâu”
chia lớp học thành các nhóm, mỗi nhóm có từ 4 đến 8 em học sinh Mỗi nhóm được giao nhiệm vụ tìm hiểu 1 nội dung học tập khác nhau nhưng có liên quan chặt chẽ với nhau, đảm bảo mọi thành viên trong nhóm có thể trả lời và trình bày được câu hỏi trong nhiệm vụ ở vòng kế tiếp
Vòng 2:“nhóm mảnh ghép”
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 1, mỗi học sinh từ các nhóm “chuyên sâu” khác nhau hộp lại thành các nhóm mới gọi là “nhóm mảnh ghép” Mỗi học sinh trong các “nhóm chuyên sâu” sẽ truyền đật lại những nội dung đã tìm hiểu
ở vòng 1 cho các thành viên khác trong “nhóm mảnh ghép”, đảm bảo tất cả các thành viên trong “nhóm mảnh ghép” nắm bắt được đầy đủ nội dung của “nhóm chuyên sâu” Lần lượt như vậy, toàn bộ học sinh trong nhóm mảnh ghép sẽ kết nối kiến thức thành một tổng thể hoàn chỉnh
Tiếp theo, giáo viên giao cho các “nhóm mảnh ghép” khái quát, tổng hợp lại toàn bộ nội dung đã được tìm hiểu từ các “nhóm chuyên sâu” Bằng cách này, có thể nhận thấy những phần vừa thực hiện không chỉ để giải trí hoặc là trò chơi đơn thuần mà thực sự là những nội dung học tập thực sự quan trọng
* Ví dụ: Sử dụng kỹ thuật mảnh ghép vào trong giờ thực hành rèn luyện kỹ năng lập luận trong bài: “Luyện tập thao tác lập luận bình luận”
Quy trình sử dụng kỹ thuật mảnh ghép vào trong giờ dạy học
Bước 1: Xác định mục tiêu bài học
Những yêu cầu đặt ra đối với học sinh khi thực hiện bài học
Đối tượng được chọn ở đây là tiết: “Luyện tâp thao tác lập luận bình luận”
Bước 2: Xác định các hoạt động
Trang 22Tập chung nghiên cứu tính hiệu quả, tính khả thi của kỹ thuật dạy học mảnh ghép trong hoạt động dạy và học
Tổ chức dạy học ( xác định các hoạt động ) Xác định các hoạt động trong bài học để đảm bảo được nội dung cần phân tích, mỗi hoạt động tương ứng với một đơn vị kiến thức chủ chốt Bên cạnh đó cần phải đảm bảo những yêu cầu như:
Nội dung 1:Giáo viên phải trao đổi và chia sẻ với các em học sinh trong
lớp về kỹ thuật dạy học mảnh ghép, đồng thời giáo viên phải tổ chức hoạt động theo kỹ thuật mảnh ghép, ở mỗi nhóm “chuyên sâu”, “mảnh ghép” và di chuển luân phiên đầy đủ các nhóm
Nội dung 2: chuẩn bị nội dung, phương tiện dạy học
Nội dung 3: trong thời gian thực hành, giáo viên quan sát các hoạt động
học tập, hưởng ứng của các em học sinh
Nội dung 4: Sau thời gian cho các em học sinh thục hành ở vòng 1, sẽ cho
các em bước vào vòng 2 để hoàn chỉnh bài
Bước 3: Áp dụng kĩ thuật mảnh ghép
Khi đã xác định được kiến thức chủ chốt trong bài thì chúng ta sẽ áp dụng
kĩ thuật mảnh ghép để giải quyết các nhiệm vụ đó bằng việc phân nhóm chuyên sâu Mỗi nhóm sẽ giải quyết các nội dung kiến thức đó
Để kết quả hoàn chỉnh và chính xác thì giáo viên có thể chia lớp thành các nhóm học tập với 2 vòng kiến thức
Vòng 1: “nhóm chuyên sâu”
Chia lớp học thành các nhóm, mỗi nhóm có từ 4 đến 8 em học sinh Mỗi nhóm được giao nhiệm vụ tìm hiểu 1 nội dung học tập khác nhau nhưng có liên quan chặt chẽ với nhau, đảm bảo mọi thành viên trong nhóm có thể trả lời và trình bày được câu hỏi trong nhiệm vụ ở vòng kế tiếp
Vòng 2: “nhóm mảnh ghép”
Sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở vòng 1, mỗi học sinh từ các nhóm “chuyên sâu” khác nhau hộp lại thành các nhóm mới gọi là “nhóm mảnh ghép” Mỗi học
Trang 23sinh trong các “nhóm chuyên sâu” sẽ truyền đật lại những nội dung đã tìm hiểu
