1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo cứu về các quy tắc quan sát sự kiện xã hội trong phương pháp xã hội học của Emile Durkheim

19 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo Cứu Về Các Quy Tắc Quan Sát Sự Kiện Xã Hội Trong Phương Pháp Xã Hội Học Của Emile Durkheim
Tác giả Lư Phạm Thiện Duy
Trường học Cần Thơ
Thể loại bài báo cáo
Năm xuất bản 2021
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 90,8 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Emile Durkheim được mệnh danh là “cha đẻ” vì ông có công trong việc xác lập vị thế độc lập của chuyên ngành Xã hội học. Tác phẩm “Các quy tắc của phương pháp Xã hội học” (1895) đã đưa ra các phương pháp luận quan trọng, những nguyên tắc cơ bản trong nghiên cứu Xã hội học, góp một vai trò to lớn trong việc tách Xã hội học ra khỏi các chuyên ngành trước đó như Triết học hay Tâm lý học. Trong phạm vi của bài báo cáo này, nghiên cứu xin phép được sơ lược qua tiểu sử cùng những vấn đề chính yếu trong các phương pháp Xã hội học của Durkheim. Tiếp đến, nghiên cứu sẽ đi nghiên cứu sâu ở quy tắc thứ nhất: Các quy tắc về sự quan sát “sự kiện xã hội”. Từ các cơ sở ấy, tác giả bài viết sẽ đưa ra những hướng ứng dụng thực tiễn và tiến hành phê phán những mặt hạn chế của nó. Bằng các phương pháp khảo cứu tài liệu và những sự phân tích của chính bản thân tác giả, bài viết sẽ mang đến độc giả có một góc nhìn tổng quan và toàn diện hơn đối với các quy tắc trong phương pháp nghiên cứu Xã hội học của Emile Durkheim và đặc biệt là quy tắc quan sát các “sự kiện xã hội”.

Trang 1

KHẢO CỨU VỀ CÁC QUY TẮC QUAN SÁT SỰ KIỆN XÃ HỘI TRONG PHƯƠNG PHÁP XÃ HỘI HỌC CỦA EMILE DURKHEIM

[Lư Phạm Thiện Duy – Cần Thơ – Năm 2021]

Tóm tắt

Emile Durkheim được mệnh danh là “cha đẻ” vì ông có công trong việc xác lập vị thế độc lập của chuyên ngành Xã hội học Tác phẩm “Các quy tắc của phương pháp

Xã hội học” (1895) đã đưa ra các phương pháp luận quan trọng, những nguyên tắc cơ bản trong nghiên cứu Xã hội học, góp một vai trò to lớn trong việc tách Xã hội học ra khỏi các chuyên ngành trước đó như Triết học hay Tâm lý học Trong phạm vi của bài báo cáo này, nghiên cứu xin phép được sơ lược qua tiểu sử cùng những vấn đề chính yếu trong các phương pháp Xã hội học của Durkheim Tiếp đến, nghiên cứu sẽ đi nghiên cứu sâu ở quy tắc thứ nhất: Các quy tắc về sự quan sát “sự kiện xã hội” Từ các cơ sở ấy, tác giả bài viết sẽ đưa ra những hướng ứng dụng thực tiễn và tiến hành phê phán những mặt hạn chế của nó Bằng các phương pháp khảo cứu tài liệu và những sự phân tích của chính bản thân tác giả, bài viết sẽ mang đến độc giả có một góc nhìn tổng quan và toàn diện hơn đối với các quy tắc trong phương pháp nghiên cứu Xã hội học của Emile Durkheim và đặc biệt là quy tắc quan sát các “sự kiện xã hội”

Từ khóa: Emile Durkheim, Xã hội học, các quy tắc, phương pháp Xã hội học, sự kiện

xã hội, quy tắc quan sát sự kiện xã hội

I Đặt vấn đề

Từ khi Xã hội học ra đời cho đến nay, thế giới đã phải tiêu tốn biết bao nhiêu giấy mực cho sự hình thành của các luận thuyết, trong đó có sự góp mặt của Emile Durkheim Ông là một trong những nhà tư tưởng tiền bối vào thời kỳ sơ khởi của

