1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Danh thần xứ Nghệ với nghìn năm Thăng Long pot

15 491 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 206,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo sử sách, danh thần xứ Nghệ đều là những người tài giỏi, có nhân cách, có nghĩa khí, trọng đạo lý làm người, sống gần gũi quần chúng, yêu nước, dám cản việc trái, dám trình bày việc

Trang 1

Danh thần xứ Nghệ với nghìn năm Thăng Long

Đã nói danh sĩ, danh tướng phải đề cập đến danh thần Nhiều danh sĩ, danh tướng

đã trở thành danh thần Danh thần là gì? Thần là bề tôi, chỉ người làm quan có tiếng giỏi Theo sử sách, danh thần xứ Nghệ đều là những người tài giỏi, có nhân cách, có nghĩa khí, trọng đạo lý làm người, sống gần gũi quần chúng, yêu nước, dám cản việc trái, dám trình bày việc phải mà không sợ những kẻ có chức trọng, quyền cao hơn, mang nhiều chính nghĩa cao

Đã nói danh sĩ, danh tướng phải đề cập đến danh thần Nhiều danh sĩ, danh tướng đã trở thành danh thần Danh thần là gì? Thần là bề tôi, chỉ người làm quan

có tiếng giỏi Theo sử sách, danh thần xứ Nghệ đều là những người tài giỏi, có nhân cách, có nghĩa khí, trọng đạo lý làm người, sống gần gũi quần chúng, yêu nước, dám cản việc trái, dám trình bày việc phải mà không sợ những kẻ có chức trọng, quyền cao hơn, mang nhiều chính nghĩa cao Học rộng, đỗ cao, có nhiều công lớn đối với tổ quốc giang sơn, kẻ văn, người võ Khi chiến tranh cũng như hòa bình, họ đều nuôi một ý chí tiết tháo, một hoài bão muốn giúp ích nước nhà Hoài bão muốn giúp ích nước nhà ấy, tùy từng lúc từng thời, từng quan niệm mà

có nội dung khác nhau, song nhìn chung, gặp lúc nợ nước thù nhà phải trả, hay lúc triều đình cần có mưu, có trí tuệ sáng suốt để giữ nền bình trị, để ứng phó với ngoại bang, để giữ thể diện quốc gia,… họ đều giữ vững châm ngôn vàng đá:

“Giàu sang không bị cám dỗ, uy vũ không bị khuất phục” Đã làm cha mẹ dân, từ lúc đi học họ đã nghĩ đến câu: “Cách vật trí tri, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”

Nói đến các danh thần xứ Nghệ, Nguyễn Xuân Ôn có câu thơ:

Non nước Châu Hoan đẹp tuyệt vời Sinh ra trung nghĩa biết bao người 1

Họ coi:

Sống có võng lọng là sống nhớp

Trang 2

Chết không đao gươm là chết nghiệp 2

Gặp lúc gian nan họ không nghiêng ngả mà luôn giữ lòng cô trung Tấm lòng cô trung của họ, quân địch phải sợ hãi “Nhất phiến cô trung tặc đởm hàn” (Phan Đình Phùng) Bài viết này chỉ đề cập một số danh thần xứ Nghệ từ Hậu Lê, tức là từ cuối đời Lê Chiêu Thống (1787-1788) trở về trước, thời gian thủ đô ở Thăng Long

Dưới đây là một số danh thần tiêu biểu được sử sách nói đến nhiều:

1 Hồ Tông Thốc (Thế kỷ XIV): Danh thần đời Trần, người làng Thổ

Thành, xã Thái Trạch, nay là xã Thọ Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An, đỗ trạng nguyên những năm Thiệu Khánh (1370-1372), đời vua Trần Nghệ Tông được giữ chức Học sĩ Viện Hàn lâm, sau đó vào cuối đời Trần Phế Đế (1377-1388), ông được thăng đến chức An phủ sứ rồi Thừa chỉ Viện Hàn lâm, kiêm Trung thư lệnh Viện thẩm hình, tước Đường quận công

Thời gian làm Trung thư lệnh Viện thẩm hình, ông đã từng truy tố, xét hỏi nhiều

vụ kiện một cách ngay thẳng, công minh, trừng trị nhiều tham quan ô lại Một lần

đi sứ nhà Nguyên (Trung Quốc), qua đền thờ Hạng Vũ, ông có đề bài thơ chữ Hán,

mà đây là bản dịch:

Non nước trăm hai ruổi bụi hồng, 3 Đem đoàn tử đệ đến Quan Trung 4 Khói tan Hàm Cốc cung châu lạnh, 5 Tuyết rã Hồng Môn đấu ngọc không 6 Thua chạy trời xui đường Trạch Tả 7 , Quay về đất lấp nẻo Giang Đông 8 Năm năm lặn lội hoài công cốc, Còn được vùi trong mả Lỗ Công 9

Trang 3

Bài thơ cho Hạng Vũ là một anh hùng cái thế, song xoay thiên hạ không lấy trí, lấy nhân làm gốc, mà chỉ lấy cường lấy bạo làm chính, dùng hình pháp trái thường, hung uy quá tệ,… nên cuối cùng thất bại thảm hại Bài thơ cho ta thấy rõ

sĩ khí của một danh thần Đại Việt

2 Nguyễn Biểu (?- 1413): Danh thần đời Hậu Trần, quê ở xã Bà Hồ, sau

đổi là Minh Hồ, nay là xã Yên Hồ, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh, đỗ Thái học sinh (Tiến sĩ) thời cuối Trần Ông tham gia cuộc khởi nghĩa của nhà Hậu Trần (1409-1413), khi vua Trần Trùng Quang lãnh đạo, được giữ chức Điện tiền thị ngự sử

Vì không hiểu đúng dã tâm của kẻ thù, vua Trần Trùng Quang muốn dùng thương lượng để giành lại quyền tự chủ Năm 1413, mặc dù đã phải rút quân vào Hóa Châu (Huế), Trùng Quang vẫn cử ông làm sứ thần sang nhà Minh cầu phong Khi đi qua vùng Nghệ An, tướng Minh là Trương Phụ cho bắt ông lại Vốn là người yêu nước lại bất khuất nên khi Trương Phụ bắt ông lạy, ông không chịu Giặc bày tiệc, dọn cỗ đầu người mời ông ăn Ông bình tĩnh, dùng đũa khoét lấy mắt rồi nuốt Trương Phụ kinh dị, đã thả ông đi Nhưng vừa đến sông Yên Quốc thì giặc cho người đuổi theo bắt ông lại Biết rõ dã tâm của giặc, ông bèn viết vào cầu 7 chữ “Nhất nguyệt, thất nhật, Nguyễn Biểu sử” (Ngày mồng 7 tháng 7, Nguyễn Biểu chết) Trở lại thành Nghệ An, ông đã mắng vào mặt Trương Phụ

“Trong lòng thì mưu lấy nước người ta mà ngoài mặt thì phô trương là quân nhân nghĩa, đã hứa lập con cháu họ Trần mà lại lập quận huyện; không những cướp của cải mà còn sát hại sinh dân, thật là quân giặc bạo ngược” Đúng như ông dự đoán, Trương Phụ tức giận đã sai trói ông ở cột cầu Yên Quốc, để nước lên dìm chết

Đời Hồng Đức, vua Lê Thánh Tông tuyên dương tiết nghĩa, cho lập đền thờ ông ở Bình Hồ, phong là Nghĩa Sĩ đại vương Một danh sĩ đã đề câu liễn:

Ma tặc thất thanh thiên địa động

Đề kiều thất tự cổ kim bi

Dịch nghĩa:

Trang 4

Chửi giặc một thôi đất trời cảm động

Đề câu bảy chữ, xưa nay (mọi người) đều thương xót

3 Bùi Cầm Hổ (1390-1483): Danh thần thời Lê sơ, quê làng Đậu Liêu, huyện

Thiên Lộc, nay cũng là xã Đậu Liêu thuộc thị xã Hồng Lĩnh, Hà Tĩnh

Lúc nhỏ du học ở kinh sư, nổi tiếng là thông minh, tuấn tú, đặc biệt về việc minh oan cho một phụ nữ trong vụ án dâng cháo lươn cho chồng ăn, chồng bị chết Việc đến tai Lê Thái Tổ, vua cho làm quan đến chức Đô đài ngự sử Không qua thi

cử mà được cất nhắc làm quan cao, buổi đầu đình thân không chịu, song qua một

số việc cụ thể, nhất là hôm lễ ở Thái miếu, họ tâu với vua là cử ông đọc văn tế Đang đọc, có người chơi khăm, đèn nến trên điện bỗng tắt, ông cứ đọc trầm không sai một chữ Vua càng khen là người có tài