ở vòng 1 cho các thành viên khác trong “nhóm mảnh ghép”, đảm bảo tất cả các thành viên trong “nhóm mảnh ghép” nắm bắt được đầy đủ nội dung của “nhóm chuyên sâu” Lần lượt như vậy, toàn bộ học sinh trong nhóm mảnh ghép sẽ kết nối kiến thức thành một tổng thể hoàn chỉnh
Tiếp theo, giáo viên giao cho các “nhóm mảnh ghép” khái quát, tổng hợp lại toàn bộ nội dung đã được tìm hiểu từ các “nhóm chuyên sâu” Bằng cách này, có thể nhận thấy những phần vừa thực hiện không chỉ để giải trí hoặc là trò chơi đơn thuần mà thực sự là những nội dung học tập thực sự quan trọng
2.2 Biện pháp thực hiện
2.2.1 Sử dụng kỹ thuật mảnh ghép vào trong giờ thực hành rèn luyện kỹ năng lập luận trong bài văn nghị luận Cụ thể tiết: “Luyện tập thao tác lập luận phân tích”
Bước 1: Mục tiêu bài học
- Giúp học sinh củng cố kiến thức về thao tác lập luận phân tích
- Giúp học sinh viết được một đoạn văn phân tích phát triển một ý cho trước
- Giúp học sinh biết cách viết đoạn văn phân tích về một vấn đề xã hội hay văn học
Bước 2: Các hoạt động trong bài dạy
- Bài tập 1 (sgk _): Tự ti và tự phụ là hai thái độ trái ngược nhau nhưng đề ảnh hưởng không tốt đến kết quả học tập và công tác Hãy phân tích hai căn bệnh trên
- Bài tập 2 (sgk): Phân tích hình ảnh sĩ tử và quan trường qua hai câu thơ sau:
“ Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ
Ậm ọe quan trường miệng thét loa.”
Bước 3: Áp dụng kỹ thuật mảnh ghép vào trong bài dạy
* Bài tập 1:
- Giai đoạn 1: Nhóm “chuyên sâu”
Trang 24- Nhóm 1: Giải thích khái niệm tự tin, tự phụ Phân biệt tự ti với khiêm tốn, phân biệt tự phụ với tự tin
- Nhóm 2: Những biểu hiện của thái độ tự ti, tự phụ
- Nhóm 3: Tác hại của thái độ tự ti, tự phụ và liên hệ với thực tế thái độ của bản thân
- Giai đoạn 2: Nhóm “mảnh ghép”
Thành lập các nhóm mảnh ghép bao gồm đầy đủ các thành viên của nhóm chuyên sâu Các thành viên trong nhóm mảnh ghép lần lượt trình bày các nội dung mà mình đã tìm hiểu ở giai đoạn 1 cho các bạn trong nhóm nghe Sau đó
GV tiếp tục đưa ra một nhiệm vụ mới cho cả 3 nhóm “mảnh ghép”
(?) Từ ba câu hỏi trên hãy xác định luận cứ cho các luận điểm trên để lập dàn ý cho đề tài
- Giai đoạn 1: Nhóm “chuyên sâu”
GV: Chia lớp thành 3 nhóm “chuyên sâu” ( Gồm 7 em học sinh một nhóm) Mỗi nhóm thực hiện một nhiệm vụ trong phiếu học tập sau:
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1
NHÓM 1
Tên các thành viên trong nhóm:
Nhiệm vụ: Tìm luận cứ, dẫn chứng cho luận điểm 1: Giải thích khái niệm tự tin, tự phụ Phân biệt tự ti với khiêm tốn, phân biệt tự phụ với tự tin
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 2
NHÓM 2
Tên các thành viên trong nhóm:
Nhiệm vụ: Tìm luận cứ, dẫn chứng cho luận điểm 2: Những biểu hiện của thái
Trang 25Nhiệm vụ: Tìm luận cứ, dẫn chứng cho luận điểm 3: Tác hại của thái độ tự
ti, tự phụ và liên hệ với thực tế thái độ của bản thân
HS: Các nhóm thảo luận và trả lời, đưa ra những ý kiến đúng
NHÓM 1
Tên các thành viên trong nhóm:
Nhiệm vụ: Tìm luận cứ, dẫn chứng cho luận điểm 1: Giải thích khái niệm
tự tin, tự phụ Phân biệt tự ti với khiêm tốn, phân biệt tự phụ với tự tin
Luận cứ:
- Tự ti: Là tự đánh giá thấp mình nên không tin tưởng vào bản thân
- Tự phụ: Là thái độ đề cao bản thân, tự đánh giá cao tài năng và thành tích của mình hơn mức mình có, đến mức coi thường người khác
