Vì vậy tôi đã quyết định chọn vấn đề “Khả năng đáp ứng yêu cầu nghề thông tin - thư viện của sinh viên được đào tạo tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nộ
Trang 1KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU NGHỀ THÔNG TIN-THƯ VIỆN CỦA SINH VIÊN ĐƯỢC ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Chuyên ngành Khoa học Thư viện
Mã số: 603220
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Quý
Hà Nội – 2011
Trang 2MỞ ĐẦU 8
1 Tính cấp thiết của đề tài 8
2 Tình hình nghiên cứu 10
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 12
4 Giả thuyết nghiên cứu 12
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13
5.1 Đối tượng nghiên cứu 13
5.2 Phạm vi nghiên cứu 13
6 Phương pháp nghiên cứu 14
7 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài 15
7.1 Ý nghĩa lý luận 15
7.2 Ý nghĩa thực tiễn 15
8 Dự kiến kết quả nghiên cứu 15
NỘI DUNG: 17
Chương 1: KHOA THÔNG TIN - THƯ VIỆN VỚI SỰ NGHIỆP ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN 17
1.1 Khái quát về Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn 17
1.1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của Trường 17
1.1.2 Cơ cấu tổ chức của Trường 18
Trang 31.2.1 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của Khoa 22
1.2.2 Chức năng và nhiệm vụ của Khoa 22
1.2.3 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ của Khoa 23
1.2.4 Điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo của Khoa 23
1.3 Những khái niệm cơ bản và tầm quan trọng của chất lượng đào tạo nguồn nhân lực thông tin - thư viện 26
1.3.1 Khái niệm nguồn nhân lực và nguồn nhân lực Thông tin - Thư viện 26
1.3.2 Khái niệm phát triển nguồn nhân lực 27
1.3.3 Khái niệm khả năng đáp ứng 28
1.3.4 Khái niệm yêu cầu nghề nghiệp 29
1.3.5 Khái niệm chất lượng và chất lượng đào tạo nhân lực 29
1.3.6 Vai trò của chất lượng đào tạo nguồn nhân lực thông tin - thư viện 30
Chương 2: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ THÔNG TIN - THƯ VIỆN ĐÃ TỪNG LÀ SV ĐƯỢC ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN 34
2.1 Số lượng và chất lượng sinh viên được đào tạo tại Trường từ năm 1996 tới nay 34
2.1.1 Số lượng sinh viên được đào tạo tại Trường từ năm 1996 tới nay 34
Trang 4quan thông tin - thư viện sau khi ra trường 39
2.2.1 Cơ cấu độ tuổi của đội ngũ cán bộ 39
2.2.2 Trình độ của đội ngũ cán bộ 41
2.2.3 Điều kiện làm việc của đội ngũ cán bộ 43
2.2.4 Điều kiện sống của đội ngũ cán bộ 48
2.3 Mức độ đáp ứng yêu cầu thực tế tại các cơ quan thông tin - thư viện 50
2.3.1 Mức độ đáp ứng yêu cầu về nghiệp vụ 50
2.3.2 Mức độ đáp ứng yêu cầu về ngoại ngữ 51
2.3.3 Mức độ đáp ứng yêu cầu về công nghệ thông tin 53
2.3.4 Nhận thức về nghề nghiệp của cán bộ 53
2.4 Một số nhận xét và đánh giá 56
2.4.1 Những ưu điểm 56
2.4.2 Những hạn chế 58
2.4.3 Nguyên nhân 60
Chương 3: YÊU CẦU CỦA NGHỀ THÔNG TIN - THƯ VIỆN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG ĐÁP ỨNG CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ ĐƯỢC ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN 61
3.1 Yêu cầu của nghề thông tin - thư viện nói chung và ở Việt Nam nói riêng 61
Trang 53.1.2 Yêu cầu của nghề thông tin - thư viện ở Việt Nam
hiện nay 62
3.2 Một số giải pháp nâng cao khả năng đáp ứng yêu cầu
của nghề thông tin - thư viện 64
3.2.1 Nhóm giải pháp đối với Khoa Thông tin - Thư viện 64 3.2.2 Nhóm kiến nghị giải pháp cho các cơ quan và các
cán bộ thông tin - thư viện 75
KẾT LUẬN 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83 PHỤ LỤC
Trang 6CB Cán bộ CNH - HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
Trang 72 Danh mục các biểu đồ và sơ đồ
Biểu đồ 2.1: Thể hiện độ tuổi và giới tính 40
Biểu đồ 2.3: Thể hiện trình độ học vấn của CB 42
Biểu đồ 2.5: Những thuận lợi và khó khăn về kiến thức chuyên môn 43 Biểu đồ 2.6: Những thuận lợi và khó khăn về công cụ làm việc 44 Biểu đồ 2.7: Những thuận lợi và khó khăn về yêu cầu công việc 44 Biểu đồ 2.8: Những thuận lợi và khó khăn về thời gian làm việc 45
Biểu đồ 2.10: Điều kiện học tập nâng cao trình độ 46 Biều đồ 2.11: Sự giúp đỡ của đồng nghiệp và lãnh đạo 47
Trang 8Biểu đồ 2.13: Thuận lợi và khó khăn trong thu nhập 49 Biểu đồ 2.14: Ý kiến về mức thu nhập tối thiểu 49 Biểu đồ 2.15: Công việc đang đảm nhận chính và mức độ đáp ứng 50
Biểu đồ 2.17: Mức độ sử dụng ngoại ngữ của CB 52
Biểu đồ 2.19: Nhận thức nghề nghiệp của CB 53 Biểu đồ 2.20: Thể hiện sự đánh giá về nghề nghiệp 55 Biểu đồ 2.21: Nguyên nhân đánh giá chưa đúng về ngành TT-TV 55 Biều đồ 3.1: Đánh giá sự phân bổ lý thuyết và thực hành 66 Biểu đồ 3.2: Đánh giá sự phân bổ thời lượng kiến thức cơ sở
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong các hoạt động của xã hội, nguồn nhân lực (NL) luôn nắm giữ vai trò quan trọng, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của một tổ chức Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa (CNH - HĐH), vấn đề phát triển nguồn NL cần phù hợp với các yêu cầu thực tế và công tác tổ chức cán bộ (CB) luôn phải đi trước một bước Trong Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX đã khẳng định: “Nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững - con người và nguồn NL là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước thời
kỳ CNH - HĐH đất nước”.[3, tr 112]
Nguồn NL là một trong những yếu tố quan trọng đặc biệt, có được nguồn NL tốt mới có thể thay đổi cơ chế, nhanh chóng thích ứng, nắm bắt cơ hội và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác Trong Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định phát triển nâng cao chất lượng nguồn NL là một trong các nhiệm vụ chủ yếu của đất nước Trong mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước 5 năm 2011 -
2015, phấn đấu đạt được mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn NL đáp ứng yêu cầu của công cuộc CNH - HĐH, hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước
Ngày nay, với sự phát triển không ngừng của khoa học công nghệ, đặc biệt là sự bùng nổ công nghệ thông tin (CNTT), đã dẫn đến yêu cầu của các hoạt động thu thập, xử lý, truyền tải, lưu trữ thông tin ngày càng cao Hoạt động thông tin có những tác động lớn tới nhiều ngành nghề trong xã hội Trong đó không thể không nói đến ngành
Trang 10thông tin - thư viện (TT-TV), bởi hoạt động của ngành TT-TV là một trong những hoạt động quan trọng mang tính khoa học, không chỉ đơn thuần là hoạt động quản lý tài liệu, quản lý thông tin mà chính là hoạt động quản lý tri thức mang sứ mệnh làm thay đổi bộ mặt của một xã hội hiện đại
Những thay đổi đã và đang xuất hiện trong thực tế, cụ thể tại các
cơ quan TT-TV đặt ra những yêu cầu mới đối với CB TT-TV cần có vai trò chủ động là người cung cấp thông tin, hợp tác với người sử dụng thông tin để bổ sung nền tri thức và phục vụ lợi ích của xã hội
Để thực hiện được điều này cần đòi hỏi những năng lực, trình độ cụ thể của mỗi CB TT-TV Từ những đòi hỏi trên chúng ta nhận thấy có nhiều yếu tố phụ thuộc chính về mặt chất lượng ĐT, do đó công tác
ĐT nguồn NL TT-TV nhằm đáp ứng yêu cầu nghề là thực sự cần thiết
và cấp bách
Với vai trò và nhiệm vụ trong ngành giáo dục cụ thể là nhiệm vụ đáp ứng kịp thời nhu cầu về nguồn NL TT-TV của xã hội Hiện nay, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHKHXH&NV), Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) được đánh giá là một đơn vị lớn trong ĐT ngành TT-TV tại Việt Nam Với bề dày trên 30 năm xây dựng và phát triển, khoa TT-TV của nhà trường đã có những sách lược, chiến lược về ĐT nguồn NL để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn nghề nghiệp ở mỗi giai đoạn khác nhau của xã hội
Tuy nhiên, hiện nay dưới tác động mạnh mẽ của sự phát triển CNTT và viễn thông, ngành TT-TV đã và đang có nhiều biến đổi về chất Để có cơ sở khoa học nhằm đưa ra các giải pháp mang tính khả thi trong việc đảm bảo chất lượng ĐT đáp ứng tốt nhu cầu xã hội,
Trang 11việc nghiên cứu khả năng đáp ứng yêu cầu nghề TT-TV của đội ngũ
CB đã được ĐT tại Khoa TT-TV Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQGHN là điều hết sức cần thiết Vì vậy tôi đã quyết định chọn
vấn đề “Khả năng đáp ứng yêu cầu nghề thông tin - thư viện của sinh viên được đào tạo tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu cho
luận văn tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu chất lượng ĐT nguồn NL TT-TV đã có nhiều công trình được công bố trong các tạp chí chuyên ngành khác nhau hay tại các cuộc hội thảo khoa học được tổ chức tại các cơ sở ĐT hay các luận văn đã bảo vệ, cụ thể như:
Đề tài nghiên cứu cấp bộ “Mô hình và giải pháp đào tạo nguồn nhân lực thư viện - thông tin ở Việt Nam trong điều kiện xã hội thông tin hiện đại” do do ThS Nguyễn Tiến Hiển, Chủ nhiệm Khoa Thư
viện-Thông tin, Trường đại học Văn hoá Hà Nội làm chủ nhiệm đề tài
Bài của tác giả Trần Thị Quý với nhan đề “Đào tạo nguồn nhân lực ngành thông tin - thư viện ở Việt Nam - 50 năm nhìn lại” đăng trong Tạp chí Thư viện số 3/2006; Bài viết với nhan đề “Đào tạo cán
bộ thư viện: Thực trạng và giải pháp” của tác giả Trương Đại Lượng,
Chu Vân Khánh, đăng trong Tạp chí Thư viện số 6 tháng 11/2010…
Hội thảo “Chất lượng đào tạo ngành thông tin - thư viện, những đánh giá từ nhà tuyển dụng” tổ chức năm 2006 tại Trường Đại học KHXH&NV; Hội thảo “Nguồn nhân lực ngành thông tin - thư viện ở việt Nam trước yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước” diễn ra ngày 24/4/2009 tại Trường Đại học KHXH&NV
Trang 12Đề tài khóa luận “Kiến thức thông tin và công tác đào tạo nhân lực ngành thông tin - thư viện tại Việt Nam” của tác giả Đặng Thị Tuyết Mai, năm 2006; Đề tài “Nghiên cứu nguồn nhân lực thông tin - thư viện tại một số trung tâm TT-TV trường đại học trên địa bàn Hà Nội” của tác giả Bùi Thị Phương Anh, năm 2009;
Luận văn thạc sĩ “Phát triển nguồn nhân lực thông tin - thư viện của mạng lưới các trường đại học tại Hà Nội” Nguyễn Thanh Trà,
năm 2010
Như vậy yêu cầu của nghề TT-TV và khả năng đáp ứng của sinh viên (SV) tại các cơ sở ĐT được đặt ra là vấn đề trọng tâm, đã có rất nhiều các hội thảo, thảo luận, chuyên đề, khóa luận… về vấn đề này Nội dung về yêu cầu nghề TT-TV tại các hội thảo với nhiều bài tham luận đã chỉ ra được những yêu cầu cơ bản của nghề TT-TV hiện nay
cũng như các giải pháp cần tìm ra để đáp ứng chúng
Tuy nhiên nội dung về khả năng đáp ứng yêu cầu nghề TT-TV hiện nay của CB đang công tác tại các cơ quan TT-TV ở Hà Nội đã được ĐT tại Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQGHN thì hầu như chưa
có công trình nghiên cứu nào
Vì vậy đề tài “Khả năng đáp ứng yêu cầu nghề thông tin - thư viện của sinh viên được đào tạo tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội” là đề tài hoàn toàn mới,
chưa có một công trình nghiên cứu nào
Trang 133 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích Trên cơ sở kết quả nghiên cứu thực trạng đội ngũ CB đã từng được ĐT ngành TT-TV tại Trường đại học KHXH&NV đang công tác tại cơ quan TT-TV trên địa bàn Hà Nội, tác giả mong muốn đưa ra kiến nghị và đề xuất được một số giải pháp mang tính khoa học và khả thi nhằm nâng cao chất lượng ĐT và khả năng đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp trong giai đoạn hiện nay khi CNTT và viễn thông đang tác động mạnh mẽ, làm biến đổi về chất hoạt động TT-TV
Nhiệm vụ
- Nghiên cứu khái quát lịch sử hình thành, phát triển và chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Khoa TT-TV và Trường Đại học KHXH&NV
- Khảo sát (KS) hiện trạng trình đội ngũ CB đã được ĐT ngành TT-TV tại Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQGHN từ năm 1996 tới nay và đang công tác tại các cơ quan TT-TV trên địa bàn Hà Nội
- Nghiên cứu các xu hướng và yêu cầu nghề TT-TV trong xã hội hiện đại để từ đó đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng ĐT nguồn NL TT-TV tại Trường Đại học KHXH&NV nói riêng
và cả nước nói chung
4 Giả thuyết nghiên cứu
Giải pháp nâng cao khả năng đáp ứng yêu cầu nghề TT -TV của
SV được ĐT tại Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQGHN sẽ phụ thuộc