Năm Ất Mão (1433), Lê Lợi cử ông sung chức phó sứ sang Trung Quốc Người Minh bảo ông: “Về gây nổi loạn trong triều chính sẽ phong vương cho” Ông đáp: “Tôi sang đây, vâng lệnh vua giữa quốc thể, không phải để phản lại vua tôi, bán nước cho quý quốc” Người Minh giận lắm song cũng rất phục ông

Đời vua Lê Thái Tông, năm 1438, ông xin chứa lương thực để đề phòng việc biên ải phía Bắc Vua nghe theo Mùa đông năm ấy, ông lại được sung làm phó sứ sang Minh để giải quyết việc rắc rối về biên giới thuộc địa phương phủ Thái Bình, tỉnh Quảng Tây Ông đã hoàn tất mọi việc một cách tốt đẹp

Thời Nhân Tông, niên hiệu Thái Hòa (1443-1453), ông được thăng làm Tham tri chính sự Trải thờ 3 triều vua, lúc nào cũng thanh liêm chính trực, có nhiều kế sách hay, nổi tiếng danh thần một thời

4 Ngô Trí Hòa (1563-1628): Danh thần thời Lê, quê xã Lý Trai, huyện

Đông Thành, nay là xã Diễn Kỷ, huyện Diễn Châu, con của Ngô Trí Trai Lúc nhỏ thông minh, học giỏi, nổi tiếng là thần đồng Năm 28 tuổi ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến

sĩ xuất thân (Hoàng giáp), khoa Nhâm Thân, niên hiệu Quang Hưng (1592) Cùng khoa ấy, cha ông là Ngô Trí Tri đỗ Tam giáp đồng tiến sĩ

Trang 5

Ngô Trí Hòa làm quan nhiều nơi: Sơn Tây, Thanh Hóa, rồi về triều Làm quan đến chức Hiệp mưu tá lý dực vận tán trị công thần, Hộ bộ thượng thư kiêm

Tế tửu quốc tử giám rồi lên đến chức Thiếu Bảo, tước Phú Xuân hầu Khi đi sứ nhà Minh, ông đối đáp giỏi, làm tròn sứ mệnh vua, rạng rỡ sứ thần Đại Việt10

Những năm Hoằng Định (1601-1619), được cử làm tướng đem quân đánh giặc ở Hải Dương, Lạng Sơn, Sơn Tây, Tuyên Quang, được tấn phong Dực vận công thần Như vậy, ông là người văn võ kiêm toàn

Ngô Trí Hòa nổi tiếng về một bài Khải gửi cho chúa Trịnh Tùng, nêu 6 điều cần thiết để sửa sang chính trị, trong 6 điều thì 5 điều nói đến dân: nuôi sức dân, không phiền dân, giúp dân có của thừa, để dân ở yên lành và bảo vệ tính mệnh cho dân

Ở quê, ông chiêu dân lưu tán, thành lập một khu dân cư, đó là thôn Đông Trai, giúp dân làng Phương Lịch đắp đê ngăn mặn, lại mở chợ, khai hoang, làm lợi lâu dài cho dân Khi mất được tặng Thái phó, tước Xuân quận công Triều đình hạ chiếu cho lập đền thờ và giao Tiến sĩ Thượng thư Nguyễn Nghi viết văn bia Hiện

có câu đối:

Lưỡng quốc Trạng nguyên, thiên hạ hữu,

Đồng khoa phụ tử, thế gian vô

Dịch:

Trạng nguyên hai nước, thiên hạ có

Phụ tử đồng khoa, thế gian không

Và tấm bia đá khắc bài văn bia nói trên dài 2.662 chữ

5 Hồ Sĩ Dương (1621-1681): Danh thần đời Hậu Lê Người xã Hoàn Hậu

nay là xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu Xuất thân nhà nghèo, cha mất sớm, mẹ tần tảo nuôi ông ăn học Tư chất thông minh, học rất giỏi Hoàn cảnh lúc nhỏ rất

Trang 6

khó khăn Ông và mẹ ông phải lấy đình chợ Nồi làm nhà và hàng ngày ngồi bán nước ở chợ Nồi để sống qua ngày

Bước đường khoa cử của ông cũng lận đận Thi hương đỗ giải Nguyên năm Ất Dậu (1645), nhưng mãi đến năm Nhâm Thìn, niên hiệu Khánh Đức 4 (1652) ông mới đậu Đệ tam giáp đồng tiến sĩ Năm Vĩnh Thọ 2 (1659), đậu khoa Đông các, đứng thứ 2 Ông làm quan đến chức Tham tụng kiêm thượng thư Bộ Hình, kiêm Đông các đại học sĩ, Giám tu quốc sử, rồi cùng Phạm Công Trứ, được giao sửa lại

bộ Đại Việt sử ký tục biên Tác phẩm có Trùng san Lam Sơn thực lục, Trung Hưng thực lục, Hoan Châu phong thổ ký, Hồ thượng thư gia lễ

