Đây là tài liệu tiểu luận liên quan tới học phần Lịch sử, chính trị, và văn hóa Châu Á của Khoa Quốc tế học, trường Đại học Ngoại Ngữ Đại học Đà Nẵng. Đây là tài liệu được phân tích và kiểm tra kỹ về đạo văn nên các bạn yên tâm sử dụng. Tuy nhiên, đây chỉ là bài tiểu luận của sinh viên nên không thể tránh khỏi vài thiếu sót, chủ yếu dùng để tham khảo là chính.
Trang 1SỰ THAY ĐỔI TRONG CHÍNH SÁCH DÂN SỐ CỦA TRUNG QUỐC
GIAI ĐOẠN 1979 – 2021
Kiều Nguyễn Phương Quan – 20CNQTH02 Huỳnh Nguyễn Anh Quân – 20CNQTH02
Ngô Minh Tú – 20CNQTH02 Nguyễn Thị Kim Nhật – 20CNQTH02 Nguyễn Văn Huy – 20CNQTH01
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Các chữ viết tắt Viết đầy đủ bằng tiếng Việt
số - lực lượng lao động dồi dào đã giúp cho đất nước này chỉ trong ba thập kỷ đã giúpcho một đất nước nghèo đói trở thành một trong những cường quốc trên thế giới [49] Tuy nhiên để đạt được thành tựu trong khoảng thời gian ngắn, chính quyền Bắc Kinhcũng từng trải qua giai đoạn “bùng nổ” dân số khiến chính quyền này đưa ra nhữngchính sách có ảnh hưởng lớn đến nhiều lĩnh vực Đặc biệt chính sách dân số đượcchính quyền Bắc Kinh ban hành và sửa đổi trải qua 3 giai đoạn với những mục đíchkhác nhau từ năm 1979 – 2015; giai đoạn 2016 – 2020; và giai đoạn 2021 - nay
Trang 2Chính sách một con (CSMC) được ban hành vào năm 1979 – 2015 nhằm hạnchế sự tăng trưởng dân số Tuy nhiên chính sách này đã gặp nhiều ý kiến tranh cãi vìnhững hậu quả xã hội và tâm lý, bao gồm sự mất cân bằng giới tính, gia tăng tuổi giàtrong dân số và tác động tiêu cực đối với chăm sóc người già Đến năm 2016, đánhdấu cho một bước ngoặt thay đổi trong chính sách dân số là chính sách hai con(CSHC) nhằm mục đích hỗ trợ, thúc đẩy tăng trưởng dân số và giải quyết vấn đề giàhóa dân số trong tương lai, chưa đến 5 năm chính quyền Bắc Kinh lại tiếp tục thay đổithành chính sách ba con Vì vậy, chúng ta thấy được chính sách dân số của chínhquyền Trung Quốc rất đa dạng và phức tạp của các vấn đề mà quốc gia này đang đốimặt, đặc biệt trong tình hình thế giới như ngày này đòi hỏi một giải pháp hiệu quả đểcải thiện xã hội vấn đề đối nội của Trung Quốc Bên cạnh đó chính sách dân số củaTrung Quốc còn đóng vai trò quan trọng trong việc định hình tương lai của khu vực và
thế giới Chính vì những lý do trên, nhóm 7 lựa chọn đề tài “Sự thay đổi trong chính sách dân số của Trung Quốc giai đoạn 1979 – 2021” làm đề tài nghiên cứu cho bài
tiểu luận này
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của bài tiểu luận này là “Sự thay đổi trong chính sáchdân số của Trung Quốc giai đoạn 1979 - 2021”
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian của bài tiểu luận này là giai đoạn 1979 - 2021 Đây là giaiđoạn đất nước Trung Quốc trải qua ba lần thay đổi chính sách về dân số giai đoạn từ
1979 đến 2014: chính sách một con; giai đoạn từ 2015 đến 2020: chính sách hai con;
