1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận chính sách công đánh giá chính sách tinh giảm biên chế qua các tiêu chí đánh giá chính sách công

21 27 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá chính sách tinh giảm biên chế qua các tiêu chí đánh giá chính sách công
Trường học Học viện Khoa học xã hội
Chuyên ngành Chính sách công
Thể loại tiểu luận
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 662,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NỘI DUNG Chương 1 NHỮNG LÝ LUẬN VỀ CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH CÔNG Tiêu chí là chuẩn mực, thước đo được đặt ra với mục đích để đánh giá hoặc kiểm định giá trị, chất lượng hay mức đ

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài

Trong những năm qua, việc triển khai chính sách tinh giản biên chế theo Nghị định 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 dần đi vào quỹ đạo ổn định và hoàn thiện hơn Công đầu phải dành cho những người lãnh đạo, những người xây

dựng và ban hành chính sách Tiếp đó, là đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan hành chính nhà nước đã và đang góp phần đáng kể vào tiến trình cải cách hành chính theo mục tiêu xây dựng nền hành chính hiện đại, có tính chuyên nghiệp cao mà Đảng và nhà nước đã đề ra Trong đó, một nền hành chính hiện đại, trước hết phải có đội ngũ công chức chuyên nghiệp, thành thạo

và trách nhiệm trong một guồng máy hợp lý, khoa học Chuyên nghiệp của công chức trong bộ máy hành chính phải kết hợp các yếu tố: năng lực chuyên môn liên quan đến công vụ, sự thành thạo nghiệp vụ trong thực thi công việc được giao Thành thạo là sử dụng nhuần nhuyễn các kiến thức, kỹ năng, xử lý các mối quan hệ xã hội phát sinh trong nhà nước Trách nhiệm là nhấn mạnh yếu tố nhân cách của người công chức Tinh giản biên chế góp phần làm trong

sạch bộ máy nhà nước, chấm dứt tình trạng nể nang, bao cấp, hay những trường

hợp “sáng cắp ô đi, tối cắp ô về”, tạo dựng lên một đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có chất lượng cao, hết lòng phục vụ nhân dân, làm giàu chính đáng cho đất nước

Tuy nhiên, trên thực tế công tác xây dựng đội ngũ công chức còn nhiều bất cập,

chất lượng đội ngũ còn nhiều hạn chế Theo chia sẻ của TS.Nguyễn Viết Chức, nguyên Đại biểu Quốc hội cho rằng, tinh giản biên chế khi nào cũng là một việc khó vô cùng “Nói tới việc tinh giản biên chế đã rất ngại chứ chưa nói đến làm, bởi điều này ảnh hưởng trực tiếp tới quyền lợi từng cá nhân, từng cơ quan” Do

vậy, việc ban hành chính sách về tinh giản biên chế là cần thiết và hết sức quan

trọng

Trang 2

Để nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này, em lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Đánh giá chính sách tinh giảm biên chế qua các tiêu chí đánh giá chính sách công"

2 Những công trình nghiên cứu có liên quan

Về một số công trình nghiên cứu có lên quan đến đề tài:

TS Nguyễn Văn Tùng “Về tinh giản biên chế của các cơ quan trung ương hiện nay”, Danh mục Nghiên cứu trao đổi của Bộ Nội Vụ

Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam “Tinh giản biên chế- Việc không thể không làm”, đăng ngày 30/9/2017

Ngô Thị Vân Thúy (2019) với đề tài nghiên cứu “Thực hiện chính sách tinh

giản biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy của Ủy ban nhân dân huyện Cao Lộc,

tỉnh Lạng Sơn”, Luận văn Thạc sĩ Chính sách công tại Học viện Khoa học xã

hội

Tác giả PGS.TS Nguyễn Hữu Hải (2019) trên Tạp chí khoa học Nội Vụ đăng ngày 15/01/2019 với bài viết: “Những vấn dề đặt ra đối với tinh giản biên chế trong các cơ quan nhà nước”

Phan Chí Tiến (2020) với đề tài “Tinh giản biên chế tại các cơ quan hành chính

nhà nước tỉnh Quảng Bình”, Luận văn Thạc sĩ Quản lý công tại Học viện Hành chính quốc gia