Trong thời gian làm quan, khi giữ chức Binh bộ tả thị lang đã có lần ông được cử làm Chánh sứ sang triều đình nhà Thanh và 5 lần được cử đi giao thiệp tranh cãi với nhà Thanh về những vụ xảy ra ở biên giới Sự hiểu biết chính xác về biên giới quốc gia và tài đối đáp của ông đã được quan lại nhà Thanh đánh giá ngang với Mạc Đình Chi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lương Thế Vinh Khi về hưu, ông quan tâm tổ chức cho dân xây cống đắp đập, cải tạo đồng ruộng Ông còn chiêu dân nghèo bốn phương lập ra các làng Đồng Bạch (nay là Như Bá, thuộc xã Quỳnh Bá); Đồng Vực (nay là Thọ Vực) thuộc xã Quỳnh Thọ và Tiên Đội (nay vẫn là Tiên Đội) thuộc xã Quỳnh Hoa Khi mất, dân các làng trên tôn ông là thần khai canh thờ làm Thành hoàng, gọi ông là quan Hầu Thượng Bụt

6 Nguyễn Văn Giai (1554-1628): Danh thần đời Lê trung hưng, quê làng

Phù Lưu, nay thuộc xã Ích Hậu, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh, xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo Thuở nhỏ, ông theo học một thầy trong vùng, những chi dùng thường ngày rất thiếu thốn Là người có sức khỏe, ông thường phải đi gánh thuê

để kiếm ăn và mua sắm dầu đèn, giấy bút Học giỏi, năm 26 tuổi trúng Hội nguyên khoa Canh Thìn, năm Quang Hưng thứ 3 (1580), rồi sau đó, trong một khoa thi Đình, ông đỗ Đình nguyên nhị giáp tiến sĩ (Hoàng giáp)

Buổi đầu được cử làm Hiến sát sứ tỉnh Thanh Hóa, tham gia đoàn sứ bộ nhà Minh giải quyết tốt đẹp những vụ việc rắc rối ở biên giới, biện minh cho việc

Trang 7

Trịnh phò Lê chứ không phải cướp ngôi Lê Năm 1592, họ Trịnh làm chủ Thăng Long, ông được thăng làm Thượng thư bộ Lại chưởng lục bộ, kiêm Đô sát viện ngự sử, hàm Thiếu phó, tước Lễ quận công Năm 1600, theo Trịnh Tráng lập công đánh bại Mạc Khánh Vương ở Thái Nguyên Năm Vĩnh Tộ, Quý Hợi (1623), Trịnh Xuân gây biến, vua phải vào Thanh Hóa cùng các danh thần khác Ông lập hai công, vừa đi theo vua giúp việc quân, dẹp được nội biến do Trịnh Xuân khởi xướng, vừa đánh thắng được cuộc phản kích của Mạc Kính Khoan, vì thế ông được thăng Thiếu úy, gia tặng Dực vận tán trị công tần, rồi Thăng Thiếu bảo

Là vị quan nghiêm nghị, cương trực, tội phạm dù là hoàng thân quốc thích

và cả người thân thuộc của gia đình, ông đều theo phép nước mà hành xử, làm cho vua Lê chúa Trịnh và các quan phải kính nể Dân chúng gọi ông là Hầu Thượng Ngật (vì ông ăn rất khỏe)

Làm quan trải 3 triều, công lao rất lớn đối với nhà Lê trong buổi đầu trung hưng Năm Mậu Thìn (1628) ông qua đời, thọ 75 tuổi Triều đình tặng Thái tể Đại

tư đồ Nhiều nơi làm đền thờ, đền chính ở Phù Lưu

7 Hồ Sĩ Đống (1739-1785): Danh thần đời Lê Hiến Tông, người làng

Quỳnh Đôi, nay là xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, đỗ Đình nguyên đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Canh Thìn (1772) đời vua Lê Hiển Tông

