1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(LUẬN văn THẠC sĩ) nhân vật chính trị phạm quỳnh mâu thuẫn trong thống nhất

96 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhân Vật Chính Trị Phạm Quỳnh: Mâu Thuẫn Trong Thống Nhất
Tác giả Nguyễn Phan Huy Khôi
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Kim Sơn
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Chính trị học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hứng thú tím hiểu về Phạm Quỳnh nhưng tư liệu khan hiếm, tản mát, một số bộ phận tư liệu quan trọng lại viết bằng tiếng Pháp, phần nhiều trong số đó lại đang ở trạng thái chưa được chìn

Trang 1

NGUYỄN PHAN HUY KHÔI

NHÂN VẬT CHÍNH TRỊ PHẠM QUỲNH: MÂU THUẪN TRONG THỐNG NHẤT

LUẬN VĂN THẠC SĨ

CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH TRỊ HỌC

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

NGUYỄN PHAN HUY KHÔI

Trang 3

viên và có những định hướng khoa học quan trọng giúp tác giả hoàn thành luận văn này Em xin được ở đây gửi đến Thầy lời tri ân sâu sắc

Xin được chân thành gửi lời cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Khoa học Chính trị đã tạo điều kiện để Luận văn này được hoàn thành

Xin cảm ơn nhóm điều tra dư luận xã hội thuộc Hệ thống SocialBeat

đã có nhiều giúp đỡ đối với tác giả trong công tác tư liệu

Trong suốt quá trình làm luận văn tôi luôn nhận được sự động viên về tinh thần từ gia đình, sự giúp đỡ tư liệu từ bạn bè thân thiết, vì vậy cũng xin

ở đây gửi đến mọi người lời cảm ơn chân thành nhất

Tác giả Luận văn

Nguyễn Phan Huy Khôi

Trang 4

Hà Nội ngày 12/12/2016

Tác giả Luận văn

Nguyễn Phan Huy Khôi

Trang 5

2 Lịch sử vấn đề ……… 4

3 Mục đìch và nhiệm vụ nghiên cứu ……… 13

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ……… 15

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu ……… 19

6 Đóng góp của luận văn ……… 20

7 Kết cấu của luận văn ……… 20

Chương 1: Phạm Quỳnh và bối cảnh chính trị Việt Nam đầu thế kỷ XX ……… 22

1.1 Thân thế và sự nghiệp của Phạm Quỳnh ……… 22

1.2 Phạm Quỳnh và bối cảnh chình trị xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX ……… 27

1.3 Phạm Quỳnh và phái Nam phong: Quyền lực chình trị của văn hóa ……… 31

1.3.1 Mối quan hệ văn hóa - chình trị Việt Nam đầu thế kỉ XX … 31 1.3.2 Vị thế của Nam Phong tạp chì ……… 36

Chương 2: Phạm Quỳnh với tư cách một nhà chính trị 43 2.1 Mâu thuẫn trong thống nhất: những lựa chọn chình trị của Phạm Quỳnh ……… 43

2.1.1 Phạm Quỳnh: nhà chình trị mâu thuẫn 43 2.1.2 Mâu thuẫn: mẫu số chung của trì thức đầu thế kỷ XX …… 55 2.2 Chủ nghĩa quốc gia –điểm thống nhất của mâu thuẫn 57

Chương 3: Những ảnh hưởng của nhà chính trị Phạm Quỳnh… 64

Trang 6

Danh mục tài liệu tham khảo ……… 81

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do lựa chọn đề tài

Phạm Quỳnh (1892 - 1945), hiệu là Thượng Chi, bút danh Hoa Đường, Hồng Nhân Ông được biết đến như một nhà văn hóa, nhà báo, một đại diện tiêu biểu cho thế hệ trì thức Việt Nam đầu thế kỉ XX Sự nghiệp phức tạp và thú vị của Phạm Quỳnh gắn liền và ghi nhiều dấu ấn liên quan đến tính hính xã hội chình trị đương thời

Dù Phạm Quỳnh chỉ sống cách chúng ta hơn nửa thế kỉ, nhưng những tranh luận liên quan đến ông đến nay vẫn chưacó hồi kết.Năm 2007, nhà

nghiên cứu Nguyễn Ngọc Thiện trong bài viết “Thăng trầm trong thức nhận

văn nghiệp học giả Phạm Quỳnh”đăng trên Nghiên cứu văn học, số 4, 2007

đã thống kê, đến thời điểm công bố bài viết trên, tại Việt Nam có trên 30 công trính sách in nghiên cứu về Phạm Quỳnh

Những nghiên cứu về Phạm Quỳnh tại Việt Nam mà chúng tôi khảo sát được chủ yếu là những nghiên cứu tổng tập tư liệu, đa phần các công trính nghiên cứu đều hướng đến khìa cạnh văn hóa, văn học mà chưa trực tiếp hoặc lảng tránh đề cập đến con người chình trị Phạm Quỳnh Trong khi

đó, phần lớn những chỉ trìch mà các học giả, các nhà nghiên cứu hơn nửa thế

kỷ nay dành cho Phạm Quỳnh lại dựa trên những quan điểm chình trị của ông

Phạm Quỳnh với tư cách là một nhà chình trị, ông đã có những hoạt động chình trị cụ thể nào? Mục đìch chình trị của ông là gí? Những quan điểm chình trị của Phạm Quỳnh có ảnh hưởng như thế nào đến bối cảnh lịch

sử đương thời? Dư luận hiện nay phản ứng ra sao về nhân vật chình trịPhạm

Trang 8

án, nhưng chưa trực tiếp và toàn diện Đặc biệt, đến nay chưa có một công trính nghiên cứu nào về Phạm Quỳnh từ quan điểm chình trị học Đi tím câu trả lời cho những câu hỏi trên cũng chình là lì do tác giả đã lựa chọn đề tài

“Nhân vật chính trị Phạm Quỳnh: Mâu thuẫn trong thống nhất” để triển

khai Luận văn này

Hứng thú tím hiểu về Phạm Quỳnh nhưng tư liệu khan hiếm, tản mát, một số bộ phận tư liệu quan trọng lại viết bằng tiếng Pháp, phần nhiều trong

số đó lại đang ở trạng thái chưa được chình phủ Pháp “giải mật”, ngoài ra đối diện với những nhận định đánh giá đã thành vết son phê “sừng sững” trong lịch sử cần rất nhiều sự dũng cảm và bản lĩnh khoa học, đó là những khó khănkhi tác giả chọn “nhân vật chình trị” Phạm Quỳnh như là đối tượng nghiên cứu của luận văn này

2 Lịch sử vấn đề

Những công trính nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của Phạm Quỳnh cho đến nay phần nhiều đề cập đến ông với tư cách là một nhà trì thức, một nhà văn hoá nhưng lại lảng tránh vai trò nhà chình trị Phạm Quỳnh Tính hính nghiên cứu đúng như nhà nghiên cứu Cao Việt Dũng đã

nhận định:

“Nhìn chung, cho đến giờ, hành trạng của Phạm Quỳnh, nhất là ở

mảng chính trị, còn chưa được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng, đây có thể là một đề tài hết sức phong phú” (Cao Việt Dũng, “Phạm Quỳnh và Charles

Maurras”, in trong sách Tiếp nhận tư tưởng văn nghệ nước ngoài - Kinh

nghiệm Việt Nam thời hiện đại - La Khắc Hoà, Lộc Phương Thuỷ, Huỳnh

Như Phương đồng chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015)

Trang 9

Không những Phạm Quỳnh bị phê phán gay gắt về học thuật (Ngô

Đức Kế) hay phê phán về đạo đức (Huỳnh Thúc Kháng), mà các quan điểm

phê phán nhà chính trị Phạm Quỳnh chiếm đa số trong các công trính

nghiên cứu hoặc đánh giá về ông Nhà nghiên cứu Cao Việt Dũng đã chỉ ra thực trạng này:

“Giờ đây, khi đã có độ lùi thời gian đáng kể, ta có thể thấy rằng sau này đánh giá về Phạm Quỳnh, người ta hay đi về hai thái cực: hoặc chê trách rất nặng lời chuyện Phạm Quỳnh cộng tác với chính quyền thực dân, hoặc ca ngợi hết lời về những đóng góp văn hóa của Phạm Quỳnh, lại có những ý kiến cho rằng sự hợp tác với người Pháp chỉ là một lựa chọn thời điểm nhằm hướng tới mục đích cao hơn là tương lai của dân tộc”.[27,

tr.234]

Ngay từ những năm 30 của thế kỷ XX, nhiều học giả đương thời đã chỉ trìch và phê phán các quan điểm chình trị của Phạm Quỳnh Các cụm từ phổ biến để nói về Phạm Quỳnh thường là “bút nô”, “tay sai”, “ tên phản động”, “hót Tây”, “tên Việt gian đội lốt học giả nguy hiểm” …

Năm 1938, Phạm Quỳnh cùng vua Bảo Đại sang Pháp “bầy tỏ với Bộ

trưởng Thuộc địa, bấy giờ là ông Mandel, về tình hình Việt Nam và yêu cầu Chánh phủ Pháp hợp nhất Trung, Bắc Kỳ cho đúng với hòa ước 1884”

(Phan Khoang, Việt Nam Pháp thuộc sử, Khai Trì,Sài Gòn, 1961) [7, 418].Tuy nhiên việc làm này của Phạm Quỳnh đã vấp phải hàng loạt ý kiến

tr.417-chỉ trìch của giới trì thức đương thời

Trên tờ Ngày Nay, số 175 ra ngày 19/8/1939, tác giả Hoàng Đạo đã phản đối thuyết lập hiến của Phạm Quỳnh, gọi đó là “một thì nghiệm thất

bại” (Đi về thôi, đi về, ông Phạm Quỳnh)

Cũng trên tờ Ngày Nay, số 176 ra ngày 26/8/1939, trong bài viết Ê

lắm Phạm Quỳnh công ti, tác giả Trạng Quỳnh Báo chỉ trìch: “Trong bảy

Trang 10

năm ông làm vì một cột trụ trong triều đình Huế, lương cao, bổng hậu, ông

đã không làm được một mảy may cho dân, cho nước Và mới đây công việc của ông định làm, việc sang Pháp xin trở lại Hòa ước 1884 và sát nhập Bắc

Kỳ vào Trung Kỳ dưới Triều đình Huế, thật là một việc làm thất sách và vụng về hết chỗ nói!”

