Mục tiêu: Đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc trẻ sốt của các bà mẹ có con vào nằm điều trị tại bệnh viện Đức Giang năm 2019 và Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến th
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG
LƯƠNG HÀ MAI PHƯƠNG
Trang 2Tổng quan: Sốt là một phản ứng bảo vệ nhờ làm tăng số lượng và khả năng
thực bào của bạch cầu, ức chế sinh sản của một số virus ; Ở trẻ nhỏ hệ thống miễn dịch chưa hoàn chỉnh, trẻ dễ mắc các bệnh nhiễm khuẩn nên đa số trẻ sẽ
có phản ứng sốt để bảo vệ cơ thể Mục tiêu: Đánh giá kiến thức, thái độ, thực
hành chăm sóc trẻ sốt của các bà mẹ có con vào nằm điều trị tại bệnh viện Đức Giang năm 2019 và Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và
thực hành trong chăm sóc trẻ sốt của các bà mẹ Đối tượng và phương pháp:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 360 các bà mẹ có con bị sốt do nhiều nguyên nhân nằm điều trị tại khoa Nhi bệnh viện đa khoa Đức Giang từ ngày 01/2019
– 6/2019 Kết quả: Có 54,72% tỷ lệ các bà mẹ trả lời đúng khái niệm về sốt; tỷ
lệ các bà mẹ có kiến thức đúng là 85,28%, có thái độ đúng là 73,89% và có thực hành đúng là 77,50% Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về trình độ học vấn với
việc phân loại kiến thức, thái độ, thực hành với p < 0,05 Kết luận: Trình độ
học vấn là một trong những yếu tố quyết định đến kiến thức; những bà mẹ đơn thân có thái độ chăm sóc con tốt hơn các bà mẹ có gia đình, thực hành chăm sóc trẻ sốt của các bà mẹ có nghề nghiệp là công nhân viên chức hoặc có đi làm sẽ có thực hành tốt hơn gấp 1,95 lần so với các bà mẹ có nghề nghiệp khác
Từ khóa: sốt, hành vi, kiến thức, thực hành
SUMMARY:
Overview:
Fever appears to be a defensive reaction by the body against infectious diseas, because while the fever is happening, number of leukocytes, the ability of phagocytes of macrophages, the cells of the sagging system will be increased, ect; when suffering from diseases, most children will have a fever reaction accompanied by a defensive reaction to the body
Objective:
Evaluating knowledge, attitudes and practices of caring for children with fever
of mothers who have children hospitalized at Duc Giang Hospital in 2019 and evaluating some related factors
Trang 3Subjects and methods:
Subjects and methods: Cross-sectional descriptive study applied over 144 mothers of children with fever due to various causes hospitalizing at the Department of Pediatrics in Duc Giang General Hospital from 01/2019 - 6/2019
Results:
There is 54,72% of mothers correctly answered the concept of fever; The propotion of mothers with the right knowledge is 85,28%, the correct attitude is 73,89% and the correct practice is 77,50% The difference is statistically significant on education level with the classification of knowledge, attitude, practice (p value < 0,05) Single mothers with better parenting attitudes than married mothers, child care practices of mothers who have a career as a civil servant or working will have better practice 1,95 more than mothers with other careers
ở trẻ em có thể dẫn đến co giật hoặc động kinh Vì vậy việc kiểm soát tốt nhiệt