và giai đoạn từ 2021 - nay: chính sách ba con
Phạm vi không gian của bài tiểu luận này là Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa(Trung Quốc) không bao gồm các khu tự trị
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Dựa trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận thực tiễn, bài tiểu luận sẽ tậptrung nghiên cứu nhằm làm rõ về sự thay đổi trong chính sách dân số của Trung Quốc
Trang 3giai đoạn 1979 - 2021 Bên cạnh đó góp phần làm rõ về những thách thức về dân sốtại Trung Quốc hiện nay và đưa ra một số giải pháp về vấn đề này
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, bài tiểu luận sẽ thực hiện các nhiệm
vụ nghiên cứu chính sau:
Làm rõ các lý thuyết về sự thay đổi trong chính sách dân số của Trung Quốcgiai đoạn 1979 - 2021
Trình bày về quá trình điều chỉnh chính sách dân số của Trung Quốc giai đoạn
1979 - 2021
Đánh giá những thách thức và đưa ra một số giải pháp về vấn đề dân số củaTrung Quốc giai đoạn 1979 - 2023
4 Câu hỏi nghiên cứu
Những lý thuyết về sự thay đổi trong chính sách dân số của Trung Quốc giaiđoạn 1979 - 2021 là gì ?
Quá trình điều chỉnh chính sách dân số của Trung Quốc giai đoạn 1979 - 2021như thế nào ?
Những thách thức về vấn đề dân số tại Trung Quốc hiện nay và một số giảipháp là gì ?
5 Phương pháp nghiên cứu
Bài tiểu luận được thực hiện dựa trên một số phương pháp nghiên cứu chínhnhư sau:
Phương pháp phân tích chính sách được sử dụng xuyên suốt trong cả bachương, nhằm làm rõ sự thay đổi chính sách dân số, quá trình điều chỉnh, thách thức
và đưa ra giải pháp về vấn đề trong chính sách dân số ở Trung Quốc giai đoạn 1979 2021
-Phương pháp so sánh - đối chiếu nhằm phân tích các thực trạng, thách thức và
đề xuất giải pháp cho chính sách dân số tại Trung Quốc giai đoạn 1979 - 2021 ở Phần
2 và Phần 3
Trang 4Ngoài ra, các phương pháp nghiên cứu cơ bản khoa học xã hội khác cũng đượcnhóm sử dụng trong tiểu luận, bao gồm: phương pháp lịch sử, phương pháp logic,phương pháp thống kê và phương pháp dự báo nhằm làm rõ chính sách dân số trong
xã hội Trung Quốc giai đoạn 1979 - 2021 và đưa ra một số giải pháp về chính sáchdân số trong xã hội Trung Quốc Bên cạnh đó, trong từng phần nghiên cứu, bài tiểuluận, nhóm tác giả sử dụng kết hợp linh hoạt các phương pháp: phân tích - tổng hợp
và quy nạp - diễn dịch nhằm giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu
Chương này tập trung làm rõ các lý thuyết về sự thay đổi trong chính sách dân
số của Trung Quốc bao gồm: các lý thuyết về chính sách; tổng quan về dân số của
Trung Quốc giai đoạn 1979 - 2021
Phần 2: Quá trình điều chỉnh chính sách dân số của Trung Quốc giai đoạn 1979
-2021
Chương này đi sâu phân tích về các chính sách dân số của Trung Quốc ở hai
giai đoạn: giai đoạn 1979 - 2014; giai đoạn 2015 - 2021
Phần 3 Những thách thức về vấn đề dân số của Trung Quốc hiện nay và một số giải pháp
