1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bằng chứng khoa học” theo hiệp định sps và kinh nghiệm cho việt nam khi xây dựng quy định nhập khẩu nhằm bảo đảm an toàn thực phẩm

157 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bằng Chứng Khoa Học Theo Hiệp Định SPS Và Kinh Nghiệm Cho Việt Nam Khi Xây Dựng Quy Định Nhập Khẩu Nhằm Bảo Đảm An Toàn Thực Phẩm
Tác giả Nguyễn Thị Thu Thảo
Người hướng dẫn TS. Trần Thị Thùy Dương
Trường học Trường Đại Học Luật Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Quốc Tế
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố TP. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 157
Dung lượng 2,1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

khẩu, đảm bảo an toàn thực phẩm cho công dân của quốc gia mình mà không vi phạm các quy định WTO, từ đó kiến nghị một số giải pháp đối với Việt Nam trong việc áp dụng “bằng chứng khoa họ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ THU THẢO

“BẰNG CHỨNG KHOA HỌC” THEO HIỆP ĐỊNH SPS

VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM KHI XÂY DỰNG QUY ĐỊNH NHẬP KHẨU NHẰM BẢO ĐẢM AN TOÀN

THỰC PHẨM LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ THU THẢO

“BẰNG CHỨNG KHOA HỌC” THEO HIỆP ĐỊNH SPS

VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM KHI XÂY DỰNG QUY ĐỊNH NHẬP KHẨU NHẰM BẢO ĐẢM AN TOÀN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trính nghiên cứu của riêng tôi với sự hướng dẫn của

TS Trần Thị Thùy Dương Các thông tin nêu trong luận văn là trung thực và chính xác Các kết quả trình bày trong luận văn chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Tất cả các trích dẫn được sử dụng trong luận văn đều được chú thìch đầy đủ và chính xác

Tác giả

Nguyễn Thị Thu Thảo

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1 Những từ viết tắt từ Tiếng Anh

Agremment

Hiệp định chống bán phá giá

analytical communities

Hiệp hội của cộng đồng phân tích

Bovine spongiform encephalopathy

Bệnh viêm não thể bọt biển ở bò, thường gọi là bệnh

6

DSU

Understanding on Rules and Procedures

7

Environmental Agency

Cơ quan Môi trường châu Âu

8

Medicines Agency

Cơ quan dược phẩm châu Âu

Association

Hiệp hội mậu dịch tự

do châu Âu

Trang 5

10 EC

European Commission

Công đồng châu Âu

Công ước bảo vệ thực vật quốc tế

Expert Committee on Food Additives

Ủy ban chuyên gia

về phụ gia thực phẩm

tế

Production Method

Quy trính và phương pháp sản xuất

Trang 6

24 PS Product Standard Tiêu chuẩn sản

The EU Scientific Information Advice

in Policy Support

Tham vấn Thông tin khoa học trong Hỗ trợ chình sách Liên minh châu Âu

The EC‟s Scientific

Veterinary Measures relating to Public Health

Hội đồng khoa học của Cộng đồng châu

Âu về các biện pháp thú y liên quan đến y

tế công cộng

Technical Options Assessment Group

Nhóm Đánh giá khoa học và kỹ thuật tùy chọn

Phytonasitary Measures

Các biện pháp kiểm dịch động, thực vật

Technical Barriers to Trade

Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại

Organization

Tổ Chức thương mại thế giới

Trang 7

2 Những từ viết tắt từ Tiếng Việt

2 Bộ NN và PTNT Bộ nông nghiệp và Phát triển nông

thôn

6 VSATTP Vệ sinh an toàn thực phẩm

Trang 8

MỤC LỤC

Trang

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: “BẰNG CHỨNG KHOA HỌC” THEO QUY ĐỊNH CỦA HIỆP ĐỊNH SPS 13

1.1 Vị trí của bằng chứng khoa học trong Hiệp định SPS 15

1.1.1 Ý nghĩa của bằng chứng khoa học khi áp dụng biện pháp SPS 15

1.1.2 Điều kiện áp dụng bằng chứng khoa học khi ban hành biện pháp SPS 22

1.2 Cách thức đánh giá việc áp dụng bằng chứng khoa học trong một số vụ kiện tại WTO 26

1.2.1 Mức độ đánh giá của Ban hội thẩm và AB 27

1.2.2 Tìm kiếm thông tin từ cá nhân chuyên gia hay nhóm chuyên gia 31

1.2.3 Xác định cơ sở khoa học đến từ một nguồn có uy tín và trình độ 34

Chương 2 KINH NGHIỆM ÁP DỤNG “BẰNG CHỨNG KHOA HỌC” CỦA EU KHI XÂY DỰNG QUY ĐỊNH NHẬP KHẨU NHẰM BẢO ĐẢM AN TOÀN THỰC PHẨM, GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI VIỆT NAM 37

2.1 Áp dụng bằng chứng khoa học của EU 38

2.1.1 Bằng chứng khoa học theo quy định của pháp luật thực phẩm 38

2.1.2 Kinh nghiệm từ một số vụ tranh chấp liên quan đến an toàn thực phẩm của EU tại WTO 46

2.2 Giải pháp đối với Việt Nam 58

2.2.1 Các quy định của Việt Nam về bằng chứng khoa học 60

2.2.2 Kiến nghị một số giải pháp đối với việc sử dụng bằng chứng khoa học nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm nhập khẩu của Việt Nam 64

KẾT LUẬN 69

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Toàn cầu hóa mang lại nhiều lợi ích cho các quốc gia trên thế giới Biên giới quốc gia không còn là rào cản ngăn cách quá trính lưu chuyển hàng hóa, người tiêu dùng có thể lựa chọn nhiều loại thực phẩm nhập khẩu Tuy nhiên, quá trình này cũng mang đến các tác động tiêu cực không lường trước được, chẳng hạn như nguy cơ đối với sức khỏe

Bệnh do vi khuẩn, độc tố, và các chất ô nhiễm hóa học trong thực phẩm hiện

là mối đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe của hàng ngàn, hàng triệu người Sự bùng

nổ của bệnh do thực phẩm đã được ghi nhận trên khắp các châu lục vào những thập

kỷ qua Bệnh do thực phẩm không chỉ ảnh hưởng đáng kể sức khỏe và hạnh phúc con người, mà con gây ra những hậu quả kinh tế vô cùng to lớn cho các cá nhân, gia đính, cộng đồng, doanh nghiệp và quốc gia Các bệnh này kéo theo một gánh nặng đáng kể đối với hệ thống chăm sóc sức khỏe và rõ ràng làm giảm năng suất lao động Người nghèo mất thu nhập do ốm đau từ ngộ độc thực phẩm kéo dài mãi cảnh nghèo đói

Chi phí kinh tế liên quan đến bệnh do thực phẩm được ước tính gần đây là rất lớn Tại Hoa Kỳ, chi phí của bệnh nhân do 7 tác nhân gây bệnh cụ thể đã được ước tính dao động từ 6,5 đến 34,9 tỷ USD1 Các chi phí y tế và giá trị của cuộc sống bị mất

do ngộ độc thức ăn ở Anh và xứ Wales đã được ước tình tương đương 300-700 triệu bảng Anh vào năm 19962 Chi phì đối với khoảng 11.500 trường hợp ngộ độc thực phẩm mỗi ngày tại Úc đã được tính toán ở mức 2,6 tỷ đô la Úc mỗi năm3

Tháng 09/2008, một sự cố an toàn thực phẩm lớn được công bố tại Trung Quốc đối với sản phẩm sữa đã khiến cho người tiêu dùng trên toàn thế giới hoang mang và lo lắng Melamine, một hóa chất giàu nitơ được sử dụng trong các sản phẩm công nghiệp, chẳng hạn như nhựa, vải chống cháy và đồ dùng nhà bếp4 đã được thêm vào sữa nguyên liệu để tăng hàm lượng protein biểu hiện bên ngoài5 Hiện tượng này xảy ra bởi ví các phương pháp thường được sử dụng để phân tích protein không thể

1 J C Buzby and T Roberts (1997), Economic costs and trade implications of microbial foodborne illness, World

Health Statistics Quarterly, (50), pp 57-66

2 J.A Robert (1996), Economic evaluation of Surveillance, Dept of Public Health and Policy, London, pp 1

3 Australia New Zealand Food Authority (1999), Food Safety Standards – Costs and Benefits, pp 1

4 WHO (2008), Melamine and Cyanuric Acid: Toxicity, Premininary Risk assessment and Guidance on Levels in

Food, pp 2

5 Cathy A Brown (2007), Outbreaks of Renal Failure Asssociated with Melamine and Cyanuric Acid in Dogs and

Cats in 2004 and 2007, J Veterinary Diagnostic Investigation, (19), pp 525

Trang 10

xác định xem sự hiện diện nguồn protein là từ nitơ trong sữa hay từ các nguồn không phải protein Kết quả protein cao của các sản phẩm có chứa các nguồn nitơ không có protein như melamine tạo ra một động lực kinh tế để giả mạo bất hợp pháp

Việc bổ sung các chất melamine vào thực phẩm không được FAO/Ủy ban an toàn thực phẩm của WHO hoặc bởi bất kỳ cơ quan nhà nước nào chấp thuận Bởi hậu quả đối với sức khỏe do melamine là rất lớn, bao gồm các bệnh: sỏi thận, suy thận, và trong một số trường hợp có thể dẫn đến tử vong6 Sản phẩm nhiễm melamine từ sữa bột ảnh hưởng không chỉ Trung Quốc mà còn 46 quốc gia khác7 Thận và các bệnh đường tiết niệu, bao gồm sỏi thận, ảnh hưởng đến khoảng 300.000 trẻ sơ sinh và trẻ

em, với hơn 50.000 trẻ em nhập viện và 6 ca được báo cáo tử vong8 Phạm vi của melamine nhiễm bẩn trong các sản phẩm từ Trung Quốc tiếp tục mở rộng để bao gồm các sản phẩm không chế biến từ sữa như trứng, trứng gà tươi và kem sữa9

Sữa nhiễm melamine từ Trung Quốc cũng đã được nhập khẩu vào Việt Nam gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe người tiêu dùng Gần đây người tiêu dùng Việt Nam lại hoang mang, lo lắng về chất lượng của các sản phẩm nhập khẩu Cảnh báo được đưa ra sau khi Công ty sữa Fonterra New Zealand, vốn là nhà xuất khẩu sữa lớn nhất thế giới, thông báo 3 mẻ Whey protein được sản xuất vào tháng 5/2012 được kiểm tra dương tình với Clostridium botulinum Fonterra thừa nhận Whey protein bị nhiễm đã được dùng sản xuất nhiều sản phẩm, trong đó có sữa bột dành cho trẻ sơ sinh và thức uống dành cho người chơi thể thao Một quan chức New Zealand cho hay lượng Whey protein bị nhiễm đã được dùng tạo ra 870 tấn sản phẩm, vốn đã được bán trong nhiều thị trường khác nhau.10 Trong một động thái khác, Cục An toàn thực phẩm (ATTP),

Bộ Y tế cho biết ngày 03/08/2013 đã nhận được thông tin từ Đại sứ quán New

Zealand tại Việt Nam thông báo về việc Bộ Công nghiệp cơ bản (Ministry of Primary

Industry) New Zealand phát hiện các sản phẩm dinh dưỡng công thức cho trẻ nhỏ có

chứa Whey protein concentration, do Công ty Fonterra New Zealand sản xuất bị nhiễm vi khuẩn Clostridium botulinum, xuất khẩu sang Việt Nam, Trung Quốc, Úc và

6 WHO, Questions and Anwers on Melamine, pp.2, http://tinyurl.com/y8hdhyy

7

Céline Marie-Elise Gossner (2009), The Melamine Incident: Implications for International Food and Feed Safety,

Environmental Health perspective, pp 117

8 WHO (2009), Toxicological and Health Aspects of Melamine and Cyanuric Acid: Report of a WHO Expert

Meeting in Collaboration with FAO Supported by Health Canada, pp 15–16

9

Centre for Food Safety, Latest Test Results for Melamine, http://tinyurl.com/26kwgu5

10 http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130804/new-zealand-canh-bao-sua-nhiem-khuan-vao-viet-nam.aspx , truy cập ngày 03/10/2013

Trang 11

Ả Rập Xê Út Thông tin cảnh báo cho biết, sản phẩm xuất khẩu sang Việt Nam là sản phẩm dinh dưỡng công thức cho trẻ 1-3 tuổi Similac GainPlus Eye-Q.11

Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm – phần thứ nhất: việc triển khai thực hiện pháp luật về vệ sinh, an toàn thực phẩm, 2009” đã

ngộ độc 2004-2008 là 2.160 vụ, trung bình là 432 vụ/năm; số người bị ngộ độc là 8.565,6 người/năm; số người chết do ngộ độc là 391 người (78,2 người/năm)

Những vấn đề an toàn thực phẩm trong những năm gần đây tại Việt Nam khiến cho người tiêu dùng hoang mang không biết lựa chọn thực phẩm sao cho an toàn Trong bối cảnh an toàn thực phẩm trở thành một vấn đề toàn cầu và phức tạp như hiện nay, sau khi phát hiện một số lô hàng nội tạng nhập khẩu không đảm bảo vệ sinh

an toàn thực phẩm, Thủ tướng Chính phủ đã có công văn 1152 (ngày 07/07/2010) yêu cầu Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN và PTNT) cấm nhập khẩu đối với mặt hàng này Trong năm 2009 phát hiện 01 lô tràng lợn đông lạnh với số

lượng 73 tấn nhiễm Coliforms, E.coli vượt giới hạn cho phép đã buộc phải tái xuất12

Sau đó, Thông tư số 33/2010/TT-BCT “quy định việc kinh doanh tạm nhập tái xuất,

chuyển khẩu phủ tạng gia súc, phủ tạng gia cầm đông lạnh và không đông lạnh” đã

được ban hành vào ngày 11/09/2010 với quy định “tạm ngừng kinh doanh đối với

phủ tạng gia súc, gia cầm đông lạnh và không đông lạnh kể từ ngày 01/10/2010” 13

Sau gần 3 năm cấm nhập khẩu nội tạng, Công văn số 2408/BN-TY (Ngày 20/07/2013) cho phép nhập khẩu trở lại nội tạng trắng từ ngày 01/09/2013

Một trong những lý do cho nhập khẩu lại nội tạng trắng được BNN và PTNN nêu tại công văn số 79/BNN-HTQT ngày 08/01/2013 gửi Phó Thủ tướng Chính phủ

Hoàng Trung Hải V/v: Cho phép nhập khẩu trở lại nội tạng trắng đông lạnh:

“Các nước thành viên WTO, đặc biệt là các đối tác thương mại lớn của Việt

Nam cho rằng Việt Nam đã vi phạm quy định của Hiệp định SPS trong việc

cấm nhập khẩu nội tạng trắng Các nước đều cho rằng Việt Nam chưa đưa

ra được bất kỳ bằng chứng khoa học nào cho biện pháp tạm thời này mà vẫn

11 http://www.spsvietnam.gov.vn , truy cập ngày 03/10/2013

12

Công văn số 79/BNN-HTQT ngày 08/01/2013 gửi Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải V/v: Cho phép

nhập khẩu trở lại nội tạng trắng đông lạnh

13 Thông tư số 33/2010/TT-BCT, Điều 2.1

Trang 12

duy trì nó trong thời gian quá dài (tính đến nay đã trên 2 năm), điều đó là rất

khó chấp nhận Họ cũng ngày càng tạo sức ép và áp dụng các biện pháp tác động đến xuất khẩu của ta Ví dụ như: Từ tháng 4/2012 Hoa Kỳ đã bắt đầu kiểm soát nghiêm ngặt hơn với tất cả các sản phẩm nông lâm thủy sản xuất khẩu từ Việt Nam Trong đó đáng kể nhất là các sản phẩm thủy sản và trái cây nhiệt đới vốn rất khó khăn trong đàm phán để mở cửa vào thị trường này Việc xuất khẩu đang bị đình trệ, nhiều lô hàng vi phạm đã bị buộc tái xuất về nước

đã gây thiệt hại đáng kể cho xuất khẩu của ta Đối với mặt hàng mật ong xuất

khẩu của Việt Nam, phía Hoa Kỳ đã áp dụng dư lượng cho phép đối với Carbendazim (thuốc trừ nấm cho cây trồng) ở mức quá nghiêm ngặt Theo

Hiệp hội nuôi ong, việc này đã làm thiệt hại doanh số mỗi năm trên 70 triệu đô

la, đồng thời ảnh hưởng đến đời sống và thu nhập của khoảng 30 ngàn nông dân nuôi ong Cùng với Hoa Kỳ, các nước EU cũng đã áp dụng kiểm soát chặt chẽ đối với rau và trái cây nhiệt đới xuất khẩu từ Việt Nam Đáng lưu ý là EU tuyên bố sẽ cấm nhập khẩu nếu phát hiện nhiễm vi sinh vật trên rau gia vị hoặc ruồi đục quả trên trái cây với tần suất cao Điều này là bất bình thường vì từ trước đến nay EU không áp dụng danh mục đối tượng kiểm dịch thực vật và quy định ô nhiễm đối với rau gia vị Úc cũng đang có những động thái cản trở trong việc mở cửa thị trường cho 8 loại trái cây của Việt Nam đang ở giai đoạn đánh giá rủi ro đã được triển khai từ nhiều năm nay”

Như vậy, một trong những lý do để giải thích cho việc nhập khẩu trở lại nội

tạng trắng là ví “Các nước thành viên WTO, đặc biệt là các đối tác thương mại lớn

của Việt Nam cho rằng Việt Nam đã vi phạm quy định của Hiệp định SPS trong việc cấm nhập khẩu nội tạng trắng” Như vậy có phải là áp dụng biện pháp cấm nhập khẩu

nội tạng trắng là vi phạm cam kết WTO hay không? Thực tế, Điều XX Hiệp định GATT 1994 và Hiệp định SPS cho phép các thành viên được áp dụng các biện pháp nhằm đảm bảo sức khỏe của con người Trong công văn cũng cho rằng Việt Nam chưa đưa ra được bằng chứng khoa học mà lại duy trì biện pháp này quá lâu Như vậy đối với vấn đề bằng chứng khoa học, pháp luật WTO, cụ thể là Hiệp định SPS quy định hiểu như thế nào? Có phải chỉ có thể áp dụng biện pháp SPS khi đưa ra được bằng chứng khoa học hay không?

Vì vậy nghiên cứu về “bằng chứng khoa học” trong hiệp định SPS, kinh nghiệm của EU trong việc áp dụng “bằng chứng khoa học” để quản lý hàng hóa nhập

Trang 13

khẩu, đảm bảo an toàn thực phẩm cho công dân của quốc gia mình mà không vi phạm các quy định WTO, từ đó kiến nghị một số giải pháp đối với Việt Nam trong việc áp dụng “bằng chứng khoa học” để bảo vệ người tiêu dùng trong nước trước những nguy cơ hàng hóa nhập khẩu không an toàn là cần thiết trong bối cảnh hiện nay

Từ những lý do trên tác giả chọn đề tài: ““Bằng chứng khoa học” theo Hiệp định SPS và kinh nghiệm cho Việt Nam khi xây dựng quy định nhập khẩu nhằm bảo đảm an toàn thực phẩm” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Luật học

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Về Hiệp định SPS theo quy định WTO có một số công trính nghiên cứu sau:

- TS Phạm Thị Hồng Yến, An toàn thực phẩm và việc thực thi hiệp định

SPS/WTO: Kinh nghiệm quốc tế và giải pháp đối với Việt Nam, NXB thông tin

và truyền thông, 2011 Tài liệu này cung cấp cho người đọc một cái nhìn tổng quát về an toàn thực phẩm như khái niệm an toàn thực phẩm, giới thiệu một cách khái quát về Hiệp định SPS của WTO và đến các nguyên tắc của Hiệp định SPS như: tình hài hòa, tình tương đương, mức độ bảo vệ phù hợp, đánh giá nguy cơ, điều kiện khu vực, tính minh mạch Tuy nhiên, việc đề cập đến các nguyên tắc mang tính chất liệt kê, thiếu sự phân tìch, đánh giá, không có sự liên hệ với các vụ tranh chấp của WTO về Hiệp định SPS Bên cạnh đó, tài liệu này cũng có sự liên hệ với các quy định an toàn thực phẩm và kinh nghiệm thực thi Hiệp định SPS tại một số nơi trên thế giới như: EU, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan, nhưng hầu hết chỉ mang tính chất liệt kê tên các văn bản điều chỉnh vấn đề an toàn thực phẩm, thiếu sự phân tích, đánh giá

thế giới – Tóm tắt và Bình luận, NXB Hồng Đức, 2012 Tài liệu này có tóm tắt

và bình luận về vụ tranh chấp Nhật Bản - Một số biện pháp ảnh hưởng đến sản

phẩm nông nghiệp (WT/DS/76/R, WT/DS76/AB/R) Tài liệu đã đề cập, phân

tích nghĩa vụ chứng minh theo Hiệp định SPS, chứng cứ khoa học đầy đủ, biện pháp tạm thời, các biện pháp mang tính chất hạn chế thương mại hơn mức yêu cầu trong Báo cáo của Ban hội thẩm Sau đó, tài liệu phân tích về chứng cứ khoa học đầy đủ theo Hiệp định SPS, Điều 5.7 Hiệp định SPS, các biện pháp mang tính chất thương mại hơn mức yêu cầu, tính minh bạch trong việc áp dụng biện pháp kiểm dịch động thực vật Tuy nhiên tài liệu chỉ phân tìch đánh

Trang 14

giá những tranh chấp về Hiệp định SPS chỉ trong bối cảnh vụ tranh chấp Nhật

Bản - Một số biện pháp ảnh hưởng đến sản phẩm nông nghiệp

Báo cáo của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm từ năm 1995 – 2010 (tập 1),

NXB Đại học Cần Thơ, 2010 Tài liệu này có tóm tắt phân tích Báo cáo của

ban hội thẩm trong vụ tranh chấp Úc – Các biện pháp ảnh hưởng đến việc nhập

khẩu cá hồi Đây là vụ tranh chấp có liên quan đến Hiệp định SPS Nhưng

những phân tích chỉ giới hạn trong nội dung báo cáo của Ban hội thẩm trong vụ tranh chấp này

People‟s public security publishing House, 2012 Tài liệu này chỉ giới thiệu một cách khái quát về các biện pháp kiểm dịch động thực vật quy định trong Hiệp định SPS

trong bối cảnh hội nhập, luận án tiến sỹ luật học trường Đại học Luật TP Hồ Chí

Minh, 2009 Luận án phân tìch, đánh giá việc vận dụng một số biện pháp hạn chế thương mại trong thương mại hàng hóa tại Việt Nam, có đề cập đến Hiệp định SPS như là một rào cản phi thuế quan mà các nước thành viên được phép áp dụng nhằm bảo vệ sức khỏe, đời sống động thực vật Luận án nhấn mạnh việc Hiệp định SPS cho phép các thành viên áp dụng hay duy trì các biện pháp vệ sinh động, thực vật ngay cả khi chứng cứ khoa học liên quan chưa đủ Luận án không đi vào phân tìch định nghĩa về “bằng chứng khoa học”, cách giải thích của Ban hội thẩm và Cơ quan phúc thẩm về vấn đề này trong quá trình giải quyết tranh chấp của WTO

2005; Mutrap II, Hỏi đáp về WTO, Hà Nội 2005; Phòng thương mại và công

nghiệp Việt Nam (VCCI), các biện pháp kiểm dịch động thực vật, SPS Những tài liệu này chỉ đề cập đến những vấn đề quy định trong hiệp định SPS theo câu chữ của Hiệp định, không có sự liên hệ với các vụ tranh chấp của WTO cũng như không đi vào phân tìch một cách chi tiết, cụ thể về “bằng chứng khoa học”

- Ngày 03/10/2013, Bộ Công thương phối hơp với Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức

Hội thảo “Giới thiệu hệ thống SPS tại các nước EFTA” Hội thảo được tổ chức

nằm trong khuôn khổ cuộc đàm phán thành lập khu vực mậu dịch tự do (FTA)

Trang 15

giữa Việt Nam và Khối thương mại tự do Châu Âu -EFTA14 Hiệp định thương mại tự do EFTA cam kết tất cả thành viên sẽ sử dụng quy định SPS do EU ban hành để áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu từ quốc gia thứ ba Ví vậy, Hội thảo chỉ xoay quanh những quy định của EU về vệ sinh an toàn thực phẩm, làm thế nào để nông sản Việt Nam đáp ứng tiêu chuẩn của EU và có thể thâm nhập vào thị trường EU và EEA Hội thảo không thảo luận và đề cập đến vấn đề làm thế nào để Việt Nam kiểm soát hàng hóa nhập khẩu có hiệu quả trong bối cảnh khủng hoảng an toàn thực phẩm như hiện nay để bảo vệ sức khỏe cho người tiêu dùng Việt Nam trong quá trính hội nhập.

