Macroderma gigas là loài dơi lớn nhất trong họ dơi ma, chúng phân bố ở úc và một số địa danh khác thuộc châu Đại Dương.. Các gidng trong gho doi ma duge phan biệt với nhau bởi kích cỡ, c
Trang 1112 Đặng Huy Huỳnh và cộng sự
Dơïi ăn mật hoa lớn - Macroglossus sobrinus
IV.3.2 Ho Doi ma - Megadermatidae
Họ đơi này hiện có 4 giống, 5 loài phân bố ở châu Phi, Nam Trung
á và Đông Nam Á, miền Đông Án Độ và úc
Những loài dơi ma đều có kích cỡ lớn: chiều dài đầu và thân
trong khoảng 65-140 mm, không có phần đuôi ngoài, chiều dài
cang tay trong khoang 50-115mm Macroderma gigas là loài dơi lớn nhất trong họ dơi ma, chúng phân bố ở úc và một số địa danh khác thuộc châu Đại Dương Hai loa tai nối liền nhau qua đỉnh đầu, mấu tai xẻ thùy, lá mũi dài và dựng đứng Các gidng trong gho doi ma duge phan biệt với nhau bởi kích cỡ, các đặc điểm của
răng và sọ
Không có răng cửa ở hàm trên Răng nanh hàm trên ken xít với các răng khác, có một mấu thứ cấp lớn Công thức răng của các phân giông Ä⁄egaderma và Lyroderma thuộc giỗng Megaderma là:
¡ cTphŠm5x2= 28
Trang 2124 Đăng Huy Huỳnh và cộng sự
mềm và tơi mựơt như len Nhìn tổng thê, bộ lông của Dơi lá péc xôn có màu nâu hạt đẻ, nhạt màu hơn so với loài R /uctus va sim hon so voi loai R trifoliatus Mang canh va mang đuôi của loài nay cling sim mau hon so véi loai R trifoliatus Tuy nhién, Doi lá péc xôn có đặc điểm phân biệt với loai R trifoliatus bởi cạnh sau của màng gian đùi có lông che phủ (loài Ẩ ywananensis cũng có đặc điểm này) Loa tai nhỏ hơn loài R luctus nhưng có hình đạng
và kích thước tương tự như loài X /rÿoiiatus Lá mũi sau tương đổi cao với hai cạnh bên thon dẫn tạo thành dạng tam giác Môi dưới có một rãnh dọc ở chính giữa Đuôi đài khoảng 15,7-29,0mm Ngón tay thứ ba ngắn nhất, chỉ dài khoảng 32,7-38,8mm; ngón tay thứ tư đài khoảng 37,8-42,6m trong khi ngón tay thứ năm dài
khoảng 38,5-44,3mm
So của Dơi lá péc xôn nhỏ hơn hắn so với loài R yunanensis với chiều dài nền sọ trong khoảng 20,2-21,6mm Một trong những đặc điểm phân biệt sọ của hai loài doi này là: hỗ mũi của Dơi lá péc xôn nông và hẹp hơn
Sọ của Dơi lá péc xôn có cấu trúc vững chắc với phần sọ não ngắn và rộng Xương gò má to với phân phình gò má lớn hơn hẳn so với chiều ngang của phần sọ não Mào xương trên
đỉnh sọ cao, có những trường hợp rất cao Các thủy sau ô mắt
phát triển mạnh Các nếp nhăn lót vòm miệng tương đối dài, chiếm khoảng 32-37% của hàng răng Răng nanh trên không
to khoẻ nhưng răng trước hàm trên cuỗi cùng có kích cỡ rat
lớn Răng trước hàm trên thứ nhất không phát triển, có mẫu
răng nhỏ và thường đứng trong hàng răng, có một số trường
hợp hơi nhô ra khỏi hàng răng Răng trước hàm trên thứ hai
kém phát triển, có thể rất nhỏ hoặc tiêu giảm hoàn toàn Răng trước hàm dưới thứ nhất và thứ ba tiếp xúc nhau
Xương ngọc hành của Dơi lá péc xôn tương đối nhỏ và có hình dạng rất đặc biệt Phần gốc lớn, có chiều rộng và chiều cao tương đương nhau Mặt dưới của phần gốc xương ngọc hành có dạng tam
giác với một răng sau ở giữa Mẫu nỗi ở mặt lưng của phần gốc rat
cao va tac biét hoàn toàn với các phần khác Mặt bụng của phan gốc có một hõm rộng ở giữa Nhìn từ mặt lưng, phần ngọn của xương ngọc hành có đỉnh uốn tròn nhưng nhìn từ mặt bên thì chúng trông có dạng nhiều vết rạn