Chương này tập trung đánh giá những thách thức về vấn đề dân số của TrungQuốc hiện nay Qua đó, bài tiểu luận sẽ đưa ra một số giải pháp cho chính sách dân sốcủa Trung Quốc
NỘI DUNG CHÍNH PHẦN 1 LÝ THUYẾT VỀ SỰ THAY ĐỔI TRONG CHÍNH SÁCH DÂN SỐ CỦA TRUNG QUỐC GIAI ĐOẠN 1979 - 2021
Trang 51.1 LÝ THUYẾT VỀ DÂN SỐ
1.1.1 Vai trò của dân số
Trong quan hệ quốc tế, ngoài sáu thành tố để cấu tạo nên quyền lực của mộtquốc gia thì dân số được xếp thứ hạng thứ hai Theo GS TS Hoàng Khắc Nam, dân sốđược chia thành ba yếu tố sau: số lượng dân cư, thành phần dân cư, và lực lượng quân
sự Để lý giải cho điều này, dân số đóng một vai trò quan trọng trong việc gia tăng sứcmạnh của quốc gia Bởi số lượng dân số càng đông sẽ đem lại cho quốc gia một nguồnnhân lực dồi dào, bên cạnh đó còn là một nguồn tiêu thụ sản phẩm trong thị trườngthương mại Điều này sẽ giúp cho các quốc gia phát triển kinh tế Không chỉ vậy, dân
số càng đông sẽ có một thành phần dân cư đa dạng, giúp ích cho các quốc gia muốngia tăng quyền lực của mình thông qua mối quan hệ đồng tộc [1] Ngoài ra, quốc giacần có một lực lượng quân sự to lớn để có thể chống lại các thù địch bên ngoài bởiquân sự là một trong những thành tố căn bản nhất của quyền lực theo Chủ nghĩa hiệnthực Chính vì vậy, để một quốc gia hùng mạnh cần có một lượng dân số đông để cóthể góp phần vào kinh tế cũng như quân sự trong nước - đây được coi là một điềuquan trọng không thể thiếu Tuy nhiên, các quốc gia cần phải có những điều kiện đápứng nhằm đảm bảo vai trò dân số phát huy đúng theo khả năng của nó mà không bịphản tác dụng ngược
1.1.2 Chính sách dân số
Chính sách dân số là tập hợp các biện pháp được Nhà nước thực hiện nhằmđiều tiết, kiểm soát và phân bổ số lượng dân trong quốc gia hoặc khu vực cụ thể.Chính sách dân số được thực hiện bằng nhiều cách thức khác nhau, ví dụ như: khuyếnkhích sinh con, khuyến khích nhập cư để tăng quy mô dân số, ngược lại, các biện phápnhư hạn chế sinh dùng để giảm dân số Ngoài ra, chính sách dân số cũng có thể nhằmmục đích điều chỉnh sự phân bổ dân số trên toàn quốc bằng cách khuyến khích di cưhoặc di dời dân số [55]
1.1.3 Già hóa dân số
Trang 6Già hóa dân số (GHDS) là một hiện tượng tỷ lệ người cao tuổi (NCT) trên 60tăng mạnh trong tổng dân số của một quốc gia hay một khu vực bất kì Già hóa dân sốthường xuất hiện khi tuổi thọ trung của quốc gia hay khu vực đó tăng lên và hiệntượng này thường đi kèm với tỷ lệ sinh giảm Tình trạng già hóa dân số diễn ra khắpthế giới và diễn ra mạnh mẽ và rõ ràng nhất là các quốc gia có nền kinh tế phát triển.[24]
1.1.4 Mất cân bằng giới tính
Mất cân bằng giới tính khi sinh là số bé trai sinh ra còn sống cao hơn hoặc thấphơn ngưỡng bình thường so với 100 bé gái Vấn đề này xuất hiện khi tỷ số giới tínhtrẻ nam khi sinh lớn hơn 106 hoặc nhỏ hơn 104 so với 100 trẻ nữ [19] Mất cân bằnggiới tính khi sinh dẫn đến tình trạng mất cân bằng giới tính (MCBGT) trong xã hội,nghĩa là tình trạng dân số có sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ giới tính nam và nữ trongmột quốc gia hoặc khu vực cố định trong một thời điểm nhất định Điều này đe dọatrực tiếp đến sự ổn định của dân số của các quốc gia trên thế giới