Nguyễn Thị Bích Phương (2020) với đề tài “Tinh giản biên chế ở các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện Ba Vì- Thành phố Hà Nội”, Luận văn Thạc sĩ Quản lý công tại Học viện Hành chính quốc gia

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Trên cơ sở phân tích và làm rõ lý luận về các tiêu chí đánh giá chính sách công

để nhận xét, đánh giá chính sách tinh giản biên chế ở nước ta hiện nay

3.2 Nhiệm vụ

Với mục đích nêu trên, tiểu luận có những nhiệm vụ sau:

Trang 3

Làm rõ các vấn đề lý luận về các tiêu chí đánh giá chính sách công

Nêu lên thực trạng đánh giá chính sách công ở Việt Nam

Áp dụng lý luận đó vào đánh giá chính sách tinh giản biên chế

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng

Tập trung vào nghiên cứu, phân tích các tiêu chí đánh giá chính sách công và

áp dụng vào đánh giá chính sách tinh giản biên chế ở nước ta hiện nay

4.2 Phạm vi

Trên quy mô cả nước và giới hạn từ năm 2015-2021 theo hiệu lực thi hành của Nghị định 108/2014/NĐ-CP

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở áp dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

Cụ thể là một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau: phương pháp phân tích tài liệu, phương pháp thống nhất logic và lịch sử, phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa và hệ thống hóa, phương pháp thống kê số liệu

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài mở đầu, kêt luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm 3 chương

5 tiết

NỘI DUNG Chương 1

NHỮNG LÝ LUẬN VỀ CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH

CÔNG Tiêu chí là chuẩn mực, thước đo được đặt ra với mục đích để đánh giá hoặc

kiểm định giá trị, chất lượng hay mức độ đạt được của một sự vật, hiện tượng nào đó

Đánh giá chính sách công là việc xem xét, nhận định về giá trị các kết quả thu được khi thực hiện một chính sách công [4; tr.157]

Trang 4

Các chính sách ra đời có tầm ảnh hưởng nhất định đến các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội Do đó, việc đưa ra các tiêu chí phù hợp với các nguyên

tắc (bao gồm 5 tính: khoa học, khách quan, so sánh, phương hướng, chuẩn xác)

là không thể thiếu, để quá trình đánh giá chính sách được hoàn thiện và nhất quán Tuy nhiên, để thống nhất ra một số các tiêu chí đánh giá không phải là

một việc dễ dàng, bởi mỗi người có một cách nhìn và cách nghĩ khác nhau, nên vấn đề này thường được đặt trên bàn cân so sánh Khái quát lại, ta có 6 tiêu chí đánh giá chính sách được thể hiện như sau:

1.1 Tính hiệu lực của chính sách

Phản ánh mức độ tác động, ảnh hưởng của chính sách đó trên thực tế dựa trên mong muốn của Chính phủ Có thể hiểu là sự tác động của chủ thể chính sách lên đối tượng chịu sự tác động của chính sách, được ghi nhớ bằng mốc thời gian kể từ ngày chính sách phát huy tác dụng kể cả lợi lẫn hại

Tính hiệu lực của chính sách gồm hai loại: Hiệu lực lý thuyết và Hiệu lực thực

tế

Trong đó, một chính sách khi được ban hành sẽ có hiệu lực lý thuyết, được nhà nước công nhận và đưa vào thực hiện Hiệu lực thực tế là hiệu lực có dược khi chính sách tác động đến thực tế, làm biến đổi thực tế theo mong muốn, ý chí

của chính phủ Trong thực tế, thường hiệu lực lý thuyết của chính sách không trùng với hiệu lực thực tế của nó Chính sách chỉ đạt được hiệu lực thực tế khi

nó được áp dụng và đem lại những kết quả nhất định Hiệu lực của một chính sách là cao hay thấp chủ yếu lệ thuộc vào hiệu lực thực tế của chính sách là tốt hay là xấu bởi vì đối với nhân dân, kết quả thực tế của chính sách là quan trọng hơn ý định ban đầu của chính sách đó Ngược lại, cần phải có lý thuyết đúng đắn thì việc thực hiện chính sách mới đem lại hiệu quả thực tế khả thi Chính sách được coi là đúng đắn về lý thuyết khi nó đem lại thành công cho chính sách đó