Như vậy, cho đến hiện nay, tại Việt Nam chưa có công trính nghiên cứu nào mang tình hệ thống của quy định “bằng chứng khoa học” trong hiệp định SPS, kinh nghiệm áp dụng của EU và từ đó kiến nghị giải pháp áp dụng quy định này có hiệu quả để kiểm soát hàng hóa nhập khẩu nhằm mục đìch bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và khủng hoảng an toàn thực phẩm như hiện nay

2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Về những vấn đề có liên quan đến Hiệp định SPS và an toàn thực phẩm trên thế giới có một số công trính nghiên cứu sau:

- Alan, O.Sykes, Trade and Human Health and Safety, Cambridge University

press, 2006 Tài liệu giúp người đọc có sự phân biệt sự khác biệt về khái niệm tiêu chuẩn quốc tế được quy định trong Hiệp định SPS và TBT Tác giả chưa phân tích những quy định này trong mối tương quan với quy định “Bằng chứng khoa học” theo Hiệp định SPS

International Standards in the WTO: How Far across the River? Journal of

World Trade, Kluwer Law International, 2010 Trong tài liệu này tác giả cho rằng việc áp dụng biện pháp SPS phải dựa trên cơ sở đánh giá rủi ro, quy định hài hòa hóa các tiêu chuẩn SPS với các tổ chức quốc tế và mục đìch của Hiệp định SPS là nhằm loại bỏ chủ nghĩa bảo hộ trá hình Bài viết không đề cập cũng như không phân tìch về “bằng chứng khoa học” trong Hiệp định SPS

14 EFTA là Hiệp định thương mại tự do được ký kết giữa EU và EEA ( gồm có 4 thành viên Na Uy, Thụy Sỹ, Iceland, và Liechtenstein)

Trang 16

- Niu Huei-Chih, Can Article 5.7 of the WTO SPS Agreement be a Model for the

Precautionary Principle? Scripted Volume 4, Issue 4, September 2007 Tác giả

tập trung phân tìch đối với khả năng áp dụng biện pháp SPS khi bằng chứng khoa học không đầy đủ Nhưng tác giả vẫn chưa phân tìch đầy đủ, bao quát về

“bằng chứng khoa học” theo quy định WTO, cũng như việc sử dụng quy định này để kiểm soát có hiệu quả hàng hóa nhập khẩu nhẳm bảo đảm an toàn thực phẩm cho người dân

International Standards in the WTO: How Far across the River? Journal of

World Trade, Kluwer Law International, 2010 Tác giả tập trung phân tích

“điều kiện để được hưởng giả định “cần thiết để bảo vệ cuộc sống hoặc sức khỏe con người động vật, thực vật” Bài viết đã giúp người đọc hiểu được vai trò của các tổ chức quốc tế trong quá trình xây dựng các biện pháp SPS của quốc gia Tuy nhiên, bài viết vẫn chỉ giới hạn ở ý nghĩa như vừa nêu trên

WTO: a critical review of the developing case law in the face of scientific uncertainly, New York University Environment law Journal, Vol VIII – 3,

2000 Tác giả tập trung phân tích bối cảnh lịch sử cho sự ra đời Hiệp định SPS, mối tương quan giữa Hiệp định SPS và Điều XX(b) Hiệp định GATT 1994,

phân tích vụ tranh chấp EC- Hormone (DS26) Bài viết đã giúp cho người đọc

có sự liên hệ với tranh chấp thực tế Tuy nhiên, tác giả vẫn chưa khái quát toàn

bộ nội dung “bằng chứng khoa học” theo Hiệp định SPS và chưa liên hệ với việc sử dụng những quy định này để quản lý hàng hóa nhập khẩu một cách hiệu quả trước những nguy cơ thực phẩm không an toàn

Matters, CESifo (Center for Economic Studies and Ifo Institute for Economic

Research) - Ifo Institute for Economic Research, February 21, 2012 Công trình nghiên cứu tập trung vào việc phân loại hai nhóm biện pháp SPS được điều

(Conformity assessment) và các biện pháp liên quan đến đặc tính của sản phẩm (product characteristics) Công trình nghiên cứu cũng chưa đi vào phân tìch

“bằng chứng khoa học” theo quy định Hiệp định SPS

Trang 17

- United Nations conference on trade and development, SPS Measures, 2003 Tài

liệu tập trung vào phân tích phạm vi áp dụng của Hiệp định SPS

- Elizabeth Fisher, Beyond the Science/Democracy Dichotomy: The World Trade Organisation Sanitary and PhytosanitaryAgreement and Administrative Constitutionalism, University of Oxford Faculty of Law Legal Studies Research Paper Series Working Paper No 30/2006 Tác giả tập trung phân tích tính chủ quyền của quốc gia trong việc thiết lập những tiêu chuẩn và minh chứng khoa học trong hiệp định SPS

Regulations by WTO Panels, research handbookon environment, health anh WTO, Geert Van Calster, Denise Prévost, Edward ElgarPublishing, 2012 Tác

Ngoài ra, trên thế giới còn có những công trình khác nghiên cứu về Hiệp định SPS và vấn đề an toàn thực phẩm (liệt kê trong danh mục tài liệu tham khảo) Tuy nhiên chưa có công trính nghiên cứu nào mang tình hệ thống nghiên cứu về quy định

“bằng chứng khoa học” trong hiệp định SPS, kinh nghiệm áp dụng của EU và từ đó kiến nghị giải pháp áp dụng quy định này có hiệu quả để kiểm soát hàng hóa nhập khẩu nhằm mục đìch bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và khủng hoảng an toàn thực phẩm như hiện nay

3 Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

3.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn có mục đìch nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định “bằng chứng khoa học” theo quy định Hiệp định SPS, kinh nghiệm của EU trong áp dụng Bằng chứng khoa học khi ban hành các biện pháp SPS, từ đó kiến nghị một số giải pháp đối với Việt Nam trong việc áp dụng bằng chứng khoa học, ban hành các biện pháp nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm nhập khẩu mà không vi phạm các quy định của WTO

Để đạt đươc mục đìch nghiên cứu đã xác định, tác giả luận văn xác định 3 mục tiêu nghiên cứu sau đây:

Thứ nhất, xác định ý nghĩa của bằng chứng khoa học khi ban hành các biện

pháp đảm bảo an toàn thực phẩm, từ đó, xây dựng khái niệm bằng chứng khoa học theo quy định của WTO

Trang 18

Thứ hai, nghiên cứu kinh nghiệm áp dụng bằng chứng khoa học của EU khi

ban hành các biện pháp đảm bảo an toàn thực phẩm nhập khẩu, thông qua quy định pháp luật EU và một số vụ tranh chấp cụ thể tại WTO

Thứ ba, kiến nghị một số giải pháp khi Việt Nam ban hành các biện pháp

nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm nhập khẩu để vừa bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng trong nước vừa không vi phạm các quy định của WTO

3.2 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là “bằng chứng khoa học” “Bằng chứng khoa học” được xem xét trong luận văn dưới góc độ quy định của WTO, cụ thể là theo Hiệp định SPS

Việc áp dụng bằng chứng khoa học khi ban hành các biện pháp nhằm đảm bảo

an toàn thực phẩm được các thành viên WTO áp dụng trong thực tiễn để đạt được mục tiêu vừa đảm bảo sức khỏe người tiêu dùng vừa không vi phạm các quy định của WTO Luận văn chỉ nghiên cứu kinh nghiệm của EU khi ban hành các biện pháp nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm để đạt được mục tiêu vừa đảm bảo sức khỏe người tiêu dùng vừa không vi phạm các quy định của WTO

4 Phương pháp nghiên cứu

dịch, quy nạp, phương pháp phân tìch vụ tranh chấp (case), tổng hợp, thống kê.

5 Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng

Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống “bằng chứng khoa học” theo quy định WTO Luận văn góp phần làm hoàn thiện các nghiên cứu pháp luật WTO tại Việt Nam, đặc biệt khi Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức này Bên cạnh

đó, luận văn có thể là tài liệu tham khảo dành cho các đối tượng nghiên cứu, tìm hiểu

về quy định của WTO nói chung và “bằng chứng khoa học” theo quy định Hiệp định SPS nói riêng

Ngoài ra, trong bối cảnh “khủng hoảng an toàn thực phẩm” như hiện nay, người tiêu dùng Việt Nam vô cùng hoang mang, lo lắng trong vấn đề lựa chọn thực phẩm sao cho an toàn Luận văn có thể đóng góp một vài kiến nghị để cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam tham khảo để ban hành những quy định vừa đạt mục tiêu đảm bảo sức khỏe người tiêu dùng Việt Nam vừa không vi phạm các quy định của WTO, trong bối cảnh Việt Nam đã là thành viên WTO

Trang 19

6 Bố cục luận văn

Để thực hiện mục đìch nghiên cứu đã đặt ra, ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có kết cấu như sau:

Chương 1: “Bằng chứng khoa học” theo quy định của Hiệp định SPS

Chương 2: Kinh nghiệm áp dụng “bằng chứng khoa học” của EU khi xây dựng quy định nhập khẩu nhằm bảo đảm an toàn thực phẩm, giải pháp dành cho Việt Nam

Trang 20

CHƯƠNG 1: “BẰNG CHỨNG KHOA HỌC” THEO QUY ĐỊNH CỦA HIỆP

ĐỊNH SPS

Quyền được chăm sóc sức khỏe là một trong những quyền cơ bản của con người Theo tuyên bố Alma – Alta của Tổ chức Y tế thế giới tại Hội nghị chăm sóc

sức khỏe ban đầu diễn ra vào tháng 09/1978 tại Geneva: “Chăm sóc sức khỏe ban

đầu, (…) bao gồm việc thúc đẩy một nguồn cung cấp thực phẩm an toàn và đầy đủ dinh dưỡng hợp lý, cung cấp đủ nước sạch và vệ sinh cơ bản; chủng ngừa chống lại các bệnh truyền nhiễm chính, xử lý thích hợp các bệnh thông thường và bị thương; và cung cấp thuốc thiết yếu”15 Như vậy, quyền được cung cấp thực phẩm an toàn là một trong những quyền cơ bản của con người Mặc dù mục tiêu cơ bản của Tổ chức thương mại thế giới là thúc đẩy thương mại tự do16

nhưng tổ chức này cũng có những quy định bảo vệ quyền được đảm bảo sức khỏe của con người, và đảm bảo an toàn thực phẩm là một trong những nội dung của quyền này Những quy định đảm bảo an toàn thực phẩm được quy định một cách rải rác, gián tiếp trong nhiều hiệp định của WTO, nhưng tập trung nhất và không thể không nhắc đến là Hiệp định về việc áp dụng các biện pháp kiểm dịch động, thực vật (SPS) Mặc dù quyền được đảm bảo an toàn thực phẩm được thừa nhận trong WTO, nhưng trong lịch sử nhiều thành viên WTO đã sử dụng những biện pháp này như là phương tiện bảo hộ17 Đặc biệt, trong

xu hướng giảm thuế quan, hạn ngạch và những ngăn cấm của các thỏa thuận song phương và đa phương trong những thập kỷ qua, các biện pháp phi thuế quan đang gia tăng Hiệp định SPS thừa nhận quyền được đảm bảo sức khỏe con người và đảm bảo

an toàn thực phẩm là một trong những nội dung của quyền này, bên cạnh đó Hiệp định cũng tím cách để phân biệt các biện pháp nhằm bảo vệ sức khỏe với những hình thức của chủ nghĩa bảo hộ trá hính Để đạt được mục đìch này, Hiệp định SPS yêu cầu các biện pháp SPS được ban hành bởi các thành viên WTO được thực hiện theo

một số nguyên tắc nhất định Một trong những nguyên tắc quan trọng là “dựa trên

15

World Health Organization (1978), The Declaration of Alma-Ata in Report of the International Conference on

Primary Health Care, Geneva, Article VII

16 Lời nói đầu, Hiệp định Marrakesh

17 W.Maruyama (1998), A new pillar of the WTO: Sound Science, International Lawyer, pp 65; D.Roberts (2000),

Sanitary and Phytosanitary Risk Management in the Post-Uruguay Round Era: An Economic perspective,