Ông làm quan cả văn lẫn võ, từng cầm quân đi đánh các thế lực chống đối vua Lê chúa Trịnh trong Nam Năm 1777, Trịnh Sâm sai Thượng thư Võ Trần Thiệu làm chánh sứ, bí mật mang tờ biểu xin thay ngôi nhà Lê Giữa đường, Võ Trần Thiệu lâm bệnh qua đời ở hồ Động Đình Hồ Sĩ Đống là phó sứ đốt tờ biểu làm như không có việc gì Lúc về, Trịnh Sâm biết nhưng đành im lặng, thăng ông làm Hộ bộ tả thị lang Trịnh Khải phái ông đi xem xét các vùng Thuận Quảng Về kinh, ông giữ chức Quyền phủ sự, sau thăng Đồng Tham Tụng, tước Dao Đình hầu

Trang 8

Lúc xem xét vùng Thuận Quảng, ông rất lo lắng về địa thế và tình hình ở vùng này, tâu xin rút tướng Ngô Cầu về, thay tướng khác tài giỏi hơn để đủ trí dũng và tài năng giữ yên vùng viễn trấn này Vua chúa không chấp thuận, về sau việc biến phát sinh, mới thấy ông là người sáng suốt Năm 1784, loạn kiêu binh xảy ra, Bùi Huy Bích mời ông giúp đỡ ổn định được tình hình Năm 1785, bị bệnh mất tại Thăng Long, thi hài được đưa về chôn cất ở Quỳnh Đôi Sau khi mất, được truy tặng chức Thượng thư bộ Binh, tước Ban quận công

Hồ Sĩ Đống là người có đức tính gương mẫu, sống khuôn phép, không để sắc đẹp cám dỗ, không vì tình riêng mà nâng đỡ ai (ngay cả em ruột là Hồ Sĩ Chích, bài làm kém, ông vẫn đánh hỏng học vị Tiến sĩ), làm quan to mà không có của dư, lúc gần chết cũng chỉ bàn việc nước, ít nghĩ đến việc nhà Đương thời, dư luận đặt ra nhiều câu chuyện, cho rằng ông có thể thông cảm được với thần minh Điều đó chứng tỏ ông là người sáng suốt, công tâm, có uy tín lớn

8 Phan Tất Thông (1532-1604): Danh thần đời Hậu Lê Quê xã Hạ Thành,

nay là xã Hoa Thành, huyện Yên Thành Ông đỗ Hương cống năm nào chưa rõ, chỉ biết năm 23 tuổi đỗ Đệ nhất giao chế khoa, tam danh (thám hoa) khoa Giáp Dần niên hiệu Thuận Bình 6 (1554) đời vua Lê Trung Tông Làm quan Đông các, rồi Thừa chánh sứ, sau thăng Hộ bộ thượng thư, tước Hòa Mỹ hầu Phan Tất Thông được người đời ca ngợi là ông quan thanh liêm, chính trực Công lớn của ông là sau khi họ Mạc bị đánh thua, vua cử ông giao hảo với nhà Minh Mấy lần được cử lên biên giới, ông đã dùng học vấn và trí tuệ của mình, khôn khéo ứng xử với quan lại nhà Minh, hoạch định được kế hoạch giữ yên đường biên giới, góp phần bảo vệ lãnh thổ quốc gia, bảo vệ nền thái bình cho nhân dân hai nước

Khi về trí sĩ, ông đã chiêu dân phiêu tán, tổ chức khai hoang, phát triển sản xuất Ông còn bỏ tiền của dựng đình, xây nhà, sửa cầu,… cho dân làng và phát chẩn cho dân nghèo Khi gặp năm gió bão, nắng hạn, mất mùa, cảnh tình đói khổ Ông đã sáng tạo một điệu nhạc trống, gọi là Nhạc trống Hạ Thành, từng đi biểu diễn nhiều

Trang 9

nơi, kể cả ở kinh đô Thăng Long trong dịp lễ Thái bình diên yến (1592) Khi ông mất, dân làm đền thờ, tôn là Phúc thần

9 Phạm Kinh Vỹ (1691-1758): Danh thần thời Hậu Lê, còn có tên là

Phạm Công Liên, quê xã Thổ Hào, nay là xã Thanh Giang, huyện Thanh Chương Học giỏi, đỗ Giải nguyên trường thi Nghệ An rồi đỗ tiến sĩ khoa Giáp Thìn (1724) dưới triều vua Lê Dụ Tông