Trang 5

Tóm lại, hiệu lực của một chính sách phản ánh tính đúng đắn cả về lý thuyết cũng như hoạt động thực tế, và là kết quả tác động tổng hợp của cả hiệu lực lý thuyết và hiệu lực thực tế.[5; tr.166]

1.2 Tính hiệu quả của chính sách

Hiệu quả của chính sách được xem xét dựa trên mức độ đạt tới mục tiêu và thành công của chính sách Câu hỏi đặt ra khi đánh giá hiệu quả chính sách:

Cần bao nhiêu nỗ lực để đạt được các kết quả có giá trị?

Tính hiệu quả của chính sách phản ánh tương quan so sánh giữa kết quả do chính sách mang lại với chi phí đã bỏ ra Công việc này được tiến hành ngay

trước khi triển khai, trong cả quá trình xây dựng chính sách và có ảnh hưởng sống còn đối với chính sách Tập trung vào cách triển khai một chính sách, các tác động trực tiếp, các chi phí và lợi nhuận trực tiếp của chính sách Xem xét các chính sách đã được triển khai đúng ý định chưa, có đạt hiệu quả đặt ra không, đặc biệt các nguồn lực phân bổ cho chính sách có đủ để phát huy hiệu quả của chính sách đó hay không?

Nhận thức đầy đủ những ưu điểm và hạn chế của phương pháp so sánh chi phí – lợi ích – cơ sở để một chính sách đảm bảo tính tối ưu Nó được xem là kênh phản hồi chính sách chủ đạo Khuynh hướng đánh giá này đang được chú trọng, nhiều nước lập ra các ủy ban độc lập để đánh giá các chính sách Ngày càng nhiều các cơ quan chính phủ cũng thành lập các bộ phận chuyên đánh giá toàn diện pháp phân tích chi phí - lợi ích thường được sử dụng để xác định hiệu quả của chính sách Nếu không quan tâm tính toán hiệu quả sẽ dẫn đến lãng phí, thất thoát tiền của và kinh phí từ ngân sách nhà nước [6; tr.168]

1.3 Tính hữu dụng của chính sách

Phản ánh mức độ vấn đề chính sách đã được giải quyết đến đâu Đánh giá tính

hữu dụng của chính sách trả lời cho câu hỏi: Việc đạt được các kết quả đã giải quyết được vấn đề ở mức độ nào?

Trang 6

Mỗi chính sách được xây dựng khởi nguồn từ việc xác định vấn đề chính sách

- đó là nhu cầu xã hội hay mâu thuẫn trong xã hội đòi hỏi Nhà nước phải sử dụng quyền lực công để giải quyết nhằm đạt tới mục tiêu hiệu quả, ổn định và công bằng xã hội Nhu cầu giải quyết vấn đề của chính sách thường thể hiện ở các mục tiêu của chính sách Tuy nhiên, đôi khi mục tiêu được đề ra quá rộng,

chung chung, không rõ ràng, khi đó dù các chính sách có được thực thi trên thực tế theo mục tiêu đề ra, thì cũng rất khó xác định vấn đề chính sách đã được giải quyết đến đâu Hơn nữa, vấn đề chính sách thường có ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh kinh tế, xã hội khác nhau Do đó, mức độ giải quyết vấn đề chính sách có thể đo lường được bằng một loạt tiêu chí liên quan đến các khía cạnh kinh tế - xã hội này Chẳng hạn, để đánh giá mức độ giải quyết vấn đề đói, nghèo, sẽ không thể chỉ đưa ra chỉ tiêu nghèo đã giảm xuống bao nhiêu phần trăm, mà còn phải xem xét các khía cạnh khác, như người nghèo được tiếp cận như thế nào đến các dịch vụ công thiết yếu, như y tế, giáo dục, nước sạch; việc tạo điều kiện cho người nghèo trong thực hiện các quyền lợi của công dân

Hay các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, cá nhân nhận nhiệm vụ đó có hoàn

thành đúng mục tiêu đề ra hay không [7; tr.172]

1.4 Tính công bằng của chính sách

Tính công bằng của chính sách là sự trà lời cho câu hỏi: các chi phí và lợi ích

có được phân phối công bằng giữa các cả nhân và các nhóm người khác nhau hay không?