1.2 TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH DÂN SỐ CỦA TRUNG QUỐC GIAI ĐOẠN 1979 - 2021
1.2.1 Giai đoạn 1979 - 2014
Vào năm 1979, dưới thời của Mao Trạch Đông (MTĐ), dân số Trung Quốc tăng lên đáng kể Tổng dân số năm 1979 là 960 triệu người tăng gần gấp đôi so với năm 1949 là 540 triệu người Dưới sự gia tăng dân số này, dân số Trung Quốc đã gặpnhiều vấn đề nghiêm trọng như: tình trạng nơi ở thiếu thốn và công việc không được phân bổ đồng đều Trong giai đoạn này, Trung Quốc đã đề ra một chính sách để hạn chế tỷ lệ gia tăng dân số Sau khi chính sách được đề ra, dân số Trung Quốc đã được
ổn định hơn
1.2.2 Giai đoạn 2015 - 2020
Năm 2015, Trung Quốc ghi nhận tổng số dân gần 1,4 tỷ người Ở giai đoạnnày, Trung Quốc phải đối mặt với thách thức của việc già GHDS, với tỷ lệ ngườigià tăng lên Trung Quốc sẽ chứng kiến sự bùng nổ dân số già với trung bình 8 triệungười bước sang tuổi 60 mỗi năm, tăng so với mức trung bình 4,8 triệu người trong
Trang 7giai đoạn 2006 – 2010 Trong khi đó, tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động, từ 15 đến
59 tuổi, sẽ chạm đỉnh và sau đó bắt đầu suy giảm [39] Điều này tạo ra áp lực lớnđối với hệ thống chăm sóc sức khỏe và hệ thống hỗ trợ NCT Chính vì vậy, TrungQuốc đã xóa bỏ CSMC ban đầu và áp dụng CSHC nhằm ứng phó với vấn đềGHDS
1.2.3 Giai đoạn 2021 - nay
Tổng cục thống kê Trung Quốc cho rằng rất có thể trong tương lai Trung Quốc
sẽ nhường vị thế quốc gia đông dân nhất thế giới cho Ấn Độ, bởi hiện nay, lần đầutiên dân số Trung Quốc đang giảm xuống Năm 2022, dân số Trung Quốc là 1,411 tỷngười, giảm khoảng 850.000 người so với năm 2021 [22] Trước tình trạng dân số có
xu hướng giảm, Trung Quốc sẽ phải đối mặt với các vấn đề về nhân khẩu học, đó làGHDS và thiếu hụt lực lượng lao động Hiện nay, NCT chiếm gần 1/5 dân số TrungQuốc Một số chuyên gia cảnh báo, viễn cảnh Trung Quốc có thể đang đi vào conđường giống Nhật Bản, đối với mặt GHDS Khi tỷ lệ sinh giảm, trong tương lai, lựclượng lao động sẽ giảm Hiện nay, Trung Quốc đang có kế hoạch khuyến khích cácgia đình sinh nhiều hơn một con, một số địa phương còn thưởng tiền cho các giađình vừa sinh con hoặc đề xuất trợ cấp nhà ở cho các gia đình đông con
PHẦN 2 QUÁ TRÌNH ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH DÂN SỐ CỦA TRUNG QUỐC GIAI ĐOẠN 1979 – 2021
2.1 CHÍNH SÁCH MỘT CON (1979 – 2014)
2.1.1 Nguyên nhân chính sách
Dân số Trung Quốc dưới thời ông MTĐ đã tăng đột biến từ 541 lên 968 triệungười chỉ trong 30 năm từ năm 1949 đến năm 1979 [44], [54] Đây là một trongnhững hậu quả của chiến dịch “Đại Nhảy Vọt” - chiến dịch mà chủ tịch MTĐ hy vọng