Huỳnh Thúc Kháng, chủ báo Tiếng dân ở Huế, gửi thư cho toàn quyền

Pasquier phản đối thuyết lập hiến của Phạm Quỳnh, còn Phan Khôi thí mỉa

mai gọi thuyết lập hiến của Phạm Quỳnh là “hiến pháp Tam giác” (Trở lại

vấn đề lập hiến” đăng trên tờ Trung lập số 6270 ra ngày 11/10/1930)

Sau năm 1945, các quan điểm chình trị của Phạm Quỳnh bị buộc tội là

“phản quốc”.Trên những tờ báo như tờ Cứu Quốc, Phạm Quỳnh bị gọi thẳng

là “tên đại Việt gian Phạm Quỳnh”:

“Thực dân mới bắn ra cái tin ông Bảo Đại sắp đi Tây để chữa mắt và

nghiên cứu chính trị, kinh tế Ta còn nhớ cách đây 10 năm, khi phong trào bình dân ở Pháp và phong trào dân chủ ở Đông Dương đang sôi nổi, Bảo

Đại cùng với tên đại Việt gian Phạm Quỳnh cũng đã được thực dân đưa đi

tây, lấy cớ là chữa chân để vận động phá phong trào dân chủ ở Việt Nam”

(Sơn Tùng, “Ông Bảo Đại đi Tây”, Cứu Quốc số 786, số ra ngày

23/12/1947)

Tác giả Hồng Hạnh, trong bài: “Sự thống nhất về tính chất phản động

của Phạm Quỳnh trong lĩnh vực chính trị và văn học” trên tạp chì Văn Sử Địa số 48, số ra tháng 11/1958 đã thẳng tay kết tội Phạm Quỳnh là kẻ phản

động [31,tr.60-81]

Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai trong cuốn Văn thơ cách mạng Việt

Nam đầu thế kỷ XX (bản in lần thứ ba, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1974) chỉ trìch

Phạm Quỳnh và Nam Phong chỉ là một công cụ thực thi cho chình sách của

thực dân Pháp:

Trang 11

“Cái mà Phạm Quỳnh giới thiệu lên trên tờ báo “Nam phong” không

hề có một mặt nào có thể gọi là có hệ thống, và cũng chưa hề có một phần nào đãđi sâu vào vấn đề mà phê phán, mà nghĩ đến việc áp dụng vào thực tế Việt-nam Ông Chủ bút Nam phong, nói cho cùng chỉ là một ông tham biện của tòa Liêm phóng, đủ tư cách để chiếu theo mặt hàng mà quảng cáo cho chính sách thực dân” [8,tr.97]

Đặng Thai Mai cũng không đánh giá cao học thuật của Phạm Quỳnh, ông cho rằng Phạm Quỳnh đã tuyên truyền những tư tưởng lạc hậu, thậm chì

là những tư tưởng phản động của Pháp vào Việt Nam:

“Phạm Quỳnh đãđọc khá nhiều sách, đã viết về rất nhiều vấn đề

Nhưng y chưa hề nghiên cứu về một vấn đề gì Và về mọi mặt, chỗ “độc đáo” của y làđiểm lạc hậu của bọn học giả phản động Pháp! Cảm tưởng cuối cùng của người đọc Nam phong, nếu họ chịu khó suy nghĩ, thì Phạm Quỳnh là một người đãđọc khá nhiều sách vàđãđem học thức ra bán rẻ cho bọn thống trị; là một nhà“học giả” cóđủ chữ Hán và tiếng Việt để bịp người Tây; và cũng cóđủ chữ Tây để lòe người An-nam”[8,tr.98]

Không chỉ ở miền Bắc, trong học giới miền Nam, Phạm Quỳnh cũng chịu búa ríu phán xét của một số nhà phê bính văn học nổi tiếng Trong số

đó phải kể đến Nguyễn Văn Trung với một loạt công trính nghiên cứu về

Phạm Quỳnh như: Vụ án truyện Kiều (Sài Gòn, 1965), Chủ đích Nam

Phong: Phê bình một quan điểm phê bình(Nxb Trì Đăng, Sài Gòn, 1975), Trường hợp Phạm Quỳnh(Nxb Nam Sơn, 1975).Một trong những điểm nhín

quan trọng của Nguyễn Văn Trung trong chỉ trìch Phạm Quỳnh, đó là nhà

nghiên cứu này xem Phạm Quỳnh là “tay sai chính trị, tay sai văn hoá của

thực dân Pháp”[20, tr.167]

Có thể thấy, trong một thời gian dài, giới nghiên cứu ở cả hai miền Nam Bắc hầu như thống nhất coi Phạm Quỳnh là một nhân vật phản động

Trang 12

Đặc biệt như trường hợp nhà nghiên cứu Thiếu Sơn, ông có một quan điểm khá phức tạp về Phạm Quỳnh Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc

Thiện, năm 1933, Thiếu Sơn khi còn trẻ, để mở đầu cho cuốn Phê bình cảo

luận, đã dành cho Phạm Quỳnh những lời trang trọng mến mộ: “Cái công trứ tác của ông ích cho quốc dân không phải là nhỏ, mà ảnh hưởng đổi với dân chúng thiệt là sâu” Nhưng cũng chình Thiếu Sơn sau này, năm 1973,

trong Bài học Phạm Quỳnh đã quay ngoắt lại với quan điểm của mính thời

trẻ khi cho Phạm Quỳnh là tay sai của thực dân Pháp, kẻ “khéo làm màu

làm mè để mê hoặc dân chúng” (Dẫn theo Nguyễn Ngọc Thiện, “Thăng trầm trong thức nhận văn nghiệp học giả Phạm Quỳnh”, Nghiên cứu văn học, số

4, 2007) [51, tr.9-15]

Hoặc như trường hợp Nguyễn Văn Trung, một nhà nghiên cứu cho đến cuối đời cũng vẫn còn nhiều băn khoăn với Phạm Quỳnh Bất chấp những bản luận tội đanh thép Phạm Quỳnh là gián điệp cho thực dân Pháp

mà chình ông đã công bố trong các công trính nghiên cứu tại Sài Gòn những

năm 60, 70, Nguyễn Văn Trung, năm 1999, trên tạp chì Đi tới, số chuyên đề

đặc biệt về Phạm Quỳnh,xuất bản tại Canada, đã khiến cho độc giả ngỡ

ngàng khi đưa ra giả thiết Phạm Quỳnh chình là “điệp viên đơn tuyến của

Nguyễn Ái Quốc”

Những trường hợp thay đổi quan điểm đánh giá như Thiếu Sơn, Nguyễn Văn Trung cho thấy, nhà chình trị Phạm Quỳnh cho đến nay vẫn là một ẩn số lớn với các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước

Các quan điểm đồng cảm với nhà chính trị Phạm Quỳnh không

nhiều Như trên chúng tôi đã nói, có trường hợp của Thiếu Sơn với những

dòng viết ca ngợi dành cho Phạm Quỳnh trong cuốn Phê bình cảo luận

Ngoài ra còn có một số nhà nghiên cứu ở miền Nam trước năm 1975 đánh giá cao Phạm Quỳnh với những đóng góp về văn hoá của ông, từ đó bênh

Trang 13

vực cho nhà chình trị Phạm Quỳnh như Thanh Lãng trong loạt bài Trường

hợp Phạm Quỳnh (Văn học, các số 3,4,5,6, năm 1963)và Phạm Thế Ngũ

trong cuốn Việt Nam Văn học sử giản ước tân biên (Quốc học tùng

thư,1965) Trong số những người dành nhiều lời tán dương cho Phạm Quỳnh

có thể kể đến đánh giá của nhà văn Nguyễn Công Hoan trong cuốn Đời viết

văn của tôi:

“Tôi cho rằng Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh là những người có

chính kiến Thấy ở nước ta, ba kỳ có ba chế độ chính trị khác nhau, Nguyễn Văn Vĩnh mới chủ trương thuyết trực trị Người Pháp trực tiếp cai trị người Nam, như ở Nam Kỳ, không phải qua vua quan người Nam, thì dân được hưởng nhiều chế độ rộng rãi hơn Phạm Quỳnh, trái lại, chủ trương thuyết lập hiến Người Pháp nên thi hành đúng Hiệp ước 1884, chỉ đóng vai trò bảo hộ, còn công việc trong nước thì vua quan người Nam tự đảm nhiệm lấy Bây giờ Phạm Quỳnh vào Huế làm quan, tôi cho không phải vì danh Quốc dân biết Phạm Quỳnh hơn biết mấy Thượng thư Nam triều Cũng không phải vì lợi Làm báo Nam Phong Phạm Quỳnh cũng được phụ cấp

600 đồng một tháng, món này to hơn lương Thượng thư Phạm Quỳnh ra làm quan, chỉ là để rồi lấy danh nghĩa Chính phủ Nam triều, đòi Pháp phải trở lại Hiệp ước 1884 Vậy một người yêu nước như Phạm Quỳnh, sở dĩ phải

có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua chỉ là làm một việc miễn cưỡng, trái với ý muốn, để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn, chứ thực lòng, là một người dân mất nước, ai không đau đớn, ai không khóc thầm”[4,tr.160-161]

Gần đây, bắt đầu có thêm nhiều tiếng nói ủng hộ thay đổi cách nhín về Phạm Quỳnh Tuy nhiên cách thức cũng vẫn giống như Thanh Lãng, Phạm Thế Ngũ, thường là các nhà nghiên cứu tập trung vào ca ngợi những đóng góp về mặt văn hóa để từ đó thay đổi cách đánh giá chung về Phạm Quỳnh

Trang 14

Như nhận định của nhà nghiên cứu Trịnh Bá Đĩnh, trongLời giới thiệu cuốn

Luận giải văn học và triết học (Phạm Quỳnh), Nxb Văn hóa Thông tin –

Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây (2003):

“Làm nên cốt cách ngòi bút của ông là các bài luận giải, khảo cứu mà nội dung nghiêng về tư tưởng và các vấn đề học thuật Ở đó ta thấy một sự hiểu biết uyên bác, một các diễn giải chu đáo tỉ mỉ,một nhiệt tình quảng bá

tư tưởng, được diễn tả với một văn phong chặt chẽ, khúc chiết, chắc nịch mà các độc giả tri thức chắc sẽ ưa chuộng” [30,tr.7]

Hay nhưnhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn, trong Lời giới thiệu cuốnTuyển tập du ký (Phạm Quỳnh), Nxb Tri thức (2013)đã nhận xét:

“Học giả Phạm Quỳnh viết du ký vừa thỏa mãn hứng thú nội tâm, trình bày những cảm xúc riêng tư vừa hướng tới giới thiệu những điều trải nghiệm tai nghe mắt thấy liên quan đến mỗi thắng cảnh di tích lịch sử và đời sống xã hội nơi phương xa Đó cũng là nhu cầu tự nhiên kết nối giữa chủ thể sáng tác và phía tiếp nhận, nghĩa là bạn đọc cũng sẽ được hướng dẫn đi tham quan, du lịch, hành hương về xứ đẹp và cội nguồn lịch sử dân tộc nhờ chính các trang du ký Du ký của Phạm Quỳnh là một nhà bảo tàng du lịch bằng ngôn từ nghệ thuật, giúp người đọc bốn phương “ngồi một chỗ mà thấy ngoài muôn dặm” [47,tr.4]

Hoặc thể hiện rõ quan điểm trực tiếp bỏ qua khìa cạnh chình trị khi đánh giá Phạm Quỳnh như trường hợp nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân,

trong Thư gửi nhạc sĩ Phạm Tuyên (12/6/2006):

“Cụ Thượng Chi là một nhà văn hóa lớn của dân tộc, khi chính trị không còn giữ vai trò thống soái nữa, vai trò văn hóa của cụ Thượng Chi sẽ được phuc hồi và mộ cụ sẽ trở thành một địa chỉ văn hóa quan trọng của Cố đô”. 1

1 Nguồn: http://www.vietnamvanhien.net/TuongNiemPhamQuynh.pdf

Trang 15

Như vậy có thể thấy nhận thấy, đa phần các nhà nghiên cứu đánh giá

về Phạm Quỳnh chủ yếu trên lĩnh vực văn hóa, thậm chì cố tính lảng tránh khìa cạnh chình trị, nhưng dường như lại càng làm nổi bật lên mối liên hệ giữa hoạt động văn hóa với sự nghiệp chình trị của Phạm Quỳnh Dù rằng, khi đánh giá Phạm Quỳnh dưới khìa cạnh chình trị họ rất dễ đối diện với các quan điểm thiên kiến đã được củng cố trong một thời gian dài của các nhà nghiên cứu đi trước

Nhà nghiên cứu Cao Việt Dũng là một trong những người đầu tiên tại Việt Nam lấy con người chình trị của Phạm Quỳnh như là đối tượng nghiên

cứu chình Trong bài viết “Phạm Quỳnh và Charles Maurras”, Cao Việt

Dũng đã phân tìch việc Phạm Quỳnh đã hiểu Charles Maurras-một tác giả quan trọng trong tư duy về chủ nghĩa quốc gia, người theo thuyết bảo hoàng, quân chủ- đến đâu, từ đó suy ra được mục đìch chình trị của Phạm Quỳnh

Có thể nói, bài nghiên cứu của Cao Việt Dũng chình là một sự “đối thoại” lại với phần viết về Phạm Quỳnh của tác giả Clive J Christietrong cuốn

Ideology and Revolution in Southeast Asia 1900-75 (Routledge; Reprint

edition (June 10, 2015)

Trái ngược với sự lảng tránh hoặc dè dặt, gián tiếp của các nhà nghiên cứu trong nước, nhân vật chình trị Phạm Quỳnh trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều học giả nổi tiếng ở nước ngoài Trong đó có thể kể đến công

trínhVietnamese Tradition on Trial, 1920-1945 (University of California Press (February 3, 1984) của David G Marr; Ideology and Revolution in

Southeast Asia 1900-75 (Routledge,2001) của Clive J Christie; Colonialism and the Collaborationist Agenda: Phạm Quỳnh, Print Culture, and the Politics of Persuasion in Colonial Vietnam (luận án Tiến sĩ Triết học tại đại

học Michigan, 2003) của Sarah Whitney Womak Đặc biệt, không thể không

Trang 16

nhắc đến công trính Ba thế hệ trí thức người Việt (1862-1954) (Bản dịch

tiếng Việt Lê Thị Kim Tân, Nxb Thế giới, 2013) của Trịnh Văn Thảo (học giả tại Pháp)

Trongcác công trính này, các học giả không lấy yếu tố “công, tội” để làm tiêu chì đánh giá nhận định Phạm Quỳnh Họ đặt ông vào bối cảnh lịch

sử đương thời, phân tìch, chứng minh những nỗ lực thay đổi xã hội của một nhà tri thức, nhà chình trị Phạm Quỳnh trước những biến động của thời cuộc

Nhà nghiên cứu Trịnh Văn Thảo, trong cuốn Ba thế hệ trí thức người

Việt (1862-1954) đã xếp Phạm Quỳnh là một trì thức theo chủ nghĩa Nho

giáo bảo thủ, một nhà hoạch định chiến lược ví sự phát triển của dân tộc Học giả Trịnh Văn Thảo không đồng tính với những đánh giá “kết tội” Phạm

Quỳnh từ trước đến nay Ông cho rằng “Chưa đúng với những phán xét của

lịch sử, sự nghiệp văn hoá của Nam Phong tạp chí và người lãnh đạo nó có

lẽ nên được phán xét công tâm hơn”.[19, tr.286]

Nhín nhận này của Trịnh Văn Thảo có điểm gần gũi với quan điểm

của nhà nghiên cứu Trần Viết Nghĩa trong cuốn Phạm Quỳnh: chính trị và

văn hóa, (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015) Trong phần Lời nói đầu, tác

giả Trần Viết Nghĩa cho rằng: “Đánh giá lại nhân vật Phạm Quỳnh là một

việc đáng và nên làm, nhưng nó cần phải dựa trên sự thật lịch sử” [10, tr.6]

Tuy nhiên, những nỗ lực “đánh giá lại Phạm Quỳnh” hiện nay hầu như mới chỉ dừng lại ở những công trính nghiên cứu của người Việt hải ngoại và những trang chuyên về Phạm Quỳnh 1 hoặc văn hoá văn học online trên internet 2

1 Nguồn: phạm-quỳnh/

https://phamquynh.wordpress.com/category/tư-liệu-qui-hiếm-về-thượng-chi-22 Nguồn: http://www.vietnamvanhien.net/TuongNiemPhamQuynh.pdf

Trang 17

Cần phải nói rõ, một sự phán xét công tâm hơn, đánh giá lại nhân vật Phạm Quỳnh dựa trên sự thật lịch sử theo quan điểm của các học giả Trịnh Văn Thảo, Trần Viết Nghĩa không có hàm ý phải ủng hộ việc “lên án”, “kết tội” Phạm Quỳnh hay cũng không có ý nghĩa phải chiêu tuyết, ca ngợi, tôn vinh Phạm Quỳnh như một nhà yêu nước.Màlà sau một quãng lùi nhất định của lịch sử, ở một điều kiện thuận lợi hơn, chúng ta có thể có điều kiện để nghiền ngẫm, đánh giá, phân tìch về Phạm Quỳnh một cách khách quan, không chịu chi phối bởi cảm xúc mang màu sắc thế hệ, không có bất kí sức

ép nào về tính cảm hay về quan điểm, chỉ có tinh thần liêm chình và khách quan khoa học

Quan điểm về việc cần có một nhận định công tâm hơn cho Phạm Quỳnh chình là một trong những động lực để tác giả lựa chọn Phạm Quỳnh như đối tượng nghiên cứu của Luận văn này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích của đề tài

Luận văn này của chúng tôi, từ góc độ Chình trị học, đặt Phạm Quỳnh vào trong trong bối cảnh chình trị xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX, thử tím hiểu và lì giải những hành động và mục đìch chình trị mâu thuẫn trong thống nhất của Phạm Quỳnh, đóng góp thêm một góc nhín về nhân vật lịch sử nhiều tranh cãi trong một bối cảnh chình trị xã hội có nhiều biến động của đất nước

Và, từ góc nhín công tâm trong nhận định, luận văn cũng cung cấp những kết quả phản ứng của dư luận xã hội hiện nay trước những đánh giá

về Phạm Quỳnh trong quá khứ và hiện tại, số liệu được phân tìch trên tập dữ

Trang 18

liệu lớn (Big Data), khảo sát toàn bộ nội dung tiếng Việt trên mạng Internet trong thời gian 19 năm, kể từ thời điểm Internet xuất hiện tại Việt Nam vào năm 1997

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Đánh giá cuộc đời và sự nghiệp của Phạm Quỳnh từ góc nhín khoa học chình trị

mà ngay cả trên thế giới, đến gần đây mới bắt đầu có những nghiên cứu trong lĩnh vực tâm lì, xã hội học, truyền thông chình trị ứng dụng phương pháp khảo sát thống kê dữ liệu lớn (Big Data), nhờ sự tiến bộ vượt bậc của công nghệ thông tin và mạng Internet, sự ra đời của và phát triển mạnh mẽ của các mạng xã hội như Facebook

- Góp thêm một quan điểm đánh giá khách quan về trường hợp Phạm Quỳnh

- Đề xuất một hướng tiếp cận nghiên cứu đối với giới trì thức Việt Nam đầu thế kỉ XX

Trang 19

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hành vi chình trị của nhân vậtPhạm Quỳnh.Đồng thời luận văn cũng làm rõ khái nhiệm nhân vật chình

trị hay con người chình trị, và khái niệm hành vi chình trị

Trong lịch sử tư tưởng phương Đông:Khổng Tử (551-479 TrCN) với học thuyết chình trị - đạo đức, chủ trương dùng đạo đức để cai quản, đề cao những bậc hiền nhân, quân tử, những người có tri thức… Ông quan niệm những con người này mới là con người chình trị.Mạnh Tử (372-289 TrCN)

và Tuân Tử (313-238 TrCN) đều là học trò của Khổng Tử, đã phát triển những tư tưởng của Khổng Tử trong giai đoạn tiếp theo, coi nghệ thuật của

sự cai trị là dung thứ và người cai trị luôn phải làm gương trước xã hội, như thế mới yên bính thịnh trị.Lão Tử (TK6 TrCN) sáng lập thuyết “vô vi nhị tri”, cho rằng những bậc cai trị phải dùng đạo mà cai trị, “vô vi nhị tri” là yêu cầu căn bản và mực thước cao nhất của phép trị nước, nếu “vô vi nhị tri” thí người dân bị trị mà không biết mính bị trị.Mặc Tử (478-392 TrCN) sáng lập thuyết “kiêm ái tương lợi”, chủ trương tôn trọng người tài đức (thượng hiền) và trừng phạt những kẻ bất nhân Người cai trị là do dân chúng chọn lựa, tôn vinh, do đó, người cai trị phải hết lòng ví hạnh phúc của muôn dân, ngược lại, người dân phải trung thành và tin tưởng vào người cai trị mính đã chọn.Hàn Phi Tử (280-233 TrCN) sáng lập học thuyết pháp trị, xem xét con người chình trị qua qua hai lớp người là bậc quân vương và kẻ bề tôi Ông cũng không xem dân chúng là con người chình trị Theo Hàn Phi Tử, chỉ có nhà vua và quan lại mới là con người chình trị Vua cai trị phải dùng pháp trị.Khang Hữu Vi (1858-1927), Lương Khải Siêu (1873-1929), Tôn Trung