Công bằng bao gồm công bằng theo chiều dọc và công bằng theo chiều ngang Công bảng theo chiều dọc là sự đổi xử khác nhau đối với những người khác nhau, đối xử với người giàu khác với người nghèo Công bằng theo chiều ngang

là sự đối xử như nhau đối với những người như nhau Có nghĩa là những nguời

có kết quả hoạt động như nhau, không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo, màu da đều được đối xử như nhau [8; tr.173]

Trang 7

Tính công bằng của chính sách thể hiện ở chỗ thông qua chính sách, Nhà nước thực hiện phân phối lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, đồng thời trợ giúp cho các đối tượng dễ bị tổn thương, như người nghèo, người già, trẻ em và người tàn tật để khắc phục tình trạng bất bình đẳng về thu nhập giữa các nhóm

xã hội Tính công bằng của chính sách còn thể hiện ở sự phân bổ hợp lý các chi phí và lợi ích, các quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia hoạch định, thực thi chính sách và các nhóm đối tượng liên quan đến chính sách Việc nhà nước thực hiện sự công bằng đến đâu là tùy thuộc vào sự đúng đần và hợp lý

của các chính sách đề ra Tuy nhiên, dù nhà nước có tác động tích cực như thế nào trong môi trường cạnh tranh của nến kinh tế thị trường thì cũng không thể đạt được sự bình đẳng tuyệt đối Do vậy, nhà nước cần phải tìm ra cách để cải

tiến tình trạng này

1.5 Tính đáp ứng yêu cầu của chính sách

Là sự trả lời cho câu hỏi: việc thực hiện chính sách để ra có đáp ứng được mong

muốn, nguyện vọng của các nhóm đối tượng của chính sách hay không ? Trên thực tế, có nhiều chính sách đề ra nhưng không đáp ứng được đấy đủ nguyện vọng của nhóm đối tượng chính sách [9; tr.177]

1.6 Tính thích đáng của chính sách

Hay còn gọi là kết hợp hợp lý giữa hiệu quả và công bằng, trả lời cho câu hỏi: Các kết quả mong muốn kết hợp giữa tính hiệu quả và tính công bằng như thế nào? Phần lớn các chính sách khi ra đời đều gây nên tranh cãi về tính hiệu quả

và công bằng xã hội, thông thường sẽ không đáp ứng được cả hai vấn đề này

Do vậy, vấn đề đặt ra cho nhà nước là cần phải làm gì để cho nhóm bị thiệt hại

về lợi ích và nhóm nhận được lợi ích cân bằng với nhau Và việc đánh giá tác động của chính sách đến các đối tượng của chính sách trong mối quan hệ giữa tính hiệu quả và tính công bằng là hết sức quan trọng và cần thiết [10; tr.177]

Trang 8

Chương 2

THỰC TIỄN CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH CÔNG Ở VIỆT

NAM 2.1 Thực tiễn công tác đánh giá chính sách ở Việt Nam hiện nay Chính sách công là một công cụ quan trọng của quản lý nhà nước Thông qua việc ban hành và thực thi các chính sách, những mục tiêu của Nhà nước được hiện thực hóa

Mỗi chính sách vận động theo một quy trình, bao gồm 3 giai đoạn cơ bản: hoạch định chính sách, thực thi chính sách và đánh giá chính sách Ở Việt Nam, lâu nay Nhà nước đã chú trọng nhiều đến khâu hoạch định và thực thi chính sách, song việc đánh giá chính sách thì dường như bị bỏ qua hoặc rất ít được quan tâm