Washington DC: National Academies Press, pp 35; T.Weiler (2000), “International Regultory Reform Obligations”,

Journal of World Trade Law, (34), pp 71

Trang 21

các nguyên tắc khoa học và không được duy trì mà không có đủ bằng chứng khoa học, trừ khi như được nêu tại khoản 7 của Điều 5”18 Như vậy, bằng chứng khoa học

có “vai trò quan trọng (key role) trong việc xác định một tiêu chuẩn hợp pháp”19

Một trong ba người tại các nước công nghiệp có thể bị ảnh hưởng bởi bệnh do thực phẩm mỗi năm21 Tại các nước đang phát triển, khoảng 1,8 triệu trẻ

em tử vong mỗi năm vì các bệnh gây ra bởi các tác nhân vi sinh vật trong thực phẩm nhiễm bẩn và nước22 Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (The

United States Centers for Disease Control and Prevention - CDC) ước tính rằng trong

biên giới Hoa Kỳ, thực phẩm gây ra khoảng 48 triệu bệnh, 128.000 ca nhập viện và 3.000 ca tử vong mỗi năm23 Số lượng ngày càng tăng của dịch bệnh do thực phẩm là kết quả của nhiều yếu tố liên quan đến kinh tế toàn cầu hóa Toàn cầu hóa đã tạo nên dòng chảy ngày càng dễ dàng của hàng hóa, dịch vụ, con người, đầu tư, và thực phẩm qua ranh giới quốc gia24 Vấn đề an toàn thực phẩm, cùng với sản xuất lương thực và tiêu dùng, cũng đã trở thành vấn đề toàn cầu, thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia

Từ thực trạng an toàn thực phẩm trong bối cảnh hiện nay, vấn đề đặt ra đối với mỗi quốc gia thành viên WTO là: làm thế nào để áp dụng bằng chứng khoa học theo quy định của Hiệp định SPS bảo vệ quyền lợi chình đáng của người tiêu dùng

18

Điều 2.2, Hiệp định SPS

19 O.Perez (2004), Ecological Sensitivity and Global legal Pluralism, Oxford press, pp 117

20WHO (1999), Food safety: An Essential Public Health Issue for the New Mellenium (WHO/SDE/PHE/FOS/99 4),

24 World Health Organization (2002), Who global strategy for food safety: safer food for better health, 2002, pp 5-

13

Trang 22

trong nước, trong bối cảnh toàn cầu hóa mà không vi phạm những quy định của WTO

1.3 Vị trí của bằng chứng khoa học trong Hiệp định SPS

1.3.1 Ý nghĩa của bằng chứng khoa học khi áp dụng biện pháp SPS

1.3.1.1 Nghĩa vụ áp dụng biện pháp SPS dựa trên bằng chứng khoa học của thành viên WTO

Mục tiêu cơ bản của WTO là thúc đẩy thương mại phát triển, tuy nhiên, bên cạnh đó, tổ chức này cũng có những quy định thừa nhận và bảo vệ quyền cơ bản của con người đối với vấn đề an toàn thực phẩm Điều 2.1 Hiệp định SPS thừa nhận quyền của các thành viên có quyền sử dụng các biện pháp SPS cần thiết để bảo vệ sức khỏe

và cuộc sống con người, động thực vật với điều kiện là phải phù hợp với các nguyên tắc của Hiệp định SPS Để ngăn chặn các quốc gia thành viên WTO lạm dụng biện pháp SPS nhằm mục đìch bảo hộ thương mại, Hiệp định SPS tìm cách phân biệt các biện pháp nhằm bảo vệ sức khỏe với những hình thức bảo hộ trá hình Nguyên tắc áp dụng biện pháp SPS trên cơ sở bằng chứng khoa học theo quy định tại Điều 2.2 của Hiệp định này được xem như là cách để dung hòa giữa mục tiêu phát triển thương mại

và bảo vệ quyền cơ bản của con người đối với an toàn thực phẩm Vì vậy, việc một quốc gia thành viên ban hành biện pháp SPS trên cơ sở bằng chứng khoa học và duy trì biện pháp này khi có đủ bằng chứng khoa học được xem là hợp pháp theo quy định của WTO Tầm quan trọng của bằng chứng khoa học nhằm bảo đảm tự do hóa thương

mại và bảo vệ sức khỏe con người đã được đề cập trong vụ tranh chấp EC - Hormone Trong vụ tranh chấp này, AB nhận định: “Yêu cầu “bằng chứng khoa học đầy đủ”

theo Điều 2.2, là quan trọng đối với việc duy trì sự cân bằng tinh tế và sự cẩn trọng trong đàm phán Hiệp định SPS, giữa việc chia sẻ đôi khi giữa mục tiêu cạnh tranh của lợi ích xúc tiến thương mại với bảo vệ cuộc sống và sức khỏe của con người” 25

Bằng chứng khoa học đóng vai trò quan trọng chi phối các nghĩa vụ khác

trong Hiệp định SPS Điều này đã được Ban hội thẩm trong vụ tranh chấp Hoa Kỳ -

Gia cầm (Trung Quốc) nhận định “bao quát toàn bộ và bao gồm tên Điều 2 là

“Quyền và nghĩa vụ cơ bản”, dẫn đến kết luận rằng các nghĩa vụ tại Điều 2 bao trùm toàn bộ Hiệp định SPS”26 Bên cạnh đó, quy định áp dụng biện pháp SPS trên cơ sở bằng chứng khoa học và duy trí khi đủ bằng chứng khoa học phản ánh mục tiêu cơ

25 WT/DS26/AB/R, para.177

26 WT/DS392/R, para.7.142

Trang 23

bản của việc giải quyết nhu cầu tăng cường tiếp cận thị trường đối với thực phẩm với việc công nhận chủ quyền của chính phủ quốc gia có biện pháp để bảo vệ cuộc sống

và sức khỏe con người, động vật và thực vật trong lãnh thổ của họ Hay nói cách khác nguyên tắc này nhằm đạt được sự cân bằng giữa quyền chủ quyền của các thành viên đối với việc áp đặt các biện pháp bảo vệ sức khỏe trong lãnh thổ của mình và nhu cầu

tự do hóa thương mại trong lĩnh vực thực phẩm

Nếu một quốc gia cho rằng biện pháp đảm bảo an toàn thực phẩm của quốc gia thành viên khác không phù hợp với quy định của WTO, cụ thể là Hiệp định SPS thì quốc gia này phải chứng minh biện pháp đảm bảo an toàn thực phẩm được ban hành không trên cơ sở bằng chứng khoa học và không được biện minh bởi bằng chứng khoa học

Có những trường hợp Chính phủ quốc gia thành viên cần có những hành động

để bảo vệ sức khỏe của con người trước những nguy cơ về an toàn thực phẩm khi bằng chứng khoa học chưa đủ bằng cách tham chiếu đến Điều 5.7, một ngoại lệ đối với yêu cầu “bằng chứng khoa học đầy đủ”27 Trong vụ tranh chấp Nhật Bản – Sản

phẩm nông nghiệp, AB đã giải thích mối quan hệ giữa Điều 2.2 và Điều 5.7,

“Điều 5.7 cho phép thành viên tạm thời áp dụng biện pháp SPS trong trường hợp bằng chứng khoa học có liên quan chưa đủ và những yêu cầu nhất định phải được tuân thủ Điều 5.7 hoạt động như một điều kiện miễn thực hiện nghĩa vụ theo Điều 2.2 không phải là cơ sở để duy trì các biện pháp SPS không có đầy đủ bằng chứng khoa học Một cách giải thích quá rộng và linh hoạt của nghĩa vụ này sẽ làm cho Điều 5.7 vô nghĩa” 28

Như vậy, giải thích của AB hoàn toàn hợp lý ví Điều 5.7 không phải là cơ sở để

áp dụng biện pháp SPS không có bằng chứng khoa học Điều 5.7 Hiệp định SPS cho phép các quốc gia thành viên áp dụng các biện pháp đảm bảo an toàn thực phẩm cần thiết để bảo vệ sức khỏe con người trong trường hợp bằng chứng cứ khoa học có liên quan chưa đủ Nói cách khác, ngay cả khi áp dụng Điều 5.7, việc ban hành biện pháp SPS cũng phải trên cơ sở bằng chứng khoa học Để đối phó với những rủi ro từ thực phẩm nhập khẩu khi bằng chứng khoa học vẫn chưa đầy đủ Điều 5.7 có thể xem như

27 Điều 2.2, Hiệp định SPS quy định: “Các Thành viên phải đảm bảo rằng bất kỳ biện pháp vệ sinh động-thực vật

nào cũng chỉ được áp dụng ở mức độ cần thiết để bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ của con người, động vật và thực vật

và dựa trên các nguyên tắc khoa học và không được duy trì mà không có đủ bằng chứng khoa học, trừ khi như được nêu tại khoản 7 của Điều 5”

28 WT/DS76/AB/R, para.80

Trang 24

là “các biện pháp SPS tạm thời”29

để giải quyết các rủi ro đó, nhưng phải tuân thủ 4 điều kiện được quy định tại Điều 5.7.30

Trong vụ tranh chấp Nhật Bản – Những biện pháp tác động đến các sản phẩm

nông nghiệp (DS76), AB đã giải thích về những yêu cầu khi áp dụng biện pháp SPS:

Có 4 yêu cầu cần phải được tuân thủ khi áp dụng Điều 5.7 Bốn yêu cầu chia làm 2 nhóm:

Nhóm 1: có cơ sở pháp lý là câu đầu tiên của Điều 5.7 Yêu cầu của nhóm này được xem như điều kiện tiên quyết cho việc áp dụng biện pháp SPS tạm thời, gồm: (1) được áp đặt đối với trường hợp bằng chứng khoa học liên quan chưa đủ, (2) áp dụng trên cơ sở thông tin chuyên môn sẵn có Nhóm 2: có cơ sở pháp lý là câu thứ hai của Điều 5.7 Những yêu cầu của nhóm thứ hai nhằm mục đìch thiết lập nghĩa vụ đối với các thành viên nhằm đảm bảo rằng những biện pháp này là cần thiết trong tương lai và tạm thời là bản chất, gồm: (1) tìm kiếm, thu thập thông tin bổ sung cần thiết để có sự đánh giá rủi ro khách quan hơn và (2) rà soát các biện pháp vệ sinh động, thực vật một cách tương ứng trong khoảng thời gian hợp lý Ngoài ra, AB cho rằng, 4 yêu cầu này phải được áp dụng đồng thời, và rất quan trọng để xác định tính phù hợp của một biện pháp đối với quy định này Nếu một trong số những yêu cầu này không được đáp ứng thì có thể kết luận thành viên hành động không phù hợp với quy định tại Điều 5.731

Giải thích của AB trong vụ tranh chấp DS76 cho thấy thành viên không được phép áp dụng tạm thời biện pháp SPS đơn giản chỉ vì bằng chứng khoa học liên quan chưa đủ Thay vào đó, chỉ có thể áp dụng các biện pháp SPS khi bằng chứng khoa học chưa đủ khi tất cả 4 yêu cầu của Điều 5.7 được đáp ứng Rất khó khăn để đáp ứng cùng lúc 4 yêu cầu này, và những yêu cầu này rất dễ phát sinh tranh chấp Chẳng hạn

như, đối với yêu cầu thứ nhất, “được áp đặt đối với trường hợp bằng chứng khoa học

liên quan chưa đủ” Trong vụ tranh chấp Nhật Bản – Những biện pháp tác động đến việc nhập khẩu táo (DS245), AB giải thìch “bằng chứng khoa học có liên quan chưa

29 Niu Huei-Chih (2007), “Can Article 5.7 of the WTO SPS Agreement be a Model for the Precautionary Principle?”, Scripted Volume 4, Issue 4, pp 368

30 Điều 5.7, Hiệp định SPS quy định: “Trong trường hợp chứng cứ khoa học liên quan chưa đủ, một Thành viên có

thể tạm thời áp dụng các biện pháp vệ sinh động-thực vật trên cơ sở thông tin chuyên môn sẵn có, kể cả thông tin từ các tổ chức quốc tế liên quan cũng như từ các biện pháp vệ sinh động-thực vật do các Thành viên khác áp dụng Trong trường hợp đó, các Thành viên sẽ phải thu thập thông tin bổ sung cần thiết để có sự đánh giá rủi ro khách quan hơn và rà soát các biện pháp vệ sinh động-thực vật một cách tương ứng trong khoảng thời gian hợp lý”