- Phân biệt tự ti với khiêm tốn: Khiêm tốn là có ý thức và thái độ đúng mực trong việc đánh giá bản thân, không tự kiêu, tự mãn
-> Tự ti là điểm tiêu cực hạn chế, khiêm tốn là mặt tích cực
- Phân biệt tự phụ với tự tin: Tự tin là sự tin tưởng vào bản thân mình không đến mức tự cao tự đại
-> Tự phụ là điểm hạn chế tính xấu, tự tin là mặt tích cực, là ưu điểm
NHÓM 2
Tên các thành viên trong nhóm: Nhiệm vụ: Tìm luận cứ, dẫn chứng cho luận điểm 2: Những biểu hiện của thái độ tự ti, tự phụ
Luận cứ:
- Những biểu hiện của thái độ tự ti:
+ Không tin tưởng vào năng lực, sở trường, hiểu biết, của mình
+ Nhút nhát, luôn tránh những chỗ đông người
+ Không dám mạnh dạn đảm nhận những nhiệm vụ được giao
Trang 26- Những biểu hiện của tự phụ:
+ Luôn đề cao quá mức bản thân mình
+ Luôn tự cho mình là đúng
+ Khi làm được việc gì đó lớn lao sẽ tỏ ra coi thường người khác, huênh hoang, phô trương, khoe mẽ bản thân
NHÓM 3
Tên các thành viên trong nhóm:
Nhiệm vụ: Tìm luận cứ, dẫn chứng cho luận điểm 3: Tác hại của thái độ tự
ti, tự phụ và liên hệ với thực tế thái độ của bản thân
Luận cứ:
- Tác hại của tự ti:
+ Hiện lên là một con người hèn nhát, yếu đuối
+ Trong mọi việc người tự ti sẽ là người luôn thất bại
- Tác hại của tự phụ:
+ Nhìn nhận đánh giá sai lầm, lệch lạc giá trị bản thân
+ Khi đề cao quá mức bản thân trong nhiều công việc cũng sẽ gặp thất bại, không nhận được sự giúp sức của mọi người
-> Phải biết đánh giá đúng bản thân để phát huy những điểm mạnh và khắc phục những điểm yếu Cần phải khiêm tốn và tự tin trong cuộc sống Phải hoàn thiện mình về cả học thức và nhân cách
- Giai đoạn 2: Nhóm “mảnh ghép”:
Sau khi các nhóm chuyên sâu đã thảo luận xong nội dung chính của mình Giáo viên tiếp tục chia nhỏ các thành viên trong nhóm “chuyên sâu” để hợp thành 3 nhóm “mảnh ghép” ( trong nhóm “mảnh ghép” có đầy đủ thành viên của các nhóm “chuyên sâu”) Mỗi thành viên của các nhóm “chuyên sâu”sẽ có nhiệm vụ trình bày lại nội dung đã được tìm hiểu của nhóm mình ở giai đoạn 1 cho các bạn trong nhóm nghe để các nhóm nắm rõ những luận cứ đó
Trang 27GV: tiếp tục kết hợp với yêu cầu của bài tập 3, đưa ra một nhiệm vụ mới cho 3 nhóm “mảnh ghép”:
- Từ những luận cứ trên hãy viết thành một đoạn văn ngắn cho luận điểm 1
- Từ những luận cứ trên hãy viết thành một đoạn văn ngắn cho luận điểm 2
- Từ những luận cứ trên hãy viết thành một đoạn văn ngắn cho luận điểm 3 HS: Các nhóm thỏa luận, cử đại diện trình bày câu trả lời của nhóm:
GV: Cho các nhóm nhận xét, đánh giá đoạn văn của các nhóm còn lại Gv đưa ra bài văn mẫu cho các nhóm tham khảo:
* Đoạn văn mẫu luận điểm 1, 2, thái độ tự ti và tự phụ:
Bản thân mỗi con người ai cũng có lối sống, phẩm chất, năng lực khác nhau Nhưng điều đó được thể hiện ra bên ngoài khác nhau Có người quá tự ti luôn nghĩ năng lực mình thấp kém, có người thì tự phụ nghĩ năng lực mình hơn nhiều người khác Đó là hai căn bệnh có ảnh hưởng đến học tập và công tác Tự
ti là gì và biểu hiện của nó như thế nào Tự ti là tự đánh giá thấp mình nên thiếu