Khi Việt Nam chuyển sang phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, đòi hỏi ban hành các chính sách để tạo ra những nhân tố, môi trường cho sự chuyển đổi trở thành cấp thiết Vì vậy, trong một thời gian dài, Nhà nước tập trung cao vào việc xây dựng và ban hành các thể chế, nhằm tạo các hành lang pháp lý cho mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội Việc hàng loạt các văn bản pháp luật ra đời dẫn đến tình trạng chồng chéo, trùng lặp, thậm chí gây ra mâu thuẫn giữa các quy định pháp lý, mà cuối cùng là sự chi phối của chúng đối với các hoạt động kinh tế - xã hội theo các chiều khác nhau, khiến cho những hoạt động này không, hoặc chưa đạt được mục tiêu mong muốn Nói cách khác, hàng loạt chính sách được ban hành, có hiệu lực thi hành, song việc chính sách đó có hiệu lực thực tế như thế nào và đáp ứng mục tiêu đặt ra đến đâu thì dường như không được quan tâm Đôi khi chính sách được ban hành chẳng những không giải quyết được vấn đề đặt ra, mà còn gây ra những hiệu ứng cánh bướm làm phức tạp thêm vấn đề Chẳng hạn, chính sách hạn chế ùn tắc giao thông trong các thành phố lớn đã được triển khai với nhiều

Trang 9

giải pháp khác nhau, song thực tế vẫn chưa giải quyết được vấn đề ùn tắc, trong khi đó một số giải pháp đưa ra, như chặn các ngã tư, thu phí chống ùn tắc lại gây ra các hiệu ứng phụ làm rắc rối thêm hiện trạng

Hơn thế, việc hoạch định chính sách (thông qua việc soạn thảo và ban hành hàng loạt văn bản pháp luật) và việc tổ chức triển khai các chính sách đó trên thực tế đã tiêu tốn tiền của của nhân dân và sức lực của không ít người, song nhiều khi các chính sách này không đem lại lợi ích tương xứng với chi phí đã

bỏ ra Do đó, đánh giá chính sách là một khâu không thể thiếu trong quy trình chính sách [11]

2.2 Những khó khăn trong việc đánh giá chính sách ở Việt Nam Thứ nhất, đánh giá chính sách là một hoạt động khá mới mẻ ở nước ta hiện nay Các cơ quan chính phủ chỉ tập trung vào giai đoạn hoạch định chính sách mà chưa có sự cân đo đong đếm mức độ ảnh hưởng, các khả năng có thể xảy ra hay các kết quả mà chính sách đó đạt được Bên cạnh đó, công tác giám sát và kiểm soát chính sách chưa được thực hiện một cách chặt chẽ Nội dung đánh giá bao gồm: đánh giá đầu vào, đầu ra, đánh giá hiệu lực và hiệu quả, đánh giá hiệu suất và quá trình, nhưng những khía cạnh này thường không được đánh giá đầy đủ

Thứ hai, trình độ của đội ngũ cán bộ thực hiện đánh giá chính sách còn hạn chế Đánh giá chính sách khá phức tạp, đòi hỏi một cái nhìn tổng thể và người đánh giá cần có kinh nghiệm chuyên sâu nhất Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam rất ít cán bộ, công chức, viên chức cuyên ngành phân tích và đánh giá chính sách, đó chỉ là mức độ ban đầu tiếp cận chính sách chứ chưa có kinh nghiệm trong lĩnh vực nào nên thiếu trang thiết bị, nhân lực để đánh giá các chủ trương với các công cụ tiên tiến Các đánh giá thường chỉ dừng lại ở khía cạnh định tính mà không đánh giá một cách chính xác kết quả định lượng của việc thực hiện chính sách

Trang 10

Thứ ba, không có tiêu chí đánh giá các chính sách một cách khoa học Thông thường, để đánh giá chính sách, người ta so sánh kết quả thu được với các mục tiêu ban đầu trong việc đề ra chính sách Việc đánh giá trở nên dễ dàng hơn nếu

có đích đến cụ thể và được giám sát thực hiện Trên thực tế, hầu hết các chính sách đều có mục tiêu định tính, nhiều mục tiêu không rõ ràng nên gặp nhiều khó khăn trong việc đánh giá và việc đánh giá trở nên thiếu chính xác