Trang 20

Sơn (1886-1925), Lỗ Tấn (1881-1936) là những nhà tư tưởng cận hiện đại,

có những quan niệm mới về con người chình trị, có cái nhín chình xác hơn

về bản chất con người chình trị Các ông đã nhận thức được con người chình trị không phải chỉ là bậc quân vương và quan lại, mà tất cả dân chúng đều là những con người chình trị

Trong lịch sử tư tưởng phương Tây: Xê nô phôn (427-355 TrCN) là nhà tư tưởng chình trị đầu tiên thời Cổ đại ở Hi Lạp có sự quan tâm lớn đến con người chình trị, đặc biệt là thủ lĩnh chình trị…Pla tôn (428-347 TrCN) cho rằng chình trị là nghệ thuật cai trị những con người với sự bằng lòng của

họ, chình trị là sự thống trị của trì tuệ Chình trị là dành cho những người có trì tuệ, được đào tạo và có kinh nghiệm…Arix tốt (384-322 TrCN) cho rằng con người là động vật chình trị Con người chình trị là công dân của một nhà nước và được đặc trưng ở khả năng lập luận có lý lẽ và hành động có tình hợp tác… Theo ông, con người chình trị lý tưởng chỉ giới hạn ở những ông vua thông thái và những pháp quan có phẩm chất ưu việt về đạo đức và kỹ năng lãnh đạo, dẫn dắt quần chúng… Ô guýt xtanh (357-430) và Tômát Đacanh (1225-1274) cho rằng con người chình trị là những cầm quyền, phải biết chỉ huy mính trước khi chỉ huy người khác, ìt nhất phải có trì tuệ, nhân cách, biết quyết đoán ví lợi ìch chung, không dốt nát, ty tiện và mềm yếu…Lốc cơ (1632-1704), Môngtétkiơ (1689-1755) và Rút xô (1712-1778)

là những nhà tư tưởng lớn thời kỳ cận đại phương Tây Các ông quan niệm con người chình trị rộng hơn các thế hệ trước, đó là những con người nói chung Tất cả các công dân đều là những con người chình trị, có những quyền nhất định và những quyền đó có thể chuyển nhượng Quyền lực nhà nước là quyền lực của nhân dân Nhân dân là chủ thể quyền lực tốt thượng Quyền lực nhà nước được tạo ra bởi sự ủy quyền của nhân dân……

Trang 21

Bước vào thời kỳ Hiện đại, ở phương Tây có hai dòng tư tưởng quan niệm về con người chình trị, đó là dòng tư tưởng tư sản và dòng tư tưởng vô sản Thực chất dòng tư tưởng tư sản không có thêm bước tiến nào so với thời

kỳ trước, thậm chì có những quan niệm lệch lạc, méo mó hoặc thiên vị về con người chình trị Trong khi đó, tư tưởng vô sản là dòng tư tưởng Mác xìt

có những bước phát triển đột phá, vượt bậc trong quan niệm về con người chình trị

C.Mác, F.Ăngghen và V.I.Lêninvới học thuyết đồ sộ, khoa học của mính về triết học, kinh tế - chình trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học, với phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, các ông đã kế thừa các quan niệm về con người chình trị trong lịch sử nhân loại, đồng thời có những phát triển mới có tình cách mạng trong quan niệm về con người chình trị

Theo các ông, con người chình trị là những con người hiện thực trong hoàn cảnh hiện thực, có mối quan hệ hiện thực do chình mính tạo ra Các ông khẳng định “Trong tình hiện thực của nó, con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” Trong tổng hòa các mối quan hệ xã hội đó, lao động và ngôn ngữ là những yếu tố căn bản nhất tạo nên con người chình trị, con người có ý thức và trì thức Theo các ông, không có con người trừu tượng ở đâu đó tách rời hiện thực, tách rời hoàn cảnh lịch sử

Chủ nghĩa Mác- Lênin khẳng định, con người là yếu tố cơ bản nhất, quyết định nhất của lực lượng sản xuất, quyết định sự phát triển của lịch sử Mọi người dân đều là những con người chình trị, tham gia vào các quá trính sản xuất và phân công lao động xã hội Khi xã hội có phân chia giai cấp, con người nói chung bị chi phối bởi các quan hệ giai cấp Các quan hệ giai cấp tác động, dình kết đến từng cá thể con người Quan hệ chình trị trở thành

Trang 22

một trong những quan hệ bản chất của con người Do đó, con người chình trị nào cũng thuộc về một giai cấp, một lực lượng xã hội nào đó nhất định

Quần chúng nhân dân với tư cách là những con người chình trị luôn

có vai trò quyết định trong các phong trào chình trị và trong các cuộc cách mạng xã hội, là người sáng tạo ra lịch sử, là người quyết định sự phát triển của xã hội

Hồ Chì Minh kế thừa tư tưởng của Chủ nghĩa Mác- Lênin và vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh Việt Nam Tư tưởng Hồ Chì Minh khẳng định nhân dân là người chủ của quyền lực tối cao, quyền lực nhà nước; mọi quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân Hồ Chì Minh xác định đúng đắn vị trì vai trò của nhân dân trong lịch sử dựng nước và giữ nước, trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước Như vậy, Hồ Chì Minh quan niệm nhân dân là những con người chình trị, bất kể đó là ai, làm quan lớn hay dân thường

Tác giả luận văn lựa chọn quan điểm nhân vật chình trị hay con người chình trị là con người mang tình giai cấp, đại biểu của một giai cấp, một lực lượng, một dân tộc nhất định Con người chình trị là con người xã hội, con người giai cấp, có vị thế khác nhau trong hệ thống tổ chức quyền lực xã hội Hành vi chình trị là hành vi của con người chình trị, được nhín nhận dưới lăng kình chình trị học, gắn liền với mục tiêu giành, giữ và thực thi quyền lực chình trị của một giai cấp, một dân tộc, một lực lượng xã hội nhất định

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của chúng tôi bao gồm các hoạt động xã hội,

những diễn ngôn trên báo chì đương thời như Đông Dương tạp chí, Nam

Phong tạp chí…, nhật ký, hồi ký và thư từ của chình Phạm Quỳnh hoặc

Trang 23

những người thân trong gia đính ông Ngoài ra để mô tả bức tranh tổng thể

về tính hính dư luận xã hội hiện đại về Phạm Quỳnh, tác giả đã khảo sát toàn

bộ nội dung tiếng Việt trên Internet trong thời gian 19 năm, kể từ năm 1997 (là thời điểm Internet bắt đầu có mặt tại Việt Nam và các nội dung thảo luận bằng tiếng Việt bắt đầu xuất hiện trên Internet) đến hết ngày 30/11/2016

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin khi đánh giá nhân vật lịch sử, con người chình trị gắn liền với bối cảnh kinh tế xã hội, bối cảnh lịch sử cụ thể, quan điểm về tình thống nhất, tình toàn vẹn của sự vật hiện tượng

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận: Đề tài dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa

duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử để tiến hành nghiên cứu

- Phương pháp khác: Trong quá trính nghiên cứu, đề tài còn sử dụng

các phương pháp khác như: phân tìch- tổng hợp, logic-lịch sử, so sánh, phân tìch tài liệu, thống kê dữ liệu lớn (Big Data)

Trang 24

6 Đóng góp của luận văn

- Đóng góp về mặt lý luận: Đề tài cố gắng góp phần xâu chuỗi, hệ

thống và luận giải từ góc nhín chình trị đối với trường hợp Phạm Quỳnh, nghiên cứu đối tượng trong đúng bối cảnh xã hội

- Đóng góp về mặt thực tiễn:Đóng gópthêm một công trính nghiên

cứu về Phạm Quỳnh

- Đây là Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Khoa học Chình trị đầu tiên

ở Việt Nam lựa chọn nghiên cứu Phạm Quỳnh như một nhân vật chình trị, đồng thời cũng là Luận văn Thạc sĩ đầu tiên ở Việt Nam ứng dụng phương pháp khảo sát dữ liệu lớn (Big Data) vào nghiên cứu khoa học chình trị nói riêng, cũng như khoa học xã hội nhân văn nói chung

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương

Chương 1:“Phạm Quỳnh và bối cảnh chình trị xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX” đề cập đến thân thế sự nghiệp Phạm Quỳnh và bối cảnh chình trị

xã hội đầu thế kỉ Trong chương này tác giả sử dụng góc nhín từ khìa cạnh văn hóa, giáo dục để tím hiểu về thế hệ trì thức thời Phạm Quỳnh, từ đó là

cơ sở để xem xét các hoạt động chình trị của Phạm Quỳnh trong bối cảnh mang tình đặc thù đó Tím hiểu về bối cảnh chung cũng giúp lì giải phần nào tâm lì và động cơ trong các hoạt động chình trị của Phạm Quỳnh Quan điểm

ở đây là với chình sách “điều hòa văn hóa” để “điều chỉnh chình trị” của thực dân Pháp, thực chất các hoạt động văn hóa thời kí này đều mang đậm động cơ chình trị Trong chương này, tác giả cũng mở rộng nghiên cứu về

Trang 25

sức mạnh của lực lượng tri thức đầu thế kỉ XX trong dòng chảy đầy biến động của đời sống chình trị đương thời khi đề cập mối quan hệ giữa Phạm Quỳnh và Tạp chì Nam Phong, bước đầu nhắc đến luận điểm về quyền lực chình trị của văn hóa Luận văn đặt mục tiêu gợi mở một hướng tiếp cận một

Chương 3: ”Những ảnh hưởng của nhà chình trị Phạm Quỳnh”, tác giả dành không gian để khảo sát những “ảnh hưởng” của Phạm Quỳnh đối với đời sống xã hội đương thời thông qua những cứ liệu về tác động chình sách liên quan trực tiếp đến hành vi chình trị của Phạm Quỳnh, thậm chì những ảnh hưởng kéo dài đến thời hiện đại thông qua việc trính bày những kết quả ứng dụng phương pháp xử lì dữ liệu lớn (Big Data) vẽ lại diễn biến dư luận

xã hội về trường hợp Phạm Quỳnh Chương 3 có mục tiêu chình là trính diễn một gợi ý mang tình phương pháp nghiên cứu khi đề xuất đẩy mạnh ứng dụng Big Data vào nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn nói chung, nghiên cứu chình trị học nói riêng ở Việt Nam