tự tin trong công việc Tự ti hoàn toàn khác với khiêm tốn Khiêm tốn là nhún nhường, không khoe khoang Khiêm tốn là một đức tính tốt, giúp người ta được lòng mọi người, được mọi người ủng hộ nên rất dễ thành công trong công việc Ngược lại, kẻ tự ti thường không dám tin tưởng vào năng lực, sở trường sự hiểu biết, kiến thức của mình Họ nhút nhát thường tránh xa những chỗ đông người Không dám mạnh dạn đám nhận trách nhiệm được giao Vì thế họ thường lo sợ thất bại nên họ phải chịu nhiều hậu quả đáng tiếc Vì sợ thất bại nên họ thường không có sự mạnh dạn trong công việc nên không bao giờ họ thành công Vì tính nhút nhát tránh xa chỗ đông người nên họ rất ít bạn và không nhận được sự giúp đỡ của mọi người khi thất bại Chính điều đó không chỉ làm anh hưởng đến
cá nhân mà còn ảnh hưởng đến tập thể
Còn tự phụ là gì và biểu hiện của tự phụ như thế nào Tự phụ là thái độ đề cao quá mức bản thân, tự cao tự đại đến mức xem thường người khác Tự phụ hoàn toàn khác với tự hào Tự hào là niềm kiêu hãnh, hãnh diện về bản thân vì
đã thành công, niềm vui sướng hạnh phúc khi giúp ích cho bản thân Ngược lại
Trang 28kẻ tự phụ luôn tự đề cao quá mức bản thân nên rất dễ bị xa lánh, chủ quan và thường bị thất bại trong công việc kể cả học tập Người tự phụ luôn tự cho mình
là đúng ở mọi việc thì họ không bao giờ nghe những ý kiến của người khác để khác phục thường hay bảo thủ Khi làm được việc gì đó lớn lao thậm chí tỏ ra coi thường, lên mặt với người khác, tự cho mình là giỏi giang Những tính xấu này thường có ảnh hướng rất lớn đến bản thân làm họ bị mọi người xa lánh tẩy chay, chủ quan nên dẫn đến thất bại, bảo thủ không nghe ý kiến người khác để khắc phục bản thân Chia rẽ mất đoàn kết gây ảnh hướng xấu đến học tập và công việc
2.2.2 Sử dụng kỹ thuật mảnh ghép vào trong giờ thực hành rèn luyện kỹ năng lập luận trong bài văn nghị luận Cụ thể tiết: “ luyện tập thao tác lập luận bình luận”
Bước 1: Mục tiêu bài học
- Giúp học sinh củng cố kiến thức về thao tác lập luận bình luận
- Giúp học sinh viết được một đoạn văn bình luận về một chủ đề gần gũi với cuộc sống và suy nghĩ của học sinh
- Giúp học sinh biết cách vận dụng thao tác lập luận bình luận vào viết văn
và ứng xử trong cuộc sống
Bước 2: Các hoạt động trong bài dạy
- Bài tập 1 (sgk _81): Anh/ chị viết một bài văn bình luận để tham gia diễn đàn do Đoàn Thanh niên tổ chức với đề tài: “Lời ăn tiếng nói của học sinh văn minh, thanh lịch”
- Bài tập 2 (sgk): a Trình bày một luận điểm trong dàn ý mà anh (chị) vừa xây dựng trên lớp
b Bàn về một hiện tượng (vấn đề) đang được xã hội quan tâm như: Bảo
vệ môi trường - Vứt rác bừa bãi ra đường, ở nơi công cộng
Bước 3: Áp dụng kỹ thuật mảnh ghép vào trong bài dạy
* Bài tập 1:
- Giai đoạn 1: Nhóm “chuyên sâu”
Trang 29- Nhóm 1: Phân tích đề: Xác định kiểu bài cho đề bài trên
- Nhóm 2: Vì sao bài văn này nên là một bài văn nghị luận?
- Nhóm 3: Lựa chọn vấn đề cụ thể nào cho một bài văn bình luận của mình (toàn bộ vấn đề hoặc một khía cạnh của đề tài)
- Giai đoạn 2: Nhóm “mảnh ghép”
Thành lập các nhóm mảnh ghép bao gồm đầy đủ các thành viên của nhóm chuyên sâu Các thành viên trong nhóm mảnh ghép lần lượt trình bày các nội dung mà mình đã tìm hiểu ở giai đoạn 1 cho các bạn trong nhóm nghe Sau đó
GV tiếp tục đưa ra một nhiệm vụ mới cho cả 3 nhóm “mảnh ghép”
(?) Từ ba câu hỏi trên hãy xác định luận điểm chính để lập dàn ý cho đề tài bình luận về khía cạnh biết nói lời “cảm ơn” và “xin lỗi” của học sinh văn minh, thanh lịch Dựa trên những câu hỏi sau:
- Giới thiệu vấn đề bình luận như thế nào?