Xã hội học Bởi lẽ, sống trong bối cảnh xã hội có nhiều sự biến động từ sau cuộc Cách mạng Pháp (1789), tư tưởng của ông xoay quanh việc tìm kiếm một lý thuyết mang tính quy luật nhằm thiết lập một trật tự xã hội ổn định Trong suốt

Trang 2

cuộc đời của mình, Durkheim đã rất nỗ lực trong việc xác lập vị thế độc lập của

Xã hội học thông qua các tác phẩm của mình, mà đặc biệt là “Les Règles de la méthode sociologique” hay “Các quy tắc của phương pháp Xã hội học” Trong tác phẩm, ông đã đặt ra các phương pháp nghiên cứu riêng biệt cho Xã hội học nhằm tách biệt Xã hội học với các chuyên ngành khoa học đương thời khác Chính tác phẩm này đã làm cơ sở để hình thành trường phái lý thuyết nghiên cứu định lượng trong Xã hội học Trong phạm vi nhỏ nhoi của bài nghiên cứu thì tác giả chỉ tập trung vào tìm hiểu “Các quy tắc về quan sát các sự kiện xã hội” (một trong 5 quy tắc mà Emile Durkheim đã đưa ra) Song song với đó là đưa ra những hướng ứng dụng và các góc nhìn phê phán về chúng

II Nội dung

1 Tiểu sử nhà Xã hội học Emile Durkheim

Emile Durkheim tên đầy đủ là Emile David Durkheim Ông sinh vào năm 1858 và mất năm 1917 Ông được cho là người đã đặt nền móng cho sự ra đời và phát triển của ngành Xã hội học hiện đại Sinh trưởng trong một gia đình người Do Thái ở Epinal, tỉnh Lorraine (Pháp), từ nhỏ ông đã được gia đình định hướng trở thành một mục sư trong nhà thờ (theo đạo Do Thái) Chính vì thế mà trong cách giáo dục của gia đình ông luôn hướng đến việc giảng dạy Emile Durkheim trở thành một vị linh mục nhà thờ Mặc dù sau khi lớn lên thì ông không thích điều này và ngay sau khi đến Paris để học tập, ông cắt đứt hoàn toàn mối quan hệ với đạo Do Thái Tuy nhiên, ông vẫn là một sản phẩm của một gia đình mộ đạo và chịu ảnh hưởng bởi những tư tưởng giáo dục của Do Thái giáo từ lúc nhỏ

Từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường thì ông đã chứng tỏ mình là người học trò thông minh và có khả năng với nghiên cứu khoa học Ông dễ dàng có được bằng tú tài

về văn chương (1874) và khoa học (1875) Nhưng sau đó ông lại gặp nhiều khó khăn khi thi vào trường Đại học sư phạm École Normale Supérieure, đến lần thứ

ba năm 1879 thì ông mới vượt qua được kỳ thi và được chấp nhận vào học tại đó

Trang 3

Trong những năm 1882 - 1887, mặc dù sớm quan tâm đến Xã hội học nhưng do chưa

có bộ môn này nên buộc Durkheim phải giảng dạy Triết học tại một số trường Trung học ở Paris Những công trình nghiên cứu của ông trong giai đoạn này về khoa học xã hội đã gây sự chú ý cho những nhà quản lý giáo dục tại Pháp - những người vốn không hài lòng với sự vượt trội của Triết học Đức thời kỳ đó Cộng đồng khoa học khi đó đã rất ngạc nhiên với những gợi ý của E.Durkheim về việc xây dựng và làm tái sinh lại các giá trị trường tồn của khoa học Pháp Chính vì thế vào năm 1887, ông được nhận làm giảng viên tại Đại học Bordeaux Tại đây, Durkheim chịu trách nhiệm giảng dạy các phân môn liên quan đến lý thuyết, lịch

sử và thực hành giáo dục cũng như các phân môn liên quan đến Triết học và Luật Đến năm 1896, ông được bổ nhiệm làm giáo sư và sự bổ nhiệm ấy cũng vấp phải nhiều lời phản đối Bởi lẽ, Durkheim quá nhấn mạnh đến vai trò của Xã hội học

và những nhà tiền bối lo sợ một ngày nào đó Xã hội học sẽ thống trị các ngành Khoa học xã hội khác Tại đây, ông đã cho ra đời một số tác phẩm nổi tiếng như