Trang 26

Chương 1 PHẠM QUỲNH VÀ BỐI CẢNH CHÍNH TRỊ VIỆT NAM

ĐẦU THẾ KỶ XX

1.1 Thân thế và sự nghiệp của Phạm Quỳnh

Phạm Quỳnh sinh ngày 30/1/1893 (mục từ Phạm Quỳnh trong Từ điển

Văn học Việt Nam (bộ mới) cho rằng ông sinh ngày 17/12/1892) [1, tr.1364],

xuất thân dòng dõi nhà Nho nghèo Ôngquê gốc ở tỉnh Hải Dương, ông nội Phạm Quỳnh là thầy đồ trong làng, sau chuyển cả gia đính về sinh sống tại nhà số 5, Hàng Da, Hà Nội

“Phạm Quỳnh là con nhà Nho, cháu nhà Nho, chắt nhà Nho, mà đều

là nhà Nho nghèo, loại hàn sĩ cả Từ cụ Dưỡng Am Phạm Hội (trích Gia phả

họ Hoàng Đạo- Phụ: bên ngoại, do rể: Hoàng Đạo Thành bái ghi, môn đệ tử: Tô Ngọc Huê thủ thức, tôn sinh: Ngô Văn Dạng phụng viết, Hoàng Đạo Thúy kính dịch từ chữ Hán) đến ông nội rồi cha đẻ đều dạy học mà không thu học phí, chỉ sống với những gì học trò đem biếu, khi thì thúng gạo, rổ khoai, lúc con gà, con cá, mớ rau Chín tháng mất mẹ, bà nội và bà cụ tú cho hưởng thừa tự phải bế đi bú chực nhà hàng xóm Rồi chín tuổi mất cha, gia đình khốn khó, hai cụ phải bòn những quả ổi, quả bồ hòn trong vườn nhỏ sau nhà đem bày bán trước cửa cùng mớ hàng xén lặt vặt để có cái cơm cháo qua ngày nuôi cháu khôn lớn Sau đó lại lo cháu “Không có cái chữ thì làm sao sống được với đời”, bèn cho theo học trường tiểu học Pháp Việt mới mở ở phố Hàng Bông gần nhà Chỉ vì ở đấy học không mất tiền Rồi tiếp đến lại học Trường Thông ngôn (Collège Des Interprètes) ở bờ sông Hồng, cũng lại vì học ở đấy không mất tiền!” (Theo Hoàng Đạo Thúy, Phố phường Hà Nội xưa, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2000)

Trang 27

Sinh ra và lớn lên trong môi trường Nho học không dư dả, lại vốn được gần gũi và tiếp cận với những người có tư tưởng và đường lối yêu nước, điều đó không thể không có ảnh hưởng đến cuộc đời, tư tưởng cũng như sự nghiệp của ông

“Nghèo khổ như thế lại ham học và có hiếu với hai bà cụ, Phạm

Quỳnh chỉ mong cố gắng học để đổi đời, đền đáp ơn hai bà nuôi dạy Mặt khác “Ông, cha Phạm Quỳnh có liên hệ mật thiết với các tổ chức Cần Vương, Phục Việt chống Pháp đương thời (…) Vì thế, không lạ gì chuyện cậu thanh niên Phạm Quỳnh đã nhiệt tình tham gia ủng hộ phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, tham gia bãi khóa ngay tại Trường Thông ngôn, phản đối đàn áp Đông Kinh Nghĩa Thục, bắt giam các sĩ phu yêu nước, đến nỗi đã từng bị Pháp bắt giữ, năm mới 15 tuổi” (Mạc Kinh Trần Thế Xương: Nỗi oan khiên của học giả Phạm Quỳnh, trong tập Giải oan lập một đàn tràng,

Cơ sở xuất bản Tâm Nguyện, phát hành lần thứ nhất tại Hoa Kỳ, 2001)

Phạm Quỳnh tốt nghiệp trường Thông ngôn và nhận bằng Thành Chung năm 1908 Trong quá trính học tập tại trường Thông ngôn, Phạm Quỳnh chú tâm vào Tây học và sao nhãng Nho học, nên Pháp văn xuất sắc nhưng chữ Hán thí rất kém, nhiều lần được thầy giáo người Pháp cho điểm

“vớt” chữ Hán mới có thể tốt nghiệp (Dẫn theo Nguyễn Văn Trung,Trường

hợp Phạm Quỳnh, Nxb Nam Sơn, Sài Gòn, 1975)

Có thể thấy ngay từ khởi đầu, Phạm Quỳnh dường như đã được người Pháp chiếu cố và nâng đỡ Nói một cách không quá dè dặt, sự nghiệp sau này của Phạm Quỳnh bên cạnh những lựa chọn mang tình cá nhân thí đều ìt nhiều mang dấu ấn định hướng của người Pháp, đây cũng là điểm cốt tử khiến Phạm Quỳnh bị các nhà nghiên cứu Mácxit sau này đánh giá là “tay sai của Pháp”

Trang 28

Rời trường Thông ngôn, Phạm Quỳnh được người Pháp bố trì làm việc tại trường Viễn Đông Bác Cổ trong 9 năm Đây là cơ quan nghiên cứu khoa học về Châu Á, đặc biệt là về Việt Nam, với các lĩnh vực chủ yếu là khảo cổ học, lịch sử văn hóa và nghệ thuật Thời gian làm việc tại trường Viễn Đông Bác Cổ, Phạm Quỳnh đã trau dồi chữ Hán, đồng thời tìch lũy được một vốn tri thức dồi dào, đủ cả Đông Tây kim cổ, và được người đương thời đánh giá là “đa dạng và uyên thâm”

Phạm Quỳnh kết hôn năm 1909 và có 16 người con, trong đó có 3 người mất sớm khi còn nhỏ 13 người con còn lại của Phạm Quỳnh gồm 5 trai, 8 gái, sinh sống tại Pháp và Việt Nam, một số người con của Phạm Quỳnh sau này khá thành công và có danh tiếng trong xã hội Trào lưu

“chiêu tuyết”, đánh giá lại Phạm Quỳnh thời gian gần đây có liên quan đến

nỗ lực của những người con này, tiêu biểu như tháng 11/2016, vợ chồng nhạc sĩ Phạm Tuyên (con thứ 9 của Phạm Quỳnh), đã cho ra mắt cuốn Hồi kì trong đó có nhiều nội dung đề cập đến nhân vật lịch sử này, mà như nhà thơ

Trần Đăng Khoa nhận xét: “Hay nhất trong cuốn sách này là những trang

viết về học giả Phạm Quỳnh và nhạc sĩ Phạm Tuyên”. 11

Năm 1913, Phạm Quỳnh bước chân vào nghề báo trong vai trò biên

tập viên cho tờ Đông Dương tạp chí của Nguyễn Văn Vĩnh, một trì thức

được Pháp nâng đỡ và được nhiều người liên hệ với Phạm Quỳnh Tại đây, tên tuổi Phạm Quỳnh bắt đầu nổi lên với những bài báo và dịch thuật liên quan đến chủ đề tiếp xúc văn hóa Đông-Tây

Thế chiến thứ nhất kết thúc, thực dân Pháp nhận thấy bắt đầu phải siết chặt báo chì tại Việt Nam, nhất là trên bính diện tư tưởng Thời điểm này, tờ

Đông Dương tạp chí của Nguyễn Văn Vĩnh (người lúc đó đã có những quan

1 Nguồn: nhac-si-pham-tuyen

Trang 29

http://hanoimoi.com.vn/Tin-tuc/Van-hoa/858172/ra-mat-hoi-ky-cua-gia-dinh-điểm chỉ trìch người Pháp gay gắt) không còn hữu dụng với người Pháp, và

đây là lì do để Nam Phong tạp chí ra đời, Phạm Quỳnh là chủ bút, Louis

Marty, Trưởng phòng Chình trị tại Phủ Toàn quyền Đông Dương làm quản

Năm 1922, một dấu mốc trong sự nghiệp chình trị của Phạm Quỳnh là được tháp tùng vua Khải Định sang Pháp dự Hội chợ triển lãm thuộc địa ở thành phố Marseille Chuyến đi là một sự kiện lớn trong nước, được tuyên truyền rộng rãi, đồng thời cũng nhận được sự quan tâm đặc biệt của chình giới Pháp Người Pháp đã khá thành công khi biến chuyến đi chơi của vua Khải Định trở thành một sự kiện chình trị lớn tại Việt Nam, qua đó nhằm mục tiêu lấy lòng Nam triều và củng cố lòng trung thành của Khải Định đối với nước Pháp Tại Pháp, Khải Định đã hết lòng cảm ơn mẫu quốc, thậm chì

tỏ quan điểm kịch liệt phản đối vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết chống Pháp, phê phán hai ông vua yêu nước chống Pháp là Thành Thái và Duy Tân, đồng thời bày tỏ lòng trung thành tuyệt đối với nước Pháp

Năm 1925-1926, Phạm Quỳnh làm Hội trưởng Hội Trì tri tại Bắc Kỳ, đây là Hội về giáo dục, mở các trường tiểu học ở địa phương, gọi là trường Trì Tri, và tổ chức các buổi diễn thuyết.Năm 1926, Phạm Quỳnh trở thành Nghị viên Hội đồng Tư vấn Bắc Kí Thực ra người Pháp không muốn thành lập Nghị viện tại Việt Nam nên thành lập Hội đồng Tư vấn tại địa phương để

tỏ ra dân chủ, lắng nghe ý kiến của người dân bản địa

Trang 30

Theo đánh giá của PGS TS Trần Viết Nghĩa, Hội Tư vấn Bắc Kí thay

ví nói lên tiếng nói đấu tranh đòi quyền lợi của dân chúng, lại đi bảo vệ quyền lợi cho tầng lớp thượng lưu bản xứ (quan lại, địa chủ và tư sản) và lợi ìch của bọn thực dân Thay ví thể hiện quyền tự do ngôn luận của người bản

xứ, Hội trở thành công cụ để thực dân Pháp bóp chẹt quyền tự do ngôn luận

“Sự tham gia Hội Tư vấn Bắc Kì là một nấc thang quan trọng cho Phạm Quỳnh thăng tiến về chính trị”, Trần Viết Nghĩa,Phạm Quỳnh: chính trị và văn hóa, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2015 [10, tr.30]