31 WT/DS76AB/R, para.89

Trang 25

đủ” thông qua giải thích hai thuật ngữ “liên quan” và “chưa đủ” AB nhận định rằng

độ tin cậy và tính thuyết phục của các kết luận là yếu tố cơ bản của khái niệm “chưa đủ” AB giữ quan điểm cho rằng khái niệm “liên quan” và “chưa đủ” trong cụm từ mở đầu của Điều 5.7 bao hàm một mối quan hệ giữa bằng chứng khoa học và những yếu

tố khác32 Và AB cho rằng có một liên kết hoặc một mối quan hệ giữa câu đầu tiên theo Điều 5.7 và nghĩa vụ thực hiện đánh giá rủi ro theo Điều 5.1 và theo quy định tại Phụ lục A của Hiệp định SPS33 Bên cạnh đó, AB nhận định nguyên văn Điều 5.7 rõ ràng là đề cập đến “những trường hợp chứng cứ khoa học liên quan chưa đủ” không phải là “khoa học không chắc chắn”34 Thậm chì AB còn đi xa hơn để làm rõ sự khác biệt của hai khái niệm này, những gì chắc chắn là “bằng chứng khoa học không chắc chắn” không thể là một lý do để biện minh cho việc áp dụng biện pháp SPS theo Điều 5.735 AB trong vụ tranh chấp Nhật Bản – Táo (DS245) xác định “bằng chứng khoa

học chưa đủ” không phải là “khoa học không chắc chắn”, nhưng không nêu lên tiêu

chì để phân biệt hai khái niệm này Tranh chấp cũng dễ phát sinh đối với yêu cầu 3:

Tìm kiếm để thu thập thông tin bổ sung cần thiết để có sự đánh giá rủi ro khách quan hơn Để đáp ứng yêu cầu của Nhật Bản đối với việc xem xét khái niệm của việc thu

thập “thông tin bổ sung cần thiết để có sự đánh giá rủi ro khách quan hơn”, AB lưu ý rằng Điều 5.7 cũng như các điều khoản nào khác của Hiệp định SPS không quy định điều kiện nào là điều kiện tiên quyết của thông tin bổ sung được thu thập hay quy trình thu thập cụ thể Tuy nhiên, bởi vì những thông tin này được tìm kiếm là để cho phép các thành viên thực hiện “một đánh giá rủi ro khách quan hơn”, thông tin tím kiếm phải phù hợp với việc tiến hành đánh giá rủi ro36 Như vậy, AB không đưa ra một danh sách những thông tin bổ sung cần thiết phải thu thập, cũng không đưa ra những điều kiện hay quy trính, phương pháp thu thập, mà chỉ đưa ra tiêu chì duy nhất

là thông tin đó phải phù hợp với việc đánh giá rủi ro Tiêu chí này mang tính chất định tính, dễ phát sinh tranh chấp Việc đánh giá rủi ro đối với từng vụ tranh chấp sẽ có nội dung khác nhau Như vậy, thông tin bổ sung trong mỗi vụ tranh chấp cũng sẽ không hoàn toàn giống nhau mà những thông tin này phải được thu thập phù hợp với việc đánh giá rủi ro trong từng vụ tranh chấp cụ thể Cách giải thích này của AB đảm bảo

Trang 26

tính linh hoạt, phù hợp với từng biện pháp SPS cụ thể, nhưng sẽ dẫn đến việc cùng một biện pháp SPS sẽ có những danh sách thông tin bổ sung, cách thức, quy trình thu thập khác nhau, từ đó dẫn đến các kết quả khác nhau, làm cho mục đìch của quy định này không được đảm bảo Thêm vào đó, yêu cầu thứ hai trong câu thứ hai của Điều 5.7 liên quan đến nghĩa vụ rà soát các biện pháp trong một khoảng thời gian hợp lý

Để làm rõ thế nào là khoảng thời gian hợp lý, AB nhận định, điều này được xác định

theo từng trường hợp cụ thể (case - by - case basis) và phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ

thể của từng trường hợp tạm thời37 Như vậy, AB cũng không đưa ra một khoảng thời gian cụ thể để được xem là khoảng thời gian hợp lý

Tóm lại, áp dụng bằng chứng khoa học khi ban hành các biện pháp SPS, thành

viên WTO sẽ được hưởng những lợi ích Thứ nhất, thành viên ban hành biện pháp

SPS trên cơ sở bằng chứng khoa học và duy trì biện pháp này khi có đủ bằng chứng

khoa học được xem là hợp pháp theo quy định của WTO Thứ hai, khi ban hành biện

pháp SPS trên cơ sở bằng chứng khoa học thành viên có thể dung hòa giữa mục tiêu

xúc tiến thương mại với mục tiêu đảm bảo sức khỏe con người Thứ ba, Nếu thành

viên WTO cho rằng biện pháp đảm bảo an toàn thực phẩm của thành viên khác không phù hợp với quy định của WTO, cụ thể là Hiệp định SPS thì quốc gia này phải chứng minh biện pháp đảm bảo an toàn thực phẩm được ban hành không trên cơ sở bằng chứng khoa học

1.3.1.2 Đối với thương mại quốc tế

Các biện pháp SPS gây hạn chế thương mại nhưng bên cạnh đó cũng có những tác động tích cực đối với thương mại Về bản chất, các biện pháp SPS trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng đến thương mại38 Chi phí sản xuất tăng lên do phải đáp ứng những tiêu chuẩn SPS cao hơn có thể ảnh hưởng đến thương mại Nếu sản phẩm được đảm bảo an toàn đối với sức khỏe người tiêu dùng, có thể làm gia tăng niềm tin của người tiêu dùng đối với thực phẩm nhập khẩu, giảm chi phí giao dịch và do đó thúc đẩy thương mại Tuy nhiên, với quá trình toàn cầu hóa, an toàn thực phẩm không còn

là vấn đề đối với mỗi quốc gia riêng lẻ, việc cung cấp hàng hóa trên toàn thế giới, áp

37 WT/DS76/AB/R, para 93

38

Điều 1.1, Hiệp định SPS: “Hiệp định này áp dụng cho tất cả các biện pháp vệ sinh động-thực vật có thể trực tiếp

hay gián tiếp ảnh hưởng đến thương mại quốc tế Các biện pháp như vậy sẽ được xây dựng và áp dụng phù hợp

với các điều khoản của Hiệp định này”

Trang 27

dụng các biện pháp bảo vệ sức khỏe của con người đối với sản phẩm nhập khẩu ảnh

cả các nhà cung cấp tiềm năng”39

Cách phân loại trên của các tác giả dường như chỉ bao gồm những tác động tiêu cực của biện pháp SPS đối với thương mại Như trên đã phân tìch, thực tế các biện pháp SPS không chỉ tác động tiêu cực đến thương mại, các biện pháp SPS vẫn

có những tác động tích cực đối với thương mại

Tác động hạn chế thương mại của các biện pháp SPS đã được nhận thấy qua thực tiễn Chẳng hạn, yêu cầu áp dụng những tiêu chuẩn SPS tại các quốc gia phát triển không phù hợp với phương thức sản xuất thông thường tại các quốc gia đang phát triển tạo nên rào cản đối với thương mại quốc tế Trường hợp sữa được sản xuất tại Ấn Độ là một ví dụ: Ấn Độ là một trong những nhà sản xuất lớn nhất thế giới đối với sữa và sản phẩm sữa Tuy nhiên, phần lớn sản xuất này được thực hiện bởi các hộ gia đính, vắt sữa bằng tay; các hộ gia đính này là thành viên của hợp tác xã và hợp tác xã thu thập sữa để chế biến và phân phối tiếp Có rất ít các cơ sở sản xuất vắt sữa với quy mô lớn Chỉ thị 92/46/EEC40 đưa ra các tiêu chuẩn vệ sinh cho sản xuất sữa trong EU và các quốc gia thứ ba Chỉ thị này yêu cầu các sản phẩm sữa được sản xuất

từ sữa những con bò đã được nuôi dưỡng trên các trang trại và vắt sữa bằng máy Với đặc điểm của hoạt động vắt sữa bằng tay ở Ấn Độ, điều này ngăn cản việc xuất khẩu sữa Ấn Độ sang EU41

39 Spensor Henson, Ruper Loader (1999), “Impact of sanitary and phytosanitary measures on developing countries”,

Agribusiness magazine, Volume 15, Issue 3, pp 355

40

http://ec.europa.eu/food/fs/sfp/mr/mr03_en.pdf , cập nhật ngày 10/02/2014

41 Spensor Henson, Ruper Loader (1999), “Impact of sanitary and phytosanitary measures on developing countries”,

Agribusiness magazine, (3), pp 356

Trang 28

Như vậy, về bản chất biện pháp SPS gây ảnh hưởng đến thương mại42

do chi phí sản xuất tăng lên ví phải đáp ứng những tiêu chuẩn SPS Tuy nhiên, khi các biện pháp SPS được áp dụng trên cơ sở bằng chứng khoa học sẽ làm hạn chế những tác động tiêu cực của các biện pháp SPS và sẽ gia tăng các tác động tích cực của các biện

pháp SPS đối với thương mại quốc tế Thứ nhất, góp phần ngăn chặn thành viên

WTO sử dụng các biện pháp đảm bảo an toàn thực phẩm nhằm “bảo hộ thương mại

trá hính” Thứ hai, tác động thúc đẩy thương mại, khi ban hành biện pháp SPS trên cơ

sở bằng chứng khoa học dẫn đến thực phẩm được đảm bảo an toàn đối với sức khỏe người tiêu dùng Từ đó làm gia tăng niềm tin của người tiêu dùng đối với thực phẩm

nhập khẩu, giảm chi phí giao dịch và do đó thúc đẩy thương mại Thứ ba, góp phần

giải quyết khủng hoảng an toàn thực phẩm trong bối cảnh hiện nay

1.3.2 Điều kiện áp dụng bằng chứng khoa học khi ban hành biện pháp SPS

Điều 2.2, Hiệp định SPS quy định: “Các Thành viên phải đảm bảo rằng bất kỳ

biện pháp vệ sinh động, thực vật nào cũng chỉ được áp dụng ở mức độ cần thiết để bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ của con người, động vật và thực vật và dựa trên các nguyên tắc khoa học và không được duy trì mà bằng chứng khoa học không đủ, trừ khi như được nêu tại khoản 7 của Điều 5” Như vậy, một biện pháp SPS muốn được

ban hành và duy trì thì phải đáp ứng 2 điều kiện: (i) một là, bằng chứng đó phải được

xem là bằng chứng khoa học (scientific evidence) và (ii) hai là, bằng chứng khoa học

phải đủ (sufficient)

1.3.2.1 Bằng chứng khoa học (scientific evidence)

Toàn bộ Hiệp định SPS không có định nghĩa như thế nào là “bằng chứng khoa học” Khi giải quyết tranh chấp để giải thìch như thế nào là bằng chứng khoa học, AB

giải thích thuật ngữ “khoa học” (scientific) và thuật ngữ “bằng chứng” (evidence)

“Khoa học” (scientific) đã được định nghĩa bởi AB trong vụ tranh chấp EC –

Hormone:

“Ý nghĩa thông thường của “khoa học”, như được cung cấp bởi các định nghĩa từ điển, bao gồm,“của, liên quan đến, hoặc được sử dụng trong khoa học”, “nói chung, có hoặc xuất hiện để có một tính chính xác, khách quan, cơ

sở thực tế, có hệ thống hoặc phương pháp”, “của, liên quan đến, hoặc thể

42

Điều 1.1, Hiệp định SPS: “Hiệp định này áp dụng cho tất cả các biện pháp vệ sinh động-thực vật có thể trực tiếp

hay gián tiếp ảnh hưởng đến thương mại quốc tế Các biện pháp như vậy sẽ được xây dựng và áp dụng phù hợp

với các điều khoản của Hiệp định này”

Trang 29

hiện phương pháp và nguyên tắc của khoa học” và “của, liên quan đến, sử dụng, hoặc dựa trên phương pháp luận của khoa học”43

Sau đó, Trong vụ tranh chấp Nhật Bản – Táo, Ban hội thẩm cho rằng bằng chứng để có đủ điều kiện như “khoa học” (scientific) phải được thu thập thông qua

các phương pháp khoa học44

và được dựa trên bằng chứng được tạo ra có tính khoa

học (scientifically produced evidence) chứ không phải là bằng chứng hoàn toàn gián

tiếp45 Ban hội thẩm lưu ý rằng Ban hội thẩm sẽ xem xét cả hai bằng chứng khoa học trực tiếp và gián tiếp, mặc dù giá trị để chứng minh của chúng sẽ khác nhau46