“Về sự phân công lao động xã hội (De la division du travail social) (1893), Các quy tắc của phương pháp Xã hội học (Les règles de la méthode sociologique) (1895) và Tự tử (Le suicide) (1897)

Năm 1898, Durkheim đã tạo một bước ngoặt lớn khi thành lập tạp chí “Năm xã hội học” (Année Sociologique) Được sự ủng hộ của các nhà khoa học trẻ, tạp chí này

đã công bố kết quả các cuộc điều tra và xuất bản nhiều chuyên khảo về Xã hội học Năm 1913, học hàm Giáo sư khoa học giáo dục của Durkheim được chính thức đổi thành Giáo sư khoa học giáo dục và xã hội học, từ đây, bộ môn Xã hội học chính thức được đưa vào giảng dạy trong nhà trường và mở đầu cho tiến trình xác lập Xã hội học trở thành một ngành khoa học độc lập tại Pháp

Đầu năm 1916, Durkheim gặp phải một bi kịch lớn khi con trai của ông là André chết trên chiến trường Điều này làm ông suy sụp hoàn toàn và lao đầu vào công việc Ông mất vào năm 1917 ở tuổi 59

Trang 4

Xét về mặt quan điểm khoa học, ông chịu ảnh hưởng nhiều từ Jean-Jacques Rousseau, Saint Simon và Auguste Comte Durkheim ảnh hưởng rất nhiều từ Comte khi ông cho rằng nhiệm vụ hàng đầu của Xã hội học là tìm ra quy luật xã hội để từ đó tạo

ra trật tự xã hội trong xã hội hiện đại Ông đã chống lại tư tưởng công lợi ở Anh vốn chủ trương giải thích các hiện tượng xã hội bằng cách nhấn mạnh đến những vấn đề lợi ích cá nhân

Nếu thuật ngữ tiếng Pháp “Sociologie” (Xã hội học) lần đầu tiên được Emmanuel Joseph Sieyès đề cập đến vào năm 1780 thì phải mất đến 50 năm sau nó mới trở nên phổ biến nhờ Auguste Comte Phải mất thêm nửa thế kỷ thì Xã hội học mới được chính thức đưa vào giới khoa học nhờ công lao của E.Durkheim Quyển

“Các quy tắc của phương pháp Xã hội học” (Les règles de la méthode sociologique) xuất bản vào năm 1895 là một trong những nỗ lực của ông nhằm xác lập ngành xã hội học mới mẻ này

2 Tổng quan về các quy tắc trong phương pháp luận nghiên cứu Emile Durkheim

2.1 Bối cảnh ra đời của các quy tắc

Các cuộc cách mạng công nghiệp thế kỷ XVIII nổ ra liên tiếp đã làm thay đổi phần lớn

bộ mặt đời sống của người dân các nước Châu Âu Các đô thị công nghiệp phát triển làm cho đời sống có sự chuyển dịch theo nhiều hướng Các mâu thuẫn về giai cấp, tôn giáo và dân tộc ngày càng trở nên phức tạp hơn bao giờ hết Trước tình hình đó, xã hội nảy sinh một yêu cầu cấp thiết cần có một chuyên ngành khoa học có thể dự báo được xu thế và đề xuất những giải pháp thật sự khả thi cho các vấn đề hiện tiền

Theo Raymond Aron (1905 - 1983)1 vào nửa đầu thế kỷ XIX đã xuất hiện ba nhà tư tưởng xã hội học tiêu biểu: Auguste Comte, Karl Marx và Alexis de Tocqueville Đứng trước sự phát triển và các cuộc khủng hoảng của xã hội Châu Âu thời điểm

1 Raymond Aron, Les Étapes de la pensée sociologique, Paris, Gallimard, 1967, tr.307 Dịch Việt: Các trào lưu chính trong tư tưởng Xã hội học (Trích dẫn lại từ tài liệu [1], tr.20).