vào các yêu cầu của xã hội hiện đại và tại Việt Nam Đồng thời cũng
Trang 14phụ thuộc vào tình hình ĐT nguồn NL TT-TV thực tế của Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQGHN
5 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu Đội ngũ CB đã được ĐT ngành TT-TV tại Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQGHN hiện đang công tác tại các cơ quan TT-TV trên địa bàn Hà Nội
5.2 Phạm vi nghiên cứu + Phạm vi thời gian
- KS thực trạng đội ngũ CB được ĐT ngành TT-TV đã được ĐT
từ năm 1996 tới nay tại Trường Đại học KHXH & NV ĐHQGHN đang công tác tại các đơn vị TT-TV tại Hà Nội
+ Phạm vi không gian
- Các cơ quan TT-TV gửi phiếu KS là nơi có CB đã từng là SV của Khoa TT-TV, Trường Đại học KHXH&NV trên địa bàn Hà Nội như: + Thư viện Quốc gia Việt Nam
+ Thư viện Hà Nội
+ Thư viện của Viện nghiên cứu Hán Nôm + Thư viện của Viện Nhiệt đới Việt Nga + Thư viện của Trung tâm Khoa học Công nghệ Quốc gia + Thư viện của Viện Khoa học Xã hội
+ Thư viện của Trung tâm Thông tin Bộ Quốc phòng
Trang 15+ Thư viện của các trường phổ thông như: Thư viện của Trường Trung học cơ sở Phương Liệt, Trung học cơ sở Trung Tự, Trung học
cơ sở Khương Thượng
+ Thư viện của các trường đại học: Đại học Quốc gia Hà Nội, Học viện Ngân hàng, Đại học Thương Mại, Đại học Kiến trúc, Đại học Công đoàn, Đại học Lao động Xã hội, Đại học Công nghiệp, Đại học
Sư phạm, Đại học Giao thông Vận tài, Đại học Thủy lợi, Đại học Y tế Công cộng, Đại học Hà Nội, Đại học Phương Đông, Cao đẳng Giao thông Vận tải, Cao đẳng Nội vụ, Cao đẳng Sư phạm Hà Nội
Sở dĩ tác giả chọn mẫu phiếu điều tra ở các cơ quan TT-TV như trên là có tính khách quan, các cơ quan TT-TV được KS đều có CB từng là SV được ĐT tại Trường Đại học KHXH&NV và tác giả đã lựa chọn đủ các loại hình thư viện (thư viện công cộng và thư viện chuyên ngành, đa ngành) theo sự phân chia của hệ thống thư viện Việt Nam
6 Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp luận chung: Đề tài dựa trên cơ sở lý luận, quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam và văn bản pháp quy Nhà nước về nguồn NL TT-TV
+ Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong quá trình thực hiện luận văn là:
- Nghiên cứu phân tích, tổng hợp tài liệu
- Phương pháp chuyên gia
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
- Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp quan sát, điều tra thực tế
Trang 167 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài
7.1 Ý nghĩa lý luận
- Góp phần làm rõ những vấn đề lý luận về nguồn NL TT-TV và khả năng đáp ứng yêu cầu nghề TT-TV hiện nay của xã hội Việt Nam trong giai đoạn mới
8 Dự kiến kết quả nghiên cứu
- Nêu bật được hiện trạng ĐT của Khoa TT-TV và mức độ đáp ứng nghề nghiệp của SV được ĐT tại Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQGHN từ năm 1996 tới nay
- Xác định được các yêu cầu nghề TT-TV của xã hội hội hiện đại
và tại Việt Nam
- Đưa ra một số giải pháp nâng cao chất lượng ĐT nguồn NL tại Khoa TT-TV Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQGHN
Trang 179 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung của Luận văn gồm 3 chương sau:
Chương 1: Khoa Thông tin - Thư viện với sự nghiệp đào tạo của
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Chương 2: Thực trạng đội ngũ cán bộ thông tin - thư viện đã từng
là sinh viên được đào tạo tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Chương 3: Yêu cầu của nghề Thông tin - Thư viện và một số giải
pháp nâng cao khả năng đáp ứng của đội ngũ cán bộ được đào tạo tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Trang 181.1.1 Sơ lược về lịch sử hình thành và phát triển của Trường
Trường Đại học KHXH&NV thuộc ĐHQGHN, có tổ chức tiền thân là Trường Đại học Văn khoa Hà Nội (thành lập theo sắc lệnh số
45 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 10/10/1945), tiếp đó là Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (thành lập ngày 05/09/1956) Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng trong hoạt động ĐT của Trường, ngày 10/12/1993, Thủ tường Chính phủ ban hành Nghị định 97/CP thành lập ĐHQGHN, trong đó có Trường Đại học KHXH&NV chính thức được thành lập năm 1995 từ các khoa, ngành thuộc lĩnh vực khoa học xã hội của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội.[24] Một sự kiện đánh dấu mốc lịch sử cho sự phát triển tất yếu của giai đoạn hiện nay và sau này
Ra đời giữa lúc chính quyền dân chủ, nhân dân đang trong giai đoạn trứng nước, Ðại học Văn khoa thật sự là hiện thân tầm nhìn xa, trông rộng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vị trí, vai trò của khoa học xã hội và nhân văn đối với sự nghiệp kiến quốc và trong việc giữ gìn, phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc Tầm cao tư tưởng ấy của Bác
là ngọn đuốc soi đường suốt quá trình ĐT và nghiên cứu liên tục 65 năm qua từ Ðại học Văn khoa đến Ðại học Tổng hợp Hà Nội, rồi Trường Đại học KHXH&NV, ÐHQGHN ngày nay
Trang 19Trong 65 năm xây dựng và phát triển, Trường Đại học KHXH&NV luôn được coi là trung tâm ĐT và nghiên cứu về lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn lớn nhất cả nước, tập thể Nhà trường không ngừng lao động, nghiên cứu, đổi mới, sáng tạo để xứng đáng với niềm tin về sự nghiệp trồng người của cả nước
Minh chứng cho các các thành tích tiêu biểu đạt được trong lĩnh vực ĐT và nghiên cứu khoa học (NCKH) của Nhà trường với các danh hiệu cao quý được Đảng và Nhà nước trao tặng: Huân chương Lao động hạng Nhất năm 1981, Huân chương Độc lập hạng Nhất năm
2001, danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới năm 2005; 08 nhà giáo được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh và 13 nhà giáo được tặng Giải thưởng Nhà nước về khoa học, công nghệ; 25 nhà giáo được phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân và 56 nhà giáo được phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú
Trải qua nhiều thăng trầm biến động của lịch sử, Trường Đại học KHXH&NV luôn giữ vững niềm tin cậy về sự nghiệp giáo dục ĐT của nước nhà, không ngừng phát triển, xây dựng nhà trường vững mạnh xứng đáng với danh hiệu đi đầu trong cả nước về nghiên cứu và ĐT khoa học xã hội và nhân văn
1.1.2 Cơ cấu tổ chức của Trường
Với sự phát triển và lớn mạnh của Trường ĐHKHXH&NV, hiện tại, quy mô và cơ cấu ĐT của Trường như sau: ĐT đại học với 27 chương trình/18 ngành, ĐT thạc sỹ 26 chuyên ngành, ĐT tiến sĩ 28 chuyên ngành Các loại hình ĐT hệ chính quy (CQ) là 18/18, ĐT không CQ 11/18 ngành, liên kết quốc tế 06 ngành trong đó có 03 ngành đại học
Trang 20và 03 ngành sau đại học Có 16 đơn vị ĐT, 13 trung tâm nghiên cứu và
phục vụ ĐT
Tổng số 486 CB bao gồm: 135 CB hành chính và 351 giảng viên trong đó 133 Tiến sĩ và Tiến sĩ Khoa học 148 Thạc sĩ; 6 Giáo sư và 65 Phó giáo sư Ngoài đội ngũ CB giảng viên cơ hữu trên còn có 173 giảng viên thỉnh giảng
Tổng số 12.888 SV trong đó: 5.472 SV đại học hệ CQ; 4.571 SV đại học hệ không CQ; 2.122 học viên cao học; 161 nghiên cứu sinh (NCS); 562 SV nước ngoài bao gồm: 26 SV đại học; 21 học viên cao học; 8 NCS và 507 học viên học tiếng Việt
Có thể thấy quy mô ĐT và số lượng SV, học viên của Trường Đại học KHXH&NV là rất lớn, việc lãnh đạo Nhà trường phát triển với cơ cấu bộ máy tổ chức gắn kết là rất cần thiết Đảng uỷ là tổ chức đứng đầu có vai trò lãnh đạo mọi hoạt động của Nhà trường Dưới Đảng uỷ là Ban Giám hiệu, các tổ chức đoàn thể và Hội đồng Khoa học – ĐT của Trường Tiếp theo là các phòng ban, các Khoa/Bộ môn trực thuộc và các Trung tâm Dưới các Khoa/Bộ môn trực thuộc là các Công đoàn và Chi đoàn, Ban chủ nhiệm và Hội đồng Khoa học -
ĐT của các Khoa chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Chi uỷ Sau cùng là các văn phòng, các bộ môn và các phòng tư liệu
Trang 21Sơ đồ 1.1: Cơ cấu tổ chức của Trường Đại học KHXH&NV
1.1.3 Chức năng, nhiệm vụ của Trường
Trường Đại học KHXH&NV là cơ sở ĐT đại học, sau đại học
và NCKH của Đại học Quốc gia Hà Nội về một hoặc một số lĩnh vực chuyên môn, kinh tế - xã hội liên quan với nhau Trường có chức năng ĐT nguồn NL chất lượng cao ở các trình độ cao đẳng, đại học, cao học, tiến sỹ về các ngành học thuộc các lĩnh vực của mình, nghiên cứu và triển khai khoa học - công nghệ trong hệ thống chung của ĐHQGHN nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất
Trang 22nước Trường do Thủ tướng Chính phủ ra quyết định thành lập, sáp nhập, chia tách và giải thể
Thực hiện việc ĐT theo danh mục các ngành, chuyên ngành ĐT
của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, ĐT thí điểm các ngành, chuyên ngành ĐT mới chưa có trong danh mục nói trên theo các loại hình ĐT ở các bậc: Cao đẳng, Đại học, Cao học và Tiến sỹ Giám đốc ĐHQGHN quyết định các ngành, chuyên ngành ĐT, các bậc, hệ và các loại hình ĐT cụ thể cho từng trường đại học.[1] Ngoài
ra, Trường ĐHKHXH&NV còn có nhiệm vụ thực hiện các chương trình bồi dưỡng, nâng cao trình độ khoa học - công nghệ
NCKH là một trong hai nhiệm vụ chính của Trường nhằm nâng
cao chất lượng giảng dạy và học tập, góp phần giải quyết các yêu cầu của thực tiễn, thúc đẩy sự tiến bộ của khoa học - công nghệ Trường có nhiệm vụ tiến hành các nghiên cứu cơ bản và ứng dụng thuộc các lĩnh vực khoa học - công nghệ mũi nhọn, hướng vào tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận, tham gia giải quyết các vấn đề do kinh tế - xã hội đặt ra, góp phần đưa những thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến vào thực tiễn sản xuất, đời sống
Trường Đại học KHXH&NV là tổ chức có tư cách pháp nhân, có
con dấu và tài khoản riêng Được sử dụng biểu tượng, trang phục riêng của trường sau khi mẫu biểu tượng và trang phục đã được Giám đốc ĐHQGHN phê duyệt
Mục tiêu đến năm 2020, phấn đấu xây dựng Trường thành một trường đại học đứng đầu cả nước về khoa học xã hội và nhân văn ngang tầm với các đại học danh tiếng, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước Với định hướng phát triển tập trung xây dựng và phát triển một số ngành, chuyên ngành đạt trình độ quốc tế trên cơ sở quốc tế hoá các chương trình ĐT, đẩy mạnh các hoạt động học thuật và mở rộng quan hệ hợp tác với các trường đại học đẳng cấp cao ở khu vực và trên thế giới
Trang 231.2 KHÁI QUÁT VỀ KHOA THÔNG TIN - THƢ VIỆN 1.2.1 Sơ lƣợc về lịch sử hình thành và phát triển của Khoa
Với sứ mệnh hình thành và phát triển của mình, từ năm 1973, ngành TT-TV đã được ĐT tại Khoa Lịch sử của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội Phát huy vai trò ĐT của ngành trong xã hội, ngày 26 tháng 08 năm 1996, Bộ môn TT-TV đã trở thành đơn vị trực thuộc Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQGHN Đây là sự kiện đánh dấu Bộ môn TT-TV trở thành một bộ môn độc lập của Trường, tạo môi trường
và khả năng để phát triển thành Khoa TT-TV ngày nay
Trước sự phát triển mạnh mẽ của đất nước và nền kinh tế tri thức, Ban lãnh đạo Nhà trường đã nhận thức và đánh giá được tầm quan trọng của ngành TT-TV cũng như nắm bắt được yêu cầu của xã hội đối với nghề TT-TV trong xã hội thông tin hiện đại, vì vậy năm 2003, lãnh đạo Khoa đã xây dựng đề án thành lập Khoa và ngày 26 tháng 8 năm
2004, Bộ môn TT-TV đã được Giám đốc ĐHQGHN kí Quyết định thành lập Khoa TT-TV thuộc Trường Đại học KHXH&NV
1.2.2 Chức năng và nhiệm vụ của Khoa
Khoa TT-TV với sự nghiệp nghiên cứu và ĐT nguồn NL có phẩm chất chính trị vững vàng, trình độ lí luận cao với kỹ năng, nghiệp vụ chuyên môn thành thạo về khoa học TT-TV đáp ứng tốt sự nghiệp CNH - HĐH đất nước
Theo Quyết định của giám đốc ĐHQGHN Khoa có nhiệm vụ NCKH và ĐT bậc đại học và sau đại học ngành TT-TV với các hệ:
CQ, tại chức (TC), chuyên tu, các lớp ngắn hạn … Ngoài ra, hiện nay Khoa còn được Nhà trường giao nhiệm vụ quản lý phòng máy tính và
ĐT Tin học cơ sở cho SV toàn Trường Trong nhiều năm qua cùng
Trang 24với việc chú trọng nhiệm vụ ĐT, Khoa còn rất chú trọng nhiệm vụ NCKH Khoa tập trung nhiệm vụ nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của ngành TT-TV trong môi trường tin học hoá nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của thủ đô và đất nước trong giai đoạn đổi mới