Liên quan đến thuật ngữ “bằng chứng” (evidence), Ban hội thẩm trong vụ tranh chấp Nhật Bản - Táo nhận định : “Các nhà đàm phán có thể đã sử dụng thuật ngữ “thông tin” (information), như trong Điều 5.7 nếu họ cho rằng bất kỳ tài liệu có

thể được sử dụng Bằng cách sử dụng thuật ngữ “bằng chứng khoa học”, Điều 2.2 loại trừ trong bản chất không chỉ thông tin được chứng minh không đầy đủ mà còn là những điều như là một giả thuyết không chứng minh được”.47 Sau đó trong vụ tranh

chấp Hoa Kỳ - Tiếp tục đình chỉ, AB đã làm rõ hơn khái niệm bằng chứng, theo đó bằng chứng (evidence) phải chặt chẽ về khoa học và phương pháp luận uy tìn”48

Như vậy, mặc dù “bằng chứng khoa học” là một khái niệm quan trọng trong

Hiệp định SPS để xác định biện pháp SPS của thành viên WTO có phù hợp với quy định của Hiệp định này hay không, nhưng khái niệm này đã không được định nghĩa trong toàn bộ Hiệp định Trong quá trình giải quyết tranh chấp, Ban hội thẩm và AB

có giải thích về khái niệm “bằng chứng khoa học”, giải thìch dường như vẫn chưa rõ ràng Nhưng từ những nhận định của cơ quan giải quyết tranh chấp, chúng ta có thể hiểu: “bằng chứng khoa học là những bằng chứng có sự chặt chẽ về khoa học và

43 WT/DS26/AB/R, WT/DS48/AB/R, foonote 172

44 WT/DS245/R, para.8.92: “Chúng tôi cho rằng, phù hợp với các nguyên tắc chung về việc giải thích công pháp quốc tế, chúng ta phải cung cấp cho đầy đủ ý nghĩa thuật ngữ “khoa học” và kết luận rằng, trong bối cảnh của Điều 2.2, các bằng chứng được xem xét phải là bằng chứng thu được thông qua phương pháp khoa học , không bao gồm các thông tin Tương tự như vậy không được thông qua một phương pháp khoa học…”

45 WT/DS245/R, para 8.95

46

WT/DS245/R, para 8.98: “yêu cầu “bằng chứng khoa học” không giới hạn lĩnh vực bằng chứng khoa học hiện cho các thành viên để hỗ trợ các biện pháp của họ Bằng chứng “trực tiếp” hoặc “gián tiếp” có thể được xem xét như nhau Khác biệt duy nhất không phải là một trong những chất lượng khoa học, nhưng một trong những giá trị để chứng minh trong ý nghĩa pháp lý của điều khoản này, vì rõ ràng là bằng chứng mà không trực tiếp chứng minh một thực tế có thể không có nhiều trọng lượng như là bằng chứng trực tiếp chứng minh nó, nếu nó có sẵn”

47 WT/DS245/R, para 8.93

48 WT/DS320/AB/R, para.591

Trang 30

phương pháp luận uy tín và những bằng chứng này “có hoặc xuất hiện để có tính

chính xác (exact), khách quan (objective), thực tế (factual), có hệ thống (systematic)”

1.3.2.2 Bằng chứng khoa học đầy đủ

Thành viên WTO chỉ có thể duy trì biện pháp SPS khi có đủ bằng chứng khoa

học Khái niệm “đầy đủ” (sufficient) đã được xây dựng như một khái niệm liên hệ

(relational), khái niệm này đòi hỏi một mối quan hệ đầy đủ giữa hai yếu tố, giữa các

biện pháp SPS và bằng chứng khoa học Một mối quan hệ đầy đủ được hiểu như là một “mối quan hệ hợp lý và khách quan”49 Sự hợp lý của các mối quan hệ nên được xác định theo từng trường hợp cụ thể50

Tuy nhiên, theo AB, yếu tố quan trọng của

mối quan hệ hợp lý là: các đặc trưng của các biện pháp, chất lượng và số lượng các bằng chứng khoa học51

“Chúng tôi đồng ý với Ban hội thẩm về các nghĩa vụ tại Điều 2.2 (rằng một biện pháp SPS không được duy trì mà không có đủ bằng chứng khoa học) đòi hỏi phải có được một mối quan hệ hợp lý hoặc khách quan giữa các biện pháp SPS và các bằng chứng khoa học Việc xem có một mối quan hệ hợp lý giữa một biện pháp SPS và các bằng chứng khoa học hay không được xác định trên

cơ sở từng trường hợp cụ thể và sẽ phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của vụ tranh chấp, bao gồm các đặc điểm của biện pháp ban hành, chất lượng và số lượng của các bằng chứng khoa học” 52

Bản – Sản phẩm nông nghiệp, nơi mà AB chỉ ra “đầy đủ” (sufficient) là một khái niệm

biểu thị sự liên hệ, yêu cầu sự tồn tại của một mối quan hệ đầy đủ giữa hai yếu tố, trong trường hợp này là bằng chứng khoa học và các biện pháp SPS53

49 WT/DS76/AB/R, para 73: “…Ý nghĩa thông thường của “đủ” là “của một số lượng, mức độ, hoặc phạm vi phù

hợp với một mục đìch nhất định hoặc đối tượng” Từ đó, chúng ta có thể kết luận rằng “đủ” (sufficient) là một

khái niệm mối quan hệ (a relational concept) “Đủ” đòi hỏi sự tồn tại của một mối quan hệ đủ (sufficient) hay thích hợp (adequate) giữa hai yếu tố, trong trường hợp này, giữa các biện pháp SPS và các bằng chứng khoa học”

Trang 31

Như vậy, có thể hiểu bằng chứng khoa học đầy đủ là những chứng cứ chính xác, khách quan, có hệ thống và tồn tại trong mối liên hệ hợp lý hoặc khách quan với các biện pháp SPS Mối quan hệ đầy đủ sẽ được xác định tùy theo từng trường hợp cụ

thể

Một biện pháp SPS chỉ được ban hành trên cơ sở bằng chứng khoa học và được duy trí khi đủ bằng chứng khoa học Vấn đề đặt ra là nếu phát sinh tranh chấp thí bên nguyên đơn hay là bên bị đơn có nghĩa vụ chứng minh tình đầy đủ của bằng chứng khoa học

Trong vụ tranh chấp Nhật Bản - Sản phẩm nông nghiệp, AB nhấn mạnh rằng

trong thủ tục tố tụng theo Hiệp định SPS, các quy tắc chung về nghĩa vụ chứng minh

đã được nêu trong EC – Hormone cần phải được tuân thủ:

“Liên quan đến các quy định về nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng theo Hiệp định SPS, chúng tôi ghi nhận trong Báo cáo của chúng tôi trong EU - Hormone, rằng Ban hội thẩm sẽ mô tả các vấn đề về nghĩa vụ chứng minh theo quan điểm của những vấn đề nhiều và phức tạp của thực tế có thể phát sinh trong tranh chấp theo Hiệp định” 54

Hơn nữa, AB ghi nhận trong EC - Hormone, các quy định về nghĩa vụ chứng

minh là quy tắc “áp dụng trong bất kỳ thủ tục đối lập”55:

Gánh nặng ban đầu thuộc về bên nguyên đơn, bên này phải thiết lập một tình huống prima facie vi phạm một điều khoản cụ thể của Hiệp định SPS từ phía bên bị đơn Khi một tình huống prima facie được thực hiện, nghĩa vụ chứng minh di chuyển sang bị đơn, trong đó bị đơn phải lần lượt phản đối hoặc bác

bỏ yêu cầu của nguyên đơn 56

Về việc phân bổ gánh nặng chứng minh, AB trong vụ Nhật Bản - Táo cho

rằng mặc dù các bên nguyên đơn phải chịu gánh nặng chứng minh trường hợp của mình, bên bị đơn có trách nhiệm chứng minh các trường hợp mà bị đơn tím cách phản đối:

“Trong vụ tranh chấp này, Hoa Kỳ muốn chứng minh rằng biện pháp của Nhật Bản là không phù hợp với Điều 2.2 của Hiệp định SPS Vì vậy, gánh nặng ban đầu thuộc về Hoa Kỳ để thiết lập một tình huống facie prima rằng

Trang 32

biện pháp này là không phù hợp với Điều 2.2 Theo phán quyết của AB trong

EC – Hormone, nếu tình huống prima facie này được thực hiện, Nhật Bản sẽ phải chống lại hoặc bác bỏ khẳng định rằng các biện pháp được “duy trì mà không đủ bằng chứng khoa học”

Tuyên bố của AB trong EC - Hormone không có nghĩa là bên nguyên đơn có trách nhiệm cung cấp bằng chứng về tất cả các sự kiện nêu ra đối với vấn đề xác định liệu một biện pháp có phù hợp với một điều khoản nhất định của một hiệp định hay không Nói cách khác, mặc dù bên nguyên đơn phải chịu gánh nặng chứng minh trường hợp của mình, bên bị đơn phải chứng minh quan điểm ngược lại” 57

Ban hội thẩm trong vụ tranh chấp Nhật Bản - Sản phẩm nông nghiệp đã kết

luận vi phạm Điều 2.2 chỉ có đối với 4 trong 8 sản phẩm đang tranh cãi với lý do đối với 4 sản phẩm khác, Hoa Kỳ đã không viện dẫn đầy đủ bằng chứng để xây dựng một tình huống prima facie58 AB đã đồng ý với Ban hội thẩm

Như vậy, nếu một biện pháp SPS được ban hành và duy trì khi bằng chứng khoa học đầy đủ thí được xem là hợp pháp theo quy định của WTO Tuy nhiên, khái niệm bằng chứng khoa học đầy đủ vẫn được xác định tùy theo từng trường hợp cụ thể Nếu có tranh chấp về bằng chứng khoa học đầy đủ, gánh nặng dẫn chứng vẫn được phân bổ theo nguyên tắc chung, tức là bên tuyên bố có sự vi phạm hiệp định bởi thành

viên khác phải khẳng định và chứng minh, khi đã thiết lập được tình huống prima

facie thí nghĩa vụ chứng minh sẽ chuyển sang bên kia.

1.4 Cách thức đánh giá việc áp dụng bằng chứng khoa học trong một số vụ kiện tại WTO

“Kể từ khi Hiệp định WTO có hiệu lực vào năm 1995, một trong những cuộc tranh luận nóng nhất xung quanh Ban hội thẩm và AB của WTO là liệu họ đã vượt quá thẩm quyền giải quyết tranh chấp của họ (…)”59 Hầu hết những lời chỉ trích liên quan đến giải thích của các Ban hội thẩm và AB của WTO về Hiệp định SPS60

Ban hội thẩm và AB của WTO đã nhiều lần bị buộc tội là ngăn chặn các thành viên WTO

57 WT/DS76/AB/R, para.122

58 WT/DS76//R, para.8.6

59 Thomas Cottier and PC Mavroidis (2003), The Role of the Judge in International Trade Regulation, The

University of Michigan Press, pp.11

60 J Bohanes (2002), “Risk Regulation in WTO Law: A Procedure-Based Approach to the Precuationary Principle”,

Columbia Journal of Transnational Law, (40), pp.323

Trang 33

cho người dân hưởng mức độ bảo vệ chống lại tác hại không mong muốn61

Có ý kiến cho rằng Ban hội thẩm và AB cần tôn trọng hơn, ìt can thiệp hơn, đặc biệt là trong các tranh chấp SPS mà khoa học đóng một vai trò trung tâm trong việc quyết định tính hợp pháp của các biện pháp SPS62

1.4.1 Mức độ đánh giá của Ban hội thẩm và AB

Một vấn đề quan trọng trong quá trình giải quyết tranh chấp của WTO là đến mức độ nào, Ban hội thẩm và AB của WTO nên theo các quyết định của chính phủ quốc gia63 Nếu chúng ta đồng ý rằng Ban hội thẩm nên tôn trọng quyết định của chính phủ quốc gia đến một thời điểm nhất định, mà thời điểm là vấn đề rất quan trọng64 Mức độ đánh giá thể hiện sự phân phối quyền lực giữa tổ chức quốc tế và quốc gia thành viên