Trang 5

bấy giờ, ba nhà Xã hội học đã đưa ra 3 cách nhìn nhận khác nhau: Với Auguste Comte (1798 - 1857) thì ông nhìn xã hội hiện đại Châu Âu như một xã hội Công nghiệp, còn với Karl Marx (1818 - 1883) thì đó là một xã hội mang màu Tư bản chủ nghĩa; Hay đối với Alexis de Tocqueville (1805 - 1859) thì đó là một xã hội Dân chủ Ba thuộc tính này phản ánh những quan điểm khác nhau về hiện trạng

xã hội Châu Âu lúc đó

Đến giai đoạn cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, vẫn theo những nhận định của Raymond Aron, có ba nhà Xã hội học tiêu biểu khác đã đánh dấu mốc trực tiếp cho sự xuất hiện của Xã hội học trên chính trường khoa học Cả E Durkheim, Vilfredo Pareto và Max Weber, sống gần như cùng thời với nhau và cả 3 đều cho rằng xã hội Châu Âu vừa trải qua một cuộc khủng hoảng, mặc dù mỗi người đều

có cách lý giải riêng cho nó2 Tuy nhiên, cả ba đều lý giải các hiện tượng xã hội xoay quanh mối quan hệ giữa khoa học và tôn giáo, giữa tư duy lý tính (pensée rationnelle) và cảm thức (sentiment) nhằm đáp ứng yêu cầu của tư duy khoa học

và yêu cầu góp phần vào sự đồng thuận và ổn định của xã hội

Với riêng Durkheim, ông sống trong giai đoạn bản lề của tư duy khoa học Trước sức

ép của những thành tựu trong các bộ môn khoa học như sinh lý học hay sinh học thế kỷ XIX, cùng những yêu cầu phải có được một chứng cứ, bằng chứng nghiên cứu khoa học rõ ràng, cụ thể tương tự như các ngành khác Durkheim bắt tay vào tìm cách đáp ứng yêu cầu xây dựng chứng cứ trong việc nghiên cứu các sự kiện

xã hội một cách có hệ thống Ông đã “vạch ra con đường đi theo lý tính thực nghiệm trong các ngành khoa học xã hội” (Jean-Michel Berthelot, 1988) Nỗ lực của Emile Durkheim trong “Các quy tắc của phương pháp xã hội học” là đi xác lập các quy tắc khoa học và đồng thời đi xây dựng nền tảng có tính chính pháp cho ngành khoa học mới - Xã hội học

Durkheim bắt đầu phác họa các ý tưởng quan trọng của phương pháp luận xã hội học trong quyển “Phân công lao động trong xã hội” (1893) Hai năm sau, ông cho ra

2 Theo Raymond Aron, Sđd, tr.307 (Trích dẫn lại từ tài liệu [1], tr.20).

Trang 6

đời cuốn “Các quy tắc của phương pháp xã hội học” (1895) nhằm trình bày một cách có hệ thống những quan điểm về phương pháp luận nghiên cứu của mình Bởi trước đó, vẫn chưa có nghiên cứu chính thức nào đưa ra một phương pháp luận hoàn chỉnh cho Xã hội học Các nguyên lý và quy tắc đã được tiếp tục vận dụng và hoàn thiện trong các công trình nghiên cứu khác Trong cả 3 tác phẩm quan trọng của ông: Phân công lao động trong xã hội, Tự tử và Những hình thái

sơ đẳng của đời sống tôn giáo đều được Durkheim khai triển theo cách thức như sau: “Thoạt đầu là định nghĩa hiện tượng, sau đó là phản bác những lối giải thích trước đó, và cuối cùng là đưa ra lối giải thích xã hội học theo đúng nghĩa của từ này về hiện tượng được khảo sát” ([1], tr.22)

2.2 Nội dung sơ lược và đặc trưng cơ bản

Quyển “Các quy tắc của phương pháp xã hội học” gồm 6 chương Chương I, Durkheim đưa ra một định nghĩa hoàn toàn mới về “Sự kiện xã hội” (Social facts) Chương