độ của trẻ và thái độ, cách xử trí đúng khi trẻ bị sốt là rất quan trọng [4], [5] Mặt khác, sốt thường xảy ra rất đột ngột, bất ngờ; người đầu tiên phát hiện và
xử trí cho trẻ thường là người mẹ Nếu người mẹ có thái độ và phương pháp xử trí đúng thì sẽ hạn chế rất nhiều hậu quả không tốt cho trẻ, ngược lại nếu người
Trang 4mẹ không có kiến thức và phương pháp xử trí đúng thì có thể dẫn đến những hậu quả đáng tiếc Trong thực tế tiếp xúc với các bà mẹ có con bị sốt, chúng tôi nhận thấy nhiều bà mẹ không biết theo dõi nhiệt độ cho trẻ khi trẻ sốt, không biết các phương pháp hạ nhiệt cho trẻ, không biết cách cho trẻ dùng thuốc hạ sốt và thời gian dùng thuốc lần sau Từ những thực trạng trên, chúng tôi nghiên cứu đề tài này với 2 mục tiêu:
- Đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc trẻ sốt của các bà mẹ có con vào nằm điều trị tại bệnh viện Đức Giang năm 2019
- Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành trong chăm sóc trẻ sốt của các bà mẹ
2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là 360 bà mẹ có con bị sốt do nhiều nguyên nhân nằm điều trị tại khoa Nhi bệnh viện đa khoa Đức Giang từ ngày 01/01/2019 - 30/6/2019
2.2 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang
Các chỉ tiêu nghiên cứu
- Các chỉ tiêu đánh giá kiến thức người mẹ:
+ Kiến thức về định nghĩa sốt
+ Kiến thức về biến chứng khi trẻ sốt
- Các chỉ tiêu đánh giá thực hành của các bà mẹ:
+ Cách đo thân nhiệt khi thấy trẻ sốt, cho trẻ uống thuốc hạ sốt…
+ Cách hạ sốt cho trẻ: lau khăn ấm, nới rộng quần áo, đặt trẻ nơi thoáng mát tránh gió lùa …
- Các chỉ tiêu về thực hành của bà mẹ:
+ Thực hiện các bước đo nhiệt độ khi con bị sốt
Trang 53 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm thông tin chung
Bảng 3.1: Phân loại và tính chất sốt của trẻ
Trang 6Bảng 3.2: Đặc điểm của bà mẹ trong nhóm nghiên cứu
- Tuổi: độ tuổi của các bà mẹ chiếm tỷ lệ cao nhất là 22 – 35 tuổi có 222 bà
mẹ chiếm 61,67%; độ tuổi thấp nhất là dưới 22 tuổi chỉ có 57 trường hợp chiếm 15,83%
- Nơi ở hiện tại: có đến 51,11% các bà mẹ có nơi ở là nông thôn; chỉ có 48,89% nơi ở là thành thị
- Trình độ học vấn: nhóm nghiên cứu có trình độ học vấn tương đối cao với 43,89% có trình độ cao đẳng, đại học; trên đại học chỉ có 01 mẹ chiếm 0,28%; 55,83% số bà mẹ có trình độ từ TC, THPT trở xuống
Trang 7- Nghề nghiệp: Tỷ lệ các bà mẹ có công việc là hành chính, viên chức chiếm tương đối cao có đến 179 bà mẹ chiếm 49,72%; trong đó chỉ có 15,56% bà
mẹ là ở nhà nội trợ; số còn lại 34,72% làm công việc khác
- Tình trạng hôn nhân: 302 bà mẹ đang chung sống với chồng chiếm 83,89%; chỉ có 16,11% số bà mẹ đơn thân, góa, ly hôn
3.2 Kiến thức, thái độ và thực hành của các bà mẹ khi có con bị sốt
Nhận xét: Trong 360 bà mẹ chỉ có 197 bà mẹ trả lời đúng khái niệm về sốt khi
đo thân nhiệt của trẻ
trên ≥ 37,50C chiếm 54,72%; có đến 45,28% bà mẹ trả lời sai
Nhận xét: Có đến 76,11% các bà mẹ phát hiện sốt bằng cách cặp nhiệt kế cho
con; chỉ có 24,67% các bà mẹ vẫn còn phát hiện con có sốt hay không bằng phương pháp sờ bằng tay, bên cạnh đó vẫn còn 8 bà mẹ không biết cách làm thế nào để biết trẻ có sốt hay không
Trang 8Bảng 3.5: Đánh giá chung về kiến thức sốt của bà mẹ
Nhận xét: Trong 360 bà mẹ tham gia nghiên cứu có 307 bà mẹ có kiến thức