- Chỉ ra những tốt, xấu, phải, trái, đúng, sai, hay, dở cảu vấn đề Quan điểm, đánh giá, nhận xét của bản thân
- Ý nghĩa sâu rộng mà vấn đề gợi ra
* (?) Tìm luận cứ, dẫn chứng cho những luận điểm chính cho đề bài bình luận về khía cạnh biết nói lời “cảm ơn” và “xin lỗi” của học sinh văn minh, thanh lịch
- Giai đoạn 1: Nhóm “chuyên sâu”
GV: Chia lớp thành 3 nhóm “chuyên sâu” ( Gồm 7 em học sinh một nhóm) Mỗi nhóm thực hiện một nhiệm vụ trong phiếu học tập sau:
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1
NHÓM 1
Tên các thành viên trong nhóm:
Nhiệm vụ: Tìm luận cứ, dẫn chứng cho luận điểm 1: Biểu hiện lời ăn, tiếng nói của học sinh văn minh, thanh lịch
Trang 30PHIẾU HỌC TẬP SỐ 2
NHÓM 2
Tên các thành viên trong nhóm:
Nhiệm vụ: Tìm luận cứ, dẫn chứng cho luận điểm 2: Những thói hư, tật xấu trong lời ăn, tiếng nói của học sinh hiện nay
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 3
NHÓM 3
Tên các thành viên trong nhóm:
Nhiệm vụ: Tìm luận cứ, dẫn chứng cho luận điểm 3: Bàn về hướng rèn luyện thói nói từ “cảm ơn” và “xin lỗi” trong giao tiếp
HS: Các nhóm thảo luận và trả lời, đưa ra những ý kiến đúng
NHÓM 1
Tên các thành viên trong nhóm:
Nhiệm vụ: tìm luận cứ cho luận điểm 1: biểu hiện trong lời ăn, tiếng nói của học sinh văn minh, thanh lịch
Luận cứ:
- Nói năng lễ phép, lịch sự, có đầu có đuôi, có trên có dưới
-Biết nói lời cảm ơn khi nhận được sự giúp đỡ từ người khác , từ thầy, cco
và các bạn
- Biết nói lời xin lỗi khi gây ra lỗi, khi làm việc sai trái
- không nói tục chửi thề, không đánh nhau gây mất đoàn kết
-> Là những biểu hiện thể hiện nếp sống có văn hóa, lịch sự trong giao tiếp: góp phần tạo nên một môi trường sống lành mạnh, tạo niềm vui và hạnh phúc trong cuộc sống
Trang 31NHÓM 2
Tên các thành viên trong nhóm: Nhiệm vụ: Tìm luận cứ dẫn chứng cho luận điểm 2: những thói hư tật xấu trong lời ăn tiếng nói của học sinh hiện nay
Luận cứ:
- Nói tục, chửi thề :môi trường sống , bạn bè, thói quen và dặc biệt là do chúng ta không ý thức được sai lầm của việc nói tục, chửi thề
- Nói ngang, không có trên có dưới, không đầu không đuôi, không chủ ngữ
vị ngữ, ăn nói không có lễ phép
- Không biết nói lời cảm ơn, xin lỗi với người khác
- nói mà không tôn trọng người nghe, bắt người khác phải nghe, nói tranh
Tên các thành viên trong nhóm:
Nhiệm vụ: tìm luận cứ cho luận điểm 3: Bàn về hướng rèn luyện thói nói từ
“Cảm ơn” và “Xin lỗi” trong giao tiếp
Luận cứ:
- Ăn nói lịch sự, lễ phép
- Ăn nói có văn hóa thể hiện người học có học thức
- Biết tôn trọng người nghe
- Biết lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau “ Lời nói chả mât tiền mua/ lựa lời
mà nói cho vừa lòng nhau”
- Chúng ta cần phải cố gắng hoàn thiện lời nói của mình từ ngay khi mình
Trang 32còn trên ghế nhà trường để hoàn thiện về trí lẫn đức, trở thành người có ích cho
GV: tiếp tục kết hợp với yêu cầu của bài tập 3, đưa ra một nhiệm vụ mới cho 3 nhóm “mảnh ghép”:
- Từ những luận cứ trên hãy viết thành một đoạn văn ngắn cho luận điểm 1
- Từ những luận cứ trên hãy viết thành một đoạn văn ngắn cho luận điểm 2
- Từ những luận cứ trên hãy viết thành một đoạn văn ngắn cho luận điểm 3 HS: Các nhóm thỏa luận, cử đại diện trình bày câu trả lời của nhóm:
GV: Cho các nhóm nhận xét, đánh giá đoạn văn của các nhóm còn lại Giáo viên đưa ra 2 văn bản mẫu về luận điểm 1 và luận điểm 2 cho các nhóm tham khảo
- Đoạn văn mẫu cho luận điểm 1:
Trong nhiều trường hợp, lời cảm ơn hay lời xin lỗi không chỉ đem niềm vui tới người nhạn, chúng còn trực tiếp giải tỏa khúc mắc, gỡ rối các quan hệ và con người cũng vì thế mà sống vị tha hơn, không những thế mà một học sinh ngoan,
lễ phép lịch sự sẽ được mọi người tôn trọng, quý mến Trước đây, trong quan hệ
xã hội, và trong học đường việc mọi người cảm ơn và cin lỗi nhau vốn là chuyện bình thường, cảm ơn và xin lỗi trở thành một trong các tiêu chí để định tính tư cách văn hóa của con người Các em nhỏ khi nhậ được sự giúp đỡhay sau khi mắc lỗi thường không ngần ngại nói lời xin lỗi hay cảm ơn Khi nhận được sự
Trang 33giúp đỡ của thầy , cô và các bạn chúng ta cũng nói lời cảm ơn, thể hiện lòng tri
ân, biết ơn, cảm kích trước sự giúp đỡ ấy Khi gây ra lầm lỗi, vi phạm nội quy, biết sai phải sửa, biết mắ lỗi sẽ xin lỗi tất cả thể hiện một nếp sống lành mạn,