Năm 1929, Phạm Quỳnh trở thành thành viên của Đại Hội đồng kinh

tế và tài chình và được Phan Khôi xếp vào hàng “ngôi sao sáng ở nước

Nam”

Việc tìch cực tham gia các tổ chức kinh tế, chình trị, xã hội đã dần dọn đường cho sự nghiệp chình trị của Phạm Quỳnh Cũng ví lì do này, nhiều người trong đó có các học giả đương thời, cho rằng Phạm Quỳnh nhận sự nâng đỡ của người Pháp, đồng thời Phạm Quỳnh cũng rất biết cách lấy lòng người Pháp, phục vụ cho mục đìch chình trị của người Pháp Nhưng nhận định công bằng hơn, con đường Phạm Quỳnh lựa chọn là con đường duy nhất để thăng tiến và có vị thế trong chình trường thời điểm đó, nếu đi chệch đường, người Pháp sẽ đẩy ông ra khỏi hệ thống chình trị đương thời

Năm 1932, Bảo Đại được người Pháp đưa về nước làm vua Tháng

11/1932, Phạm Quỳnh rời Nam Phong tạp chí để bắt đầu sự nghiệp làm quan

trong triều đính Huế, đầu tiên với chức Đổng lý Văn phòng Ngày 2/5/1933, Bảo Đại công bố nội các mới gồm 5 bộ, trong đó Phạm Quỳnh trở thành Thượng thư Bộ học, Tổng lì Ngự tiền Văn phòng

Năm 1939, Phạm Quỳnh đề xuất thuyết lập hiến, muốn Pháp giao thực

quyền cho người Việt Sự kiện đó được Phan Khoang thuật lại trong Việt

Nam Pháp thuộc sử: “Ở Bắc Kỳ, năm 1930, nhà học giả Phạm Quỳnh viết

Trang 31

một loạt bài báo đòi hỏi chánh quyền Pháp cải cách chế độ ở Trung, Bắc Kỳ: giao thực quyền lại cho Triều đình Huế, dùng một lớp người mới ra làm việc, chính quyền Việt Nam có một viện Dân biểu trợ lực, chính phủ bảo hộ chỉ giữ nhiệm vụ cố vấn và kiểm soát Các đòi hỏi ấy cũng được người Pháp

để ý đến phần nào, nhưng kết quả lớn hơn chỉ là ghế Thượng thư trao cho ông liền sau đó” [7,tr.469]

Chưa rõ đây là lì do khách quan hay chủ quan, nhưng ìt nhất có thể khẳng định Phạm Quỳnh được trọng dụng trong bộ máy chình quyền tại thời gian này đã khiến Phạm Quỳnh hứng chịu rất nhiều cái nhín thiếu thiện cảm của đông đảo giới trì thức Đây là giai đoạn xuất hiện nhiều nhất những bài viết mỉa mai, trào phúng và chỉ trìch công khai về Phạm Quỳnh trên báo chì Tiêu biểu trong số những người phản đối Phạm Quỳnh làHuỳnh Thúc

Kháng, ông chủ báo Tiếng dân ở Huế đã gửi thư cho toàn quyền Pasquier

phản đối thuyết lập hiến của Phạm Quỳnh Những nhân vật nổi tiếng trong làng báo như Hoàng Đạo, Phan Khôi nhẹ thí mỉa mai, nặng thí đòi ông nên

từ chức (Hoàng Đạo, Đi về thôi, đi về, ông Phạm Quỳnh , tờ Ngày Nay, số

175 ra ngày 19/8/1939)

Ngày 12/5/1942, Phạm Quỳnh được Bảo Đại bổ chức Thượng thư Bộ lại, đây là chức vụ cao nhất trong hàng Thượng thư, là vị trì dưới một người trên vạn người, quyền lực chỉ sau vua Bảo Đại

Tháng 3/1945, Nhật đảo chình Pháp, Phạm Quỳnh bị loại ra khỏi sân khấu chình trị, bị bắt và qua đời không lâu sau đóvào cuối tháng 8/1945

1.2 Phạm Quỳnh và bốicảnh chính trị xã hội Việt Nam đầu thế

kỷ XX

Những năm đầu thế kỉ XX, người Phápđã cơ bản xác lập hoàn thiện

Trang 32

công cuộc thực dân gây ra và chủ quyền quốc gia bị mất, cùng với sự tan rã không thể cứu vãn của ý thức hệ Nho giáo, sự thâm nhập trắng trợn mang tình chất cưỡng bức của ý thức hệ dân chủ phương Tây và hệ thống giáo dục Tây học đã tạo ra một giai đoạn trầm kha trong lịch sử Việt Nam

GS Trịnh Văn Thảo trong cuốn “Ba thế hệ trí thức người Việt

(1862-1954)” đã đưa ra góc nhín về xã hội Việt Nam dưới phương diện tri thức và

hệ thống giáo dục với đầy đủ các số liệu thống kê, khảo cứu về thi cử, số trường học, số học sinh… Đây là một góc nhín khá thú vị và phù hợp về bối cảnh lịch sử, chình trị để nghiên cứu về trường hợp Phạm Quỳnh

Theo nhà nghiên cứu lịch sử và dân tộc học Đào Duy Anh trong Việt

Nam văn hóa sử cương, dẫn theo Trịnh Văn Thảo, Ba thế hệ trí thức người Việt (1982-1954), hai giai đoạn nối tiếp nhau trong quá trính thực hiện chình

sách giáo dục của nước Pháp tại Đông Dương thể hiện hai quan điểm khác nhau, mang tình bổ trợ cho nhau của chế độ thực dân: thời kí đầu (1862- 1917) duy trí sự cùng tồn tại của chế độ Khổng giáo truyền thống (Trung Kí, Bắc Kí) và chế độ thuộc địa (Nam Kí); sau đó, ngay khi chiến tranh thế giới chấm dứt, thiết lập một bộ máy giáo dục phổ thông và đại học mới, chặt chẽ hơn, đồng nhất hơn, dưới sự cai trị của Phủ Toàn quyền [19, tr.302]

Quá trính tan rã của ý thức hệ Nho giáo, giai đoạn khủng hoảng do đứt gãy văn hóa cũng như xung đột tri thức Đông – Tây kéo dài mấy chục năm

và gần như hoàn thành vào năm 1927, khi nền giáo dục “Trường thuộc địa” kiểu Pháp đã được đảm bảo trên toàn lãnh thổ Đông Dương với 19 trường học, trong đó có 3 trường Sư phạm

Gourdon, người được coi là một trong những kiến trúc sư của nền giáo dục “Trường thuộc địa” Việt Nam đầu thế kỉ XX đã tuyên bố đầy tự hào ví hoàn thành sứ mệnh:

Trang 33

“Từ nay về sau, thời gian học đối với hai chương trình giáo dục trung học, Pháp và Pháp – Việt là như nhau, bằng tú tài trong nước là bằng tú tài bằng tiếng Latim – sinh ngữ, tiếng An Nam và tiếng Campuchia đại diện, tiếng Hán và tiếng Phạn là tử ngữ”, dẫn theo Trịnh Văn Thảo, “Ba thế hệ trí thức người Việt (1862-1954)[19, tr.304]

Điều này có ý nghĩa gí? Trong một xã hội mà gần 10 thế kỉ, kiến thức

là con đường để gắn với quyền lực, xã hội đó đang chứng kiến sự rạn vỡ trong quan niệm và nhận thức, cả về giá trị sống và con đường lập thân Ý thức hệ Nho giáo, trì thức kiểu cũ xung đột với ý thức hệ dân chủ phương Tây, trì thức Tây học Quan niệm về trung quân, ái quốc xung đột với đòi hỏi trung thành với mẫu quốc

Tính trạng bất ổn của xã hội Việt Nam được sử gia P Devillers phân tìch thông qua tính trạng bất ổn của giới trì thức như sau:

“Vấn đề chính trị đã đặt ra ngay sau khi tầng lớp trí thức nhận thức được mâu thuẫn sâu sắc tồn tại giữa mục đích và quyền lợi giữa họ và những công chức “ngoại quốc” đang nắm vị trí lãnh đạo đất nước họ”

“Bi kịch này thắt chặt tầng lớp trí thức lại với nhau, họ có mặt ở khắp nơi, đặc biệt trong những nước có nền văn minh Trung Quốc, nơi mà giới cầm quyền xuất phát từ tầm hiểu biết và sự khôn khéo, không phải do tuyển

cử hay sức mạnh”…[19, tr.309]

Thất vọng trong những tham vọng xã hội, tầng lớp trì thức buộc phải tập hợp nhau lại và bấu vìu trong những hoạt động văn hóa tư tưởng bằng cách tạo nên một mạng lưới gần giống “đảng phái”, được biểu hiện ra dưới hính thức các tòa soạn báo hay các phong trào văn chương Émile Vayrac, trưởng phòng Sách báo bản xứ, chủ nhiệm “Tứ dân văn uyển” tại Việt Nam giai đoạn 1912-1937, trong bản báo cáo gửi về mẫu quốc miêu tả tính hính sách vở tại Bắc Kỳ đã nhắc đến những hội nhóm văn chương nổi bật nhất

Trang 34

của An Nam lúc bấy giờ bao gồm: Hội Trì Tri, Khai Trì Tiến Đức, Hội Địa

Dư, Hội Hà Nội cổ, Hội những người bạn của trường Bác Cổ, Hội giúp đỡ

và tương trợ lẫn nhau, Hội Phật giáo, Hội những người bạn của Mỹ thuật,

Hội Dân ca… (Theo Émile Vayrac, Rapport au sujet des efforts faits au

Tonkin, depuis vingt-cinq and environ pour fourmirde bonnes lectures aux Annamites, bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Kỳ, tài liệu lưu trữ của gia đính

Nguyễn Văn Vĩnh)

Như một bứt phá ra khỏi áp chế, một cách tự nhiên, giới trì thức Việt Nam đầu thế kỉ, tất nhiên với sự tạo điều kiện một cách có lẽ không hoàn toàn ý thức được của người Pháp, đã đưa học thuật và các hoạt động văn hóa đến gần với quyền lực chình trị Điều này ìt nhiều cũng là hệ quả tất yếu của chình sách “điều hòa văn hóa” để “điều chỉnh chình trị” của thực dân Pháp

Từ đầu những năm 20 của thế kỉ XX, bắt đầu có những trì thức Tây học trẻ tuổi tím cách vùng vẫy và trở thành mối đe dọa của chình quyền thực dân Bắt đầu là Nguyễn An Ninh ở Nam Kí có những bài diễn thuyết chấn