II, đề cập đến những quy tắc khi quan sát các sự kiện xã hội đó Đây cũng là chương mà bài viết này tập trung phân tích và khai thác sâu Chương III, tác giả phân biệt những hiện tượng xã hội bình thường với những hiện tượng xã hội bệnh

lý Chương IV, Durkheim tiếp tục bàn đến những quy tắc giúp phân loại xã hội dựa trên việc xem xét tiến trình phát triển của lịch sử xã hội Chương V, đề cập đến những quy tắc giải thích các sự kiện xã hội Và chương cuối cùng - chương

VI, ông đã đề cập đến những quy tắc để xây dựng chứng cứ, bằng chứng trong nghiên cứu Xã hội học

Ngay những dòng đầu tiên của phần Dẫn nhập trong quyển sách, Durkheim đã lên tiếng phê phán những lối đi trước đó - khi mà các nhà Xã hội học thời kì đầu vốn không mấy xem trọng các phương pháp

“Cho đến nay, các nhà xã hội học ít quan tâm đến việc làm rõ đặc trưng và định nghĩa phương pháp mà họ vận dụng để nghiên cứu các sự kiện xã hội”

([1], tr83)

Trang 7

Có thể nói, đặc trưng xuyên suốt tác phẩm của mình, Durkheim quan niệm phải coi các

sự kiện xã hội như thể là các “sự vật” Bởi thông thường người ta dễ dàng cho rằng mình đã hiểu rõ một sự vật hay một hiện tượng nào đó bằng cách khoác lên chúng những quan niệm, ý thức hệ của chính người quan sát Chính vì vậy, trước khi tiến hành nghiên cứu một sự vật hay hiện tượng bất kỳ, nhà xã hội học cần “tự thuyết phục” mình rằng bản thân chưa hiểu gì về các “thực tại xã hội” đó, để chúng ta (nhà nghiên cứu) có thể quan sát một cách khách quan nhất có thể - hay nói theo cách của Durkheim là chúng ta “cần phải dứt khoát gạt bỏ tất cả các tiền niệm [prénotions]” ([1], tr.134) Đặc trưng kế tiếp là giải thích các sự kiện xã hội bằng cách đi tìm nguyên nhân và chức năng của chúng Và thông thường, những nguyên nhân này xuất phát từ các sự kiện xã hội trước đó chứ không xuất phát từ các tâm lý cá nhân

3 Khảo cứu quy tắc 1: Các quy tắc về sự quan sát các sự kiện xã hội

3.1 Giải thích thuật ngữ “Sự kiện xã hội”

Trong bối cảnh trào lưu của thực chứng luận của các ngành khoa học thế kỷ XIX, E.Durkheim đã hình thành ý tưởng của mình về thuật ngữ “sự kiện xã hội” dưới những khuôn khổ của tân ngành xã hội học

Sự kiện xã hội theo những tài liệu chính thống từ Emile Durkheim thì được giải thích

là “bất cứ phương cách hành động nào [ ] có khả năng tác động lên cá nhân một

sự cưỡng chế ngoại tại” ([1], tr.106)

Hay theo Lê Ngọc Hùng ([2], tr.148-149), “sự kiện xã hội” nó mang 2 ý nghĩa

Thứ nhất, “sự kiện xã hội” mang tính “vật chất”3 Ví dụ như: cộng đồng, người dân, tổ chức xã hội, các nhóm dân cư, thiết chế xã hội cũng như tất cả những đặc điểm về chất và lượng của nó

3 Trong Các quy tắc của phương pháp xã hội học, Durkheim viết cho Lời tựa cho lần xuất bản lần 2 như thế này: “Thật vậy, chúng nghiên cứu không nói rằng các sự kiện xã hội là những sự vật chất, mà

là những sự vật xét trên cùng bình diện như những sự vật vật chất, mặc dù theo một cách khác” ([1], tr.58).