chăm sóc con sốt đạt yêu cầu chiếm tỷ lệ 85,28%; chỉ có 53 bà mẹ có kiến thức không đạt chiếm 14,72%
Bảng 3.6: Đánh giá về thái độ xử trí khi trẻ sốt của bà mẹ
Nội dung
Trả lời Rất đồng ý Đồng ý Không biết Không đồng ý
Rất không đồng ý
n % n % n % n % n % Sốt có thể gây nguy
hiểm ở trẻ 235 65,28 89 24,72 28 7,78 8 2,22 0 0 Việc nắm vững kiến
Tuân thủ theo hướng
dẫn của NVYT là việc
rất quan trọng
309 85,83 20 5,56 20 5,56 11 3,05 0 0
Theo dõi các dấu hiệu
bất thường của con là
Trang 9Nhận xét: Các bà mẹ rất đồng ý cho rằng việc theo dõi các dấu hiệu bất thường
của con chiếm tỷ lệ 88,06% tiếp đó là việc tuân thủ theo hướng dẫn của NVYT chiếm tỷ 85,83% tiếp đó đến việc nắm vững các kiến thức về sốt của trẻ chiếm
tỷ lệ 76,67%; việc các bà mẹ rất không đồng ý việc chăm sóc trẻ bị bệnh hoàn toàn là trách nhiệm của nhân viên y tế vẫn chiếm tỷ lệ 63,89% Chiếm tỷ lệ thấp nhất là thái độ của các bà mẹ khi đã sự dụng các biện pháp hạ sốt mà con không
hạ sốt thì có cần đến cơ sở y tế hay không chiểm tỷ lệ thấp nhất chỉ có 48,61%
Biểu đồ 3.1: Đánh giá chung về thái độ khi trẻ bị sốt của bà mẹ
Nhận xét: Tỷ lệ các bà mẹ có thái độ đúng chiếm 73,89%; tỷ lệ các bà mẹ còn
có thái độ sai khi trẻ bị sốt là 26,11%
Trang 10Bảng 3.7: Đánh giá về thực hành xử trí khi trẻ sốt của bà mẹ
2 Dùng khăn bông lau
khô vị trí đo nhiệt độ
(nách,trán) trước khi đo
thân nhiệt
7 1,94 15 4,17 338 93,89
3 Vẩy nhiệt kế xuống
dưới 360C hoặc kiểm tra
nút On/Off trước khi
cặp nhiệt độ
152 42,22 131 36,39 77 21,39
4 Thời gian cặp đủ 05
phút(với nhiệt kế thủy
ngân) hoặc / tiếng báo
Peep(với nhiệt kế điện
Trang 11- Ở bước tiến hành đo nhiệt độ; tỷ lệ các bà mẹ thực hành đúng nhất đó là xác định được vị trí đo thân nhiệt chiếm 66,11%; thấp nhất là tỷ lệ các bà mẹ không thực hiện được bước dùng khăn bông lau khô vị trí đo nhiệt độ (nách, trán) trước khi đo thân nhiệt, tỷ lệ này chiếm 93,89%
- Với tổng điểm tối đa là 10 điểm cho 5 bước thực hành; mức điểm trung bình của các bà mẹ là 5,77 ± 1,71
Biểu đồ 3.3: Đánh giá chung về thực hành khi trẻ bị sốt của bà mẹ
Nhận xét: Tỷ lệ các bà mẹ có thực hành đúng là 77,50%; tỷ lệ thực hành còn
sai là 22,50%
3.3 Một số yếu tố liên quan đến cách xử trí sốt của bà mẹ
Bảng 3.8: Mối liên quan giữa nghề nghiệp mẹ với kiến thức về sốt của mẹ
Trang 12Nhận xét: Đối với các bà mẹ là công nhân viên chức có tỷ lệ trả lời kiến thức về
sốt đúng cao chiếm 53,09%; những bà mẹ làm nghề khác có tỷ lệ trả lời kiến thức
về sốt còn chưa đúng chiếm tỷ lệ cao 69,81%; bà mẹ có nghề nghiệp là công nhân viên chức có kiến thức đúng cao hơn gấp 8,56 lần so với các bà mẹ có nghề nghiệp khác, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 và 95%CI từ 4,36 – 16,80
Bảng 3.9: Mối liên quan giữa TĐHV của mẹ với kiến thức về sốt của mẹ
Cao đẳng, đại học 149 94,30 9 5,70
0,00 4,61 2,11 -11,08
Trang 13Bảng 3.10: Mối liên quan giữa tình trạng hôn nhân với thái độ của mẹ về sốt
Nhận xét: Các bà mẹ đơn thân có thái độ chăm sóc trẻ sốt đúng cao gấp 2,5
lần so với các bà mẹ đang sống chung cùng chồng; sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 và 95%CI từ 1,11 – 6,67
Bảng 3.11: Mối liên quan giữa nghề nghiệp mẹ với thực hành về sốt của