1.2.3 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ của Khoa
Hiện Khoa có cơ cấu: Chi ủy, Ban Chủ nhiệm Khoa, Hội đồng khoa học và Ban chấp hành công đoàn
Khoa TT-TV có 03 bộ môn trực thuộc và 02 bộ phận phục vụ ĐT
là Bộ môn Thông tin tư liệu, Bộ môn Thư viện - Thư mục và Bộ môn Tin học cơ sở và ứng dụng; Bộ phận hành chính và Phòng tư liệu Với tổng số 19 CB cơ hữu (05 chuyên viên và 14 CB giảng dạy)
và 27 CB kiêm nhiệm, trong đó trình độ của CB giảng dạy cơ hữu có:
02 PGS.TS; 02 thạc sĩ, giảng viên chính; 04 thạc sĩ, NCS; 07 thạc sĩ;
01 học viên cao học Trong 05 CB hành chính có 02 CB trình độ thạc
sĩ và 03 cử nhân Trình độ của CB kiêm nhiệm: 04 Phó giáo sư, tiến
sĩ ; 09 tiến sĩ; 14 nghiên cứu viên cao cấp và thạc sĩ
1.2.4 Điều kiện đảm bảo chất lƣợng đào tạo hiện nay của Khoa 1.2.4.1 Những thuận lợi
Khoa TT-TV luôn được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Đảng ủy, Ban Giám hiệu của Nhà trường và sự quan tâm phối hợp nhịp nhàng với các phòng ban chức năng
Có sự thống nhất cao giữa Chi ủy, Ban chủ nhiệm, Công đoàn và Đoàn thanh niên Nội dung hoạt động Công đoàn và đoàn thanh niên luôn hướng đến việc nâng cao đời sống, trình độ chuyên môn và ngoại
Trang 25ngữ cho CB Tập thể luôn đoàn kết và có ý thức tự giác thực hiện tốt
kỷ luật lao động Sinh hoạt Chi bộ và Đơn vị thường xuyên, nề nếp đạt hiệu quả cao trong việc triển khai thực hiện nhiệm vụ các năm học, tạo
sự ổn định và phát triển trong đơn vị
Hiện tại, Khoa đang được Nhà trường giao quản lý 04 phòng máy tính thực hành của SV với 184 máy Tất cả các phòng làm việc đều đã được trang bị máy tính được kết nối Internet Khoa cũng đã được Nhà trường đầu tư xây dựng phòng Hội thảo với các thiết bị như: Bàn ghế, máy điều hòa, màn hình và máy chiếu projector, màn hình tivi, đầu đọc DVD Khoa có phòng tư liệu chuyên ngành được tổ chức quản lý
và phục vụ theo phương pháp hiện đại tạo điều kiện cung cấp tài liệu tốt cho CB giảng dạy và SV học tập.[10, tr.6]
Năm 2006, Khoa đã bắt đầu nghiên cứu phương thức ĐT mới theo Tín chỉ và đã tiến hành biên soạn lại khung chương trình ĐT và tất cả các bài giảng từ nội dung đến thời lượng mỗi chuyên đề đều được kết cấu lại và có cập nhật tri thức mới
Khoa luôn chú trọng công tác biên soạn chương trình, giáo trình, bài giảng, đã nghiệm thu 52 đề cương bài giảng theo tín chỉ của CB giảng dạy trong và ngoài Khoa, đã xuất bản 14 giáo trình chuyên ngành của Khoa Đến nay 100% CB giảng dạy lên lớp đã có đề cương bài giảng chi tiết hoặc giáo trình
Khung chương trình và chương trình ĐT chi tiết ĐT cử nhân ngành TT-TV của Khoa được Hội đồng nghiệm thu đánh giá cao về mặt khoa học và tính khả thi Thực tế chất lượng ĐT của Khoa trong nhiều năm qua được đánh giá tốt, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn Chính vì vậy nhiều SV đã tìm kiếm được việc làm ngay sau thời gian
đi thực tập
Trang 26Đã hoàn thành nghiệm thu khung chương trình ĐT Thạc sĩ ngành Khoa học Thư viện và đã được ĐHQGHN chính thức giao nhiệm vụ
ĐT cao học chuyên ngành khoa học Thư viện từ năm học 2005 - 2006 Đến nay, Khoa đã chuẩn bị tổ chức tuyển sinh cao học khóa thứ 6 Khoa đã liên kết mở được một số lớp Cao học tại 03 tỉnh ngoài Hà Nội như Thành Phố Hồ Chí Minh, Hà Tĩnh và Vinh,
Khoa đã triển khai tốt chuyển đổi khung chương trình ĐT cử nhân ngành TT-TV và khung chương trình cao học chuyên ngành Khoa học Thư viện theo tín chỉ
Đội ngũ CB của Khoa hầu hết có trình độ sau đại học, tâm huyết với công việc, có tinh thần trách nhiệm và có ý thức nâng c ao trình độ
Để nhanh chóng có được đội ngũ CB giảng dạy đạt trình độ quôc tế, Khoa TT-TV xác định cần phải tập trung mọi nguồn lực để ĐT đội ngũ
CB vững vàng về chuyên môn, giỏi về ngoại ngữ và am hiểu tốt về trình độ CNTT Vì vậy, hiện nay Khoa đang có 02 PGS.TS, 05 cá bộ đang học NCS ở trong và ngoài nước và 07 thạc sĩ
Khoa tích cực thực hiện chủ trương của Nhà trường về đổi mới phương pháp ĐT, đã biên soạn bài giảng sử dụng phương tiện hiện đại từ nhiều năm gần đây, giờ giảng đảm bảo chất lượng nội dun g 100% CB giảng dạy được phân công biên soạn đề cương bài giảng theo tín chỉ đã hoàn thành đúng tiến độ với chất lượng cao CB và SV của Khoa đã bước đầu quen với phương thức ĐT theo tín chỉ
Trang 27đội ngũ CB có học hàm, học vị tại Khoa trong thời gian hiện nay còn thiếu so với yêu cầu của thực tế
Cơ sở vật chất phục vụ ĐT chưa thật đầy đủ, giáo trình và bài giảng chưa phủ kín các môn bắt buộc và tự chọn Hệ thống máy tính, và các trang thiết bị phục vụ cho việc giảng dạy và nghiên cứu của giáo viên
và SV còn chưa đồng bộ, thư viện thực hành cho SV chưa có
1.3 NHỮNG KHÁI NIỆN CƠ BẢN VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA CHẤT LƢỢNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC THÔNG TIN - THƢ VIỆN
1.3.1 Khái niệm nguồn nhân lực và nguồn nhân lực Thông tin -
Thƣ viện
Ngày nay trong giai đoạn đổi mới hội nhập và phát triển nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, Đảng ta luôn xác định: Nguồn lao động dồi dào, con người Việt Nam
có truyền thông yêu nước, cần cù, sáng tạo, có nền tảng văn hoá, giáo dục, có khả năng nắm bắt nhanh khoa học và công nghệ là nguồn lực quan trọng nhất - nguồn năng lực nội sinh Vậy nguồn NL là gì? Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn NL Theo Liên Hợp Quốc thì nguồn NL là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi
cá nhân và của đất nước Theo tổ chức lao động quốc tế thì nguồn NL của mỗi quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động
Do đó có thể hiểu chung nguồn NL là toàn bộ những người có khả năng tham gia lao động, bao gồm những người trong độ tuổi quy định
có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động, nhưng
Trang 28thực tế còn khả năng và đang tham gia lao động Theo quy định hiện hành của Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, độ tuổi lao động là 16 - 60 đối với nam và 16- 55 đối với nữ, những người trong