Trang 8

Thứ hai, “sự kiện xã hội” mang tính “phi vật chất”4 Ví dụ: những hệ thống giá trị chuẩn mực, đạo đức xã hội, văn hóa, phong tục, phương cách ứng xử của cá nhân trong xã hội

Nói tóm lại, “sự kiện xã hội” theo là tất cả những hiện tượng khách quan xảy ra xung quanh chúng ta và chúng được hiểu là những khuôn mẫu áp đặt, cưỡng chế các hành vi của cá nhân trong xã hội Như thế, chúng ta có thể nhận thấy được ba đặc trưng cơ bản của một “sự kiện xã hội”: tính khách quan, tính phổ biến và tính cưỡng chế

(1) Tính khách quan, tức có nghĩa các “sự kiện xã hội” tồn tại bên ngoài các cá nhân Không tự nhiên một cá thể/ cá nhân nào sinh ra đã có sẵn một nhân sinh quan hay

ý thức hệ Mà giáo dục chính là công cụ đưa những tri thức, văn hóa, chuẩn mực

xã hội thâm nhập vào bên trong mỗi cá nhân Chứng tỏ, các “sự kiện xã hội” tồn tại độc lập với ý muốn chủ quan của mỗi cá nhân, tức tồn tại khách quan với cá thể Hay theo Durkheim nói thì “bởi lẽ không phải nghiên cứu tạo ra chúng, mà nghiên cứu đã tiếp nhận chúng qua giáo dục [ ] Do đó chính những phương cách hành động, suy nghĩ và cảm nhận cho ta thấy cái đặc tính đáng chú ý là chúng tồn tại ở bên ngoài các ý thức cá nhân” ([1], tr 88-89)

(2) Tính phổ biến: các “sự kiện xã hội” bao giờ cũng là các sự kiện chung, phổ biến với rất nhiều cá nhân trong xã hội Tức có nghĩa “sự kiện xã hội” là những cái được một bộ phận cộng đồng chấp thuận và coi chúng chính là những thứ hiện hữu trong đời sống của mình

(3) Tính cưỡng chế: các “sự kiện xã hội” bao giờ cũng có sức mạnh để kiểm soát, cưỡng chế cá nhân, quy định hành vi của từng cá thể và bắt buộc phải tuân thủ

4 Trong Các quy tắc của phương pháp xã hội học, Durkheim viết trong chương I như thế này: “Sự kiện

xã hội là bất cứ phương cách hành động nào, dù cố định hay không cố định, có khả năng tác động lên

cá nhân một sự cưỡng chế ngoại tại; hoặc nữa, là bất cứ phương cách hành động nào mang tính phổ biến trong phạm vi của một xã hội nào đó, đồng thời lại có một tồn tại riêng, độc lập với các biểu hiện

cá thể của nó.” ([1], tr.106).

Trang 9

theo, dù muốn hay không muốn Đương nhiên, nếu một cá nhân phục tùng xã hội thì sự cưỡng chế này không biểu hiện Tuy nhiên, với một cá nhân xảy ra sự xung đột, chống đối với các quy định hiện tiền của xã hội (hay nói rõ hơn là chống lại tính cưỡng chế của các “sự kiện xã hội”) thì sẽ bị xem là có các hành vi “lệch lạc”

Hình: Ba đặc trưng cơ bản của một “sự kiện xã hội”

3.2 Nội dung của quy tắc

Quy tắc quan sát các “sự kiện xã hội” là một trong 5 quy tắc mà Durkheim đưa ra trong Quyển “Các quy tắc của phương tác xã hội học” [Xem rõ hơn ở phần 2.2] Trong mỗi quy tắc nói chung, Durkheim đều lập luận theo ba trình tự chính sau đây: Đầu tiên là sẽ nêu ra những hiện tượng của vấn đề; Tiếp đến là phê phán quan điểm của những người đi trước trong việc nhìn nhận vấn đề; Cuối cùng, Durkheim đưa ra những luận thuyết của chính mình về vấn đề đó Cũng như thế, trong quy tắc thứ nhất này (tức quy tắc quan sát các sự kiện xã hội), Thoạt tiên,

Trang 10

Durkheim đã nêu ra những vấn đề mà một người quan sát thường mắc phải trong quá trình quan sát các “sự kiện xã hội” (từ trang 107 - 111) Tiếp đến, ông phê phán những góc nhìn của các nhà xã hội học tiền bối như Auguste Comte, Herbert Spencer, John Stuart Mill, khi những người này quan sát các “sự kiện

xã hội” (từ trang 111 - 133); Cuối cùng, ông đưa ra 3 vấn đề lớn (3 hệ luận) trong việc quan sát một “sự kiện xã hội” mà một người quan sát cần chú ý (từ trang 133