Thứ tư, đánh giá chính sách là một chiều Đánh giá chính sách thường được hiểu là công việc của các cơ quan nhà nước, phần lớn việc đánh giá do các cơ quan chính phủ thực hiện (theo quan điểm của cơ quan thực hiện) mà ít quan tâm đến các phản hồi khách quan, khảo sát hoặc tổ chức các cuộc họp công khai khi đánh giá các biện pháp, thu thập thông tin phản hồi từ người dân và từ những người hưởng lợi

Thứ năm, thiếu kinh phí cho việc rà soát các chính sách Chính sách thường được thực hiện trên quy mô lớn và trong thời gian dài mới tạo ra kết quả (thường

là theo từng giai đoạn) Ngoài ra, để đánh giá khách quan và chính xác cần đánh giá chính sách theo nhiều khía cạnh khác nhau Khía cạnh định lượng, tức là cần tổ chức điều tra, khảo sát kết quả thực hiện chính sách (một số chính sách cần nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng trước khi thực hiện chính sách để tiện so sánh, đánh giá sau này) Việc này đòi hỏi nguồn nhân lực và tài chính nhất định, nhưng ngân sách có hạn và còn nhiều vấn đề khác cần giải quyết

Chương 3 ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH TINH GIẢN BIÊN CHẾ QUA CÁC TIÊU

CHÍ ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH CÔNG Biên chế là thuật ngữ của quản lý hành chính nhà nước, nhằm chủ yếu vào quản

lý khu vực công Theo đó, Nhà nước định ra chỉ tiêu, số lượng con người (công

chức, viên chức) trong một đơn vị hành chính (cơ quan, tổ chức sự nghiệp công)

Ngày đăng: 22/12/2023, 17:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[12] Hoàng Hà (2016), T ổ ng s ố biên ch ế đã tinh giản trong năm 2015, 2016 là 16.124 ngườ i , đăng báo Tạ p chí T ổ ch ức Nhà nướ c ngày 20/08/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: T ổ ng s ố biên ch ế đã tinh giản trong năm 2015, 2016 là 16.124 ngườ i
Tác giả: Hoàng Hà
Nhà XB: Tạ p chí T ổ ch ức Nhà nướ c
Năm: 2016
[13] Truy c ậ p ngày 11/12/2021, https://dangcongsan.vn/thoi-su/nam-2017-ca-nuoc-da-tinh-gian-bien-che-33459-vien-chuc-cong-chuc-470474.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năm 2017 cả nước đã tinh giản biên chế 33.459 viên chức, công chức
Năm: 2021
[16] Truy c ậ p ngày 12/12/2021, https://tuoitre.vn/tinh-gian-bien-che-gan-23-900-nguoi-trong-nam-2020-20210527164102711.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh giản biên chế gần 23.900 người trong năm 2020
Nhà XB: Tuổi Trẻ
Năm: 2021
[14] Truy c ậ p ngày 11/12/2021, https://moha.gov.vn/tin-tuc-su-kien/diem-tin/nam-2018-giam-1-7-bien-che-cong-chuc-va-2-5-bien-che-su-nghiep-37960.htm Link
[15] Truy c ậ p ngày 11/12/2021, https://nld.com.vn/thoi-su/nam-2019-giam-44510-bien-che-2019011600134905.htm Link
[17] Truy c ậ p ngày 12/12/2021, https://dangcongsan.vn/xay-dung-dang/tinh-gon-bo-may-tang-hieu-qua-hoat-dong-546430.html Link
[1], [2] Điề u 1, 2 Ngh ị định 108/2014/NĐ -CP v ề chính sách tinh gi ả n biên ch ế . [3] M ụ c 2, Điề u 3 Ngh ị định 108/2014/NĐ -CP v ề chính sách tinh gi ả n biên ch ế Khác
[11] PGS.TS.Nguyễn Đăng Thành (2014), Đánh giá chính sá ch công ở Vi ệ t Nam: v ấn đề và gi ả i ph á p, C ụ c Ki ể m so á t th ủ t ụ c h à nh ch í nh Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w