mẹ
Nghề nghiệp
mẹ
Thực hành đúng
Thực hành chưa
OR 95% CI
* Sử dụng Test 2
Nhận xét: Nghề nghiệp của các bà mẹ có liên quan đến thực hành chăm sóc
trẻ bị sốt; các bà mẹ có nghề nghiệp là công nhân viên chức hoặc có đi làm
sẽ có thực hành tốt hơn gấp 1,95 lần so với các bà mẹ có nghề nghiệp khác;
sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 và khoảng tin cậy 95% CI từ 1,13 – 3,36
Trang 144 BÀN LUẬN
4.1 Đặc điểm chung của đối tượng
Nghiên cứu trên 360 bà mẹ có con bị sốt đến khám và điều trị tại khoa
Nhi bệnh viện Đức Giang từ ngày 01/01/2019 đến ngày 30/06/2019:
Theo phân mới nhất của WHO nghiên cứu của chúng tôi có tỷ lệ trẻ sốt như sau: trẻ bị sốt cao chiếm tỷ lệ lớn nhất có 218 trẻ chiếm 88,33%; tiếp đến là những trẻ có biểu hiện sốt chỉ có 42 trẻ chiếm 11,67%; đây là phân loại mới tuy nghiên cho kết quả tương đồng với với nghiên cứu của Phạm Hải Yến và
Lương Cao Đồng cho thấy tủ lệ sốt cao chiếm 78,1%, vừa chiếm 19,5% và nhẹ
chiếm 2,4% [6]; điều này có thể lý giải do đa số các bà mẹ đã áp dụng các biện pháp hạ sốt tại nhà, khi sốt cao quá không đỡ được mới cho con đi viện điều trị, dẫn đến tình trạng nhập viện các trẻ đều trong tình trạng sốt cao hoặc rất cao Đặc điểm về tuổi: 61,67% bà mẹ trong nghiên cứu của chúng tôi nằm trong
độ tuổi từ 22-35 tuổi, độ tuổi trung bình của các bà mẹ là 28,15 ± 3,54 tuổi, tuổi nhỏ nhất là 18 tuổi, lớn nhất là 44 tuổi Có độ tuổi thấp hơn so với nghiên cứu của Đặng Thị Hà, Đoàn Thị Vân khi nghiên cứu 106 bà mẹ có con bị sốt cũng thấy tuổi trung bình là 29,10 ± 5,16; Nhỏ nhất là 18 tuổi, lớn nhất là 43 tuổi [8] Hay nghiên cứu của Phạm Thị Tuyết, Đinh Thị Thu Hường thấy tuổi trung bình của các bà mẹ là 29±5.0 tuổi [7] Và 29.6 tuổi là kết quả nghiên cứu của tác giả Al- Eisa Y.A và cộng sự ở Riyadh, thủ đô của Ả Rập năm 2000 [9] Khi tìm hiểu về trình độ học vấn (TĐHV) của các bà mẹ chúng tôi thấy có 43,89% các
bà mẹ có trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên; số bà mẹ có trình độ học vấn từ trung cấp chuyên nghiệp trở xuống chiếm 56,11% (bảng 3.2); có trình độ học vấn cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Son trình độ học vấn của các bà
mẹ có có 73% bà mẹ có TĐHV từ trung cấp trở xuống trong đó: 49,3% các bà
mẹ có TĐHVdưới THCS và THPT, Trung cấp chiếm 50,7% các bà mẹ Chỉ có
Trang 15Tuyết, Đinh Thị Thu Hường [7] thấy 74,7% các bà mẹ có TĐHV dưới trung cấp và Hồ Thị Bích, Doãn Thúy Quỳnh tỷ lệ là 75,6% [11]
4.2 Kiến thức, thái độ và thực hành của các bà mẹ khi có con bị sốt
Chúng tôi thấy rằng 54,72% các bà mẹ có khái niệm đúng về sốt (bảng 3.4); nghiên cứu của chúng tôi cho tỷ lệ cao hơn nghiên cứu của Nguyễn Thị Son, trả lời đúng khái niệm về sốt chỉ có 25%[10]; nghiên cứu của Hồ Thị Bích
và Doãn Thúy Quỳnh là 37,4% [11] và tương đương so với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Anh và Nguyễn Thanh Hương tại bệnh viện Nhi đồng thành phố Hồ Chí Minh là 56,88% [12]; hai nghiên cứu cho kết quả tương đồng
vì do thực hiện ở hai thành phố lớn có kiến thức của các bà mẹ tham gia nghiên cứu đều cao Tuy vậy có đến 45,28% bà mẹ trả lời sai vì vậy chúng ta nên chú trọng đến việc truyền thông cho các bà mẹ nhằm nâng cao kiến thức của bà mẹ