Trang 3Chương IV Bộ dơi- Chiưoplera 125
Về mặt hình thái, Dơi lá péc xôn có nhiều đặc điểm giống với loài Ẩ yunanensis nhưng chúng co những đặc điểm chỉ tiết rất khác nhau Việc phân biệt hai loài này thường dựa vào kích thước của sọ và các bộ phận khác Một trong những đặc điểm
dễ phân biệt loài Ñ yunanensis với các loài dơi khác trong
cùng giông có kích thước tương tự là chúng chỉ có một rãnh ở
phần dưới cằm và mặt cất của sella không có dạng hình chữ nhật rõ như một số loài khác Năm 1990, một công trình nghiên cứu ở Thái Lan đã cho thay: R yunanensis va R
pearsoni khác nhau hoàn toàn về mặt hình thái, đặc điểm cấu trúc của sọ và kích thước răng của chúng
Đơi lá péc xôn thường được ghi nhận ở các vùng núi cao trong các sinh cảnh thuộc các đai độ cao khác nhau Một công trình nghiên cứu ở Ấn Độ đã ghi nhận được Dơi lá péc xôn trong các sinh cảnh thuộc độ cao 610-1.846m (Csorba
và cộng sự, 2003) Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu ở Nepal đã ghi nhận được ở độ cao 3.384m (Bates va Harrison, 1997) và ở Trung Quốc thuộc độ cao 3.077m (Alien, 1938) Loài dơi này thường sinh sống trong các hang động thuộc khu vực núi đá vôi Đáng chú ý là Dơi lá péc xôn có tập tính ngủ đông (Csorba và cộng sự, 2003) Chúng sống đơn lẻ
hoạc theo đàn động tới khoảng 35-50 cá thể Thức ăn của Doi lá péc xôn gồm nhiều loài động vật cỡ nhỏ; trong đó có
những loài cá như cá rô, cá cờ (Robinson và cộng sự, 1995) ở Thái Lan, loài đơi này sinh con non vào khoảng cuỗi tháng 5 và đầu tháng 6 (Robinson và cộng sự, 1995) Cho đến nay, đó cũng là dẫn liệu duy nhất về đặc điểm sinh sản của Dơi lá péc xôn
Phan bé:
= Viét Nam: Nhiéu két quả đã công bố trước đây cho thây: Dơi
lá péc xôn phân bố rộng khắp các tỉnh miền Bắc và miền Trung của nước ta Tuy nhiên, phần lớn các kết quả đó đang được kiểm định lại nên phạm vi của loài này hiện chỉ được khẳng
định trong các sinh cảnh núi đá vôi
“ _ Thế giới: từ Bắc Ấn Độ tới Đông Nam Trung Hoa và Thái Lan
Trang 4126 Đặng Huy Huỳnh và cộng sự
Dơi lá péc xôn - Rhinolophus pearsoni
16 Dơi lá mũi phẳng - Rhinolophus malayanus Bonhote, 1903
Rhinolophus malayanus Bonhote, 1903: 15; Biserat, Patani, Thailand
Đặc điểm:
Dơi lá mũi phẳng là mọtt trong những loài đơi có kích
cỡ nhỏ so với các loài trong cùng giong với chiều cao loa tai trong khoảng 12,7-22,0mm Lá mũi trước rộng, thường che phủ hoàn toàn phần mõm, có chiều rộng trong khoảng 6,6-9,0mm Phần dưới lá móng ngựa có các thùy bên phát
triển Sella có hai cạnh bên song song với nhau, đỉnh uốn
tròn Lá mũi sau có hai bên bên song song hoặc hơi cong, thường có đỉnh kéo dài Phần dưới cằm có 3 rãnh đọc Chiều dài đuôi trong khoảng 17,6-26,3mm Các ngón tay
có chiều đài tương đương nhau Lông phần lưng thường có màu vàng chanh hoạc nâu với phần gốc của các sợi lông thường nhạt màu hơn các phần còn lại Lông mặt bụng có màu tương phản với phần lưng, thường có màu da bò hoặc xám trắng
Trang 5Chuong IV B6 doi- Chiroptera 127
Sọ của Dơi lá mũi mặt phẳng có cấu trúc chắc chắn; chiều rộng gò má luôn lớn hơn chiều rộng của phần sọ não Mào xương đỉnh sọ kém phát triển nhưng hõm trước sọ tương đỗi đài nhưng nông Những nếp nhăn của lớp niêm mạc ngắn, chỉ dài bằng khoảng 27-30% của hàng răng
Hình thái ngoài của Dơi lá mũi phẳng rất khó phân biệt với