động, gây ấn tượng mạnh tới trì thức trẻ như “Chung đúc một nền học thức

cho nhân dân An Nam” và “Lí tưởng của thanh niên An Nam” vào năm

1922

Tờ báo L’An Nam của Nguyễn An Ninh đã đăng trọn vẹn bản “Tuyên

ngôn Nhân quyền và Dân quyền 1971” nổi tiếng của nước Pháp và bản

“Tuyên ngôn Cộng sản” của Karl Marx Kết quả là Nguyễn An Ninh bị bắt

và kết án tù

Năm 1925-1926, cao trào đòi tự do dân chủ được giới trì thức dấy lên dồn dập như đấu tranh đòi thả tự do cho Phan Bội Châu (1925), để tang Phan Châu Trinh (1926), đòi thả Nguyễn An Ninh (1926), đón Bùi Quang Chiêu (1926), chống trục xuất nhà báo Trương Cao Động (1926) Sự ra đời của những tổ chức yêu nước như Phục Việt, Hưng Nam, Việt Nam Nghĩa

Trang 35

đoàn, Thanh niên… Nhiều tác phẩm yêu nước ra đời như Tiếng quốc kêu của Việt Quyên, Chiêu hồn nước của Phạm Tất Đắc, Một bầu tâm sự của

Trần Huy Liệu…

Trong bối cảnh chung đó, tầng lớp trì thức Việt Nam đang bị phân rã

và trong cơn “hoang mang tập thể” trên con đường tím kiếm lì tưởng Tầng lớp trì thức đứng trước các lựa chọn: hoặc mạo hiểm đấu tranh và bị bắt, bị đào thải, đàn áp, hoặc luồn lách trong “dòng chình” như Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh… để tím kiếm vị thế chình trị, tím kiếm chỗ đứng cho mính và thế hệ mính trong dòng chảy lịch sử của dân tộc

Những tranh cãi xung quanh cuộc đời và sự nghiệp của Phạm Quỳnh, cũng như một số trì thức tham gia hoạt động chình trị khác đầu thế kỉ XX,

đã bắt đầu trong bối cảnh như vậy

1.3 Phạm Quỳnh và phái Nam Phong: Quyền lực chính trị của văn

hóa

Sẽ không đúng nếu nghiên cứu về Phạm Quỳnh mà không nhắc đến

Nam Phong tạp chí Phần sự nghiệp rực rỡ nhất, sức mạnh lớn nhất để Phạm

Quỳnh tham gia chình trị, cũng như dấu ấn chình trị rõ nét nhất của Phạm

Quỳnh với tư cách một nhân vật chình trị, nằm ở Nam Phong

Nhưng trước hết cần quay lại với bối cảnh chình trị xã hội Việt Nam

trước thời điểm Nam Phong tạp chí ra đời

1.3.1 Mối quan hệ văn hóa - chính trị Việt Nam đầu thế kỉ XX

Những năm đầu thế kỉ XX, xã hội Việt Nam chứng kiến sự sụp đổ có

Trang 36

thức Nho học trưởng thành đều phải gánh chịu những hậu quả trực tiếp từ công cuộc xâm lược của thực dân Pháp, hoặc ngã xuống trên chiến trường trong những cuộc chiến phi lì, không cân sức, hoặc bị bắt, tra tấn và bị giết

ví bị cho là liên quan đến phong trào Cần Vương hay những cuộc khởi nghĩa trước đó Nước mất, nhà tan, một thế hệ trì thức Nho học trở nên vỡ vụn và yếu đuối trước làn sóng phương Tây mới mẻ đang ồ ạt tràn vào xã hội Việt Nam Cuộc chiến cũ và mới, truyền thống và hiện đại diễn ra trong khi cái thế cục lớn của thời đại ủng hộ và dường như lì giải thế thượng phong của những tư tưởng và đấu tranh tân tiến

Trong cái thế cục đó, thế hệ Phạm Quỳnh, thế hệ được nhà nghiên cứu

Trịnh Văn Thảo gọi là trí thức của hai thế giới, phải tím kiếm và liên tục lựa

chọn trong thế lưỡng nan một giải pháp duy nhất: tạo ra những hệ thống sinh hoạt văn hóa tư tưởng như các toà soạn báo hay các phong trào văn chương

Tuy nhiên, một cách công bằng, thí đây là món quà đầy tình toán của người Pháp

Với tính hính thế giới và tính hính xã hội Đông Dương đầu thế kỉ, người Pháp trong nỗ lực trí giữ lợi thế của mẫu quốc, họ - khi thí đóng vai người khai hóa, đưa ánh sáng văn minh phương Tây đến xứ thuộc địa, khi thí đóng vai người bạn hữu hảo, hợp tác Á – Âu Mục đìch của người Pháp không ngoài việc phát triển và hoàn thiện nền hành chình mới, đồng thời phối hợp với triều đính Huế đàn áp các phong trào đấu tranh bạo động cũng như bất bạo động chống Pháp Một tính hính trị an ổn định, trật tự rất cần thiết để người Pháp đẩy mạnh khai thác tài nguyên tại Việt Nam

Để phục vụ mục đìch đó, người Pháp đã trao cho xã hội Việt Nam một vài “món quà” quan trọng Chuẩn bị lực lượng nhân sự cho bộ máy hành chình kiểu mới, người Pháp tổ chức lại hệ thống giáo dục tại Việt Nam Tập hợp tầng lớp trì thức, thúc đẩy quá trính thôn tình văn hóa, người Pháp

Trang 37

khuyến khìch người Việt tiếp thu nền văn hóa Tây phương Áp dụng sách lược “điều hòa văn hóa” để “điều chỉnh chình trị”, tạo ra đời sống xã hội cởi

mở giả tạo với chiêu bài tự do dân chủ, khai sáng văn minh, người Pháp đưa báo in – một sản phẩm của văn minh phương Tây – vào Việt Nam Mặc dù

có chế độ kiểm duyệt chặt chẽ đi ngược lại Luật Báo chì và tự do ngôn luận, nhưng chình sách cai trị đó của thực dân Pháp cũng đã tạo ra một làn gió mới có tác động sâu xa tới sự trưởng thành của xã hội Việt Nam trong giai đoạn tiếp biến văn hóa như một tất yếu lịch sử Có thời điểm tại Việt Nam

có hơn 100 tờ báo in hoạt động, tạo ra môi trường sinh hoạt tư tưởng, văn hóa tinh thần sôi nổi, góp phần tìch cực giúp người Việt tiếp thu tinh hoa của nhân loại, rèn luyện tư duy tranh biện, và một phần nào trở thành công cụ đấu tranh cho các phong trào yêu nước

Trong bản báo cáo về tính hính xuất bản sách báo tại An Nam, Émile Vayrac đã mô tả những nỗ lực của người Pháp trong công cuộc thúc đẩy

việc “đọc phương Tây” ở Việt Nam Năm 1923, để chống lại sự tràn ngập

của sách Trung Hoa, thống sứ Monguilliot đã cho thành lập quỹ tủ sách

“Những sách đọc ở Bắc Kỳ”, dịch sang tiếng Việt những cuốn sách nổi

tiếng của Pháp như Sử ký Thanh hoa (Le Parfum de Humanites) Năm

1927-1928, tiếp tục phong trào chống ảnh hưởng của văn hoá Trung Quốc, thống

sư Robin cho thành lập “Niên lịch thông thư”và tủ sách dịch “Âu Tây tư

tưởng” Trong đó “Âu Tây tư tưởng” bao gồm 3 loại sách: Sách dân gian

khổ nhỏ, sách khổ thông thường và sách có hính vẽ Tủ sách “Âu Tây tư

tưởng” được chia làm ba nhóm: Những tác phẩm cổ điển, cổ, và hiện đại;

Những tác phẩm đại chúng của Pháp hay ngoại quốc; Những tác phẩm sách học và những sách phổ thông Tủ sách đã xuất bản 100 quyển, mỗi quyển in

ra 18.000 bản phát hành trong quần chúng An Nam Phạm Quỳnh có tham

gia vào hoạt động của tủ sách này Ông đã dịch cuốn “Những tư tưởng của

Trang 38

Marc Aurele” (Theo Émile Vayrac, Rapport au sujet des efforts faits au Tonkin, depuis vingt-cinq and environ pour fourmirde bonnes lectures aux Annamites, bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Kỳ, tài liệu lưu trữ của gia đính

Nguyễn Văn Vĩnh)

Hệ thống báo chì và sinh hoạt văn hóa tư tưởngtại Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX nhanh chóng trưởng thành và có đời sống đầy đa dạng kịch tình, bởi đó gần như một lối thoát của giới trì thức Không kể đến trì thức Nho học đời trước với mô hính Kiến thức – Quyền lực – Kiến thức, khoa cử là con đường để có vị trì trong xã hội, thí nay, với ý thức hệ phương Tây, cơ hội để có mặt trong dòng chảy của lịch sử mở ra với mọi thành phần Thậm chì nói không quá dè dặt, chưa bao giờ xã hội Việt Nam sôi nổi và bùng nổ không khì học thuật, tranh luận, trao đổi tư tưởng, văn hóa… như nửa đầu thế kỉ XX Đây cũng là giai đoạn tiếng Việt trưởng thành để đủ sức đảm nhận vai trò một ngôn ngữ trong nghiên cứu khoa học, để sáng tác văn chương, để làm tiểu thuyết, để biện luận… Đôi khi, chình người Pháp cũng không mong muốn nhín thấy kết quả này

Bên cạnh quyền lực đầy khủng bố của chình quyền thực dân, nếu nói còn một thứ quyền lực gí đã làm lay động, sục sôi cái không khì hàng ngày

uể oải của một xã hội thuộc địa, thí đó chình là quyền lực của văn hóa Một lần nữa cần phải nhắc lại luận điểm, chình người Pháp với chình sách dùng

“điều hòa văn hóa” để “điều chỉnh chình trị” đã tạo cho đời sống văn hóa mang đầy màu sắc chình trị, thậm chì đôi lúc hòa nhập vào đời sống chình trị

Nam Phong tạp chí do Phạm Quỳnh làm chủ bút ra đời vào năm 1917

trong bối cảnh như thế Phạm Quỳnh, dưới ngọn cờ của Nam Phong tạp chí

đã hô hào nhiều quan điểm, tư tưởng về văn hóa, chình trị, giáo dục, tập hợp được nhiều trì thức đương thời và tạo nên một hệ thống quyền lực về sau