về sốt cũng như cách chăm sóc trẻ sốt Dấu hiệu nhận biết trẻ sốt là rất quan trọng vì nó giúp bà mẹ phát hiện, xử trí kịp thời và không làm nặng hơn tình trạng sốt ở trẻ, vì vậy chúng tôi đã đặt ra vấn đề này trong nghiên cứu của mình.Trong nghiên cứu của chúng tôi, hơn 76,11% các bà mẹ nhận biết trẻ sốt bằng cách cặp nhiệt kế; đây chũng là phương pháp đúng nhất để nhận biết trẻ có sốt hay không; chỉ có 21,67% các bà mẹ sờ bằng tay vào đầu, người trẻ để nhận biết sốt; trong khi đó nghiên cứu của Nguyễn Thị Son có đến 80% các bà mẹ nhận biết sốt bằng dấu hiệu trẻ nóng và quấy khóc [10] Bên cạnh đó vẫn còn 8
bà mẹ không biết cách làm thế nào để biết trẻ có sốt hay không; tỷ lệ này tuy thấp nhưng cũng đáng được quan tâm, cần chú trọng quan tâm cải thiện để nâng cao kiến thức cho các bà mẹ Trong 360 bà mẹ tham gia nghiên cứu có 307 bà
mẹ có kiến thức chăm sóc con sốt đúng chiếm tỷ lệ 85,28%; chỉ có 53 bà mẹ có kiến thức không đúng chiếm 14,72% Tỷ lệ các bà mẹ có kiến thức đúng là tương đối cao chiếm tỷ lệ 85,28%; lý giải cho việc này một phần là do trình độ học vấn trong nghiên cứu của chúng tôi cao; trên 40% các bà mẹ có kiến thức
Trang 16từ cao đẳng, đại học trở lên; một phần các bà mẹ sống ở thành thị nhiều nên cập nhật kiến thức về chăm sóc con cái sẽ tốt hơn các bà mẹ ở nông thôn Nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả cao hơn rất nhiều so với nghiên cứu của Bong
WT và Tan CE nghiên cứu “Đánh giá mức độ hiểu biết và mối quan tâm về bệnh sốt ở trẻ em trong số các bậc cha mẹ có con nhỏ tại một phòng khám y tế công cộng ở Kuching, Đông Malaysia” kết quả chỉ có 26,1% người tham gia
được tìm thấy có kiến thức đúng [13]
Các bà mẹ rất đồng ý cho rằng việc theo dõi các dấu hiệu bất thường của con chiếm tỷ lệ 88,06% tiếp đó là việc tuân thủ theo hướng dẫn của NVYT chiếm tỷ 85,83% tiếp đó đến việc nắm vững các kiến thức về sốt của trẻ chiếm
tỷ lệ 76,67%; việc các bà mẹ rất không đồng ý việc chăm sóc trẻ bị bệnh hoàn toàn là trách nhiệm của nhân viên y tế vẫn chiếm tỷ lệ 63,89% Chiếm tỷ lệ thấp nhất là thái độ của các bà mẹ khi đã sự dụng các biện pháp hạ sốt mà con không
hạ sốt thì có cần đến cơ sở y tế hay không chiểm tỷ lệ thấp nhất chỉ có 48,61% nghiên cứu của chúng tôi tương tự nghiên cứu của của Vefik Arica ở Thổ Nhĩ
Kỳ năm 2011 cho kết quả là 92,5% [14]; thấp hơn nghiên cứu của Nguyễn Thị Son tại bệnh viện Nhi Trung Ương năm 2014 và Schmitt tại Mĩ năm 1999 cho kết quả lần lượt là 99,5% và 99%.Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cao hơn so với kết quả nghiên cứu của Nannini S, Pandolfini C ở Italy năm 1998 với tỷ lệ này là 76% [15] Sự khác nhau này có lẽ là do trong những năm gần đây, các bà
mẹ được tiếp cận nhiều hơn với các phương tiện thông tin đại chúng nên kiến thức của các bà mẹ tốt hơn Từ đó bà mẹ có thái độ quan tâm hơn đến dấu hiệu sốt và cách chăm sóc trẻ sốt
Nhiệt kế là một dụng cụ chuyên dụng để xác định nhiệt độ của cơ thể một cách rất chính xác; tỷ lệ trong nghiên cứu của chúng tôi đã sự dụng nhiệt kế để
đo nhiệt đô khi con bị sốt chiếm tỷ lệ tương đối cao 74,72%; cao hơn nghiên cứu của Nguyễn Thị Son chỉ có 59,5% các bà mẹ trong nghiên cứu sử dụng