sẽ giúp Trung Quốc phát triển mạnh mẽ về kinh tế với tham vọng đưa quốc gia nàysánh ngang thậm chí vượt mặt các nước lớn như Nga, Anh, Mỹ Trung Quốc đã dựavào nguồn nhân lực dồi dào để phát triển kinh tế thay vì những linh kiện máy móchiện đại như các nước phát triển khác Vì vậy, dưới thời chính quyền MTĐ, dân sốnước này tăng một cách chóng mặt Đồng thời, bên cạnh bài toán làm sao để đưa
Trang 8Trung Quốc trở lại thời hoàng kim thì một bài toán khác mà Chính phủ Trung Quốccần phải giải quyết đó là vấn đề dân số Sau sự ra đi của chủ tịch MTĐ, dưới sự lãnhđạo của ông Đặng Tiểu Bình (ĐTB), Chính phủ Trung Quốc đã ban hành chính sáchmột con, nhằm mục đích kiểm soát dân số và tập trung vào phát triển kinh tế và cảithiện chất lượng cuộc sống của người dân
Đến năm 1980, dưới sự lãnh đạo của chính quyền ĐTB, CSMC mới đượcthống nhất trên toàn quốc và thông qua Hiến pháp từ năm 1982 CSMC vẫn có một sốngoại lệ như: cha mẹ là dân tộc thiểu số, những gia đình có con sinh ra bị khuyết tật ;hoặc bố và mẹ một trong hai người chưa có con ở cuộc hôn nhân trước; hay bố và mẹ
là con một trong gia đình của họ Bên cạnh đó, các gia đình ở nông thôn có thể đẻthêm con nếu như đứa đầu tiên là con gái Nếu những gia đình nông thôn tuân thủchính sách, những phần thưởng mà họ có thể nhận được là giảm thuế hoặc được sửdụng diện tích đất và rừng lớn hơn
Để thực hiện được chính sách này, chính quyền Trung Quốc đã hỗ trợ về tàichính cũng như công việc cho các gia đình, đối với những trường hợp có ý định chốngđối và vi phạm thì sẽ có những hình phạt như phạt tiền với mức phạt khá nặng, ngoài
ra các biện pháp mạnh tay như cưỡng bức phá thai và triệt sản cũng được sử dụng.Việc chính sách một con ra đời là một bước ngoặt lớn của Chính phủ Trung Quốc với
hy vọng có thể kiểm soát được dân số và giảm tỉ lệ sinh đẻ [53], [46]
2.1.3 Tác động chính sách
Chính sách một con với mục tiêu cải thiện đời sống người dân và kiểm soát tỉ
lệ dân số của chính quyền của ông ĐTB đã nhận rất nhiều ý kiến của người dân bởi nó
Trang 9tác động trực tiếp đến đời sống của họ và được thể hiện rõ ở nhiều khía cạnh khácnhau.
Về kinh tế, sự tăng trưởng về dân số đóng góp không nhỏ trong tăng trưởngGDP của một nước GDP của Trung Quốc giai đoạn (1962-1979) là 7,14% và sau khiban hành chính sách một con thì con số này đã tăng lên 9,93% từ năm 1980 - 2012, cóthể thấy nền kinh tế nước này có chuyển biến tốt khi ban hành chính sách một con.Tuy nhiên sự ảnh hưởng của tốc độ tăng trưởng của dân số lên sự tăng trưởng kinh tếgiảm từ 31% xuống 18% [46]
Về dân số, ước tính có đến 400 triệu ca sinh đẻ đã được ngăn chặn kể từ khichính sách này được ban hành, trung bình một người phụ nữ có tỉ lệ sinh là 1,6 lần, tỉ
lệ gia tăng dân số giảm còn 0,52% [3], [11] Tầm quan trọng của một gia đình đôngcon cũng đã được thay đổi rõ rệt kể cả ở thành thị lẫn nông thôn, người ta không cònquan trọng việc gia đình có nhiều con hay không [50]