Trang 39

này được gọi là nhóm Nam Phong Bên cạnh Phạm Quỳnh, nhóm Nam Phong còn có những cái tên như Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Đôn Phục, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Trọng Thuật, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học Ngoài ra còn một số cộng tác viên thường xuyên gửi bài cho Nam Phong như Đông Hồ, Tương Phố, Tản Đà, Dương Bá Trạc, Trần Trọng Kim

Theo Dương Quảng Hàm (1968), Việt Nam văn học sử yếu, Trung tâm học liệu, Bộ Giáo dục,thí tạp chì Nam Phong có ảnh hưởng mạnh mẽ tới đới

đời sống văn hóa xã hội trên hai phương diện Về phát triển ngôn ngữ, văn

tự, Nam Phong có chủ trương tăng cường cho tiếng Việt nhiều thuật ngữ triết học, khoa học mới Thông qua việc chuyển dịch các công trính nghiên

cứu, tài liệu của phương Tây, vay mượn thuật ngữ của Tàu, Nam Phong tạp

chí đã giúp cho tiếng Việt nhanh chóng trưởng thành đủ sức để truyền tải

các vấn đề lì thuyết Về học vấn, Nam Phong tạp chí đã tổ chức phổ biến

nhiều yếu lược của học thuật phương Tây, đồng thời trính bày một cách tổng quát các tri thức truyền thống, di sản tư tưởng, văn hóa của vùng Á Đông như Nho, Phật, Lão Đồng thời tìch cực bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống

Với một tờ báo do người Pháp tạo ra, với mục đìch đồng hóa văn hóa, có nhiệm vụ hàng đầu là tuyên truyền cho chình quyền thực dân, thí những điều Phạm Quỳnh và nhóm Nam Phong làm được (và đã được ghi nhận) quả thật đáng nể phục

Trong khuôn khổ Luận văn nghiên cứu Phạm Quỳnh dưới góc nhín của chình trị học, tác giả sẽ không đi sâu vào các nội dung trong lĩnh vực văn hóa, nếu không phải một cách chình xác là tất cả các hoạt động văn hóa đều cũng được nhín dưới lăng kình của chình trị Bởi như đã phân tìch ở trên, trong bối cảnh tầng lớp trì thức phân rã và hoang mang tím kiếm vận mệnh của thế hệ, cùng với chình sách dùng “điều hòa văn hóa” để “điều

Trang 40

chỉnh chình trị” của thực dân Pháp, chưa bao giờ hoạt động văn hóa lại gắn liền, thậm chì hòa chung nhịp với đời sống chình trị đến như vậy Mỗi hoạt động văn hóa trong thời của Nam Phong tạp chì đều mang trong mính động

cơ chình trị từ cả hai phìa: phìa thực dân Pháp cùng triều đính Huế và phìa chống đối từ trì thức yêu nước người bản địa

Người Pháp đã cố gắng đưa ra một sách lược thú vị, cho phép tạo ra một không gian tranh luận cởi mở có kiểm duyệt về các vấn đề văn hóa Đối với tầng lớp trì thức đầu thế kỉ đang trải qua giai đoạn “tiếp biến” ý thức hệ thí có thể nói đây là môi trường sôi động nhất, cũng là trực tiếp nhất để thể hiện quan điểm và nhu cầu chình trị Chình bởi thực tế này nên khi nghiên cứu về Phạm Quỳnh chúng ta không thể tách biệt được giữa chình trị và văn hóa Ca ngợi Phạm Quỳnh ví những đóng góp về văn hóa nhưng lại phê phán Phạm Quỳnh dưới khìa cạnh chình trị, hoặc tách biệt vai trò nhà chình trị với nhà văn hóa của Phạm Quỳnh đều là cách tiếp cận không chình xác Điều này không chỉ dẫn đến những đánh giá không toàn vẹn về cá nhân Phạm Quỳnh, mà còn dẫn đến những hạn chế đáng tiếc khi nghiên cứu về đời sống chình trị xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX

1.3.2 Vị thế của Nam Phong tạp chí

Nam Phong tạp chí tồn tại trong hơn 17 năm, từ tháng 7/1917 đến

tháng 12/1934 Mục đìch của tờ Nam Phong ngay từ đầu đã được xác lập rõ ràng là công cụ cho bộ máy tuyên truyền của chình phủ Pháp Nhiệm vụ chình trị của Nam Phong tạp chì là ca ngợi công đức của Pháp quốc, truyền

bá tư tưởng, chình sách của người Pháp cho xã hội

Trên tờ Nam Phong những số đầu ghi rõ nhiệm vụ của tờ báo là

tuyên truyền cho chình sách văn hóa của nước Pháp đối với thuộc địa trong

Ngày đăng: 23/12/2023, 11:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Huệ Chi, Trần Hữu Tá (chủ biên) (2005), Từ điển Văn học bộ mới, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Văn học bộ mới
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi, Trần Hữu Tá
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2005
2. Chình Đạo (1925 – 1945), Hồ Chí Minh, con người và huyền thoại, tập 2, Nxb Văn hoá, Houston, Mỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh, con người và huyền thoại
Nhà XB: Nxb Văn hoá
3. Dương Quảng Hàm (1968), Việt Nam văn học sử yếu, Trung tâm học liệu Bộ giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Nhà XB: Trung tâm học liệu Bộ giáo dục
Năm: 1968
6. Nguyễn Văn Khoan (2012), Phạm Quỳnh – một góc nhìn, Tập 2, (Biên khảo), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Quỳnh – một góc nhìn
Tác giả: Nguyễn Văn Khoan
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
Năm: 2012
7. Phan Khoang (1961), Việt Nam Pháp thuộc sử, Khai trì, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam Pháp thuộc sử
Tác giả: Phan Khoang
Nhà XB: Khai trì
Năm: 1961
8. Đặng Thai Mai (1974), Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX, bản in lần thứ 3, Nxb Văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX
Tác giả: Đặng Thai Mai
Nhà XB: Nxb Văn hoá
Năm: 1974
9. Trần Viết Nghĩa (2011), Trí thức Việt Nam đối mặt với văn minh phương Tây thời Pháp thuộc (Luận văn Tiến sĩ chưa xuất bản), mã số 62.22.54.05 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí thức Việt Nam đối mặt với văn minh phương Tây thời Pháp thuộc
Tác giả: Trần Viết Nghĩa
Năm: 2011
10. Trần Viết Nghĩa (2015), Phạm Quỳnh - Chính trị và Văn hóa, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Quỳnh - Chính trị và Văn hóa
Tác giả: Trần Viết Nghĩa
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2015
11. Phạm Thế Ngũ (1965), Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên, Tập 3, Nxb Quốc học tùng thư Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên
Tác giả: Phạm Thế Ngũ
Nhà XB: Nxb Quốc học tùng thư
Năm: 1965
12. Vũ Ngọc Phan (2008), Nhà văn hiện đại, tập 1, Nxb Văn học, Hội nghiên cứu giảng dạy Văn học Thành phố Hồ Chì Minh, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn hiện đại, tập 1
Tác giả: Vũ Ngọc Phan
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2008
13. Phạm Quỳnh (1992), Tuyển tập và di cảo, Nxb, An Tiêm, Paris 14. Phạm Quỳnh (1997), Hành trình nhật ký, Nxb Ý Việt, Paris Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập và di cảo
Tác giả: Phạm Quỳnh
Nhà XB: Nxb An Tiêm
Năm: 1992
15. Phạm Quỳnh (2006), Thượng Chi Văn tập (5 tập in chung), Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thượng Chi Văn tập
Tác giả: Phạm Quỳnh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2006
16. Phạm Quỳnh (2004), Luận giải văn học và triết học, Nxb Văn hoá Thông tin, Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận giải văn học và triết học
Tác giả: Phạm Quỳnh
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 2004
17. Phạm Quỳnh (2013), Tuyển tập du ký, Nxb Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập du ký
Tác giả: Phạm Quỳnh
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2013
18. Phạm Văn Sơn (1951), Việt Nam tranh đấu sử (lược khảo), Nxb Vũ Hùng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam tranh đấu sử (lược khảo)
Tác giả: Phạm Văn Sơn
Nhà XB: Nxb Vũ Hùng
Năm: 1951
19. Trịnh Văn Thảo (2013), Ba thế hệ trì thức người Việt (1862-1954), Lê Thị Kim Tân dịch, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ba thế hệ trì thức người Việt (1862-1954)
Tác giả: Trịnh Văn Thảo
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2013
20. Nguyễn Văn Trung (1975), Chủ đích Nam Phong, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ đích Nam Phong
Tác giả: Nguyễn Văn Trung
Năm: 1975
21. Nguyễn Văn Trung (1975), Trường hợp Phạm Quỳnh, Nxb Nam Sơn, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường hợp Phạm Quỳnh
Tác giả: Nguyễn Văn Trung
Nhà XB: Nxb Nam Sơn
Năm: 1975
22. Hoàng Đạo Thuý (2000), Phố phường Hà Nội xưa, Nxb Văn hoá thông tin, Hà NộiA.II. CÁC BÀI NGHIÊN CỨU Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phố phường Hà Nội xưa
Tác giả: Hoàng Đạo Thuý
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 2000
4. Nguyễn Công Hoan (1971), Đời viết văn của tôi, Nxb Văn học, Hà Nội 5. Nguyễn Văn Khoan (2011), Phạm Quỳnh – một góc nhìn, Tập 1, (Biên khảo), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Mô hình khảo sát dữ liệu tiếng Việt về Phạm Quỳnh trên - (LUẬN văn THẠC sĩ) nhân vật chính trị phạm quỳnh mâu thuẫn trong thống nhất
Hình 1 Mô hình khảo sát dữ liệu tiếng Việt về Phạm Quỳnh trên (Trang 73)
Hình 2: Các nội dung được thảo luận liên quan đến Phạm Quỳnh trên - (LUẬN văn THẠC sĩ) nhân vật chính trị phạm quỳnh mâu thuẫn trong thống nhất
Hình 2 Các nội dung được thảo luận liên quan đến Phạm Quỳnh trên (Trang 74)
Hình 3: Biểu đồ diễn biến thảo luận về Phạm Quỳnh trên Internet - (LUẬN văn THẠC sĩ) nhân vật chính trị phạm quỳnh mâu thuẫn trong thống nhất
Hình 3 Biểu đồ diễn biến thảo luận về Phạm Quỳnh trên Internet (Trang 75)
Hình 4: Sắc thái thảo luận về Phạm Quỳnh trên mạng Internet - (LUẬN văn THẠC sĩ) nhân vật chính trị phạm quỳnh mâu thuẫn trong thống nhất
Hình 4 Sắc thái thảo luận về Phạm Quỳnh trên mạng Internet (Trang 78)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w