- 158)

3.2.1 Những vấn đề chính yếu trong quan sát “sự kiện xã hội"

Với Durkheim, khi một hiện tượng trở thành đối tượng của khoa học thì chúng đã được biểu hiện bên trong đầu óc của mỗi người “không chỉ bằng những hình ảnh cảm tính, mà còn bằng những khái niệm còn ở dạng thô thiển” ([1], tr.107) Durkheim làm rõ ra vấn đề này như sau: Trước khi đưa ra những lý thuyết khoa học để giải thích về các hiện tượng tự nhiên (như nắng hay mưa) thì con người đã có những nhận thức cơ bản về nó trước đó, nhưng đôi khi những ý niệm cơ bản đó bị trộn lẫn vào bên trong những niềm tin tôn giáo Ví như quan niệm về mưa, gió ở các quốc gia Phương Đông (Trung Quốc và các nước đồng văn) là do sự tạo tác từ một thực thể gọi là “Long Vương” chẳng hạn Chính những ý niệm này làm cho chúng ta đồng nhất những hiện tượng mà mình quan sát được với những ý niệm

cố cựu sẵn có, làm mất đi tính khách quan của việc quan sát Durkheim nói rằng:

“Thay vì quan sát, mô tả, so sánh các sự vật thì ta lại bằng lòng với việc nhận thức, phân tích và nối kết các ý niệm của mình” ([1], tr.108)

Durkheim giải thích thêm rằng, những ý niệm được hình thành từ kinh nghiệm chỉ

“bộc lộ gần đúng với những thực tế thích đáng đó, và bộc lộ chỉ trong các trường hợp tổng quát thôi [ ] Vì thế, không phải cứ lập ra những ý niệm theo cách nào

đó là người ta phát hiện ra được các quy luật của thực tại” ([1], tr.109) Và việc chúng ta xem những ý niệm (sẵn có) của mình như những quy luật chung của thực tại thì chỉ là bức màn che, ngăn cách chúng ta với những sự vật mà thôi

Ngày đăng: 23/12/2023, 07:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Emile Durkheim (1894), Các quy tắc của phương pháp xã hội học (Đinh Hồng Phúc dịch) (In lần thứ hai – 317 trang), ISBN: 9786049808265, NXB Tri thức, năm 2019, trang 1-158 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các quy tắc của phương pháp xã hội học (Đinh HồngPhúc dịch) (In lần thứ hai – 317 trang)
Nhà XB: NXB Tri thức
[2] Lê Ngọc Hùng (2002), Lịch sử và lý thuyết Xã hội học (491 trang), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2008, trang 131-164 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử và lý thuyết Xã hội học (491 trang)
Tác giả: Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: NXB Đại họcQuốc gia Hà Nội
Năm: 2002
[3] Nguyễn Quý Thanh (Chủ biên), Nguyễn Quý Nghị và Lê Ngọc Hùng, Một số quan điểm xã hội học của Durkheim (Sách chuyên khảo) (246 trang), ISBN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một sốquan điểm xã hội học của Durkheim (Sách chuyên khảo) (246 trang)
[4] Trần Hữu Quang (2019), Xã hội học: Những viễn tưởng lý thuyết (In lần thứ nhất – 497 trang), ISBN: 9786049568978, NXB Khoa học xã hội, năm 2020, trang 16-50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học: Những viễn tưởng lý thuyết (In lần thứ nhất– 497 trang)
Tác giả: Trần Hữu Quang
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2019
[5] Trần Hữu Quang, Émile Durkheim và các quy tắc của phương pháp xã hội học, Tạp chí khoa học xã hội, số 173, năm 2013, trang 74-84 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Émile Durkheim và các quy tắc của phương pháp xã hội học
[6] Wikipedia (2021), “Émile Durkhem”, tct: https://vi.wikipedia.org/wiki/%C3%89mile_Durkheim, ntc: 11/01/2022 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Émile Durkhem”
Tác giả: Wikipedia
Năm: 2021

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w