Về xã hội, CSMC đã gây ra không ít những hậu quả cho các gia đình TrungQuốc Các gia đình Trung Quốc muốn đẻ con trai nhiều hơn là con gái, vì vậy khi biếtmình mang thai con gái đầu lòng thì rất nhiều người đã lựa chọn phá thai với hy vọnglần mang thai sau sẽ là con trai, vì quan điểm đó mà tỉ lệ phá thai nhi nữ tăng vọt Ướctính khoảng 20 triệu bé gái "đã biến mất" thông qua nạo, phá thai hoặc các nguyên
nhân khác từ những năm 1980 tới 2010 Ngoài ra, sự MCBGT ở Trung Quốc ngày
càng gia tăng và vai trò của phụ nữ ở Trung Quốc ngày càng bị xem thường, ít coitrọng Không dừng lại ở đó, sự MCBGT làm cho phụ nữ ở Trung Quốc trở nên khanhiếm, vì vậy việc lập gia đình trở thành một khó khăn lớn cho đàn ông nước này Từđây, ý định tìm vợ từ các nước láng giềng của đàn ông Trung Quốc bắt đầu nhennhóm, dẫn đến vấn nạn buôn người sang biên giới gây nhức nhối xã hội Không chỉphụ nữ nước ngoài là nạn nhân của nạn buôn người mà ngay cả người dân TrungQuốc cũng không phải là ngoại lệ Theo thống kê của các bài báo lớn ở Trung Quốcthì mỗi năm có đến 200,000 trẻ em gái nước này bị bắt cóc, bắt giữ 16,000 đối tượng
về hành vi buôn bán trẻ em và phụ nữ, gây ra nỗi lo bất an cho người dân nơi đây.[10],[11], [36], [29]
Trang 10Qua đó, thấy được CSMC của Trung Quốc mặc dù đảm bảo cho việc phát triểnvượt bậc của đất nước nhưng cũng để lại những hậu quả ảnh hưởng đến cho các thế hệsau Về lâu dài, tác động mà chính sách này mang lại là sự kìm hãm trong việc cảithiện dân số trẻ.
2.2 CHÍNH SÁCH HAI CON (2015 - 2021)
2.2.1 Nguyên nhân chính sách
Sau 36 năm theo đuổi chính sách một con cứng rắn do chính quyền ĐTB đề ra,tình hình Trung Quốc ngày càng có những chuyển biến tích cực Kể từ Hội nghịTrung ương 3 khóa XI của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước ĐTB đã mởđầu khởi xướng công cuộc cải cách kinh tế - xã hội và mở cửa Điều này đã giúpTrung Quốc “chuyển mình” ngày một phát triển và mở rộng, trở thành một cườngquốc với nền kinh tế không thể thiếu trên thị trường quốc tế, chỉ đứng sau Mỹ Từ mộtđất nước được xếp hạng là một trong các nước nghèo trên thế giới với GDP bình quânđầu người chỉ ở mức 156 USD [49], GDP của Trung Quốc với ước tính đã tăng 34lần, giúp cho GDP đầu người ở Trung Quốc tăng 50 lần, đạt 8.800 USD vào năm
2017 [49] Tuy nhiên, vào năm 2015, Trung Quốc phải đối mặt với tình trạng GHDSđang đe dọa tới sự phát triển kinh tế và hệ thống y tế Vì vậy, Chính phủ Trung Quốc
đã chính thức thông báo cho phép mỗi cặp vợ chồng đều được sinh hai con, chínhsách này bắt đầu có hiệu lực vào năm 2016 [5] Đây được coi là một dấu mốc mới chochính sách dân số của Trung Quốc nhằm ngăn chặn tốc độ già hóa nhanh của lựclượng lao động
2.2.2 Nội dung chính sách