là một học sinh, công dân văn hóa, văn minh và lịch sự
- Đoạn văn mẫu cho luận điểm 2:
Học đường được coi là môi trường trong lành cho sự phát triển mọi mặt của học sinh, tuy nhiên hiện nay, môi trường đó đang dần bị “ô nhiễm” bởi nhiều thói hư tật xấu, các tệ nạn xã hội, và một trong những thói hư ttatj xấu
đó chính là hiện tượng học sinh nói tục Nói tục là một hiện tượng xấu và rất đáng phê phán Những lời nói thô tục, thiếu văn hóa, thiếu tính ton trọng đang ngày càng được học sinh sử dụng rỗng rãi như tiếng nói hằng ngày bắt buộc phải
có Họ nói chuyện bằng những lời lẽ tho tục với bạn bè xung quanh, hay khi tức giận một ai đó, học cũng buông ra một câu nói thiếu văn hóa trong khi đang đứng ở một nơi trang nghiêm Nói tục đang được ngày càng phổ biến ở nhiều nơi, ở nhiều lứa tuổi Ta có thể dễ dàng bắt gặp một em nhỏ bảy, tám tuổi khi tức giận với bạn bè hay với ai đó cũng có thể buông một câu nói tục, hoặc đang ngồi trong lớp học cũng có thể nghe một vài lời nói thô thiển Tất cả đang dần làm mất đi sự trong sạch của môi trường học đường hiện nay
- Bài tập 2 b (sgk):
- Giai đoạn 1: Nhóm “chuyên sâu”
GV: Chia lớp thành 3 nhóm “chuyên sâu” ( Gồm 7 em học sinh một nhóm) Mỗi nhóm thực hiện một nhiệm vụ trong phiếu học tập sau:
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1
NHÓM 1
Tên các thành viên trong nhóm:
Nhiệm vụ: Tìm luận cứ cho luận điểm 1: Tìm biểu hiện của việc vứt rác bừa bãi ra đường, nơi công cộng?
Trang 34PHIẾU HỌC TẬP SỐ 2
NHÓM 2
Tên các thành viên trong nhóm:
Nhiệm vụ: Tìm luận cứ, dẫn chứng cho luận điểm 2: Nguyên nhân dẫn tới việc vứt rác bừa bãi ra đường, nơi công cộng?
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 3
NHÓM 3
Tên các thành viên trong nhóm: Nhiệm vụ: Tìm luận cứ, dẫn chứng cho luận điểm 3: Tác hại của việc vứt rác bừa bãi ra đường, nơi công cộng?
HS: Các nhóm thảo luận và trả lời, đưa ra những ý kiến đúng
Nhóm 1
Tên các thành viên trong nhóm:
Nhiệm vụ: tìm luận cứ cho luận điểm 1: Tìm biểu hiện của việc vứt rác bừa bãi ra đường, nơi công cộng?
+ Ngồi trên hồ, dù là hồ đẹp, nổi tiếng, người ta cũng tiện tay vứt rác
Trang 35xuống.Nằm giữa trung tâm thủ đô Hà Nội, Hồ Gươm là niềm tự hào của người dân Việt Namthế mà do rác thải của khách dạo chơi ven hồ vứt xuống đã làm cho nước bị biếnchất, biến “nàng hồ” xinh đẹp trở thành cái bể nước thải trong lòng thủ đô, cụRùa sống lâu năm ở đó cũng phải ngoi lên…
-> Những hành vi đó không phải là cá biệt Người ta xả rác như các quyềnđược thế, thành một cố tật xấu khó sửa chữa
Nhóm 2
Tên các thành viên trong nhóm:
Nhiệm vụ: Tìm luận cứ dẫn chứng cho luận điểm 2: : Nguyên nhân dẫn tới việc vứt rác bừa bãi ra đường, nơi công cộng?
Luận cứ:
+ Chủ quan:
- Do thói quen đã có từ lâu đời
- Do thiếu hiểu biết
- Do thiếu ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường, ích kỉ, lười nhác, thiếu lòng tự tôn dân tộc, thiếu một tấm lòng…
( Người Việt Namcó thói quen vứt rác ra đường, nơi công cộng bởi họ bắt đầu bằng một nhận thức:nơi ấy không thuộc phạm vi nhà mình, có bẩn cũng không ảnh hưởng đến mình,không ai chê cười đến cá nhân mình thế là cứ hồn nhiên xả rác Người lớn xả,trẻ con xả…Không ai cười, cũng chả ai lên án người
xả rác, có chăng một sốngười có ý thức cũng chỉ ngậm ngùi, thở dài, ngao ngán nhìn…rồi đành vậy chứchả biết nói sao vì biết mình cũng chẳng làm được gì trước thói quen vô ý thứccủa cả một đám đông khổng lồ…)
+ Khách quan:
- Do đất nước còn nghèo nàn, lạc hậu ( các phương tiện thu gom rác cònhạn chế, thiếu thốn, có nơi còn không có phương tiên cũng như người thu gomrác…)
Trang 36- Giờ thu gom rác không đáp ứng được với tất cả người dân
- Không có chế tài xử phạt nghiêm khắc
+ Tuyên truyền rộng rãi nhưng khôngsâu sắc về tác hại của việc xả rác ( chừng nào người dân còn chưa thấyxấu hổ khi xả rác nơi công cộng, chưa có ý thức giữ gìn nơi công cộng như nhàmình, chưa nghĩ rằng mình sẽ bị phạt nặng hoặc có thể bị ra tòa hoặc bị mọingười chê cười, lên án…chừng ấy vẫn còn hiện tượng xả rác ra đường, nơi côngcộng)
Nhóm 3
Tên các thành viên trong nhóm:
Nhiệm vụ: tìm luận cứ cho luận điểm 3: Tác hại của việc vứt rác bừa bãi ra đường, nơi công cộng?