nhiều loài dơi lá mũi có cùng kích cỡ như # stheno, R
borneensis, R stheno Có những tác giả căn cứ vào tỷ lệ giữa ngón tay thứ hai và thứ ba để phân biệt Dơi lá mũi phẳng với các loài nêu trén (Lekagul va McNeely, 1997) Tuy nhiên, một số công trình nghiên cứu khác cho thấy: tỷ lệ giữa các ngón tay nêu trên không thể hiện rõ tính đặc trưng của loài nên đó không phải là đặc điểm nhận diện của Dơi lá mũi phang (McFarlane va Blood, 1986) Tuy nhiên, có thể phân loại các loài dơi nêi trên căn cứ vào hình dạng của phần mũi
và các hõm trên đó (Corbet và HilI, 1992)
Một công trình nghiên cứu ở một số địa danh thuộc vùng Đông Bắc Thái Lan đã ghi nhận được một số quần thể của loài đơi này cới số lượng khoảng cá thé trong khoảng 100- 400 (Robinson va Smith, 1997) Tuy nhiên, có những ghi nhận về những quần thể của Dơi lá mũi phẳng với số lượng, lên tới khaỏng 3000 Những ghỉ nhận ở Lào, Việt Nam, Miễn Điện cho thấy: Dơi lá mũi phẳng là loài rộng sinh cảnh; chúng đã được ghi nhận ở cả khu vực miền núi và đồng bằng, cá ở khu vực núi đá vôi, núi đất và khu đất canh tác nông nghiệp Phân bế:
" _ Việt Nam: Theo kết quả của nhiều công trình nghiên trước đây cho thấy Dơi lá mũi phẳng phân bố rộng khắp cả nước Tuy nhiên, kết quả của các công trình nghiên cứu đó
cần được kiểm định lại vi loai doi này rất đễ bị nhằm lẫn với các loài đơi cùng kích cỡ nêu trên Gần đây, Dơi lá
mũi phẳng đã được ghỉ nhận ở Vườn Quốc gia Phong Nha-
Kẻ Bàng (Borissenko và Kruskop, 2003)
"_ Thế giới: Miến Điện, Lào, Thái Lan và Malaysia.
Trang 6128 Đặng Huy Hưỳnh và cộng sự
Dơi lá mũi phẳng - Rhinolophus malayanus
17 Doi 14 dudi - Rhinolophus affinis Horsfield, 1823
Rhinolophus affinis Horsfield, 1823: pt 6, pl figs a, b.; Java Dic diém:
Lông đồng màu, thuộc đải màu từ nâu da bò tới da cam;
HB: 46,0-68,0 mm; HF: 11,0-13,0 mm; màng cánh màu nâu sẫm Các mẫu ghi nhận được trong quá trình điều tra có lông mặt lưng màu nâu sim ở phần ngọn sợi lông và nhạt màu hơn ở phần gôc lông; lông mặt bụng màu vàng kem hoặc nâu nhạt;
HB : 48,0-85,5 mm; HF: 9,9-12,3 mm; màng cánh thuộc dải màu từ nâu đến đen
Loài dơi này phân bố rộng khắp cả nước (cả đồng bằng và miền núi) Kết quả điều tra của chúng tôi ở hầu hết các khu vực khác của Việt Nam đều có ghi nhận vệ loài này Doi lá đuôi phân bố ở cả miễn núi và đồng bằng; có thể trú ngụ trong các hang động, đường hầm, tòa nhà cũ hay dưới tán cây
Trang 7Chương iV Bé doi- Chiroptera 129
Hién chua cé céng trinh nao nghiên cứu về thời gian hoạt động của loài đơi này trong mỗi đêm Những kết quả điều tra
về doi lá đuôi ở Việt Nam cho thấy: chúng thường hoạt động muộn hơn một số loài khác (khoảng 19h30 tối hôm trước tới 6h sáng hôm sau) Chúng thường bay kiếm ăn cách mặt đất khoảng 4- 6m Trong khi bay kiếm ăn, chúng có khả năng cắt
dấu con mỗi vào màng cánh để tiếp tục tìm săn các con mỗi tiếp theo Dơi lá đuôi có tập tính tha mỗi về nơi ở để ăn Loài
đơi này cũng có tập tính trú đông, chúng có khả năng nhận biết
sự thay đổi nhiệt độ rất nhanh và có thể di chuyển tới 1.500km hoặc xa hơn để tìm nơi ở mới, tránh rét suốt mùa đông
Thức ăn của đơi lá đuôi là côn trùng (Insecta) va nhén (Arachnida) Chua cé công trình khoa học nào nghiên cứu về khối lượng, tỷ lệ, thành phân thức ăn của loài doi này