CSHC tại Trung Quốc một lần nữa đánh dấu sự thay đổi trong việc cải cáchcủa đất nước Sau 36 năm duy trì CSMC gây tranh cãi, thì chính quyền này phải đốimặt với sự già hóa dân số trong tương lai Theo dự báo của một số chuyên gia phântích, Trung Quốc sẽ giảm 35 triệu lao động trong vòng 5 năm (2021 - 2025) và tỷ lệngười trong độ tuổi lao động sẽ chỉ chiếm một nửa dân số Trung Quốc vào năm 2050.Điều đáng cảnh báo khi giai đoạn 2000 - 2010 tỷ lệ người trong độ tuổi lao động tạiTrung Quốc giảm từ 70,1% xuống còn 63,3% vào năm 2020 [7] Có thể nói CSMCvới mục đích hạn chế về sự gia tăng dân số của Trung Quốc nhằm thúc đẩy cho sự
Trang 11bùng nổ kinh tế, tuy nhiên, hậu quả mà chính sách này mang lại là một xã hội đầy bất
ổn khi có tỷ lệ chênh lệch lớn giữa dân số già và trẻ Chính vì vậy, mục tiêu mà CSHChướng đến là nhằm nỗ lực cân bằng tỷ lệ dân số quốc gia để đảm bảo nguồn nhân lựcdồi dào cho việc phát triển kinh tế
2.2.3 Tác động chính sách
Thực tế cho thấy vấn đề dân số tại Trung Quốc có sự chênh lệch giữa dân sốgià và trẻ nguyên nhân bắt nguồn từ CSMC mà chính quyền ĐTB đã để lại Mặc dùCSHC được ban hành bởi chính quyền Tập Cận Bình (TCB) với mục tiêu khuyếnkhích mỗi gia đình có hai con - động thái nhằm giải quyết vấn đề dân số già của đấtnước Tuy nhiên, tác động mà chính sách này đem lại cho xã hội Trung Quốc vẫnkhông thể cải thiện sâu sắc
Thứ nhất, sự gia tăng dân dân số vẫn không đạt được như mong muốn Trongnhững năm đầu triển khai chính sách, tỷ lệ sinh tăng đột biến đạt 5,4 triệu ca sinh [45]nhưng những năm sau đó tỷ lệ sinh vẫn tiếp tục giảm qua từng thời kỳ Năm 2019, cảnước Trung Quốc chỉ ghi nhận 14,65 triệu ca sinh, tỷ lệ sinh giảm xuống dưới 10,5trên 1000 - thấp nhất kể từ năm 1952 [52] Đến năm 2020, chỉ có 43% các cặp vợchồng sinh con thứ hai, giảm so với năm 2017 là 50% và đến cuối năm 2021, dân sốTrung Quốc chỉ tăng 480.000 người, đạt 1,4124 tỷ người [7]
Thứ hai, sự chênh lệch giữa giới tính trong xã hội Trung Quốc Chính quyềnBắc Kinh đã khuyến khích mỗi hộ gia đình sinh con thứ hai bằng một số ưu đãi như:phát tiền mặt, trợ cấp về nhà ở và kéo dài thời gian nghỉ thai sản [21] Nhưng do hậuquả từ CSMC, khiến cho các gia đình cố gắng có được một người con trai do ảnhhưởng tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, khiến cho xã hội Trung Quốc đối mặt với tìnhtrạng dư thừa đàn ông Theo thống kê vào năm 2022, tổng cộng 722,06 triệu nam giới
và 689,69 triệu nữ giới trong tổng dân số; trong đó nam giới hơn nữ giới 32,27 triệungười [14] Đây cũng là một trong những nguyên nhân góp phần làm cho tình trạnggià hóa ngày càng tăng nhanh
Nhìn chung, CSHC được áp dụng vẫn chưa đạt kết quả như mong đợi, vì vậychưa đầy 5 năm, Trung Quốc lại tiếp tục triển khai chính sách ba con nhằm cải thiệntình hình dân số tại đất nước này Tuy nhiên cho đến nay, các thống kê cho thấy tỷ lệsinh tại Trung Quốc vẫn tiếp tục giảm so với cùng kỳ của các năm trước với năm 2020