độ tuổi lao động có quyền lợi và nghĩa vụ lao động cho mình và cho xã hội.[22, tr 148]
NL được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực Thể lực chỉ sức khỏe của thân thể, nó phụ thuộc vào sức vóc, tình trạng sức khỏe của từng con người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế Thể lực con người tùy thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác, giới tính… Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiể u biết, sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách… của từng con người.[6, tr.8]
Nguồn NL TT-TV theo PGS.TS Trần Thị Quý: “Nguồn NL được hiểu là nguồn tài nguyên con người/nhân sự cùng các vấn đề liên quan đến con người/nhân sự trong hoạt động TT-TV nói chung và hệ thống
cơ quan TT-TV đại học nói riêng.[17, tr 3]
1.3.2 Khái niệm phát triển nguồn nhân lực
Phát triển nguồn NL (theo nghĩa rộng) là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những k hoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động
Phát triển nguồn NL chính là toàn bộ những hoạt động học tập được tổ chức bởi doanh nghiệp, do doanh nghiệp cung cấp cho người lao động Các hoạt động đó có thể được cung cấp trong vài giờ, vài ngày hoặc thậm chí tới vài năm, tùy vào mục tiêu học tập; và nhằm tạo
Trang 29ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp cho người lao động theo hường đi lên, tức là nhằm nâng cao khả năng và trình độ nghề nghiệp của họ Như vậy, xét về nội dung, phát triển nguồn NL bao gồm ba loại hoạt động là: giáo dục, ĐT và phát triển.[6, tr 161]
Giáo dục: Là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người bước vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề mới, thích hợp hơn trong tương lai
ĐT: Là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ,
kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn
Phát triển: Là các hoạt động học tập vượt ra khỏi phạm vi công
việc trước mắt của người lao động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức
1.3.3 Khái niệm khả năng đáp ứng
Khả năng là cái hiện đang ở trong dạng tiềm năng, nhưng sẽ biến thành hiện thực khi cần thiết và khi có các điều kiện thích hợp Khả năng là cái tồn tại khách quan, có gốc rễ ngay trong hiện thực chứ không phải là cái do con người tự nghĩ ra rồi đen gán cho hiện thực, để một khả năng nào đó biến thành hiện thực, thường cần có không chỉ điều kiện mà là một tập hợp các điều kiện cần và đủ
Quá trình khả năng biến thành hiện thực trong tự nhiên chủ yếu
là quá trình tự phát, nhưng trong lĩnh vữc xã hội thì khả năng chỉ có thể biến thành hiện thực được với sự tham gia có ý thức, tự giác của
Trang 30con người.[21, tr.478] Vì vậy, khả năng đáp ứng có thể hiểu là mức
độ thỏa mãn của mỗi người đối với sự vật, sự việc, hiện tượng trong
xã hội
1.3.4 Khái niệm yêu cầu nghề nghiệp
Yêu cầu nghề nghiệp là một hệ thống bao gồm các tiêu chí và nguyên tắc cần đưa ra để đáp ứng việc tổ chức thực hiện, quản lý, giám sát, đánh giá về các phương thức, giải pháp mang lại kết quả công việc từ một nghề nghiệp cụ thể nào đó
Đối với hoạt động TT-TV, yêu cầu nghề nghiệp là các yêu cầu đối với việc nghiên cứu, thực thi, quản lý, hạch toán kinh tế các thao tác chuyên môn nghiệp vụ thuộc phạm vi của hoạt động TT-TV
1.3.5 Khái niệm chất lƣợng và chất lƣợng đào tạo nhân lực
Chất lượng nói chung và chất lượng ĐT NL nói riêng là những thuật ngữ khái niệm cơ bản được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau Theo từ điển tiếng Việt thông dụng thuật ngữ chất lượng được hiểu là:
“Cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật” hoặc là cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác sự vật kia Có nghĩa thuật ngữ
“chất lượng” phản ánh thuộc tính đặc trưng, giá trị, bản chất sự vật và tạo nên sự khác biệt về chất giữa sự vật này với sự vật khác Theo quan điểm triết học chất lượng hay sự biến đổi về chất là kết quả của quá trình tích lũy về lượng Có thể tựu chung chất lượng không chỉ là một đặc tính đơn lẻ mà toàn bộ tất cả các đặc tính quyết định mức độ đáp ứng các yêu cầu của khách hàng
Trong lĩnh vực ĐT, chất lượng ĐT với đặc trưng sản phẩm là “con người lao động”, có thể hiểu là kết quả (đầu ra) của quá trình ĐT và được thể hiện cụ thể qua các phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao
Trang 31động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu ĐT của từng ngành ĐT trong hệ thống ĐT đại học.[19, tr 184]
1.3.6 Vai trò của chất lƣợng đào tạo nguồn nhân lực thông tin - thƣ viện
Quá trình phát triển và chuyển đồi cơ cấu kinh tế, phát triển văn hóa - xã hội đã đặt ra những nhu cầu mới ngày càng cao về phát triển con người nói chung và nguồn NL nói riêng, mặt khác cũng tạo ra những tiền đề, điều kiện mới cho sự nghiệp phát triển giáo dục và ĐT nguồn NL Vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục - ĐT các cấp; điều chỉnh cơ cấu loại hình, trình độ ĐT và cơ cấu ngành nghề nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đa dạng và ngày càng cao của thị trường lao động trong nền kinh tế đa phần ở Việt Nam đã và đang là những vấn đề cơ bản cần phải giải quyết trong quá trình đổi mới giáo dục và ĐT
Xã hội đang cần những con người tri thức có trình độ chuyên môn cao đáp ứng quá trình CNH - HĐH và hội nhập kinh tế thế giới.[23, p.6] Đáp ứng được yêu cầu này thì vai trò của chất lượng ĐT là không thể thiếu, Mạnh Tử đã nói: Nhân chi sơ tính bổn thiện, tính tương cận tập tương viễn, nghĩa là con người sinh ra ban đầu vốn dĩ lương thiện, tính tình khá đồng nhất, nhưng do môi trường và sự tiếp cận học hỏi khác nhau mà tính tình đâm ra khác biệt nhau Ở đây ta đã thấy sự thống nhất rằng môi trường và sự giáo dục sẽ làm con người t hay đổi, nghĩa là giáo dục đóng vai trò quyết định cho bản tính của con người trong tương lai Mạnh Tử nhìn con người từ khía cạnh xã hội học, cho rằng con người được sinh ra trong cộng đồng, có tình thương của cha
mẹ, anh em, bè bạn nên bản tính ban đầu lương thiện, nhưng khi tiếp