Về nguyên tắc Hiệp định SPS không cung cấp một cách rõ ràng về mức độ

đánh giá, điều này cũng đã được AB khẳng định trong vụ tranh chấp EC – Hormone

“Hiệp định SPS không quy định mức độ đánh giá thích hợp cho các Ban hội thẩm khi

quyết định các biện pháp SPS của một thành viên” 65 Vậy mức độ đánh giá của Ban

hội thẩm được quy định trong Điều 17.6 (i) của Hiệp định ADA có thể áp dụng khi Ban hội thẩm xem xét cơ sở bằng chứng khoa học đối với một biện pháp SPS hay không Vấn đề này sẽ được xác định bởi cơ quan giải quyết tranh chấp thông qua các

vụ tranh chấp cụ thể Trong vụ tranh chấp EC – Hormone, AB không đồng ý áp dụng

một tiêu chuẩn được quy định trong Điều 17.6 (i) của Hiệp định Chống bán phá giá66 Như vậy, Điều 17.6 (i) của Hiệp định ADA không được sử dụng để xác định mức độ đánh giá của Ban hội thẩm đối với bằng chứng khoa học của một biện pháp SPS

AB đã lựa chọn xác định tiêu chuẩn đánh giá trên cơ sở Điều 11 của DSU

Theo AB, Điều 11 “nói rõ một cách ngắn gọn, nhưng rõ ràng đầy đủ các mức độ

đánh giá thích hợp đối với các Ban hội thẩm liên quan đến cả việc xác định các sự

61 JM Wagner (2000), “The WTO‟s Interpretation of SPS Agreement has Undermined Right of Governments to

Establish Appropriate Level of Protection against Risk”, Law & Policy in International Business, (31), pp 855; T

Christoforou (2000), “Settlement of Science-Based Trade Disputes in the WTO: A Critical Review of the

Developing Case Law in the Face of Scientific Uncertainty”, NYU Environmental Law Journal, (8), pp 622

62 A Guzman (2004), “Food Fears: Health and Safety at the WTO”, Virginia Journal of International Law (45), pp.17–18; C Button (2004), The Power to Protect: Trade, Health and Uncertainty in the WTO, Oxford, pp.212

63 James P.Durling (2003), “Deference, But Only When Due: WTO Review of Anti-Dumping Measures”, Journal of

international Economic Law, (6), pp.125

64 Steven P.Croley and John H.Jackson (1996), „WTO Dispute Procedures, Standard of Review, and Deference to

National Governments‟, American Journal of International Law, (90), pp.194

65 WT/DS26/AB/R, para.114

66 EC appellant submission, para 126, WT/DS26/AB/R, para.114

Trang 34

kiện thực tế và các đặc tính pháp lý của sự kiện theo các thỏa thuận liên quan”67

Trên cơ sở đó, AB đã xác định đặc trưng áp dụng mức độ đánh giá là “không xem xét

lại, cũng không tôn trọng toàn bộ quan điểm của quốc gia áp dụng, mà là đánh giá khách quan các sự kiện”68 Nhận định của AB không cung cấp cho các Ban hội thẩm tương lai hướng dẫn cụ thể Cụ thể, điều này “tạo thành một công thức rất rộng, không

hỗ trợ trong việc xác định hoạt động của mức độ đánh giá, bởi vì bất kỳ đánh giá nào

của các sự kiện, dù rất tôn trọng (highly deferential), tôn trọng nhẹ (marginally

deferential), hoặc tôn trọng toàn bộ (deferential at all), có thể là khách quan”69 Tuy nhiên, quan điểm trên đã trở thành một điểm tham chiếu cho cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO và kể từ đó nó thường được trích dẫn như một nguyên tắc làm sáng tỏ mức độ yêu cầu giám sát cơ sở bằng chứng khoa học của một biện pháp SPS

Những nguyên tắc trong vụ tranh chấp EC - Hormone để lại cho các Ban hội

thẩm tương lai một hướng dẫn thô sơ và chung chung khi áp dụng mức độ đánh giá trong các vụ tranh chấp SPS Những gí AB đã khẳng định là Ban hội thẩm mặc dù có quyền kiểm tra những giá trị trong quyết định bằng chứng khoa học của một quốc gia, nhưng phải cho thành viên WTO hưởng một mức độ tôn trọng

Tuy nhiên, trong vụ tranh chấp Nhật Bản – Táo, AB đã từng bước cho phép

Ban hội thẩm tham gia xâm nhập vào đánh giá bằng chứng khoa học được cung cấp như một biện minh cho biện pháp SPS của quốc gia thành viên Mức độ đánh giá cho phép Ban hội thẩm WTO để đánh giá chất lượng, hiệu lực, sức thuyết phục và đúng đắn của bằng chứng khoa học mà quốc gia sử dụng và thay thế chúng với nhận định

riêng của họ và trong thực tế đã thực sự gần với xem xét lại (de novo review) Trong

vụ tranh chấp Nhật Bản – Táo, AB cho rằng Ban hội thẩm không bắt buộc phải ủng

hộ cách tiếp cận với bằng chứng khoa học của Nhật Bản Theo AB, kết luận ngược lại

sẽ xung đột với các mức độ đánh giá khách quan sự kiện thực tế70 Kết quả là Ban hội

67

WT/DS26/AB/R, para.116

68 WT/DS26/AB/R, para.117

69 Jan Bohanes & Nicolas Lockhart, Standard of review in WTO law, in The Oxford Handbook of International

Trade Law, Daniel Bethlehem, Donald McRae, Rodney Neufeld, Issabelle van Damme, Oxford University Press, Oxford: 2009, p.p 389

70 WT/DS245/AB/R, para 165: ““Liên quan đến luận điểm của Nhật Bản rằng Ban Hội thẩm đã nên đánh giá theo

Điều 2.2 trong ánh sáng của cách tiếp cận của Nhật Bản đối với nguy cơ và bằng chứng khoa học, chúng ta nhớ lại rằng, trong EC -Hormoes, Cơ quan Phúc thẩm giải quyết vấn đề tiêu chuẩn đánh giá rằng một Ban hội thẩm nên áp dụng trong việc đánh giá các bằng chứng khoa học được nộp trong thủ tục tố tụng theo Hiệp định SPS Nó nói rằng Điều 11 của DSU đưa ra các tiêu chuẩn áp dụng, đòi hỏi các Ban hội thẩm để làm tạo ra “đánh giá khách quan về

Trang 35

thẩm có quyền quyết định trong việc đánh giá giá trị của các bằng chứng khoa học, và

trọng lượng được gán cho bằng chứng khoa học đó Theo giải thích của AB “yêu cầu

Ban hội thẩm ( ) cung cấp quyền ưu tiên đối với đánh giá bằng chứng khoa học và đánh giá rủi ro của thành viên nhập khẩu thì không tương thích với nguyên tắc được thiết lập”71

Thật vậy, việc phân tích các báo cáo Ban hội thẩm cho thấy Ban hội thẩm đã thay thế quyết định thực tế của chính quyền quốc gia (ví dụ Nhật Bản) với quyết định của riêng mình Cách tiếp cận này đã được khẳng định và phát triển hơn nữa bởi Ban

hội thẩm trong vụ tranh chấp EC - Sản phẩm Công nghệ sinh học (DS291, DS292)

Ban hội thẩm tiến hành phân tích chi tiết bằng chứng khoa học được đưa ra như một

sự biện minh của các biện pháp EC Điều này cũng đúng đối với báo cáo Ban hội

thẩm trong vu tranh chấp Hoa Kỳ/ Canada – Tiếp tục đình chỉ (DS320, 321) Nhìn chung, cách tiếp cận này có thể được mô tả là xem xét lại (de novo) tiêu chuẩn đánh giá

Định hướng nêu trên của các “án lệ SPS” có thể bị chỉ trích ở nhiều khía cạnh Mặc dù việc tôn trọng hoàn toàn quyết định của quốc gia trong bối cảnh Hiệp định SPS không phải là một lựa chọn thích hợp, nhưng sự tôn trọng ở một mức độ cần thiết là thích hợp Bởi vì từ quan điểm thực tiễn, các Ban hội thẩm dường như thiếu năng lực khoa học để đưa ra đánh giá về các vấn đề kỹ thuật và khoa học phức tạp, mặc dù họ được hỗ trợ bởi các chuyên gia Ban hội thẩm cần phải giải thích ý kiến của các chuyên gia, lựa chọn giữa những quan điểm xung đột, hoặc điểm giao thoa giữa những ý kiến khác nhau Thiếu chuyên môn không phải là vấn đề duy nhất của

cơ quan giải quyết tranh chấp khi đánh giá bằng chứng khoa học, mà còn tình đến các điều kiện văn hóa, xã hội cụ thể của một quốc gia thành viên Nếu một Ban hội thẩm

áp đặt lên một thành viên WTO quan điểm khoa học của mình, các yếu tố chuẩn mực

và ngữ cảnh phụ thuộc sẽ bị mất Việc xem xét lại tiêu chuẩn đánh giá cho phép tránh

các sự kiện” Nó nói thêm rằng, liên quan đến nhận định tình tiết của Ban hội thẩm và sự đánh giá bằng chứng khoa học, chiều theo toàn bộ (total deference) những nhận định của các cơ quan quốc gia sẽ không đảm bảo đánh giá khách quan theo yêu cầu của Điều 11 của DSU Theo quan điểm của chúng tôi, đệ trình của Nhật Bản rằng Ban Hội thẩm có nghĩa vụ ủng hộ cách tiếp cận của Nhật Bản đối với nguy cơ và bằng chứng khoa học trên quan điểm của các chuyên gia xung đột với cách hiểu của tiêu chuẩn “đánh giá khách quan về các sự kiện” của các Cơ quan Phúc thẩm.”

71 WT/DS2451/AB/R, para 165

Trang 36

được việc một biện pháp bảo hộ và không cần thiết thoát khỏi sự giám sát của WTO, nhưng nó cũng có thể cản trở một biện pháp bảo hộ sức khỏe và an toàn Có đáng để mất một cuộc sống an toàn vì mục tiêu tự do hóa thương mại hay không, là vấn đề WTO cần phải giải quyết trong bối cảnh khủng hoảng an toàn thực phẩm hiện nay để không làm suy yếu hiệu quả của tổ chức này Hơn nữa, chi phí tiềm năng của một phán quyết sai lầm trong lĩnh vực SPS dường như cao hơn trong các tranh chấp thương mại khác Điều này rõ ràng ảnh hưởng đến độ tin cậy của hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO

Một trong những yếu tố khác chống lại việc xem xét lại tiêu chuẩn đánh giá là

độ dài thời gian của một tranh chấp Một trong những chức năng của WTO là giải

quyết hiệu quả các tranh chấp Đặc biệt, Điều 3.3 của DSU quy định rằng “việc giải

quyết kịp thời các tình huống trong đó một Thành viên cho rằng bất kỳ quyền lợi của mình theo các hiệp định đang được suy yếu do các biện pháp thực hiện bởi thành viên khác là điều cần thiết để hoạt động hiệu quả của WTO và việc duy trì một cân bằng giữa quyền và nghĩa vụ của các thành viên” Yêu cầu kiểm tra chi tiết các bằng

chứng khoa học phức tạp, kéo dài đáng kể việc giải quyết tranh Các vụ tranh chấp EC

- Sản phẩm Công nghệ sinh học và vụ tranh chấp Hoa Kỳ/ Canada – Tiếp tục đình chỉ Cả hai đều kéo dài trong nhiều năm (tương ứng 3 và gần 4 năm) Có thể đặt câu

hỏi liệu sự chậm trễ như vậy có đáp ứng yêu cầu giải quyết kịp thời các tranh chấp theo quy định của DSU hay không Một tiêu chuẩn tôn trọng hơn, theo đó một Ban hội thẩm sẽ tập trung vào phương pháp chứ không phải là vấn đề có thể giúp rút ngắn quá trính đó

AB đã phần nào làm rõ mức độ đánh giá của Ban hội thẩm là Ban hội thẩm có nghĩa vụ xem xét và chỉ xem xét những bằng chứng khoa học được nộp trong quá trình tố tụng theo Hiệp định SPS, đánh giá tình khách quan của các bằng chứng để tạo

ra những nhận định về tình tiết AB cho rằng một Ban hội thẩm khi xét xử các sự kiện được hưởng “một biên độ quyết định trong việc đánh giá giá trị của các bằng chứng”72