Ông làm quan trải 2 triều vua Lê Dụ Tông và Lê Hiển Tông Khi ông làm Thừa chính sứ đã có công dẹp “loạn” ở Hải Dương và Tuyên Quang Năm 1746, giữ chức Giám tri diên đạo Nghệ An, ông luôn bênh vực người dân bị vu oan, bị chà đạp và xét xử thẳng thắn bọn quan tham ô lại Ông còn có công chiêu dân đói nghèo, tổ chức khai khẩn đất hoang lập ra một xóm ở xã Thanh Giang Tương truyền một lần đi sứ Trung Hoa, ông đã tìm cách lấy một giống sâm mang về trồng

ở làng quê mình, sau trở thành sâm Thổ Hào mà đời còn truyền tụng Khi ông mất, nhân dân nhớ ơn lập đền thờ

10 Nguyễn Phùng Thời (1685-1754): Danh thần đời Hậu Lê, quê làng

Trường Thọ, xã Hoa Lâm, huyện Nam Đường, nay là xã Ngọc Sơn, huyện Thanh Chương

Thời thiếu niên và thanh niên nhà nghèo, vừa đi học vừa đi cày thuê để kiếm sống; nhưng thông minh học giỏi, khoa thi hương năm Tân Mão đậu Hương cống, khoa thi Hội năm Ất Mùi, niên hiệu Vĩnh Thịnh 11 (1715) đời Lê Dụ Tông, đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân

Năm Vĩnh Thịnh thứ 12 (1716) được bổ làm Giám sát ngự sử đạo Lạng Sơn Từ đó, trải nhiều chức quan, năm Vĩnh Hựu thứ 2 (1736) đời Lê Ý Tông được cử giữ chức Tế tửu quốc tử giám Sang đời Cảnh Hưng năm thứ 10 (1749) đời vua Lê Hiển Tông được thăng Tả thị lang bộ hình, tước Lâm Xuyên hầu Trong thời gian này, ông được cử dẫn đầu đoàn sứ bộ sang Trung Quốc giải quyết

Trang 10

việc tranh chấp biên giới ở vùng núi Tạ Long (phía Bắc tỉnh Lào Cai) nơi có mỏ đồng rất lớn Công việc thắng lợi, ông về triều rồi xin làm trí sĩ

Năm Cảnh Hưng thứ 15 (1754), ông qua đời, được truy phong Công bộ thượng thư, Vinh lộc đại phú, tước Lâm Xuyên hầu, được nhân dân làm đền thờ

11 Nguyễn Nghiễm (1708-1776): Danh thần đời Hậu Lê, quê làng Tiên

Điền nay là xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh Năm 16 tuổi (1724) đỗ

Cử nhân; năm 1731 đỗ Hoàng giáp, làm quan dưới hai triều vua Lê Ý Tông và Lê Hiển Tông, sở trường cả văn chương và võ bị

Ông đã từng làm Tham vụ tán lý rồi về Kinh làm Tế tửu quốc tử giám, Thừa chỉ Viện Hàn lâm, Tổng tài quốc sử quán kiêm Thiên đô ngự sử rồi Thượng thư bộ công, tước Xuân Lĩnh hầu rồi Thượng thư bộ Hộ thăng Tham tụng tể tướng được vào chầu ở điện Kinh Diên Năm 1774, ông cùng Hoàng Ngũ Phúc cầm quân

đi đánh Phú Xuân khi về được phong tước Xuân quận công Khi mất ông được ban tên truy là Trung Cần, phong phúc thần

Nguyễn Nghiễm là nhà chính trị có tài, tận tụy phục vụ lợi ích của nhà vua Mọi công việc được giao, dù ở trong trấn, nơi biên ải hay ở kinh kỳ, khi làm quan văn hay làm việc võ, việc nhỏ, việc lớn, ông đều hoàn thành nhiệm vụ Ông trở thành rường cột của quốc gia, là chỗ dựa của nhà vua và triều đình Bằng tài năng

và tính gan dạ của mình, ông đã chèo lái, giữ được phần nào kỷ cương phép nước đang cơn chao đảo, lung lay, giúp nhà Lê thoát khỏi vòng sụp đổ

Về kinh tế, ông đã tổ chức việc khai hoang, phục hóa, đẩy mạnh nông trang

ở Nghệ An, Thanh Hóa, lập đồn điền ở Trường Yên (Ninh Bình), tổ chức đúc tiền đồng ở Nghệ An để tận dụng nguyên liệu và nhân công vùng này Ông cũng hoàn thành việc xây dựng hệ thống dịch trạm từ Thăng Long lên tận Lạng Sơn và từ Thăng Long vào đến đèo Ngang giúp cho việc giao thông liên lạc được nhanh chóng

Ngày đăng: 22/06/2014, 06:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w