Trang 32xúc, học tập trong các điều kiện xã hội khác nhau thì tính tình ắt sẽ khác nhau Từ đó có thể thấy từ xưa đến nay, mọi thế hệ nhân loại đều khẳng định vai trò vô cùng to lớn của giáo dục đối với con người
Có thể tựu chung lại, vai trò của ĐT là tổ chức phối hợp giữa người dạy, người học cùng hệ thống cơ sở vật chất, công tác quản lý,
hệ thống kiến thức nhằm tạo ra nguồn NL làm việc có chuyên môn trong lĩnh vực được ĐT Chính vì vậy chất lượng ĐT có vai trò đặc biệt quan trọng, chất lượng ĐT sẽ quyết định đến năng suất, hiệu quả của người lao động trong công việc chuyên môn; Chất lượng ĐT là
cơ sở để đánh giá về năng lực tổ chức ĐT, bồi dưỡng kiến thức, nâng cao trình độ chuyên ngành cho nguồn NL làm việc trong lĩnh vực chuyên môn; Là nhân tố không thể thiếu trong các quyết định mở rộng hay thu hẹp quy mô của hệ thống ĐT hoặc phát huy hay nâng cấp, cải tạo quy trình và phương thức tổ chức ĐT
Vai trò của chất lượng ĐT nguồn NL thể hiện ở mục tiêu của giáo dục, mục tiêu của giáo dục thật sự rất rõ ràng là dạy làm người, nghĩa là rèn luyện đạo đức và nhân cách con người Giáo dục đồng thời cung cấp kiến thức, kỹ năng để con người xây dựng cuộc sống hạnh phúc, văn minh.[25] Nền giáo dục của nước ta cũng phải tìm ra các biện pháp để đạt được hai mục tiêu trên
Trong lý luận và thực tiễn, đội ngũ nhà giáo và CB quản lý giáo dục luôn được xem là lực lượng cốt cán của sự nghiệp phát triển giáo dục và ĐT, là nhân tố quan trọng nhất quyết định việc nâng cao chất lượng giáo dục Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 2
khoá VIII đã xác định: Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục Chỉ thị 40-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về xây
Trang 33dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CB quản lý giáo dục
cũng chỉ rõ: Nhà giáo và CB quản lý giáo dục là lực lượng nòng cốt,
có vai trò quan trọng Do vậy, muốn phát triển giáo dục - ĐT, điều
quan trọng trước tiên là phải chăm lo xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên
Bất cứ một ngành nào, một lĩnh vực hoạt động nào thì nguồn NL vẫn là quan trọng và vai trò của chất lượng ĐT đối với nguồn NL đó là không thể thiếu, vai trò của chất lượng ĐT nguồn NL TT-TV lại cực
kỳ quan trọng trong giai đoạn hiện nay
Trước sự tác động mạnh mẽ của khoa học công nghệ và thông tin, đặt ra nhu cầu về nguồn NL TT-TV có trình độ chuyên môn cao, đòi hỏi mỗi người CB phải không ngừng học tập, nghiên cứu và phát triển mình Hiện nay có thể thấy tại các cơ quan TT-TV nguồn NL vừa yếu lại vừa thiếu, trong khi đó xã hội lại cần những chuyên viên TT -
TV được ĐT không chỉ bao gồm trình độ chính trị và đạo đức tốt mà phải có ý thức chuẩn hóa nghiệp vụ thư viện cao độ để mạnh dạn thay đổi những giá trị cũ nhằm sẵn sàng ứng dụng công nghệ nới tạo điều kiện nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu thông tin và hợp tác liên thông thư viện Thư viện là cầu nối giữa độc giả với nguồn thông tin tri thức, CB thư viện nắm trong tay họ chiếc chìa khóa mở cánh cửa vào thế giới thông tin, mà chất lượng của các CB lại phụ thuộc vào chất lượng ĐT
Mục tiêu chung của ĐT là sử dụng được tối đa nguồn NL hiện có
và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức thông qua việc giúp cho nguồn
NL hiểu rõ hơn về công việc, nắm vững hơn nghề nghiệp của mình và thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình một cách tự giác hơn,
Trang 34với thái độ tốt hơn, cũng như nâng cao khả năng thích ứng của họ trong tương lai
Chất lượng ĐT nguồn NL thể hiện ở việc đáp ứng yêu cầu của công việc tổ chức, đáp ứng nhu cầu học tập và phát triển của nguồn
NL, giúp có những giải pháp có tính chiến lược tạo ra các lợi thế trong công việc Từ đó giúp cho ngành TT-TV nói riêng và hoạt động xã hội nói chung nâng cao được năng suất lao động và hiệu quả thực hiện công việc, giảm bớt sự giám sát của CB trong công việc vì nguồn NL được ĐT là những người có khả năng tự giám sát, nâng cao tính ổn định và năng động trong cơ quan, duy trì và nâng cao chất lượng của nguồn NL, tạo ra tính chuyên nghiệp trong công tác của họ
Chất lượng ĐT nguồn NL TT-TV là điều quyết định đến hoạt động ĐT của mỗi đơn vị ĐT, quyết định đến khả năng lao động sáng tạo của mỗi cá nhân tham gia tham gia học tập và cũng quyết định luôn đến sự hoạt động và phát triển của mỗi cơ quan TT-TV, vì vậy vai trò của chất lượng đạo tạo nguồn NL TT-TV nói riêng và chất lượng đạo tạo nguồn NL nói chung là rất quan trọng và cần thiết
Trang 35Chương 2
THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ THÔNG TIN - THƯ VIỆN ĐÃ TỪNG LÀ SINH VIÊN ĐƯỢC ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
2.1 SỐ LƯỢNG VÀ CHẤT LƯỢNG SINH VIÊN ĐƯỢC ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG TỪ NĂM 1996 TỚI NAY
2.1.1 Số lượng sinh viên được đào tạo tại Trường từ năm 1996 tới nay
Trong 15 năm qua, Khoa đã không ngừng phấn đấu và phát triển,
mô hình ĐT phong phú với các hệ và các bậc ĐT như: ĐT cử nhân hệ chuẩn CQ, TC; ĐT cao học; ĐT ngắn hạn, đáp ứng các yêu cầu cung
cấp nguồn NL TT-TV cho xã hội
Hệ chuẩn CQ với các khóa từ K40 đến K55 với tổng số hơ n
1100 SV Trong đó có 802 SV các khóa từ K40 đến K51 đã tốt nghiệp cử nhân
Hệ chuẩn TC với các khóa đã và đang ĐT là hơn 1000 SV: K3, K4, K45, K46, K47, K48, K49, K51 tại Hà Nội; K50 tại Nghệ An; K47, K52 tại Hải Dương; K52, K54 tại Thanh Hóa; K38, K53, K55 tại Vinh; K55 Thái Nguyên
Trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đặt ra yêu cầu ngày càng cao cho ngành TT-TV, trực tiếp là các CB TT-TV Nắm bắt và đáp ứng yêu cầu này, từ năm 2006 tới nay, Khoa đã ĐT hệ cao học (thạc sĩ) các khóa K1, K2, K3, K4, K5 (có 05 lớp tại Hà Nội và 01 lớp ở Thành phố Hồ Chí Minh) với hơn 100 học viên Trong đó đã có
20 học viên đã bảo vệ thành công luận văn
Trang 36Ngoài ra Khoa triển khai tổ chức ĐT và Nhà trường cấp chứng chỉ cho nhiều lớp ở các cơ quan TT-TV của các Bộ, các ngành, các trường đại học, các học viên theo các dự án giáo dục hoặc kế hoạch nâng cao trình độ nghiệp vụ TT-TV cho CB