Chưa có công trình nào nghiên cứu riêng về đặc điểm của dơi lá đuôi nhưng theo kết quả của một số công trình nghiên cứu trước đây thì các loài thuộc giống đơi lá mũi (Rhinolophus) thường có thời kỳ ghép đôi từ tháng 2 đến tháng 4; thời gian mang thai khoảng 7 tuần; thời kỳ đẻ con non vào cuối mùa xuân (khoảng từ tháng 4 đến tháng 5); mỗi lứa đẻ 1 con; các con non thường thành thục sinh dục trong khoảng 2
năm tuổi Tuổi thọ trung bình của dơi lá đuôi hiếm khi Vượt
quá 7 năm
Doi lá đuôi sinh sống theo đàn, mỗi đàn có từ hàng trăm đến
hàng ngàn cá thể Đã có những đàn dơi lá đuôi được xác định với
số lượng lên tới 2.000 cá thẻ
Phân bố:
“ Việt Nam: Lào Cai (thị xã, Sa Pa), Lạng Sơn, Ninh Bình (Cúc Phương), Lâm Đồng (Dà Lat), Thanh Héa (Bén En), Nghệ An (Pù Hoạt, Pù Mat), Bắc Kạn (Kim Hỷ), Yên Bái (Mù Cang Chải), Lâm Đằng (Đà Lạt) và nhiều tỉnh/thành phố trong cả nước
" Thế giới: từ Bắc Ấn Độ tới Nam Trung Hoa và Đông Dương, Malay Peninsula, Sumatra, Java, đảo Kangean, Borneo va Flores
Trang 8130 Đặng Huy Huỳnh và cộng sự
Dơi lá đuôi - Rhinolophus affinis
18 Dơi lá lepidut - Rhinolophus lepidus Blyth, 1844
Rhinolophus lepidus Blyth, 1844: 486; Calcutta, India
Tên đồng nghia (Synonym): Rhinolophus feae Andersen,
1907
Đặc điểm:
Lông thuộc dải màu từ nâu xám đến xám nhạt (không mô tả mầu của sợi lông); cánh ngắn, mỏng, có thể nhìn qua màng cánh (không mô tả mâu của màng cánh);
HB: 35,0-54,0mm; T: 14,0-28,0mm; E: 14,5 -20,6mm
Các, cá thể thu được có mẫu lông giống như các mô tả trước, trên mỗi sợi lông thường có mầu xám ở phía gốc và nâu sim dan
vé phia ngọn; màng cánh đồng mẫu nâu, không có lông và ni liền với ngón chân cái;
HB: 30,0-40,8 mm; T: 16,5-28,7 mm; E: 17,8-21,7 mm
Phân bố:
" _ Việt Nam: Nghệ An (Pù Hoạt), Thừa Thiên-Huế (Bạch Mã) và Lào Cai (Hoàng Liên Sơn)
Trang 9Chương IV 86 doi- Chiroptera 131
"Thế giới: Afganistan ấn Độ, Bắc Trung Quốc, Malay Peninsula và Sumatra
Dơi lá lepidut - Rhinolophus lepidus
19 Doi lá tai dai - Rhinolophus macrotis Blyth, 1844
Rhinolophus macrotis Blyth, 1844: 485; Nepal
Tên đồng nghĩa (Synonym): R hirsutus Andersen, 1905;
R episcopus Allen, 1923
Đặc điểm:
Lông mặt lưng mầu nâu nhạt hoặc nâu da bò, lông mặt bụng mau nâu da bò nhưng nhạt mầu hơn mặt lưng; chưa có mô tả về màng cánh và màng gian đùi;
HB : 38,0-48,7 mm; T: 14,0-26,2 mm;
HF : 7,5-9,2 mm; FA: 36,0-46,0 mm
Cac mau thu được ở Việt Nam có bộ lông đồng mẫu nâu nhạt (trên mỗi sợi lông có gốc lông nhạt màu hơn phan ngon); mang cánh mẫu nâu, không có lông che phủ; màng gian đùi cũng có mâu nâu nhưng có lông mọc lưa thưa ở phần tiếp giáp với nửa gốc đuôi;
Trang 10132 Đặng Huy Huỳnh và cộng sự
HB: 65,0-69,0 mm; T: 21,0-24,0 mm;
HF: 7,0-9,0 mm; FA : 41,0-42,0 mm
Phân bố:
" Việt Nam: Tuyên Quang, Lào Cai, Nam Hà, Nghệ An
(Pù Mát) và Thừa Thiên-Huế (Bạch Mã)
" Thế giới: Nepal, Nam Trung Hoa, Đông Dương, Thái Lan, Philippine, Indonesia, ấn Độ và Pakistan
Doi lá tai dài - Rhinolophus macrotis
20 Đơi lá muỗi - Rhinolophus pusillus Temminck, 1834
Rhinolophus pusillus Temminck, 1834: 29, pl 1, fig 9;Java Tên đồng nghĩa (Synonym): Rhinolophus blythi Andersen,
1918
minor Horsfield, 1823
minutus Miller, 1900
minutillus Miller, 1906
gracilis Andersen, 1918
pagi Tate & Archbold, 1939