Luận cứ:
+ Tạo ra một thói quen xấu trong đời sống văn minh hiện đại
+ Gây ô nhiễm môi trường
+ Bệnh tật phát sinh ( có khi thành dịch), giảm sút sức khỏe, tốn kém tiền bạc…
+ Ảnh hưởng đến cảnh quan, thẩm mĩ, mất đi vẻ xanh-sạch-đẹp vốn có ( có nơi cònbị biến dạng,bị phá hủy do rác)
+ Ngành du lịch gặp khó khăn, hình ảnh dân tộc, đất nước bị giảm đi ấn tượngtốt đẹp
+ Gây ô nhiễm không khí, ô nhiễm đất và mạch nước ngầm
+
=> Ý kiến đánh giá và bình luận của bản thân:
- Xả rác bừa bãi là một hành động thiếu văn hóa, đáng bị phê phán
- Những hiện tượng này chứng tỏ con người chưa có ý thức về vấn đề bảo vệ môitrường sống, chưa có trách nhiệm với cộng đồng cũng như đối với cuộc sống củabản thân mình
Trang 37- Bởi vậy, mỗi người cần phải rèn cho mình tinh thần trách nhiệm, cũng như ýthức bảo vệ môi trường
- Chúng ta phải tuyên truyền cho mọi người hiểu được tác hại của hiện tượngnày
- Đồng thời, nhà nước cũng cần có những biện pháp hữu hiệu trong việc thu gomrác thải và cũng cần phải xử phạt nghiêm khắc với các hành vi vi phạm ( liênhệ với đất nước Singapo)
- Giai đoạn 2: Nhóm “mảnh ghép”:
Sau khi các nhóm chuyên sâu đã thảo luận xong nội dung chính của mình Giáo viên tiếp tục chia nhỏ các thành viên trong nhóm “chuyên sâu” để hợp thành 3 nhóm “mảnh ghép” ( trong nhóm “mảnh ghép” có đầy đủ thành viên của các nhóm “chuyên sâu”) Mỗi thành viên của các nhóm “chuyên sâu”sẽ có nhiệm vụ trình bày lại nội dung đã được tìm hiểu của nhóm mình ở giai đoạn 1 cho các bạn trong nhóm nghe để các nhóm nắm rõ những luận cứ đó
GV: tiếp tục kết hợp với yêu cầu của bài tập 3, đưa ra một nhiệm vụ mới cho 3 nhóm “mảnh ghép”:
- Từ những luận cứ trên hãy viết thành một đoạn văn ngắn cho luận điểm 1
- Từ những luận cứ trên hãy viết thành một đoạn văn ngắn cho luận điểm 2
- Từ những luận cứ trên hãy viết thành một đoạn văn ngắn cho luận điểm 3 HS: Các nhóm thỏa luận, cử đại diện trình bày câu trả lời của nhóm:
GV: Cho các nhóm nhận xét, đánh giá đoạn văn của các nhóm còn lại Gv đưa ra bài văn mẫu cho các nhóm tham khảo
- Bài văn mẫu:
Môi trường là nơi mọi người sinh sống,cùng làm việc và mọi người đều phải có trách nhiệm giữ gìn môi trường sống chung.Hiện tượng vứt rác ra ngoài đường hay nơi công cộng đã ảnh hưởng đến môi trường chung.Chúng ta cần phải ngăn chặn
Trang 38Những người vứt rác nơi công cộng là những người thiếu ý thức về vấn đề bảo vệ môi trường,không chỉ do trình độ dân trí thấp mà còn do họ mang một cái bệnh khó chữa.Họ chỉ biết cái lợi cho riêng mình mà quên mất cái lợi cho cả xã hội,cộng đồng,quên đi những người đang sống xung quanh họ và tại hại hơn là
họ quên đi cái môi trường mà hàng ngày họ đang sống,đang hít thở,không khí từ môi trường ấy,họ là những người sống không có trách nhiệm,đáng bị lên án và phê phán
Vậy chúng ta phải làm gì đây để bảo vệ môi trường ?.Hãy rèn luyện cho mình một ý thức bảo vệ môi trường thật tốt vì mội trường bị ô nhiễm thì mọi người đều chịu ảnh hưởng,trong đó có mình và cả gia đình mình.Nếu mình là người vứt rác thì mình không chỉ là người chịu ảnh hưởng mà mình còn là người gây ra hậu quả,việc làm này đáng bị lên án và phê phán.Hãy tuyên truyền cho mọi người cùng tham gia,học tập về việc bảo vệ môi trường,cùng tham gia các buổi tổng vệ sinh chung,làm sạch đường phố,ra một quy định chung là đổ rác đúng giờ,đúng nơi quy định để giữ gìn vệ sinh chung cho gia đình,cho cộng đồng,xã hội.Đây là vẫn đề cấp bách của toàn xã hội,của mọi người