2.1.2 Chất lƣợng đào tạo của Khoa
Thực hiện chủ trương của Đảng ủy về định hướng phát triển của Nhà trường, lãnh đạo của Khoa cũng như tập thể CB của Khoa đã không ngừng học hỏi, nâng cao ý thức trách nhiệm của người thầy giáo, cô giáo Luôn chú trọng tới phương pháp giảng dạy, nội dung giáo trình giảng dạy và không ngừng học tập nâng cao kiến thức chuyên môn Khoa đã chú trọng giáo dục cho SV nâng cao ý thức chính trị và nghề nghiệp, đồng thời tạo điều kiện cho SV giao lưu, học hỏi và giúp đỡ lẫn nhau
SV có được sự ĐT bài bản, không những có những kiến thức về chuyên ngành, mà còn có nhiều điều kiện trau dồi kiến thức xã hội Chất lượng học tập của SV thể hiện ở những điểm số mà các bạn có được, ở những đề tài NCKH, cùng với những thực tế tại đơn vị thực tập, sự đánh giá khách quan từ phía những thầy cô giáo trực t iếp giảng dạy
Phần lớn SV đều ý thức được trách nhiệm của mình khi ngồi trên ghế Nhà trường, tham gia học tập và sáng tạo Vì thế tỉ lệ SV đạt loại khá giỏi, trung bình khá khi tốt nghiệp chiếm số đông, tỉ lệ học sinh đạt loại trung bình hay yếu kém gần như là không có, đơn cử kết quả xét tốt nghiệp của một số khóa trong bảng dưới đây là minh chứng
Trang 37khá
Loại
TB khá
Loại Tbình
Loại yếu
Không xét
Bảng 2.1: Kết quả xét tốt nghiệp của một số Khóa CQ
Thành tích trong học tập của SV thể hiện rất rõ ở bảng kếtquả trên, với tỉ lệ SV đạt loại giỏi, loại khá, loại trung bình khá chiếm ưu thế Tỉ lệ SV đạt loại giỏi từ khóa ĐT đầu tiên là 6% tới khóa hiện nay
là 35% tăng gần gấp 6 lần; Số SV đạt loại khá có sự tăng giảm không đáng kể, từ khóa đầu là 62%, khóa 51 là 61%; Loại yếu và không xét tốt nghiệp tới khóa hiện nay là 0%
Song song với chất lượng SV hệ ĐT CQ, SV hệ ĐT TC cũng đạt nhiều thành tích trong học tập, thể hiện ở bảng kết quả sau:
Trang 38giỏi
Loại khá
Loại
TB khá
Loại Tbình
Loại yếu
Không xét
Bảng 2.2: Kết quả xét tốt nghiệp của một số Khóa TC
Số SV đạt loại giỏi của hệ TC lúc đầu là 2%, tới khóa 50 tăng lên 14%, gấp 7 lần so với thời kỳ những năm đầu ĐT hệ TC; Tỉ lệ SV khá
sự thay đổi cũng giống như hệ ĐT CQ, sự tăng giảm không đáng kể; Tỉ
lệ SV đạt loại yếu và không xét tốt nghiệp tới khóa 50 là 0%
Bên cạnh những con số đã đạt được như trên, còn một số SV đạt loại trung bình hoặc không được xét tốt nghiệp trong năm đó vì nợ môn, đơn cử như K43 hệ CQ có 6% đạt loại trung bình, 3% yếu; K44
CQ có 4% đạt loại yếu; K47 CQ nợ môn chiếm 4%; K45 CQ nợ môn
có 3%; K49 hệ TC nợ môn chiếm 2%
SV của Khoa luôn tích cực tham gia các hoạt động do ĐHQGHN
và Trường Đại học KHXH&NV tổ chức như: Triển khai cuộc vận động: Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Nói không với bệnh thành tích và thi cử của ngành giáo dục,…
Trang 39Hội nghị NCKH của SV được tổ chức hàng năm, với nhiều kết quả đảng ghi nhận, các kết quả nghiên cứu đó được biên tập và xây dựng thành kỉ yếu Hàng năm Khoa đều nhận được giấy khen của Hiệu trưởng Nhà trường về thành tích NCKH của SV và năm 2008, năm
2009 còn có SV đạt giải cấp bộ đã được nhận Bằng khen của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và ĐT và giám đốc ĐHQGHN
Chất lượng của SV thể hiện qua quá trình thực tập và những nhận xét khách quan cũng cho ta cái nhìn thực tế hơn về SV Khoa TT-TV Như đánh giá của Ông Ngô Văn Chung - Giám đốc Thư viện Quân đội
về SV của Trường Đại học KHXH&NV thực tập tại Thư viện Trung
ương Quân đội: “Sinh viên nắm tương đối vững, toàn diện kiến thức chuyên ngành về TT-TV So sánh cùng lứa thì sinh viên Khoa TT-TV Trường Đại học KHXH&NV có phần khá hơn về ứng dụng công nghệ thông tin và sử dụng ngoại ngữ Đặc biệt về kỹ năng thực hành trên máy tính, xây dựng cơ sở dữ liệu thư mục, tra cứu tìm tin thông qua máy vi tính đáp ứng khả năng thực hành các công việc liên quan đến lĩnh vực thư viện”.[5, tr 14] Còn theo Ông Phạm Thế Khang - nguyên Giám đốc Thư viện Quốc gia Việt Nam thì nhận xét: “Sinh viên Khoa TT-TV của Trường Đại học KHXH&NV thực tập tại Thư viện Quốc gia Việt Nam thì được đánh giá chung là năng động, ham học hỏi và có ý thức tổ chức kỷ luật tốt Số điểm các bạn đạt được luôn là 10 và tạo một cảm giác tin cậy trong công việc với từng phòng tại Thư viện Quốc gia Việt Nam Đặc biệt trong 4 năm qua, chỉ có sinh viên của Trường được phòng Nghiên cứu và Hướng dẫn nghiệp vụ nhận xét là “bước đầu có
sự tìm tòi và nghiên cứu khoa học” trong công việc”.[11, tr.33]
Có được những nhận xét như trên, thành quả không chỉ thuộc về các SV mà còn có vai trò rất lớn của lãnh đạo Khoa và tập thể CB giáo
Trang 40viên Khoa luôn có sự quan tâm đúng mức tới việc cử SV về các thư viện để thực tập, luôn lên kế hoạch cho nội dung và chương trình thực thập rất cụ thể và sát sao Điều này giúp cho SV xác định được mục tiêu của đợt thực tập và giúp cho cơ quan nhận SV thực tập có thể định hướng giúp các sinh viện đi sâu vào những khâu nghiệp vụ mà Khoa yêu cầu
Một trong các nội dung mà Khoa luôn chú trọng và nhấn mạnh cho các SV thực tập cần làm là không chỉ tiếp thu chuyên môn kỹ thuật mà còn phải tìm tòi, học hỏi các mới và tiếp cận với những ứng dụng tin học hiện đại trong toàn hệ thống thư viện Trong thực tế, các SV thực tập đã có nhiều cố gắng theo hướng này Mặt khác Khoa đã xây dựng bảng nội quy thực tập kèm theo cho SV khi tới cơ sở thực tập, thể hiện ý thức, trách nhiệm của Khoa với đơn vị thực tập và làm cho các SV thấy rằng họ không chỉ thực tập thuần túy các chuyên môn đang được học, mà phải có
ý thức làm việc như một công chức trong cơ quan
2.2 THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ ĐANG CÔNG TÁC TRONG CÁC CƠ QUAN THÔNG TIN - THƯ VIỆN SAU KHI RA TRƯỜNG
2.2.1 Cơ cấu độ tuổi của đội ngũ cán bộ
Trong tổng số 124 CB chúng tôi phát phiếu hỏi để điều tra, nghiên cứu thì có 16% là nam và 84% là nữ Số người trong độ tuổi 18-30 là 47% trong đó nam chiếm 2% và nữ chiếm 45%; độ tuổi 31-45 chiếm 50% trong đó có 13% là nam, nữ chiếm 37%; độ tuổi 45 là 3% trong
đó nam chiếm 1%, 2 nữ chiếm 2%