72 WT/DS245/AB/R, para 166, viện dẫn đến Cộng đồng châu Âu - Các biện pháp ảnh hưởng đến amiăng và các sản phẩm chứa amiăng, WT/DS135/AB/R, para.161

Trang 37

Theo tác giả Andrew T.Guzman, “các tiêu chuẩn xem xét trong trường hợp

SPS nên được tôn trọng nhiều hơn đối với quyết định trong nước”73

Tác giả lập luận

bằng cách viện dẫn vụ tranh chấp EC – Hormone Phải đối mặt với một quyết định

cuối cùng và ràng buộc của WTO, EC đã không thay đổi chính sách của mình và thừa nhận thịt bò chứa hormone Thay vào đó, nó đã cố gắng để thay đổi thủ tục để thực hiện theo phán quyết Cho đến nay, nỗ lực này đã thất bại và trừng phạt đối với

EC có kết quả Phản ứng của EC minh họa rõ ràng quan điểm rằng WTO không có khả năng để buộc một nhà nước mở cửa thị trường của mình Chính vì việc tiếp nhận các sản phẩm coi là nguy hiểm rất tốn kém cho một nhà nước và công dân của mình nên các quan chức chính phủ sẽ chọn phương án chịu đựng lệnh trừng phạt thông qua

hệ thống DSU Các quốc gia có khả năng áp dụng các chính sách khác nhau nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm Điều đó đòi hỏi sự hài hòa của những chính sách này

Như vậy, mức độ đánh giá của Ban hội thẩm khi xem xét bằng chứng khoa học là Ban hội thẩm xem xét cả nội dung và thủ tục đánh giá bằng chứng khoa học của quốc gia thành viên ban hành biện pháp SPS nhưng trên cơ sở có cân nhắc tôn trọng quyết định của quốc gia Ban hội thẩm có thể tôn trọng một phần chứ không phải là toàn bộ quyết định của quốc gia thành viên

1.4.2 Tìm kiếm thông tin từ cá nhân chuyên gia hay nhóm chuyên gia

DSU cho phép Ban hội thẩm có quyền tìm kiếm thông tin liên quan đến việc giải quyết tranh chấp, bao gồm cả những thông tin kỹ thuật và khoa học từ bất kỳ nguồn nào thích hợp74 Quy định này là hợp lý bởi vì trong những tranh chấp có liên quan đến các vấn đề khoa học, các bên tranh chấp và bên thứ ba có thể gửi một số lượng lớn các bằng chứng khoa học đến Ban hội thẩm Ngoài ra, các quy định của WTO không có điều khoản nào đòi hỏi các bên tranh chấp đưa ra tất cả các bằng chứng khoa học thuộc sở hữu của họ đối với những văn bản được đệ trính đầu tiên, đối với việc nộp hạn chế các trang hoặc để hạn chế tính chất nguồn thông tin khoa học

mà họ đang sở hữu75 Một câu hỏi được đặt ra là làm thế nào Ban hội thẩm có thể giải quyết số lượng các bằng chứng khoa học? Bên cạnh đó, có thể không đủ điều kiện để đánh giá các bằng chứng khoa học

Trang 38

Điều 13.2, DSU quy định: “Ban hội thẩm có thể tìm kiếm thông tin từ bất kỳ

nguồn nào có liên quan và có thể tham vấn chuyên gia để nhận được những ý kiến

về những khía cạnh nhất định của vấn đề Đối với các vấn đề tình tiết có liên quan đến các vấn đề khoa học, hoặc kỹ thuật do một bên tranh chấp nêu ra, thì Ban hội thẩm có thể yêu cầu báo cáo tư vấn bằng văn bản của nhóm chuyên gia thẩm định Quy tắc thành lập nhóm này và các thủ tục làm việc của nhóm đó được nêu trong Phụ lục 4” Vấn đề đặt ra là tìm kiếm thông tin từ cá nhân chuyên gia hay nhóm

chuyên gia Theo tác giả Theofanis Christoforyou “ý nghĩa thông thường của các từ ngữ được sử dụng tại Điều 13.2 của DSU và Điều 11.2 của SPS rõ ràng cho thấy rằng các tác giả của các thỏa thuận này ưa thìch sử dụng nhóm chuyên gia để giải quyết các vấn đề khoa học”76 Nhận định này có vẻ không hợp lý vì câu chữ của Điều 13.2 DSU và 11.2 SPS không thể hiện được là việc tìm kiếm thông tin từ chuyên gia riêng lẻ hay nhóm chuyên gia được ưa chuộng hơn Câu chữ của hai điều khoản này chỉ cho thấy cơ quan giải quyết tranh chấp có thể lựa chọn tìm kiếm thông tin từ chuyên gia riêng lẻ hay nhóm chuyên gia Việc tham vấn từ cá nhân hay nhóm chuyên gia không khác nhau về giá trị pháp lý, nếu có khác thì khác về thủ tục và nội dung của ý kiến tư vấn Nếu một cá nhân được tham khảo ý kiến thì chuyên gia làm việc một cách độc lập và chỉ có 1 ý kiến đối với vấn đề cần tư vấn Nếu là nhóm chuyên gia thì có thể có các ý kiến khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau về cùng một vấn đề Ưu điểm của nhóm chuyên gia so với chỉ một chuyên gia riêng lẻ là kết quả tư vấn của nhóm chuyên gia là kết quả làm việc cùng nhau thậm chì đối đầu nhau giữa các cá nhân trong nhóm Ban hội thẩm có thể quyết định tìm kiếm thông tin từ một chuyên gia hay một nhóm chuyên gia, vấn đề này cũng đã

được AB thừa nhận trong vụ tranh chấp EC – Hormone, theo đó “Chúng tôi thấy

rằng trong các tranh chấp liên quan đến các vấn đề khoa học, kỹ thuật, Điều 11.2 của Hiệp định SPS cũng như Điều 13 của DSU đều không ngăn ngừa các Ban hội thẩm tư vấn với các chuyên gia cá nhân Thay vào đó, Hiệp định SPS và thỏa thuận

76 Theofanis Christoforyou (2000), “Settlement of science – based trade disputes in the WTO: a critical review of the

developing case law in the face of scientific uncertainly,” New York University Environment law Journal, (3), pp 2

Trang 39

DSU để cho Ban hội thẩm tự do xác định việc thành lập một nhóm chuyên gia là cần thiết hay thích hợp” 77

Một trong những vấn đề nổi bật nhất được đặt ra trong vụ tranh chấp Hoa Kỳ/

Canada – Tiếp tục đình chỉ liên quan đến việc lựa chọn các chuyên gia khoa học AB

cho rằng “việc chỉ định và tham vấn với tiến sĩ Boisseau và Boobis làm ảnh hưởng đến sự độc lập xét xử và tính công bằng của Ban hội thẩm”78

Hai chuyên gia này tham gia vào việc đánh giá sự an toàn của 6 hormone của Ủy ban chuyên gia về phụ

gia thực phẩm (Expert Committee on Food Additives -JECFA) của FAO/WHO trong

tiếp tục đính chỉ Theo quan điểm của Ban hội thẩm, liên kết của các chuyên gia với JECFA không phải là một lý do để nghi ngờ tính khách quan của họ AB sử dụng cách tiếp cận ngược lại, cho rằng tổ chức nơi các nhà khoa học hoạt động có thể ảnh hưởng đáng kể quan điểm của họ

Như vậy, trong quá trình giải quyết những tranh chấp SPS liên quan đến bằng chứng khoa học, Ban hội thẩm có quyền quyết định tham vấn ý kiến của các chuyên gia, có thể là cá nhân hay nhóm Các chuyên gia được lựa chọn phải đảm bảo tính khách quan và trung lập AB trong báo cáo của mình phát triển quan điểm cho rằng mối liên kết giữa thể chế - nơi các chuyên gia làm việc sẽ ảnh hưởng đến tình độc lập của các chuyên gia Tuy nhiên, một hệ quả quan trọng từ quyết định của AB là các Ban hội thẩm sẽ khó để tím các chuyên gia đủ chuyên môn, trính độ để cung cấp ý kiến tham vấn về bằng chứng khoa học Một giải pháp cho vấn đề này có thể là sử dụng các nhóm chuyên gia đánh giá như đã đề cập trong DSU79

1.4.3 Xác định bằng chứng khoa học đến từ một nguồn có uy tín và trình độ

Đa số các biện pháp đảm bảo an toàn thực phẩm được ban hành dựa trên bằng chứng khoa học được đa số các nhà khoa học thừa nhận trong điều kiện kinh tế - xã hội nhất định và tại thời điểm nhất định Bên cạnh đó, trong một số trường hợp có những biện pháp đảm bảo an toàn thực phẩm được đưa ra dựa trên ý kiến thiểu số của các nhà khoa học Câu hỏi được đặt ra là những biện pháp như vậy có được xem là hợp pháp theo quy định WTO hay không

77

WT/DS26/AB/R, para.147

78 WT/DS320/AB/R, para 481: ““Vì những lý do này, chúng tôi cho rằng có một cơ sở khách quan để kết

luận rằng có một liên kết thuộc cơ quan (institutional) với JECFA của tiến sĩ Boisseau và Boobis và sự tham gia của họ trong các đánh giá sáu hormone được đề cập của JECFA, có khả năng sẽ ảnh hưởng hoặc làm phát sinh nghi ngờ đối với tính độc lập hoặc khách quan của họ vì rằng việc đánh giá được tiến hành bởi JECFA nằm ở trung tâm của những tranh cãi giữa các bên”

79 Điều 13.2 và phụ lục 4, DSU

Trang 40

Trong vụ tranh chấp EC – Hormone I, AB đã nhận định “một Thành viên

WTO căn cứ phù hợp của một biện pháp SPS trên quan điểm khác nhau hoặc quan điểm thiểu số, miễn là những quan điểm là từ các nguồn có trình độ và được tôn trọng (qualified and respected sources )”80 Trong vụ tranh chấp EC – Hormone II,

AB nhắc lại quan điểm AB trong vụ tranh chấp EC – Hormone I và AB cũng khẳng

định Ý kiến thiểu số có thể phục vụ như một cơ sở cho một biện pháp SPS

Trong vụ tranh chấp EC–Hormone, Ban hội thẩm quyết định tìm kiếm sự hỗ

trợ từ Ban thư ký Ủy ban an toàn thực phẩm (CODEX) trong việc xác định chuyên

bên, Ban hội thẩm quyết định chọn 2 trong số các chuyên gia của CODEX Ban hội thẩm cũng tím kiếm ứng viên từ Cơ quan nghiên cứu quốc tế về ung thư (IARC) và chọn 1 chuyên gia từ danh sách được đề cử bởi IARC Cuối cùng mỗi bên được đề xuất 3 chuyên gia, có thể là công dân của các bên tranh chấp Ban hội thẩm sẽ chọn một chuyên gia từ mỗi danh sách được đề xuất bởi các bên tranh chấp Ban hội thẩm lựa chọn tổng số là 5 chuyên gia khoa học Bất chấp sự phản đối của EC, Ban hội thẩm đã làm việc với CODEX để tìm kiếm sự hỗ trợ trong việc lựa chọn chuyên gia với lý do là ví CODEX được đề cập trong hiệp định SPS là một trong những tổ chức quốc tế thiết lập các tiêu chuẩn, hướng dẫn hoặc khuyến nghị trong lĩnh vực an toàn thực phẩm82

Lập luận này của Ban hội thẩm có có vẻ không hợp lý vì việc các tổ chức quốc tế có tên trong Hiệp định SPS không có nghĩa là các chuyên gia khoa học cũng

từ các tổ chức này Ngoài ra, các thành viên từ các tổ chức này có thể có thành kiến đối với các tiêu chuẩn của các thành viên không sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế của những tổ chức này

Như vậy, khi ban hành biện pháp SPS quốc gia thành viên có thể dựa trên ý kiến của đa số cũng như thiểu số các nhà khoa học Nhưng những ý kiến này theo nhận định của AB là phải đến từ một nguồn có uy tìn và đáng tôn trọng Nhận định của AB có những điểm hợp lý nhất định vì khoa học phản ánh quan điểm, nhận thức

xã hội đối với một vấn đề trong từng giai đoạn cụ thể, có những quan điểm khoa học

là quan điểm thiểu số tại thời điểm hiện tại nhưng lại trở thành quan điểm đa số trong

80

WT/DS26/AB/R, para.194

81 WT/DS26/R, para.6.7- 6.8

82 WT/DS26/AB/R, para 148

Ngày đăng: 23/12/2023, 15:48

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w