Là người học sinh,chúng ta cần phải giữ gìn môi trường của ngôi trường mình đang học thật sạch sẽ.Là người công dân,chúng ta phải tuyên truyền và giáo dục cho mọi người không được vứt rác bừa bãi.Hiện nay,hiện tượng vứt rác
ra ngoài đường hay nơi công cộng đã ảnh hưởng đến môi trường chung.Vì vậy,chúng ta cần phải ngăn chặn việc này
Ngày nay, trên thế giới, môi trường là vấn đề được quan tâm hàng đầu Ở các quốc gia tiên tiến, vấn đề giữ gìn vệ sinh môi trường được quan tâm thường xuyên nên việc xả rác và nước thải bừa bãi hầu như không còn nữa Người dân được giáo dục rất kỹ về ý thức bảo vệ môi trường sống xanh – sạch – đẹp Đáng buồn thay nước ta có một hiện tượng phổ biến là vứt rác ra đường hoặc những nơi công cộng, không giữ gìn vệ sinh đường phố Việc làm đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường mà cụ thể ở đây là gây ô nhiễm môi trường Hiện tượng không giữ gìn vệ sinh đường phố có rất nhiều biểu hiện nhưng phổ
Trang 39biến nhất là vứt rác ra đường hoặc nơi công cộng Ăn xong một que lem hay một chiếc kẹo, người ta vứt que, vứt giấy xuống đất Uống xong một lon nước ngọt hay một chai nước suối, vứt lon, vứt chai ngay tại chỗ vừa ngồi mặc dù thùng rác để cách đó rất gần Tuy vậy, họ vẫn thản nhiên, vô tư không có gì áy náy Thậm chí khi ăn xong một tép kẹo cao su, họ cũng không mang đến thùng rác
mà vo tròn rồi trét lên ghế đá và cứ thế bỏ đi chỗ khác Không chỉ với những nơi công cộng, ở một số khu phố, con đường có đặt bảng khu phố văn hóa nhưng cỏ mọc um tùm tràn lan, rác rưởi ngập đầy khắp lối đi, mùi hôi khó chịu bốc lên suốt ngày Không ở đâu xa, ngay trong thành phố của chúng ta – nơi con sông Đồng Nai chảy qua phải chịu bao rác rưởi dơ bẩn Công viên ven bờ sông là nơi sinh hoạt thể dục thể thao của các cụ ông, cụ bà và cả các thanh thiếu niên trong khu vực Mọi người đến để thư giãn, hóng mát nhưng nhìn xuống dòng nước ven bờ, nước bẩn theo cống vẫn từng ngày từng giờ ung dung đổ xuống , bao ni lông bị ném xuống trôi bồng bềnh gây phản cảm, mất mĩ quan cả dòng sông Còn đối với những ghế đá vô tội vạ bị những người vô ý thức trét bã kẹo cao su, khi có một người nào đó vô tình ngổi lên thì việc gì sẽ xảy ra? Bã kẹo sẽ dính chặt vào quần áo của người đó không những làm bẩn quần áo mà còn gây sự khó chịu Và sẽ ra sao khi người ngồi trên ghế đá kia có một cuộc hẹn quan trọng ? Bạn thấy đó, chỉ cần có một hành động vô ý thức đó mà gây ảnh hưởng đến công việc của người khác
Thật đáng nguy hiểm khi trẻ em ngày nay lại sa vào hiện tượng vứt rác bừa bãi rất nhiều Cứ sau giờ chơi là mỗi lớp học lại đầy những vỏ kẹo, vỏ bánh Điều đó làm phiền lòng rất nhiều thầy cô Làm sao các thầy, các cô có thể toàn tâm dạy học trong một phòng học toàn rác bẩn như vậy Và thế là việc học tạm gián đoạn để thu gom rác, dọn vệ sinh lớp Nếu việc này vẫn xảy ra thường xuyên thì cả lớp sẽ mất bao nhiêu thời gian học tập và thậm chí có thể bị trừ điểm thi đua của lớp Thật tai hại làm sao !
Chưa bao giờ, ô nhiễm môi trường đang thực sự là vấn đề lớn của cả nhân loại như ngày nay Những biến đổi khí hậu và hậu quả khủng khiếp của nó